Category Archives: trà đàm

Lửa trong lòng

Chào các bạn,

Bạn biết bí quyết gì mà mọi người thành công đều có không? Nếu nhìn một vòng chung quanh, ta thấy tất cả những người thành công–ca sĩ, họa sĩ, bác sĩ, luật sư, doanh nhân, chính trị gia, quan chức nhà nước, tu sĩ, hay bất kỳ cái-gì-sĩ–đều có một điểm chung là họ rất đam mê việc họ đang làm. Họ vui với nó, ăn ngủ với nó, hít thở nó, sống với nó, sống vì nó, bất chấp mệt nhọc, khó khăn, thử thách, cô đơn. Cho đến một lúc họ thành công lớn trong công việc đó. Bí quyết thành công của họ rất rõ ràng—đó là say mê công việc.

Vậy thì, muốn thành công, ta phải say mê công việc.

Nhưng, làm sao để say mê công việc?

Đây là mấu chốt của vấn đề, và đây cũng là điểm có nhiều ngộ nhận nhất. Rất nhiều chuyên gia về phát triển cá nhân (personal development), cố vấn một số phương pháp như là đặt mục tiêu, viết rõ mục tiêu, đặt kế hoạch hành động, đọc lại mục tiêu hằng ngày, tưởng tượng hình ảnh (visualizing) mục tiêu đã đạt được, thực hiện kế hoạch theo đúng chương trình đã vạch ra, v.v… Họ cho rằng khi chúng ta làm những điều này, chúng ta sẽ có đam mê trong công việc. Nhưng có thật vậy không? Thực ra, các điều này có thể giúp được một tí. Nhưng nếu nhìn kỹ lại, thì chúng không phải là câu trả lời cho sự tìm kiếm đam mê.

Ngọn Đuốc Vĩnh Cửu
Ngọn Đuốc Vĩnh Cửu

Giả sử là bạn không thích mắm bồ hốc, cứ ngửi thấy mùi bồ hốc là muốn nôn ngay. Bây giờ có một chuyên gia đề nghị bạn đặt mục tiêu, “Trong vòng 2 năm nữa tôi sẽ ăn mắm bồ hốc trong mỗi bữa ăn.” Rồi lên kế hoạch hành động hai năm, như đã nói trên. Câu hỏi là, liệu bạn có thành công được không? Trong thực tế, có lẽ chúng ta có thể khẳng định là đại đa số người sẽ không thành công trong kế hoạch đó, bởi vì nó nhắm vào một việc mà nhân vật chính không thích, không chịu được, và rất ghét. Đại đa số người sẽ gạt phăng kế hoạch ngay từ đầu: “Thôi đi. Thiếu gì thứ trên đời để ăn. Tại sao tôi phải hành thân tôi ăn mắm bồ hốc?”

Bạn đã thấy được gốc rễ của vấn đề chưa? Nếu cái gì mình không thích, không hạp, thì mình không thể nào làm tốt được, không thể nào say mê được. Cái mình làm tốt, thích làm, là cái mình say mê. Say mê chính là nguyên nhân, là động lực thúc đẩy mình làm, thúc đẩy mình đặt mục tiêu, thúc đẩy mình lên kế hoạch hành động. Nếu đảo ngược nguyên nhân và hậu quả thì hỏng rồi–không phải là mục tiêu và kế hoạch tạo ra say mê. Vì có say mê và yêu, nên mới lên kế hoạch làm đám cưới, chứ không lên kế hoạch làm đám cưới để tạo ra tình yêu và say mê. Cái cày không thể đi trước con trâu.

Vậy là ta phải trở lại câu hỏi ban đầu: Làm thế nào để mình có say mê trong công việc? Câu trả lời là: Muốn say mê trong công việc thì mình phải làm công việc mà mình say mê.

Nhưng làm sao biết việc nào là việc mình say mê?

Đôi khi câu trả lời đến rất rõ ràng. Nếu tối ngày ta cứ bỏ ăn bỏ ngủ, loay hoay viết chương trình vi tính, thì có lẽ đó là việc ta say mê. Hay ca nhạc, hay thể thao, hay ý muốn làm chủ một doanh nghiệp. Nếu các bạn trẻ tạm gác qua một bên các yếu tố bên ngoài như nghề này nhiều tiền, nghề này có danh tiếng, nghề này người ta nể nang, v.v… và chỉ tự hỏi việc gì mình rất thích thú để làm, thì chính việc đó là việc mình say mê.

Đôi khi cái ta say mê không nhất thiết là một công việc, nhưng là một nơi. Ví dụ, nhiều người muốn quay về quê cha, quê mẹ, để sinh sống; việc gì không cần biết, nhưng họ cần được sống nơi chốn ấy.

Đôi khi cái ta say mê là người làm chung chứ không phải công việc. Ví dụ, có nhiều người nói: “Em rất thích làm việc chung với anh. Làm gì anh cứ gọi em. Việc gì cũng được.” Rất nhiều partners thương mãi nằm trong dạng này. Việc quan trọng nhất của họ là làm ăn chung với bạn thân. Làm ăn việc gì thì sẽ bàn sau.

Đôi khi cái ta say mê là một vật gì đó, một điều gì đó cụ thể. Ví dụ: Người rất mê tiền thì say mê làm bất cứ việc gì mang đến nhiều tiền. Người mê nổi tiếng thì say mê làm bất cứ việc gì để được nổi tiếng. Đây loại say mê dễ làm cho người ta vào đường lầm lạc nhất, dù rằng bản chất say mê tự nó không xấu—mê tiền hay mê nổi tiếng tự nó không xấu (dù là rất hời hợt).

Tâm hỏa
Tâm hỏa

Đôi khi cái ta say mê là một mục đích chung chứ không phải công việc. Ví dụ: Các nhà truyền giáo rất vui vẻ đi khắp nơi, làm bất kỳ việc gì để sinh sống, chỉ để đem “Tin Mừng” đến mọi người chung quanh.

Đôi khi ta cũng không biết là việc gì ta thật say mê (mê ăn và mê ngủ thì không tính 🙂 ). Trong trường hợp đó ta phải suy nghĩ ngược lại—làm việc gì ta ít ghét nhất, trong khi chờ đợi khám phá ra việc gì ta say mê nhất.

Đối với các bạn đang làm một công việc mà mình rất chán nản, thì nên tìm việc khác, đổi chỗ làm. Nếu đổi chỗ làm khó khăn, thì tìm công việc gì đó, nhất là các việc giải trí hay từ thiện mà mình ưa thích để làm ngoài giờ làm việc.

Nói tóm lại là ta phảỉ tìm cho được ngọn lửa trong lòng mình, và đi theo nó. Ai cũng có lửa trong lòng, kể cả người nghĩ rằng lòng mình đã nguội lạnh. Thực ra vẫn luôn luôn còn một viên than hồng đâu đó. Tìm ra nó và cho nó cơ hội trở thành một ngọn lửa. Mà ta càng hiểu chính mình thì càng dễ thấy ngọn lửa đó, hay viên than hồng đó. “Biết mình” là nguồn gốc đầu tiên của mọi kế hoạch tốt trong đời. (Mình đã viết bài “Biết Mình” trước đây rồi. Bạn có thể tìm thấy nó trong category Trà Đàm).

Và khi nhìn thấy lửa rồi thì hãy có cam đảm đi theo nó. Điều này nói thì dễ, nhưng thật ra rất khó đối với những bạn đã có gia đình và công việc lâu năm. Không đổi việc được, thì thêm việc ngoài giờ. Vấn đề rất rõ ràng và đơn giản. Nếu bạn thực sự muốn say mê với công việc và đời sống của mình, thì phải đi theo ngọn lửa trong lòng mình. Mỗi người có một ngọn lửa cho một con đường, không thể lấy lửa của người khác làm lửa của mình, cũng không thể đổi lửa cho nhau. Từ cổ chí kim, người ta có đủ mọi tên để gọi ngọn lửa này—sự thôi thúc của con tim, tiếng gọi của định mệnh, tiếng gọi của Chúa. Dù là tên gọi nào đi nữa, thì bản chất của vấn đề vẫn rất rõ ràng—sức mạnh thôi thúc ta đi nhanh, đi mạnh, xông pha sương gió, đạp lên gai góc, trèo đèo vượt suối, gian nguy không sờn, luôn luôn tiến về phía trước, chính là ngọn lửa trong lòng.

Rồi ngọn lửa đó sẽ cho mình đam mê để đặt mục đích, đặt kế hoạch. Mục đích và kế hoạch là phương thức giúp mình làm việc có hiệu quả. Chúng không phải là ngọn lửa.

