Kiến tánh thành Phật

Chào các bạn,

Bodhidharma
Hôm qua chúng ta nói “Trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật”. Đó là hai câu, mỗi câu bốn chữ, trong bài kệ 4 câu, tương truyền là của Bồ Đề Đạt Ma, vị tổ đầu tiên của dòng thiền Trung quốc. Bài kệ này là kim chỉ nam của Thiền tông Đại thừa.

Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ chân tâm (1)
Kiến tánh thành Phật

Dịch nghĩa:

Không lập chữ nghĩa
Truyền riêng ngoài giáo pháp
Chỉ thẳng tâm thật
Thấy tánh thành Phật.

Tương truyền, Phật Thích Ca truyền Thiền cho đệ tử Ma Ha Ca Diếp. Ca Diếp truyền cho các đệ tử ở Ấn Độ, và Bồ Đề Đạt Ma là vị tổ thứ 28 của dòng thiền Ấn Độ. Khi Bồ Đề Đạt Ma sang Trung quốc dạy Thiền vào thế kỷ thứ 6, sư thành vị tổ đầu tiên (sơ tổ) của dòng Thiền Trung quốc.

Bồ Đề Đạt Ma là âm của Bodhidharma. Bodhi (bồ đề) là giác ngộ, tỉnh thức, awakened, enlightened. Dharma là pháp—giáo pháp, hay tất cả mọi thứ trong vũ trụ.

Ảnh của Bồ Đề Đạt Ma thường vẽ sư mang một cây gậy của các thiền sư đi bộ xa xôi, nhưng thay vì đeo một túi hành trang lủng lẵng thì đeo một chiếc dép, ‎ ý nói sư dạy tư tưởng nhất nguyên—tất cả là một.

Giải thích bài kệ chỉ nam của Thiền tông:

• “Bất lập văn tự”: Là không lập chữ nghĩa, kinh sách. Nói là không cần chữ nghĩa và kinh sách thì cũng có thể đúng, nhưng nói là không “chấp” vào kinh sách chữ nghĩa thì đúng hơn, vì Thiền tông viết rất nhiều kinh sách.

Tức là, đọc kinh sách thì đọc nhưng đừng lệ thuộc vào sách, vì chữ nghĩa không thể nói được hết điều người viết muốn nói. Phải nắm được tinh yếu của lời nói, bên sau lời nói.

Trên thực tế, điều này có nghĩa là thực hành, tập luyện thường xuyên thì ta mới tự hiểu được những điều mà người nói/viết không thể giải bày hết được, vì ngôn ngữ rất hạn hẹp không đủ để diễn tả điều gì rốt ráo.

• Giáo ngoại biệt truyền: Là truyền riêng, truyền đặc biệt, bên ngoài giáo lý của kinh sách.

Điều này nhấn mạnh đến giới hạn của ngôn ngữ, và cách truyền dạy—thầy dạy học trò riêng rẽ từng người một. Dù là có thể có những giờ thuyết giảng chung cho cả lớp, nhưng mỗi trò luôn luôn được thầy dạy cách riêng. Và học trò ngộ đến đâu là do căn cơ của trò chứ không do biết kinh đến đâu. Lục tổ Huệ Năng được tổ Hoằng Nhẫn truyền y bát để nối dòng các tổ sư mà thực ra Huệ Năng không rành kinh sách gì cả và chưa học kinh sách ngày nào của Hoằng Nhẫn (nhưng Huệ Năng đã ngộ ngay khi nghe ông hàng xóm đọc Kinh Kim Cang đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” (“không trụ vào đâu cả nên sanh tâm Bồ Đề”).

• Trực chỉ chân tâm: Chỉ thẳng vào tâm thật, tâm tĩnh lặng trong sáng nguyên thủy của ta.

Chân tâm là tâm thật của ta, khác với tâm vọng động.