Thế nhưng, tại sao ở đầu bài ta nói một số chuyên gia cố vấn phương thức “mục đích và kế hoạch” để tạo đam mê? Thưa, bởi vì các lời tư vấn này đến từ các chuyên gia của các giám đốc công ty, giúp các công ty làm thế nào để nhân viên trong hãng hăng hái với công việc hơn. Các chuyên gia này không bao giờ có thể tư vấn, “Nếu bạn không vui với công việc ở đây, thì cứ nghe theo tiếng gọi trong lòng, đi tìm việc khác hợp với con tim của bạn hơn.” Họ bắt buộc phải “tư vấn” các việc có tính cách quản lí hành chánh, như là đặt mục tiêu và kế hoạch. Tốt cho công ty. Nhưng, nếu bạn là nhân viên, thì đó không phải là lời tư vấn thật sự cho bạn.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Muốn được khen

Chào các bạn,

Hôm qua ta bàn về việc khen người khác, hôm nay ta bàn về việc được người khác khen. Có lẽ chúng ta thường nghĩ rằng cả hai điều này chỉ là hai mặt của một đồng xu, nhưng thật ra thì không hẳn thế. Thông thường, ta không khen người nhưng lại cứ muốn người khen ta; đó chỉ là đường một chiều. 😦 Hoặc là ta khen người để được người khen ta lại; đó là đường hai chiều thuộc khu phố thương mãi. Con đường mà ta muốn đi là, ta khen bạn vì thực sự trong lòng thích khen bạn và muốn bạn vui, không khen vì mong cầu được khen lại. Đây là đường một chiều trong tâm, nhưng hai chiều trong thực tế.

Không chịu khen người nhưng cứ mong được người khen, thì “không tưởng” quá rồi. Không thể xảy ra được. Nếu bạn cả đời không khen ai, mở miệng thì chê hết người này đến người khác, bỗng nhiên có một cậu đến, tối ngày khen tặng tâng bốc bạn, thì có lẽ là bạn nên thầm hỏi tại sao.

Đằng khác, khen người để mong được người khen lại, hay để mong được cái gì đó từ người, thì đó là buôn bán. Đây là tính toán “có qua có lại.” Cũng công bình thôi. Nếu bạn khen thành thật, thì cũng được, nhưng e rằng hơi thiếu chiều sâu. Điểm yếu của chính sách thương mại này là, bạn sẽ không có được nội lực xuất phát từ tâm. Bạn có thể làm thương mãi được, nhưng không thể có bạn thân cách này. Vì tình thân chỉ có thể xảy ra giữa những quả tim rung động thật với nhau. Có nghĩa là sao? Có nghĩa là bạn có thể có “triệu người quen, chẳng mấy người thân.” Đó là một thế giới rất băng giá! Và trong trường kỳ, cơ hội thành công lớn cũng thấp, vì thông thường là ở cấp rất cao trong thế giới thương mãi cũng như thế giới chính trị, người ta thường tìm bạn bè thân để làm việc với nhau.

Bạn tôi
Bạn tôi

Khen người thật lòng nhưng không mong cầu được người khen lại. Đây có vẽ như là lối sống của thánh nhân, nhưng bạn đừng vội phàn nàn (“Trời ơi, ông ơi, tui đâu có muốn làm thánh. Tui còn đủ hỉ nộ ái ố bi lạc dục và còn muốn dancing và enjoy đời mà. Ông đừng biểu tui đi tu, tội nghiệp tui lắm”). Biết rồi, khỗ lắm, nói mãi! Trong liên hệ con người, “bất chiến tự nhiên thành” gần như là qui luật bất di bất dịch. Hôm qua chúng ta có nói, người bán hàng không có chiều sâu cứ dùng mọi thủ thuật hời hợt để bán cho được hàng thì có lẽ là không bán được. Nhưng nếu cứ tận tâm phục vụ khách hàng nhiệt tình, như một người bạn tốt, mà không cần biết là người ấy sẽ mua hay không, thì mọi người sẽ đến mua hàng nhiều hơn. “Không đánh mà tự nhiên thắng” là vậy. Ai trong chúng ta cũng biết lý lẽ này.

Liên hệ con người thường như thế. Nếu ta hành động chỉ vì người, và không vì chính ta, thì mọi người tự nhiên muốn đến với ta. Mình gọi đây là qui luật “Cánh đồng trống.” Lòng ta là một cánh đồng, nếu cánh đồng không có một hòn đá “tôi” to như quả núi đè mất, thì chim chóc sẽ về tràn ngập cánh đồng xanh. Khen người chỉ vì ta quí người và muốn người vui, mà không mong cầu gì cho ta (ngoài việc ta vui vì đã làm người vui), thì tự nhiên là sẽ có nhiều bạn bè thân thiết, và cơ hội thành công lớn trong đời cứ như vậy mà tăng theo. Đó là tại sao mà mình nói bên trên: “Đây là đường một chiều trong tâm, nhưng hai chiều trong thực tế.”

Điều này nói thì dễ, làm thì khó. Vì chúng ta đã quen suy nghĩ về “tôi, tôi, và tôi” nhiều quá, nhất là trong thế giới làm ăn, cho nên ta cần có kỷ luật một tí để tập thói quen chú tâm đến cái hay cái đẹp và cái an vui của người khác trong liên hệ hằng ngày. Qui luật “cánh đồng trống” đúng ngay cả trong thương mãi. Thương mãi cũng chỉ là liên hệ con người như bao nhiêu loại liên hệ khác. Nếu ta cho rằng liên hệ thương mãi đòi hỏi ta phải ích kỷ và chụp giật, thì rõ ràng là ta chưa nắm vững được bản chất của thương mãi cũng như bản chất con người. Một điều khó khăn khác là, qui luật “cánh đồng xanh” đòi một tí kiên nhẫn. Phần thưởng sẽ đến từ từ–chậm nhưng chắc. Vì đây không phải là qui luật “tiền trao cháo múc”, cho nên bạn cần kiên nhẫn một tí. Nhưng không sao, vì khi áp dụng qui luật này, bạn đâu có mong cầu gì cho mình, phải không? Mà đã không mong cầu là thừa kiên nhẫn.

Điều cuối cùng ta cần nắm vững là, nếu ta cứ muốn được người khen thì ta sẽ rất chơi vơi và nhiều stress. Chơi vơi vì cứ phải cố làm cái gì đó để hằng trăm hằng nghìn người quanh ta thích thú khen ngợi. Mà mỗi người một ý. Chạy theo ý muốn của một nghìn người, đương nhiên là phải nhảy choi choi như con lật đật chơi vơi trên mặt nước. Và như vậy thì nhất định là sẽ rất nhiều stress. Mà stress thường phá vỡ mọi thứ, từ sức khỏe, đến công việc.

Nắm vững các qui luật liên hệ con người. Cứ từ tốn làm việc, và kiên nhẫn một tí. Kết quả sẽ đến nhanh hơn bạn nghĩ. Có lẽ bạn đã nghe, hoặc qua tiểu thuyết hoặc qua chuyện có thật, rất nhiều người than trước khi nhắm mắt: “Cả đời tôi không có được một người thân.” Bạn có bao giờ thắc mắc về câu đó không? Sống mấy mươi năm trong một thế giới mấy tỉ người mà lại không có được một người thân. Sao vậy? Đó không phải là một bi kịch sao?

Chúc các bạn một ngày vui vẻ,

Mến,

Hoành

Stumble It!
© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Khen

Chào các bạn,

Đối với người Việt chúng ta thì có lẽ những ngôn từ được sử dụng tần tiện nhất, tần tiện đến mức keo kiệt, là những lời khen. Rõ là “Lời nói không mất tiền mua, tự do mà nói miễn đừng có khen.”

Đến sở làm thấy cô bạn mặc chiếc áo đẹp, mới mở miệng “Trời, hôm nay Vân đẹp quá” là mấy quí vị cùng phòng đã bắt đầu nheo nheo mắt… “Hmm… coi bộ bắt đầu thả câu.” Về nhà mới khen thằng con trai chưa hết một câu, bà chủ đã “Anh cứ làm hư con. Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi. Cứ như vậy con cái nó lên ngồi trên đầu.” (Quí vị ơi, quý vị có ghét thì xin cho một hộp sô-cô-la, nhất là loại made in Switzerland. Mình hứa là sẽ không leo lên đầu quí vị). Ở trường thì dễ được ăn bạt tai hơn là được một lời khen. Đi làm, mình làm việc giỏi đến mức văn phòng của mình mọi việc trôi chảy, chẳng có xì-căng-đan gì bao giờ, thì chẳng ai thèm để ý. Hơi có ai đó phàn nàn bậy bạ, thì cả nước nhào vô dũa.

Nếu mỗi ngày, tổng số từ ta nói trong ngày chia ra đúng 50% khen và 50% chê, thì đó đã là quản lí và giáo dục “nửa mùa.” Nếu chê 75% và khen 25%, đó là quản lí và giáo dục bằng stress. Nếu khen 75% và chê 25%, đó là quản lí và giáo dục bằng mạch nha. Trong văn hóa “thương cho roi cho vọt” của ta, tăng lời khen lên đến mức nửa mùa là đã khó khăn lắm rồi, nói chi là mạch nha. Bạn có muốn ông hàng xóm mang cái roi mây bóng lưỡng đến đét thẳng tay mấy cái vào mông bạn, rồi mở miệng cười huyềnh huệch, khoe chiếc răng vàng lấp lóe, “Tôi yêu chị lắm chị ơi ,” không? Thế thì tại sao bạn lại tin rằng bạn có thể đem thủ thuật đó áp dụng cho con cái, thân nhân, bạn bè?

Khuyến khích em
Khuyến khích em

Mà mình cũng không hiểu truyền thống “thương cho roi cho vọt” này đến từ đâu. Một lần, đã lâu lắm rồi, trong một buổi cà-phê đàm trong một quán nhậu—đây là sự thực, vào quán nhậu nhưng gọi cà-phê—một người bạn của mình lý giải: “Tôi nghĩ có lẽ đó là từ văn hóa Phật giáo. Làm như vậy để tập cho trẻ con biết dẹp cái tôi của mình xuống.” Mình trả lời ngay là mình không thấy Phật giáo có “mùi” đó, chứ đừng nói là có “rễ”. Phật học rất coi trọng nhân cách của mỗi cá nhân và dạy người ta rằng “mỗi người chúng ta, kể cả những người xem ra tệ hại nhất, đều có Phật tánh trong lòng, đều là Phật-đang-thành, và nhất định là một ngày nào đó—kiếp này hoặc một kiếp sau nào đó–sẽ đắc đạo thành Phật.” Lý thuyết vô ngã của nhà Phật dạy chúng ta đừng chấp vào cái ngã của mình, đừng kiêu căng hợm hĩnh, chứ không nói là phải coi thường, chà đạp và đánh đập nó. Hơn nữa, giáo dục nhà Phật là tự giáo dục, tự giải thoát, chứ không phải do người khác cầm cây đập.

Theo mình nghĩ, chắc chắn là khi mấy chú ba bên Trung quốc sang đô hộ tiền nhân ta mấy ngàn năm về trước, nếu các chú thông minh một tí (và dĩ nhiên là các chú rất thông minh), chắc chắn là các chú phải tay thì quất roi vào dân bản xứ, miệng thì “Ngộ ái lị a. Ngộ ái lị a.” Đến thời các anh Phú-lang-sa thì nhất thiết phải là tay thì bạt tai miệng thì “je t’aime.” Nhất định phải là như vậy, vì bản chất chính trị của đô hộ và nô lệ hóa phải là như thế. Và nếu ngày nay ta vẫn còn yêu quí phương pháp vừa bạt tai vừa “I love you” này thì đó phải là hội chứng Stockholm.

Có lẽ là không cần nói nhiều thì chúng ta ai cũng biết tầm quan trọng của tính tự trọng trong việc phát triển năng lực hoạt động và khả năng sáng tạo của con người. “Tự trọng” là tự tôn trọng mình. Tức là mình phải thấy mình có cái gì đó đáng tôn trọng. Mà làm sao thấy được cái gì đáng tôn trọng trong mình khi mình cứ bị phê phán, roi vọt, hằng ngày? Cách thông thường nhất để chúng ta thấy được cái hay của mình là nhờ người khác vạch ra: “Trời, mắt chị đẹp quá”, “chiếc áo này hợp với chị quá”, “chị thông minh quá cở”, “chị giỏi ngoại giao quá.” Dù là người lớn hay là trẻ em, rất khó để phát triển tánh tự trọng khi tối ngày chỉ được nghe đến cái yếu của mình mà chẳng thấy ai nói mình có điểm nào hay cả.

Khuyến khích
Khuyến khích

Dĩ nhiên là lời ta khen làm cho người được khen tích cực và yêu đời hơn. Nhưng đối với những người thực tập tư duy tích cực, lời khen lại còn quan trọng nhiều hơn nữa, vì lời khen tặng người khác ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy của chính ta. Thứ nhất, lời ta khen người khác sẽ cho chính ta biết rằng ta tự tin. Bởi vì chỉ có người tự tin mới khen người khác, người không tự tin thì ghen ghét và thường bới móc cái yếu của người khác. Thứ hai, chỉ có người đủ tích cực trong tư duy mới thấy được nhiều cái hay cái đẹp của người khác để mà khen. Nếu không đủ tư duy tích cực thì không thể thấy cái gì hay đẹp cả. Thứ ba, khen người khác tức là nâng người ta lên, mà nâng người khác lên đương nhiên có nghĩa là giảm ta xuống. Nghĩa là, chỉ có người khiêm tốn trong lòng mới hay khen người khác. Thiếu khiêm tốn thì rất khó mà khen. Thứ tư, càng yêu nhiều người chung quanh, ta càng thấy nhiều điểu hay đẹp của họ và càng muốn tán dương họ bằng lời. Các cặp tình nhân đều như thế. Đó là bản tính con người. Vì vậy nếu ta ít khen, hãy tự hỏi: “Thực sự là mình có yêu ai chung quanh mình không đây?” Vì vậy , trước khi lời khen tác động như là một phương cách giáo dục và quản lí đối với người khác, ngay lúc còn ở dạng tư tưởng trong đầu ta, trước khi nói ra, lời khen dành cho người khác đã là phương thuốc thần diệu cho chính ta và là thước đo cho chính ta. Khen người nhưng thực ra là để luyện tập tâm mình.

Ở trên, chúng ta có nói đến giáo dục và quản lí mạch nha với 75% khen và 25% chê, nhưng đó chỉ là mức thấp. Đến mức quản lí tuyệt đỉnh thì chỉ còn 100% khen, và chẳng còn tí nào chê hết. Ví dụ: Người cộng sự của mình hơi yếu về quản lí thời gian, mình có thể nói: “Em rất hay, rất analytical, giỏi communication, giải quyết mọi vấn đề rất nhanh chóng và chính xác. Nếu em quản lí thời gian hay hơn một tí, làm cho việc sử dụng thời gian có hiệu quả hơn, thì năng xuất của em sẽ còn tăng thêm được rất nhiều.” Ta vẫn có thể khen trong khi giúp người cộng sự thấy được khuyết điểm của họ.

Trong tư duy tích cực, chê là tiêu cực, không cần dùng đến, không nên dùng đến. Hơn nữa, đây là một điểm quan trọng khác mà người tư duy tích cực cần lưu ý: Chê thường là phản ánh tính tiêu cực của người nói. Nếu ta chê, mà không biết dùng lời khen để vạch ra khuyết điểm, thì, một là, khả năng sử dụng lời nói của ta còn yếu, hai là, ta còn rất tiêu cực trong tư duy. (Tuy nhiên quản lí là một nghệ thuật. Trong trường hợp nào đó, với một người nào đó, có thể là chê thẳng mặt, thì người đó mới “nhập tâm” lúc đó. Nhưng đây là ngoại lệ, mà đã là ngoại lệ thì có nghĩa là chỉ nên có một năm một lần).

Để kết thúc, chúng ta có thể làm một trắc nghiệm về chiều sâu của vấn đề một tí. Nếu bạn đã từng cầu nguyện với Chúa, với Phật, với trời đất, với bất kỳ ai đó, bạn cầu nguyện đại khái như thế này, “Ngài là đấng toàn năng, biết tất cả mọi điều, đầy lòng yêu thương đối với chúng con. Xin ngài cho chúng con được bình an, qua được cơn khủng hoảng tài chánh toàn cầu này nhanh chóng,” hay là như thế này, “Thôi đi ông ơi. Ông làm ăn kiểu gì mà thế giới cứ tùm lum đủ mọi chuyện lộn xộn hằng ngày. Dzậy mà còn ngồi chễm chệ trên đó”?

Các đấng tối cao không cần được khen mà ta vẫn cứ khen. Ta khen các ngài là vì các ngài cần nghe, hay vì ta cần tỏ lòng tôn kính?

Ta khen mọi người vì mọi người cần nghe, hay ta cần tỏ lòng quan tâm và quí mến họ?