Tâm vọng động là các xung động ta có một lúc nào đó–giận dữ, sợ hãi, lo lắng, tham lam…

Chân tâm là bản tánh (hay “tánh”) tĩnh lặng trong sáng của ta, là Phật tính trong ta, là tâm Phật trong ta, đã luôn luôn, và sẽ luôn luôn, có trong ta.

Chân tâm thì thường hằng, luôn như thế, không thay đổi–tĩnh lặng và trong sáng.

Tâm vọng động là những cơn sóng nhất thời, ngắn ngủi trong lòng, có rồi mất, do ta chưa làm chủ được mình.

Bình thường ta chỉ thấy tâm vọng động mà không thấy được chân tâm, cũng như ta chỉ quen thói nhìn sóng mà không nhìn biển, nhìn mây mà không nhìn trời.

Bây giờ ta phải quen nhìn chân tâm, để có thể thấy chân tâm.

• Kiến tánh thành Phật: Thấy được bản tánh của ta—tĩnh lặng trong sáng, tâm Phật của ta—thì thành Phật. “Tánh” của ta cũng chính là “chân tâm”.

Tất cả mọi chúng ta đều có Phật tính, tâm Phật trong ta. Thấy được tâm Phật đó là thành Phật.

Câu hỏi là: “thấy tánh” (kiến tánh, thấy tâm Phật) là thấy được điều gì? Và thấy là thấy thế nào?

Đây là câu hỏi hầu như chẳng có câu trả lời, và mọi người viết sách đều viết một kiểu như nhau, nhưng thực sự là chẳng trả lời được gì cả, ngoại trừ một mớ chữ.

Vì vậy, đây là câu hỏi mà mỗi người chúng ta sẽ có câu trả lời riêng, nếu ta tu tập thường xuyên.

Nhưng muốn “kiến” (thấy) thì phải “quán” (nhìn). Không nhìn thì không thấy được.

Vì vậy, các bạn:

1. Đừng quan trọng hóa các thói hư, tât xấu, các điểm yếu trong tâm mình. Đó là các đám mây che mờ tánh thật của mình, làm mình khó thấy tánh thật của mình.

2. Tập “nhìn” trái tim tĩnh lặng trong sáng của mình—tức là trái tim Phật của mình, tĩnh lặng, từ bi vô lượng, mà mình đã có sẵn từ lúc mới sinh.

Tập mỗi ngày. Lặng yên, hay ngồi Thiền, và “nhìn” trái tim trong sáng của mình, 5 phút, 10 phút, 15 phút, 30 phút…

3. Nếu không thành Phật ngay thì nhất quyết cũng trưởng thành tâm linh rất mạnh mẽ và liên tục.

Kiến tánh thành Phật.

Chúc các bạn một ngày thành đạt.

Mến,

Hoành

Chú thích: (1) “Trực chỉ chân tâm”, có người viết là “trực chỉ nhân tâm” hay “trực chỉ minh tâm”.

Bài liên hệ: Nhìn trái tim trong sáng của mình

© copyright 2012
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Một suy nghĩ 34 thoughts on “Kiến tánh thành Phật”

  1. Khi bạn thành tâm nói: “Nam mô A DI Đà Phật” hay “Xin Chúa ở cùng con!” là bạn đã quay về với Chân Tâm, với Bản Tánh trong bạn.

    Phật/Chúa đều có trong lòng ta. Hãy quay về!
    Quay về và thấy rằng “cội nguồn cũng ở lòng người mà ra…”

    Số lượt thích

  2. Hi anh Thảo và cả nhà,

    Niệm Phật hay cầu nguyện là hai pháp môn. Tất cả đều có mục đích giúp cho tâm ta tĩnh lặng. Nhưng hai pháp môn kia rất khác pháp môn “trực chỉ chân tâm” của Thiền tông.

    Niệm Phật Adidà là dựa vào Phật Adiđà. Cầu chuyện là dựa vào Chúa.