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,
Hoành

TB: Oops! Quên nhắc các bạn đàn ông: Hôm nay đã khen “your house” câu nào chưa?
.
Stumble It!
© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Xắn tay áo

Chào các bạn,

Từ hồi còn bé ta được bố mẹ bảo học hành để lớn lên làm việc này, việc nọ. Trong trí óc trẻ thơ, cuộc đời chia thành hai phần rõ rệt: nhỏ đi học, lớn làm việc. Khi không còn bé nữa, tiếc thay, ta lại quá quen với công thức suy tư “hai thời” như vậy, và nhiều người trong chúng ta hầu như không bao giờ thoát ra khỏi vòng kềm kẹp của công thức—đối với nhiều vấn đề trong cuộc sống, ta luôn luôn ngồi học, và không bao giờ thấy mình đủ kiến thức để làm. Continue reading Xắn tay áo

Ngôn ngữ của thân thể

Chào các bạn,

Chúng ta nói với nhau đâu phải chỉ bằng lời nói, mà còn bằng ngôn ngữ của thân thể. Vì vậy mà chàng chỉ lướt ngang và nhìn nàng trong 2 giây đồng hồ là nàng đã biết ngay là chàng muốn làm quen. Và chàng mới gật đầu chào thì đã biết ngay là nàng đang xi-nhan: “Xin lỗi, tôi đang đợi anh ấy.” Ngôn ngữ của thân thể là body language. Ngày trước, các diễn viên, điều tra viên, doanh nhân, luật sư và chính trị gia đều học. Ngày nay môn học này rất phổ biến, và hầu như tất cả mọi người đều học.

Nhưng dù là chưa vào lớp nào thì bạn cũng đã biết kha khá rồi. Ai trong chúng ta cũng đã “học ăn học nói học đi học đứng” từ hồi nhỏ và cũng biết nhận xét người khác qua tướng mạo và phong cách bên ngoài. Học là để giỏi thêm thôi. Điều khác biệt quan trọng giữa lời nói và body language là lời nói được điều khiển bởi ý thức (trừ khi bị ma men hành :-)), còn body language thì do tiềm thức điều khiển nhiều hơn. Vì vậy, body language thường đáng tin hơn là lời nói. Ví dụ, chàng nói “Anh thề là anh chẳng có ai khác ngoài em,” nhưng nếu ánh mắt chàng tự nhiên đảo đi một ít, hoặc là nếu chàng chớp mắt hơi nhiều một tí, có thể đó là chàng đang nói dối. Hoặc là chàng đang cố tươi cười thân thiện, nhưng lại tựa người ra sau và khoanh tay, có thể là chàng đang trong trạng thái phòng thủ.

Tất cả các bộ phận trong cơ thể ta đều có thể nói ra điều gì đó, từ cách ngồi, cách đứng, động tác của bàn tay, của các ngón tay, ánh mắt, mi mắt, môi, mặt, v.v… Chúng ta cần phải học body language vì:

1. Ta không muốn vô tình để body language nói những điều ta không muốn nói. Ví dụ, bắt tay quá lõng lẻo trong khi mắt lại không nhìn thẳng mặt người mình đang bắt tay, có nghĩa là “tôi chẳng cần quan tâm đến anh.” Thế thì công lao tốn nước bọt cả một tiếng đồng hồ trước đó để trình bày dự án coi như là đổ sông đổ biển.

2. Ta muốn đọc được ý thật của người đối diện: Khi body language và lời nói của người đối diện không ăn khớp với nhau, nhất định là ta phải xét lại lời nói của họ. Và rất có thể là body language của họ đáng tin hơn.

Thân thể nói những lời tuyệt đẹp!
Thân thể nói những lời tuyệt đẹp!

Các bạn có thể tìm các websites về body language dễ dàng trên Internet. (Bạn nào biết được sites nào, xin vui lòng giới thiệu, bằng cách post vào comment). Trong bài này, chúng ta không đi vào chi tiết kỹ thuật của body language mà chỉ nhắc đến một vài điểm cốt cán cần lưu tâm:

1. Body language là một loại ngôn ngữ ta bắt buôc phải thông thạo, cũng như học nói bằng lời hay học viết. Không thể làm việc hiệu quả nếu ta không biết cách ăn nói.

2. Mỗi người có một cách nói chuyện khác nhau; mỗi người cũng có cách dùng body language khác nhau. Dù rằng ngôn ngữ thì chung, nhưng cách dùng thì đương nhiên là mỗi người có cung cách riêng phù hợp với mình. Cứ máy móc làm theo sách, thì có thể là như mấy cô cậu học trò đọc theo tuồng cải lương để viết thư cho người yêu. (Nhưng lúc đầu thì cứ phải theo bài tập, cho đến lúc thuần thục).

3. Ngôn ngữ chỉ học được bằng thực hành, cho nên bạn chỉ thuần thục được body language khi phải giao tiếp nhiều. Vì vậy, nếu không tiếp xúc thường xuyên với người lạ, thì nên cố gắng tham dự các hoạt động xã hội để mình có cơ hội giao tiếp với mọi người.

4. Body language có rất nhiều điểm chung giữa các dân tộc và các nền văn hóa khác nhau. Ví dụ: Người sợ thì mặt hơi tái hơn, mắt có thể mở to hơn hoặc quay đi hướng khác. (Vì vậy, người không biết ngoại ngữ vẫn có thể nói chuyện với tây bằng cách “múa võ”!) Tuy nhiên, mỗi nền văn hóa cũng có một số body language đặc thù, không giống các nền văn hóa khác. Ví dụ, người Mỹ khi nói chuyện thì nhìn thẳng vào mặt nhau, kiểu như người Việt đang thách thức đánh nhau. Nếu nói mà nhìn xuống như kiểu người Việt, thì đó là nói dối theo kiểu Mỹ. Vì vậy, khi tiếp xúc với người từ một nền văn hóa khác, ta phải biết body language của họ.

5. Khi nói chuyện với người nước ngoài, đương nhiên ta phải dùng body language của họ, nếu ta không muốn họ hiểu lầm ta. Tuy nhiên, ta vẫn có thể dùng body language của ta, nếu body language đó dễ hiểu với người nước ngoài, và nếu ta có thể dùng nó rất hay. Ví dụ: Người tây phương thường bắt tay bằng một bàn tay. Người đông phương có thể bắt tay bằng cả hai bàn tay. Nếu vụng về thì hai tay có thể thấy khúm núm, mất tự tin. Nhưng nếu biết làm, thì bắt tay bằng hai tay có thể đưa ra một thái độ tự tin nhưng rất dịu dàng, ấm áp và khiêm tốn. Điều này thì hầu như không có cách nào ở tây phương có thể sánh được.

6. Dù là ngôn ngữ nào đi nữa, thì sức mạnh của ngôn ngữ–cả lời nói lẫn ngôn ngữ của thân thể–luôn luôn nằm trong lòng tin và sự thật. Nếu bạn nói dối, thì bạn chẳng tin vào lời bạn nói; vì vậy, “lời” bạn nói không thể có sức mạnh thuyết phục.

Đối với những người chú trọng về tư duy tích cực như chúng ta, có vài điểm trong tương quan giữa body language và tư duy tích cực ta cần phải lưu tâm.

1. Cá tính tiêu cực hay tích cực bên trong của ta luôn luôn biểu lộ qua lời nói và body language bên ngoài. Ví dụ: Người tiêu cực thường có dáng đi khép kín, rút vai, rút lưng, và nói thì hay nói phủ định (“không”) và dùng các từ tiêu cực (“chán, ghét, xấu, v.v…”). Người tích cực thường có dáng đi mở rộng hơn, lưng thẳng hơn, vai rộng hơn, tay đong đưa hơn, và khi nói thì hay dùng thể xác định và dùng các từ tích cực (“đẹp, tốt, hay, giỏi, v.v…”).

2. Ngược lại, lời ăn tiếng nói và cử chỉ bên ngoài cũng có thể ảnh hưởng đến tâm tính của ta bên trong. Ta có thể làm cho mình thêm tính tích cực bằng cách “nói” những câu tích cực (Nói với người khác, và nói thầm với chính mình. Điều này ta đã nói đến trong bài “Sức mạnh của tư tưởng”). Và ở đây, “nói” còn có thêm nghĩa “nói bằng body language.” Ví dụ, nếu ta lựa chọn một dáng đi tích cực thích hơp với mình nhất, và cứ đi theo dáng đó hằng ngày, thì tâm tính tiêu cực của ta cũng nhờ đó mà từ từ biến thành tích cực.

Và đây là điều cuối cùng, quan trọng nhất: Cả thân thể ta có khoảng 600 bắp thịt. Nếu trong khi nói chuyện với ai mà ta phải chú ý điều khiển 600 bắp thịt để chúng có thể làm đúng ý ta muốn thì nhất định là ta không thể nói chuyện gì với ai được. Vì vậy, học là để biết, nhưng khi thực hành thì phải thông minh hơn một tí. Ta biết rằng thân thể ta thường “nói” tự nhiên, do tiềm thức điều khiển. Vậy thì hãy để tiềm thức điều khiển ngôn ngữ của thân thể. Trước khi nói chuyện với ai, ta hãy chắc chắn là trong lòng ta thích thú nói chuyện với người đó, ta có thiện cảm với họ, ta sẽ thành thật trong khi nói chuyện, ta sẽ xem họ như là bạn tốt của ta. Nếu ta đã tâm niệm như vậy trước khi vào cuộc, thì trong khi nói chuyện, thân thể ta sẽ tự động nói ra điều đó, mà ta không cần phải điều khiển bằng ý thức. Vì vậy, nhiều nhà ngoại giao lớn trên thế giới ngồi tĩnh tâm rất lâu trước khi vào phòng họp cho các cuộc họp quan trọng.

Tức là, dùng tâm để làm chủ hành động của mình. Điều này hoàn toàn không xa lạ gì với các nghệ sĩ bậc thầy. Ca sĩ chẳng hạn. Ca sĩ nào cũng đã học kỹ thuật ca hát rất kỹ. Tuy nhiên, người ca sĩ chỉ có thể đưa bài hát lên đến mức tuyệt đỉnh nếu cô ta thực sự cảm nhận mạnh mẽ, tận đáy sâu của quả tim, từng lời nhạc, từng nốt nhạc, trong khi hát. Nếu không, thì nghe cứ như là thợ hát.

Ở đây có một khái niệm rất căn bản trong đời sống mà chúng ta cần ghi nhớ, vì nó sẽ chi phối tất cả mọi sinh hoạt sống của ta: “Tất cả mọi điều ta làm ở bên ngoài đều phải được điều khiển từ trong tâm, thì mới có sức mạnh.” Nếu ta chỉ làm việc theo công thức và dùng suy nghĩ hời hợt bên ngoài để điều khiển, ví như một người bán hàng không thật tình, cứ tìm đủ mọi thủ thuật để thuyết phục người ta mua hàng, thì kết quả chỉ như học trò mới học đàn. Tuy nhiên, nếu ta cứ tự nhiên phục vụ người khách tận tình như là một người bạn tốt mà không cần biết họ sẽ mua hay không, thì có lẽ là mọi người sẽ đến mua nhiều hơn. Trong đời sống, chúng ta học rất nhiều kỹ thuật—nói chuyện, quản lý, tiếp thị, v.v… Tuy nhiên, khi thực hành ta không thể thực hành kỹ thuật mà phải thực hành nghệ thuật. Mà nghệ thuật thì phải đi từ tâm đi ra.

Trước khi chấm dứt mình xin hỏi các bạn một câu: Body language dịch ra là “ngôn ngữ của thân thể” thì lòng thòng quá. “Ngôn ngữ thân thể” thì vẫn lòng thòng, mà thỉnh thoảng còn làm vài câu văn thành tối nghĩa. “Thân ngữ” có được không? Xin các bạn cho ý kiến. Cám ơn các bạn rất nhiều.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Sức mạnh của tư tưởng

Chào các bạn,

Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã nghe rất nhiều chuyện về những người được lành bệnh một cách kỳ lạ, hoặc là “phép lạ” do cầu nguyện, hoặc là tin rằng mình uống “thuốc thần” trong các trắc nghiệm về tâm lý. Tư tưởng tích cực có khả năng tăng cường sức mạnh của hệ thống miễn nhiễm, đôi khi đến mức trở thành phép lạ. Vì vậy, ngày nay bác sĩ thường khuyến khích các bệnh nhân nên cầu nguyện (nếu họ có lòng tin tôn giáo), và khuyến khích thân nhân người bệnh nên chăm nom, làm cho họ yêu đời, để chống bệnh. Cũng vì vậy mà thỉnh thoảng ta vẫn thấy có người làm chứng rất thành thật rằng “Thầy Năm Ngải này đã chữa tôi lành bệnh kinh niên, 20 năm nay không ai chữa hết,” mặc dù là điều tra ra thì thầy chỉ có một cách chữa cho mọi bệnh nhân là phun nước lã vào người của họ. Hôm nay, chúng ta sẽ nói đến việc sử dụng sức mạnh phi thường này của tư tưởng vào cuộc sống hằng ngày để tạo nên thành công trong cuộc sống. Continue reading Sức mạnh của tư tưởng

Tình Yêu

Chào các bạn,
onerose
Nhân dịp Ngày Valentine, mình xin chia sẻ với các bạn ba câu nói về tình yêu mà, theo thiển ý của mình, là ba trong những câu nói về tình yêu sâu sắc và mạnh mẽ nhất, nếu không phải là ba câu sâu sắc và mạnh mẽ nhất, trong kho tàng văn hóa thế giới.

Chúc các bạn một Ngày Tình Yêu dịu ngọt.

    ***


Thượng đế là tình yêu. 1 John 4:8

    ***

Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu này, đó là hy sinh thân mạng của mình cho bạn mình. John 15:13

    ***

Nếu tôi nói được mọi ngôn ngữ của loài người và của các thiên thần, nhưng không có tình yêu, tôi chỉ là cái cồng vang dội hay cái chiêng ồn ào.

Nếu tôi có tài tiên tri và có thể quán thông mọi huyền nhiệm và mọi tri thức, và nếu tôi có đức tin có thể chuyển dời núi non, nhưng không có tình yêu, tôi chẳng là gì cả.

Nếu tôi tặng hết tài sản cho người nghèo và xả thân trên dàn hỏa, nhưng không có tình yêu, tôi chẳng được gì cả.

Tình yêu là kiên nhẫn, tình yêu là dịu dàng.

Tình yêu không ghen ti, không khoe khoang, không kiêu hãnh.

Tình yêu không khiếm nhã, không vị kỷ, không nhạy giận, không chấp trước.

Tình yêu không vui sướng trong tội lỗi, nhưng hân hoan với sự thật.

Tình yêu luôn luôn bảo vệ, luôn luôn tin tưởng, luôn luôn hy vọng, luôn luôn kiên trì.

Tình yêu không bao giờ thất bại.

1 Corinthians 13: 1-8

Bạn Vịt
Bạn thỏ
Nhân đây mình xin phép các bạn cho mình làm một viêc có tính cách cá nhân một tí. Thông thường là mình hay tìm cách làm quà tặng, thay vì mua quà tặng (Đó là tính tần tiện học được từ mẹ hồi còn nhỏ 🙂 ). Hôm nay dịch mấy câu này về tình yêu, mình muốn mang ra làm quà Valentine cho bà đầm (Phượng) ở đây. Mong các bạn cùng hoan hỉ với mình.

Cả ba câu này đều nằm trong Thánh Kinh (Bible). Mình dịch từ bản New International Version. Nếu bạn nào thấy được câu nào ở đâu đó sâu sắc và mạnh mẽ hơn thì xin chia sẻ với mọi người, bằng cách comment ở đây. Xin muôn vàn cảm tạ.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Happy Valentine’s!

Hoành

Stumble It!

Ở đây lúc này

Chào các bạn,

Người lớn tuổi thì hay sống bằng quá khứ–những tháng ngày thân thương xa xôi ấy–người trẻ tuổi thì hay sống bằng tương lai—những ước mơ, những mục tiêu của đời mình. Chẳng mấy ai trong chúng ta sống với hiện tại. Nhưng nếu suy nghĩ cho cùng tận thì ta chỉ có một thời điểm để sống, đó là lúc này, và một nơi để sống, đó là nơi này. Năm phút trước đã là quá khứ, tức là chỉ một tư tưởng trong tâm ta. Năm phút sắp tới thì chưa đến, lại cũng chỉ là một tư tưởng. Chỉ có lúc này là thật. Vậy thì chỉ có một cách sống thật mà thôi. Đó là sống lúc này, ở ngay đây.