    Trực chỉ chân tâm. “Trực chỉ” là chỉ thẳng vào tâm của mình, không đi đường vòng, không dựa vào Phật, Chúa, kinh sách, giáo pháp… không dựa vào ai, không dựa vào điều gì.

    Đây là pháp môn trực tiếp, đi đường thẳng, của những người rất mạnh mẽ về tâm lực và trí tuệ.

    Nhìn thẳng vào trái tim tĩnh lặng trong sáng của mình, và giác ngộ vì thấy được chính trái tim của mình, thấy được tâm Phật của chính mình. Cực kỳ mạnh mẽ và trí tuệ. (Nhìn các bức chân dung của Bồ Đề Đạt Ma thì có thể thấy được sức mạnh của tâm lực).

    Dĩ nhiên là pháp môn nào cũng tốt. Nhưng khi học thì đừng lộn môn này qua môn kia, như là học nhạc cổ điển mà cứ đánh như Jazz thì không thể hiểu và phát huy được nhạc cổ điển đến nơi đến chốn.

    Số lượt thích

  3. Hình như trời sinh bản tính mỗi người sẽ phù hợp với một phương tiện, con đường (pháp môn) nhất định anh nhỉ? 🙂 Tìm được con đường phù hợp, mọi sự dễ dàng như hơi thở, như hiển nhiên nó phải thế. Và rồi mọi con đường song song sẽ gặp nhau … ở vô cùng. 🙂

    Số lượt thích

  4. Kính chào anh Hoành và các bạn !

    Xin vui vẻ tiếp thu nhắc nhở của anh Hoành. Phân tích của anh Hoành rất đúng !

    Nhưng mình muốn “trao đổi” thêm một chút với hy vọng…mình sẽ được “sáng” thêm ra…

    Mình chưa theo tôn giáo nào và cũng chưa hoặc rất rất ít dự một nghi lễ niệm Phật hay cầu nguyện Chúa. Nhưng trong đời sống thường ngày, mỗi khi mình chợt cảm thấy sắp bị dính vào các phiền não, hoặc biết mình đang ở trong phiền não, mình tự nhẩm “nam mô A Di Đà Phật” hoặc “Xin Chúa ở cùng con”. Khi thực hiện như vậy, mình thấy tâm mình bớt xung động, lòng mình bình an hơn.

    Nói đó là thực hành pháp môn “niệm Phật” hay “cầu nguyện” là đúng. Nhưng với mình, đó là cách nhanh nhất để mình kịp quay về với “tâm tĩnh lặng” – tức là “tánh” – của mình – và của mọi người, vì “tánh” của mọi người đều giống nhau.

    Vì vậy mà mình đã nói như phản hồi trước đây.

    Thêm nữa, mình chưa hiểu rõ nghĩa của câu “vạn pháp quy tông”, nhưng mình nghĩ “vạn pháp quy tông” theo hướng là tất cả các pháp chung cuộc đều quy về một gốc. Đó là “Một”, là “chân tâm”, “bản tánh”, nên mình không suy nghĩ nhiều về điều mình đã theo “pháp môn” nào. Đó có thể là một thiếu sót, nhưng trên đời nầy, mấy ai biết được, kể ra được 84.000 pháp môn, và tiêu tốn thời gian để tìm và kể ra được, phỏng có lợi ích gì…

    Đây là ý nghĩ của mình “lúc nầy”. Mình nói “lúc nầy” vì có thể “sau nầy” mình sẽ nghĩ khác, khi đã được hiểu thêm…

    Thân ái !

    Số lượt thích

  5. Hi Quỳnh Linh, anh Thảo, và cả nhà,

    Pháp môn “trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật” là pháp môn “đốn ngộ” của Thiền Nam Tông, mà người đại diện là Lục tổ (tổ thứ 6) Huệ Năng.

    Gọi là Nam Tông vì Huệ Năng đến từ Phương Nam của Trung Quốc, và sau khi được Hoằng Nhẫn truyền y bát (áo cà sa và chén hành khất) thì lại về Phương Nam truyền giáo. Bắc Tông là nhánh ở miền Bắc của một đệ tử khác của Hoằng Nhẫn là Thần Tú lãnh đạo.