Nói đến đây chắc chắn là vài bạn sẽ thắc mắc ngay: “Vậy chứ hôm nay nàng rủ đi chơi mà phải đau khổ từ chối, vì còn phải lo làm bài, vậy chẳng phải là học cho tương lai sao? Ai lại chả biết đi xi nê với nàng thì sướng hơn là làm người hùng cô đơn với mấy quyển sách.” Dĩ nhiên là đúng, và hầu như ai trong chúng ta cũng phải lo cho tương lai như thế, không những là tương lai của mình mà còn là tương lai của những người thân, của các em, của vợ con, trong gia đình. Tuy nhiên, kế hoạch cho tương lai chỉ là một dự tính, một tư tưởng trong đầu óc. Để thực hiện kế hoạch tương lai, chỉ có một cách duy nhất là sống và thực hiện nó trong hiện tại, vào lúc này, tại nơi đây. Abraham Lincohn nói: “Điều hay nhất của tương lai là tương lai chỉ đến một ngày một lần.” Và ngày đó là ngày hôm nay.

Hôm nay có rất nhiều điều trong đời sống mình. Nếu bạn dự định tốt nghiệp trong năm năm, thì ngày hôm nay chỉ có 1 phần 1825, tức là khoảng 0,55 phần ngàn của kế hoạch “tốt nghiệp năm năm.” Bên cạnh đó còn các việc khác hôm nay, như liên hệ với người trong gia đình, tập thể thao, làm việc từ thiện, nghĩ ngơi, v.v… Nếu mình gạt tất cả mọi sự qua một bên và chỉ chú tâm vào mấy quyển sách cho kế hoạch tốt nghiệp, tức là mình đã không sống cho ngày hôm nay. Nếu còn đi học thì có thể là bạn không thấy được tai hại rõ ràng như những người đã lập gia đình. Bao nhiêu phụ nữ tâm sự rằng ông chồng tổng giám đốc của mình mãi ham mê công việc mà không hề ngó ngàng gì đến vợ con? Bao nhiêu gia đình đã đổ vỡ? Và nếu nói đến sinh viên, thì bao nhiêu giáo sư đại học và lãnh đạo công ty đã phàn nàn là sinh viên ra trường nhưng chẳng biết gì ngoài mấy quyển sách?

Đó là chưa nói đến stress. Những cố gắng thường xuyên quá mức, thiếu nghỉ ngơi, sẽ tạo ra stress thường xuyên, làm cho người ta thay đổi tâm tính qua hướng lạnh lùng hấp tấp, và trong trường kỳ gây ra nhiều bệnh chết người. Trong thập niên 1980, ở Mỹ ai cũng ca tụng “cá tính hạng A” (type A personality). Đây là loại người thông minh và chạy với vận tốc Apollo. Họ là những người thành công nhất trong thời đó. Tuy nhiên sang đến thập niên 2K này, loại người type A ngã chết, bị đột quỵ, bị bệnh tim, cũng như các loại bệnh hiểm nghèo khác, nhiều hơn các loại người khác rất nhiều. Vậy thì …?

Anh khỏe không?
Anh khỏe không?

Nhưng sống hôm nay, ngay ở đây, có nghĩa là gì?

Có nghĩa là (1) để tâm dến những gì quanh mình, và (2) làm điều gì thì để tâm đến điều đó.

Để tâm đến những gì quanh mình nghĩa là, nếu ngồi trong nhà, bên cạnh là vợ và đứa con gái, thì đừng có quên mất vợ con, mà chỉ quan tâm đến tin tức trên TV hay công việc cho ngày mai. Nếu có người bạn bị bệnh, đến nhà thăm một tí và ngồi nói chuyện một hồi, thay vì chỉ tử thủ trong thư viện. Bước ra đường, để ý đến con đường mình đang đi, đến vòm cây bụi cỏ, ánh nắng, và tận hưởng cái đẹp, cái sức sống, của phố phường ngập nắng.

Làm điều gì để tâm đến điều đó nghĩa là nếu gặp ai, cười chào và hỏi “Sao, lúc này khỏe không?” thì chú tâm vào câu hỏi, và lắng nghe câu trả lời. Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã quá quen thuộc đến các câu chào hỏi xã giao mà, nhìn phong cách người hỏi, mình cũng biết là chàng ta chẳng hề quan tâm đến câu hỏi của chàng cũng như câu trả lời của ta. Trong một buổi tiệc đông người, gặp một người bắt tay chào hỏi làm quen, thì chú tâm vào câu chuyện với người đó, thật sự lắng nghe những gì họ nói, thật sự trò chuyện, thay vì cặp mắt láo liên, liên tục quét vòng vòng quanh phòng tiệc, để xem có ai đó mình cần phải chạy lại bắt tay để network không. Có lẽ ai trong cũng ta cũng đã thấy loại tác phong này luôn luôn hiện diện trong các buổi liên hoan của các chuyên gia và doanh nhân. Sống như vậy thật là quá hời hợt. Và điều mà họ không biết là sống như vậy thì cũng chẳng mang đến thành công gì được.

Chậm lại một tí, quan tâm đến môi trường chung quanh, quan tâm đến giao tiếp với người chung quanh, sống thực bằng quả tim và tâm trí của mình, dù chỉ là trong những câu xã giao bình thường. Đó là sống lúc này, ở đây. Lối sống này rất lý thú các bạn a. Thứ nhất, mình hưởng thụ sự sống trong từng giây phút trong ngày. Thứ hai, mình không nhiều stress. Thứ ba, đầu óc mình sáng suốt hơn người bình thường, tính đâu trúng đó. Thứ tư, mình có liên hệ sâu đậm với nhiều người chung quanh, có nhiều bạn bè yêu quý, mà càng nhiều bạn quý thì càng nhiều thành công trong đời. Thứ năm, con đường đến tương lai chỉ là một chuỗi của những “ngày hôm nay.” Nếu mỗi “ngày hôm nay” được ta sống tận tâm, thì con đường đến tương lai mới được xây dựng thật là chắc chắn. Thứ sáu, ba mươi năm sau mình sẽ không nói: “Phải chi…”

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,
Hoành

Stumble It!

.
© copyright TDH 2009
Licensed for non-commercial use

Biết mình

Các bạn mến,

Bốn trăm năm trước công nguyên, Socrates để lại hai từ bất tử, vọng vang suốt mấy ngàn năm lịch sử triết lý tây phương: “Biết mình” (gnōthi seauton, know thyself). Biết về chính mình tức là biết về con người, tức là biết vể đời sống và ý nghĩa của nó. Binh pháp Tôn gia nói: “Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng.” Nhưng nếu ta thực sự biết rõ về ta, thì có lẽ là ta cũng đã biết gần hết về người rồi, vì người với ta có lẽ giống nhau khoảng 99 phần trăm và chỉ 1 phần trăm là khác nhau.

Nhưng biết mình không phải là việc dễ. Benjamin Franklin viết: “Có ba điều cứng/khó-khăn (hard) nhất—thép, kim cương, và biết chính mình.” Đôi khi ta có cảm tưởng là ta biết rất rõ về chính mình. Tuy nhiên, “biết” có nghĩa là kiểm soát được. Nếu ta biết chú trộm sẽ suy nghĩ và hành động như thế nào, đương nhiên là ta không thể bị trộm. Nhưng đã bao nhiêu lần bà hàng xóm chỉ nói một câu nghe hơi chanh chua là ta đã bốc lửa hừng hực tức thì, trước khi kịp suy nghĩ “Nên nổi giận không?” Đã bao nhiêu lần ta biết là nên làm hòa với hắn, nhưng hễ thấy mặt hắn thì ta lại chỉ muốn tát cho hắn một cái, thế là ta lại bước sang hướng khác? Đã bao nhiêu lần ta biết khoe khoang là không hay, nhưng vẫn tiếp tục khoe khoang?

Hê thần kinh, hệ suy tưởng của chúng ta, được lập trình theo thói quen. Cứ thế mà chạy, không cần ta điều khiển, mà thường thì cũng không cho ta điều khiển. Một số các thói quen này ta có thể thấy được. Một số thói quen khác, nhất là thói quen về cảm tính, ta chỉ làm theo mà không biết. Chẳng hạn, nói láo thì tim đập khác đi một tí, hoăc nghe điều gì làm ta lo lắng thì lại tái mặt, đổ mồ hôi. Hoặc là, nói về mình thì cứ tự nhiên thêm thắt một tí.

Cung cách suy nghĩ và hành động của mỗi người chúng ta đã được lập trình bằng quá nhiều điều: Hệ thống tâm sinh lý tự nhiên, di truyền, thói quen học được từ bố mẹ anh em, giáo dục, kinh nghiệm, v.v… Tất cả những điều này tạo nên cá tính của ta. Cá tính là tổng hợp của tất cả các thói quen ta có. Và các thói quen này vừa tạo nên cá tính, vừa là những bức màn che ta trong bóng tối của chính mình.