    (Ghi chú: Huệ Năng đến từ miền Lĩnh Nam, là miền phía Nam sông Hoàng Hà. Lĩnh Nam là miền của các bộ tộc Việt, gọi chung là Bách Việt, mà người Việt ta là một trong những bộ tộc đó. Bách là 100, có ý chỉ số nhiều chứ không hẳn là đúng con số 100. “Việt” là “vượt” qua. Người Hán (ở từ bờ Bắc sông Hoàng Hà trở lên mạn Bắc, đến sông Dương Tử), gọi các bộ tộc ở phía Nam sông Hoàng Hà là “Việt” có nghĩa là “vượt qua sông Hoàng Hà”. Cách gọi này vẫn còn dùng ngày nay. Và vùng đất phía nam sông Hoàng Hà (Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam… Bắc Việt ngày nay) thì gọi là Lĩnh Nam–lĩnh vực phía Nam. Nhớ cuốn “Lĩnh Nam Chích Quái” của dân Việt ta. Huệ Năng đến từ đảo Hải Nam của Trung Quốc ngày nay)

    Nam Tông là Thiền đốn ngộ, ngộ ngay tức thì–chỉ thẳng vào tâm, thấy tánh là thành Phật tức thì, như Lục tổ Huệ Năng chẳng biết kinh sách gì cả, nhưng khi hàng xóm đọc “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” của Kinh Kim Cang thì ngộ ngay lập tức.

    Bắc Tông là tiệm ngộ, ngộ từ từ mỗi ngày một chút do tu tập và học hỏi kinh sách.

    Ngày nay Thiền đốn ngộ được xem là đã thất truyền, không còn đệ tử.

    Dòng Thiền chính của Việt Nam còn lại đến ngày nay là dòng Trúc Lâm do vua Trần Nhân Tông thiết lập trên núi Yên Tử. Dòng Thiền này, cũng như tất cả mọi nhánh Thiền khác của VN ngày nay, là “thiền tịnh song tu” (Thiền và pháp môn niệm Adiđà Phật của Tịnh độ tông cộng lại), cho nên thuộc tiệm ngộ–niệm phật, học kinh sách, giữ giới, thiền định, mỗi ngày khá lên một chút.

    Tuy nhiên “chỉ thẳng vào tâm nguyên thủy của mình” là một pháp môn có sức mạnh rất lớn, nếu ta nhìn theo con mắt của một chuyên gia chuyên về tư duy tích cực. Nhìn cái đẹp và huyền diệu mà mình đã có sẵn trong mình–tâm thật, tâm nguyên thủy, tâm tĩnh lặng trong sáng, tâm từ bi vô lượng của chính mình–để giác ngộ, thì đó là sức mạnh tích cực mà chẳng pháp môn nào có thể bì, vì mọi pháp môn khác luôn luôn phải dựa vào cái này cái kia, người này người kia. Năng lượng tích cực được tạo ra với “chỉ thẳng chân tâm” cực kỳ mạnh, vì tâm lực của hành giả (người thực hành) quá mạnh.

    Nhưng, vấn đề là bài kệ chỉ nam của Bồ Đề Đạt Ma thiếu một chữ quan trọng là chữ “quán” (nhìn). “Quán” (nhìn) có lẽ đã được có sẵn trong “trực chỉ” (chỉ thẳng). Nhưng có lẽ vì chữ “quán” không được viết ra rõ ràng nên đa số người không thấy, và do đó từ “chỉ thẳng” trở thành cực kì khó hiểu–chỉ thẳng vào tâm có nghĩa là gì? Làm sao mà chỉ? Chỉ thế nào?