Biết được chính mình tức là biết được tất cả những thói quen gì đang xảy ra trong mình, đang hành động trong mình, và tìm cách điều khiển chúng, không để cho chúng điều khiển mình. Biết mình tức là làm chủ được chính mình.

Nhưng làm thế nào để biết mình?

Cách tự nhiên là mình phải lặng yên để quan sát mình. Muốn biết về con ve, cái kiến, hay bất điều gì đó, thì chỉ có cách là quan sát thật kỹ thôi. Muốn biết về chính mình cũng thế, ta cứ phải quan sát chính mình. Và nếu không thể vừa quan sát con kiến vừa nhảy rock and roll, thì ta cũng chỉ có thể quan sát chính mình trong yên lặng.

Yên lặng là điều kiện cần thiết để quan sát. Và bởi vì yên lặng quá hiếm hoi trong thời đại chạy đua ồn ào của chúng ta, quan sát chính mình trở thành quá khó khăn , vì vậy nhiều người không có cơ hội thấy được mình một cách rõ ràng. Đây là điều mà nhà Phật gọi là vô minh, và môt số triết gia và xã hội học gia tây phương gọi là “vong thân” (alienation).

Tĩnh lặng và bình yên
Tĩnh lặng và bình yên

Vậy thì điều đầu tiên bạn phải làm là tìm một tí yên lặng mỗi ngày để quan sát mình. Ngồi yên trong một góc công viên thanh vắng, hay đóng cửa phòng ngủ và tắt nhạc, đương nhiên là bớt đi được một tí ồn ào, nhưng chưa chắc như vậy đã là yên lặng. Bởi vì trong đầu chúng ta thường có nhiều “tiếng động”, như là bận rộn suy tính công việc, lo lắng, giận ai đó, bực mình điều gì đó. Chỉ khi nào các tiếng động này lắng xuống, lúc đó ta mới có được yên lặng. Đó cũng chính là lý do mà các nhà đạo học đông phương thường dạy người ta xếp bằng và tập trung tư tưởng vào việc theo dõi hơi thở. Kinh nghiệm cho thấy đây là cách hữu hiệu nhất để làm cho các tiếng động trong đầu mình lắng xuống. Các tôn giáo tây phương thường tìm sự tĩnh lặng trong cầu nguyện. Đó cũng là một cách rất hay.

Bạn có thể tìm bất kỳ cách nào hợp với bạn. Điều cốt yếu là tĩnh lặng. Nếu bạn tập trung tư tưởng vào việc quan sát một bông hoa đẹp chẳng hạn, quan sát màu sắc, cách hoa, nhụy hoa, các kết cấu của hoa, cũng có thể làm cho các “tiếng động” khác biến dần đi. Hay là nghe nhạc nhẹ và để tâm vào nhạc một tí.

Khi đã có yên lặng rồi, bắt đầu quan sát mình. Có hai cách quan sát.

1. Quan sát quá khứ: Nhìn lại mọi việc mình làm, mọi câu mình nói, mọi suy nghĩ mình có trong ngày. Quan sát xem mình đã làm điều gì không nên làm, và cần thay đổi phong cách và thái độ trong tương lai không. Đây chỉ là cách rất sơ đẳng.

2. Quan sát mình trong hiện tại: Có ba giai đoạn quan sát — quan sát thân thể, quan sát cảm giác, và quan sát tư tưởng.

Quan sát thân thể là nhắm mắt, dùng trí óc để “nhìn” thân thể mình, nhìn thế ngồi hay thế nằm của mình, nhìn tay chân, mặt mũi, tóc tai của mình.

Sau đó quan sát cảm giác, bắt đầu là cảm giác trong thân thể như tê tay, ngứa chân, rồi đến các cảm giác trong đầu óc như buồn, vui, giận, bực mình, trống không, v.v… Kế đó quan sát cả lý do mà mình có những cảm giác đó, như là ai đó hồi chiều nói một câu mà tối nay mình còn cảm thấy buồn buồn.

Giai đoạn cuối cùng là quan sát tư tưởng, “nhìn” xem cái đầu mình đang suy tư điều gì, như là “mình đang bực mình vì cô này và đang ước ao được mắng cô ta một trận”, hay “mình đang nghĩ đến việc phải viết xong tờ trình ngày mai.”

Chỉ giản dị vậy thôi. Nếu ngày nào trước khi ngủ ta cũng có khoảng 10 phút tập như thế, thì ta sẽ luyện cho hệ thần kinh của mình nhận diện các cảm xúc và tư tưởng của mình mỗi khi chúng xuất hiện. Và đã nhận diện được tức là có thể kiểm soát được. Thông thường việc nhận diện tự nó có hiệu quả ngăn ngừa, cũng như kẻ trộm tự động ngưng trộm khi hắn biết là người ta đã nhận diện được hắn là tên trộm.

Các thực tập trên đây dựa một tí theo thiền Tứ Niệm Xứ của phật giáo nguyên thủy. Thiền này có bốn quan sát: Thân thể, cảm giác, tư tưởng và vũ trụ. Ở đây ta chỉ cần dùng 3 bước đầu về mình mà thôi. Hơn nữa, các vị sư thường ngồi xếp bằng để thiền định. Tuy nhiên, nếu bạn ngồi xếp bằng mà trong lòng thì cứ tương tư đến giường nệm và gối ôm, thôi thì lên giường nằm ôm gối cho được việc. Điều quan trọng là tĩnh lặng và quan sát, chứ không nhất thiết là ngồi, nằm hay đi.

Bạn chỉ cần tập quan sát chính mình như thế, một lúc nào đó bạn sẽ thấy được những gì xảy ra trong mình mỗi khi chúng đến và bạn có thể làm chủ chính mình—không dễ nổi nóng, không dễ lo sợ, không dễ mất bình tĩnh. Lúc nào cũng tĩnh lặng và chủ động. Và nếu có ai thấy bạn nổi nóng, đó không phải là vì bạn “bị” nổi nóng mà bạn cố tình ra vẻ nổi nóng, vì làm như thế thì người kia mới chịu nghe.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,
Hoành

Stumble It!

© copyright TDH 2009
Permitted to use for non-commercial purposes

Yêu mình

Chào các bạn,

Nếu ta muốn yêu thương tích cực với thế giới và đời sống này, trước hết ta phải thương yêu chính mình. Nếu mình không yêu thương quý mến chính mình thì làm sao mình có thể yêu thương quý mến người khác được?

Mỗi người chúng ta là một chủ thể đặc biệt, với hình dáng, cá tính và tâm tình đặc biệt. Trong gần 7 tỉ người trên thế giới, không ai giống ta cả. Trong các thử nghiệm về DNA, chỉ ít hơn 1% của một genome được thử nghiệm, nhưng kết quả từ các thử nghiệm này cũng cho thấy cơ hội để hai người trên thế giới có DNA giống nhau là dưới 1 phần triệu. Nếu toàn genome được thử nghiệm thì xác xuất này còn giảm xuống ít nhất là 100 lần, tức là 1 phần trăm triệu. (Đó là tính theo đường thẳng, nếu phải tính theo cấp số nhân thì xác suất đó có thể nhỏ đến mức không thể tưởng tượng). Và đó chỉ là nói đến DNA, nếu thêm vào đó kinh nghiệm, tâm tính và tình cảm của mỗi người, thì cơ hội để hai người trên thế giới hoàn toàn giống nhau là zero.

Tất cả các tôn giáo đều nâng niu tôn trọng đời sống con người. Trong các tôn giáo thuộc truyền thống Moses (Do thái giáo, Thiên chúa giáo, và Hồi giáo), con người được thượng đế tạo ra theo hình ảnh của ngài. Trong Phật giáo, “được làm người khó như một con rùa chột mắt, cứ mỗi trăm năm mới ngóc đầu lên khỏi mặt biển một lần, và tìm cách chui đầu vào lỗ nhỏ của một khúc gỗ trôi lềnh bềnh trên mặt nước, bị gió Ðông, gió Tây, gió Nam, gió Bắc thổi trôi dạt hết phương này đến phương khác.”

Được làm người là một vinh dự khó có như vậy, được làm chính mình lại là một vinh dự càng hiếm có hơn. Vậy thì sao mình lại chẳng vui mừng về chính mình? Tại sao mình lại chẳng vui mừng về đời sống của mình? Tại sao mình lại chẳng yêu thương chính mình?

Ta không thể yêu thương và quý trọng người khác nếu ta không yêu thương và quý trọng chính mình. Muốn yêu người khác, ta phải yêu ta trước. Từ bi hỉ xả là tình yêu của ta đối với người khác, nhưng để thực hành, ta phải “phát lòng từ” về chính ta trước, sau đó mới mang lòng từ đến được với mọi người. Và yêu người thì “yêu như chính mình ta vậy.”