    Nhưng nếu ta dọc chữ “kiến” (thấy) thì vấn đề rất dễ hiểu. Muốn “thấy” thì phải “nhìn”. Từ “chỉ thẳng”, do đó, nên được hiểu là “nhìn thẳng”, thì phương pháp đốn ngộ trở thành dễ hiểu, dễ thực hành, và có lẽ không đến nỗi phải thất truyền cả nghìn năm nay.

    “Nhìn” thẳng vào tâm thật của mình. Nhìn mãi cho đến khi mình có thể gạt qua một bên tất cả các vọng động và si mê như mây mờ che tầm mắt và “thấy” được tâm thật của mình rất rõ ràng. Lúc đó là đạt đạo.

    Trong thời gian “nhìn thẳng” như thế, dù chưa đạt đạo, năng lực tích cực ta tạo ra do tự tin vào chính tâm thật của mình cũng sẽ cực kì mạnh mẽ.

    Số lượt thích

  6. Hi anh Thảo,

    Pháp nào thì mục đích cũng chỉ là để giúp ta tĩnh lặng. Mỗi người tự chọn và tự tạo pháp thích hợp cho mình. Chẳng cần phải pháp có sẵn, miễn sao đạt được tĩnh lặng thì thôi.

    Mỗi người cứ lựa cho mình một pháp môn thích hợp. Người không thích cầu nguyện hay niệm Phật, phải chọn Pháp môn không có cầu nguyện hay niệm Phật.

    Nhưng mỗi pháp môn có một điểm đặc biệt, một điểm mạnh. Nếu ta tập một phương pháp nào đó mà không nắm vững nguyên lý của nó, thì tập sẽ rất khó đến nơi. Ví dụ: Tập nhu thuật thì người phải dẻo dai nhẹ nhàng. Tập nhu thuật mà cứ lo các môn nặng như cử tạ, thì không thể đạt đỉnh nhu thuật.

    Khi nói lý thuyết thì nói đàng nào cũng được, nhưng nói đến thực hành thì không hiểu và làm đúng cách thì cách đó bị hỏng hoặc yếu đi (hoặc thất truyền như ta đã thấy, vì chỉ một người thầy đi lạc, là pháp môn đó chết trong nhánh của thầy đó, các trò chẳng thể nào biết được để mà giữ nó sống).

    Thiền cũng có nhiều cách tập. Khi ta nói đến một cách, ta phải nắm được tinh yếu của cách đó. Nói làm cho mình và người khác lẫn lộn trong đầu tức là mình vô tình phá pháp môn đó. Không nên.

    Số lượt thích

  7. Anh Hoành ơi

    Em đọc Sám hối lục căn thì thấy có nói đến Phật Tì Bà Thi, Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật Di Lặc Tôn, Tổ Sư Đại Ca Diếp, Tổ Sư A Nan, Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma và rất nhiều…vị tổ sư khác, nhưng nói thật là em cũng chưa hiểu hết ý nghĩa của từng vị trong bài Sám hối.

    Đọc bài này của anh em hiểu hơn về Bồ Đề Đạt Ma, cám ơn anh. Nhân tiện, em muốn hỏi là căn cơ, căn tánh để ngộ, để thành Phật thì trong tiếng Anh có từ nào là tương đương không anh? Em chưa tìm được anh ạ

    Số lượt thích

  8. Hi Thuận,

    Tiếng Anh có từ “innate ability” là từ gần nhất với “căn cơ”, nhưng yếu hơn căn cơ rất nhiều. Innate ability là chỉ về khả năng mình có từ lúc sinh ra. Căn cơ cũng có nghĩa đó, nhưng nó còn gói trọn triết lý nhà Phật trong đó. Căn là gốc, rễ. Cơ là máy, ý nói về guồng máy nhân duyên, luân hồi, v.v…

    Khi nào anh thấy từ tiếng Anh nào gần với căn cơ hơn, anh sẽ cho thuận biết.

    Số lượt thích

  9. Hi Thuận,

    Em học thiền từ các sư Thái Lan là Thiền Nguyên Thủy (hay còn gọi là Như Lai Thiền), do chính đức Phật dạy. Căn bản chính là thiền Vipassana (Thiền Minh Sát), quán Tứ Niệm Xứ (Thân thể, cảm xúc, tư tưởng, các pháp – thân thọ thức pháp).

    Đây là một môn Thiền rất căn bản, dễ hiểu, dễ thực hành, rất quan trọng trong việc aware (nhạy cảm và hiểu biết) về chính mình. Và khó bị đi lạc.

    Thiền Tổ Sư (là thiền của các tổ sư ở Trung Quốc từ thời Bồ Đề Đạt Ma trở xuống). Đây là thiền Đại Thừa, thường đi vào các tư tưởng đại thừa trừu tượng (Bát Nhã Tâm Kinh, Kinh Kim Cang, hay phương pháp đốn ngộ mà ta đã nói). Các môn này rất trừu tượng, và rất dễ bị lạc.

    Cho nên em cần nắm giữ Thiền Nguyên Thủy em đang học, đừng đễ các tư tưởng Đại Thừa làm em rối rắm. Em muốn nghiên cứu cả hai, thì phải hiểu rõ cái nào là Nguyên Thủy, cái nào là Đại Thừa, thì em sẽ không bị nhầm lẫn, đưa đến rối rắm và đi lạc.

    Số lượt thích

  10. Dạ, em cám ơn anh Hoành đã remind, em biết là thiền của Thái và thiền ở nhà mình khác nhau, và Phật giáo của nhà mình và Thái cũng vậy. Chính vì vậy mà hồi em ở Thái có bao nhiêu câu hỏi Tại sao cứ ở trong đầu em. Phải nói là hồi đó em rất ấn tượng với nền Phật giáo của các bạn, mọi người coi meditation là một điều bình thường như tập excercises vào buổi sáng hàng ngày. Khi em đi thăm các chùa ở Chiang Mai, em ngỡ ngàng vì sự sắp xếp rất well-organized và sạch sẽ của các thầy cô bên đó, cách làm việc vô cùng khoa học theo trình tự dễ hiểu, dễ thực hiện. Rồi cách mà mọi người làm lễ , tất cả đều rất simple nhưng trang nghiêm và ai cũng làm theo nghiêm túc. Nhưng em thắc mắc là tại sao ở nhà mình những điều simple là vậy ta không làm được? Tại sao em vừa nói đến Thiền là ai cũng nói ngay đến tẩu hỏa nhập ma? Rồi ai cũng nói là em có thừa thời gian hơn người khác nên mới làm vậy? rồi có rất nhiều lí do để mọi người đến với em rồi lại đi. Em đã đi tập tu trên Yên Tử vài lần nên em cũng vỡ ra và biết chút ít. Em tự hỏi là tại sao cùng là Phật giáo mà bạn lại tiến bộ vậy? Tại sao ta đi tu mà sao lại vẫn dùng những lời khó nghe với nhau? Tại sao không ai đưa ra quy định làm gì trước, làm gì sau?..v.v… Vì rất nhiều thứ khác biệt cứ xảy ra xung quanh mình như vậy nên em thấy em không tìm hiểu thì thấy…day dứt làm sao!

    Ôi, nhưng anh ơi, em nói thêm là em rất có duyên với Bát Nhã Tâm Kinh, vì hình như là trong lúc em gặp khó khăn nhất thì em biết đến Bát Nhã Tâm Kinh đầu tiên và thấy ngộ ra (như là nó cho em hiểu thêm những điều em đã trải qua vậy)

    Số lượt thích

  11. Hi Thuận,

    Thực sự là tư tưởng Đại Thừa rất cao siêu. Nhưng căn bản vẫn là Nguyên Thủy (Tiểu thừa).

    Trong sách vở và tư duy của Phật giáo Việt Nam, ta thấy cách nói chê bai Phật giáo Nguyên Thủy rất nhiều. Cho nên trong cách tu tập, các cách tu tập và kinh sách căn bản của Tiểu thừa cũng bị coi thường, không được chú tâm đúng mức (dù Đại Thừa không chối bỏ các thứ đó). Như là không chú tâm đến cộng trừ nhân chia, bắt đầu là đã nói đến phương trình bậc hai, lượng giác và hình học không gian.