Vẫn vẽ như thường!
Vẫn vẽ như thường!

Nhưng yêu mình là yêu thế nào?

À, cách dễ nhất là bạn hãy nghĩ đến một người mà bạn yêu nhất trong gia đình—bố, mẹ, anh, chị, em—hay là cô hàng xóm cũng được, nếu bạn mới bị tiếng sét ái tình ngày hôm qua 🙂 Người mà bạn yêu thương nhất đó, bạn muốn người ấy làm gì cho chính mình? Bạn muốn người ấy:

Vui vẻ tươi cười (hay nhăn nhó phàn nàn) cả ngày?
Nói chuyện lúc nào cũng khen (hay lúc nào cũng chê)?
Yêu đời (hay thấy đời là đày đọa)?
Nói chuyện về hôm nay và ngày mai (hay cứ lãi nhãi chuyện 30 năm về trước mỗi ngày)?
Thấy mình có lợi ích cho những người chung quanh, ít ra là những người thân trong gia đình, (hay thấy đời mình vô nghĩa lý)?
Giữ gìn sức khỏe (hay ăn chơi vô độ)?
Hoạt động (hay để thân thể ù lì ứ đọng)?
Ăn uống cẩn thận (hay cứ đưa mọi thứ vào miệng mà không cần biết chúng sẽ làm gì cho thân thể)?

Mỗi người chúng ta có những ý thích khác nhau và có lẽ là cũng yêu hơi khác nhau một tí. Nhưng có lẽ bạn đã hiểu ý? Cứ những gì mình muốn thấy nơi người mình yêu, thì hãy tự làm trước đi đã. Biết đâu vì mình cứ làm, mà người kia lại chẳng làm theo? Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.

Chúng ta hay nói tôi yêu bố mẹ anh em, tôi yêu gia đình, tôi yêu thầy cô, tôi yêu đồng bào, tôi yêu đất nước. Nhưng có bao giờ bạn nói “Tôi yêu chính tôi” không? Chúng ta sẽ không bao giờ đi đến đích nếu chúng ta không biết điểm khởi hành.

Và yêu không phải chỉ là lời nói. Cũng không phải chỉ là cảm tính. Phần lớn nhất của tình yêu là hành động đó bạn ạ.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© copyright TDH 2009
Permitted to use for non-commercial purposes

Nửa ly nước

Các bạn mến,

Hôm nay bên hội hoa xuân, nam thanh nữ tú dập dìu, cười nói xôn xao. Nhưng ai đó lầm lũi giữa dòng người, nhìn những cánh hoa muôn sắc mà nghe lòng tê tái: “Hoa ơi, sao ngươi cứ vô tình?”

Hôm qua trời mưa, những em bé tắm mưa cười đùa trong hẻm nhỏ, đôi tình nhân ôm nhau che dù bước trong mưa. Nhưng người cô phụ chờ chồng nhìn những dòng mưa như những dòng nước mắt.

Vậy thì mưa buồn hay vui? Hoa vô tình hay hữu ý?

Mưa chỉ là mưa. Hoa chỉ là hoa. Hoa đâu có ý tình, mưa đâu có buồn vui. Chẳng qua chỉ vì lòng người xuống lên, bập bềnh, trôi nổi.

Tất cả những hiện tượng bên ngoài, đều không có ý nghĩa gì tự chúng cả; các ý nghĩa đều từ tư duy của ta mà sinh ra. Mưa chỉ là mưa; nếu ta cho là mưa buồn thì mưa buồn, nếu ta cho là mưa vui thì mưa vui. Nắng chỉ là nắng; nếu ta cho là nắng đẹp thì nắng đẹp, nếu ta cho là nắng chói thì nắng chói.

Tất cả các tình cảm–vui, buồn, giận, ghét, yêu, thích–chỉ là phản ứng của ta đối với sự việc bên ngoài. Nếu chàng trễ hẹn mà ta cau có phàn nàn thì cũng phải, hoặc ta cười vui vì kẹt xe thế mà chàng cũng đến cho bằng được thì cũng phải. Trễ hẹn chỉ là trễ hẹn. Đó chẳng phải là chuyện vui hay buồn, tốt hay xấu. Vui buồn chỉ là phản ứng của ta đối với việc trễ hẹn thôi.

Nửa ly nước, nếu nói là đầy nửa ly thì cũng đúng, mà cạn nửa ly thì cũng đúng. Đằng nào cũng đúng. Tất cả chỉ tùy thuộc vào sự lựa chọn của chúng ta thôi. Ta muốn tư duy tích cực, yêu đời, mạnh mẽ? Hay là muốn làm kẻ phàn nàn, người thua cuộc?

Vui buồn, yêu ghét, tích cực tiêu cực, không phải từ ngoài đến. Cũng không phải là bẩm tính trời sinh. Chúng chỉ là thói quen của ta phản ứng lại với các tác nhân bên ngoài. Nếu ta quen càu nhàu, phàn nàn, tiêu cực, thì cả đời ta luôn luôn càu nhàu, phàn nàn, tiêu cực. (Và có lẽ là cũng sẽ kết hôn với người càu nhàu, phàn nàn, tiêu cực. Nồi nào vung nấy). Nếu ta quen mỉm cười, vui vẻ, nồng nhiệt, thì cả đời ta luôn luôn mỉm cười, vui vẻ, nồng nhiệt.

Và trong hai loại người này, bạn biết là ai sẽ thành công trong đời, phải không?

Victory!
Victory!

Bạn mới mua một chiếc xe máy, đi được vài hôm đã bị tai nạn, chiếc xe nát bấy, vậy là xui hay hên? Nếu chiếc xe nát bấy mà giờ nầy bạn còn ngồi nói chuyện được, thì đó là xui hay hên vậy?

Nếu bạn thi hỏng, không vào đại học ưu tiên một được, thì đó là việc tốt hay xấu?

Nếu không vào được trường y nhưng lại vào trường luật, biết đâu đó lại chẳng là dấu hiệu bạn hợp nghề luật hơn và sau này sẽ thành công lớn trong nghề luật.

Nếu chẳng có đại học nào nhận bạn cả, có lẽ đó là dấu hiệu bạn sẽ phải theo con đường làm ăn của Bill Gates.

Có thể là mỗi người chúng ta có một tí di truyền từ bố mẹ. Nhưng nếu mình không chịu tập tư duy tích cực rồi cứ đổ lỗi cho bố mẹ về tính tiêu cực muôn năm của mình, thì rất là bất công cho bố mẹ, và bất công cho cả ông trời nữa đó 🙂 Muốn biết làm toán thì chỉ có cách là đi học toán mà thôi.

Nhưng làm thế nào để tập được một tư duy tích cực?

Thứ nhất, mỉm cười cả ngày, nhất là khi nói chuyện với ai.

Thứ hai, gặp bất kỳ chuyện gì, dù xem ra có vẻ xấu cách mấy, ta cũng phải hỏi: “Chuyện này có gì hay? Có gì tốt?” Nếu bạn tìm không ra câu trả lời, hỏi tiếp cho đến khi thấy câu trả lời.

Thứ ba, bạn sẽ không tìm ra câu trả lời nếu bạn nổi nóng, mất bình tĩnh, than khóc, phàn nàn. Trí óc con người không thể làm việc tốt trong những điều kiện khó khăn như thế. Vì vậy, uống vài ngụm nước, ngân nga một bản nhạc, đi bộ vài ba vòng, trước và trong khi hỏi.

Thứ tư, luôn luôn để tâm đến cái tốt, cái hay, cái đáng thông cảm của người khác, và đừng cứ chú tâm vào cái xấu, cái đáng ghét của họ. Ai cũng có một cái gì đó đáng cho mình thích, đáng cho mình thông cảm. Nếu bạn không thấy được điểm nào đáng yêu, đáng phục, đáng cảm thông trong một người nào đó, thì nhất định là đầu óc của bạn có vấn đề, chưa biết cách suy nghĩ chính xác.

Chỉ giản dị thế thôi. Và “luyện tập sẽ đưa đến toàn thiện” (practice makes perfect). Cứ tập hoài thì một lúc nào đó bạn chỉ có thể tư duy tích cực, và đầu óc của bạn mất cả khả năng tư duy tiêu cực. Lúc đó là lúc đại công cáo thành.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến

Hoành

Bài liên hê.: Nủa ly nước (tiếp theo)

Stumble It!

© copyright TDH 2009
Permitted to use for non-commercial purposes