    Các vị Thiền sư Đại thừa giỏi, như Thích Nhất Hạnh và vài thiền sư anh quen biết nhưng ít nổi tiếng hơn Nhất Hạnh, đều nói một điều là họ sáng hẳn ra sau khi nghiên cứu Thiền Nguyên Thủy. Anh cũng chỉ sáng ra về Thiền sau khi nghiên cứu và thực tập Thiền Nguyên Thủy.

    Vì coi thường Tiểu Thừa (Nguyên thủy) nên “Thiền” và kiến thức phật học ở VN rất hỗn loạn; tìm thầy tốt, ngoại trừ vài vị thầy lớn, đại da số thì khó như mò kim đáy biển.

    Nói chung là Phật học VN còn cần phải rất nhiều chỉnh đốn.

    Số lượt thích

  12. Vâng, anh, vậy là em hiểu rồi. Em sẽ luôn đặt câu hỏi anh nhé! Để thỉnh thoảng em mà bị lạc thì còn có người nhắc ạ 😀 Em cũng đang đọc 2 quyển của thầy Thích Nhất Hạnh: Quyền lực đích thực và Giọt nước cành dương. Em rất thích lối viết dễ hiểu của thầy.

    Số lượt thích

  13. Anh Hoành ơi
    Nhìn chung là khi em cứ thấy tò mò cái gì là em phải đọc hoặc là tìm, hỏi cho đến khi thấy thỏa mãn mới thôi, và nói chung là cái gì xung quanh mà cứ repeat lại nhiều lần là hay rơi vào đầu óc em lắm 😀

    Số lượt thích

  14. A Hoành và em Thuận, e cũng xin góp một chút.

    Ở Thái lan, đều là Thevada tradition, nhưng cũng phân làm phương pháp thiền chỉ (samatha) và thiền quán (vipassana).

    Phương pháp thiền của e Thuận ở Chùa Dhamakaya là thuộc về thiền chỉ, dùng cách tưởng tượng hình ảnh quả cầu để đạt đến sự yên lặng/ định. Các phương pháp định khác có thể là niệm Phật….

    Thiền nguyên thủy sẽ quán trực tiếp luôn mà không qua giai đoạn định. Phương pháp thực hành quán tứ niệm xứ rất phổ biến trong thiền nguyên thủy. ‘Chỉ về cái tâm nguyên thủy trong thiền nguyên thủy’ mình hiểu là nhìn mọi thứ theo đúng nó là như vậy mà không bị can thiệp bởi những khái niệm, những phân biệt nhị nguyên như yêu ghét, xấu đẹp… từ đó thấy được bản chất của cuộc sống.

    Thiền chỉ có thể là nền tảng cho thiền quán. Phương pháp Dhamakaya, khi thực hành sâu hơn, cũng sẽ là thiền quán. Các pháp, đi đến tận cùng đều là để hiểu được bản chất tam tướng/ (khổ, vô thường, vô ngã) của cuộc sống như Phật dạy.

    Ven. Henepola Gunaratana có viết rất phân biệt và giải thích chi tiết về Thiền tứ niệm xứ và thiền chỉ The Path of Serenity and Insight/ Con đường thiền chỉ và thiền quán. Cuốn Mindfulness in plain English đặc biệt dễ hiểu cho người mới bắt đầu với pháp quán tứ niệm xứ.
    http://www.urbandharma.org/udharma4/mpe.html

    Ở Hà Nội có một nhóm phật tử lập được một thư viện phật học, ở chùa Linh Thông, đặc biệt có nhiều sách về các phương pháp thiền Nguyên thủy, e thử tham khảo nhé.

    E hiểu từ căn cơ trong ý em Thuận hỏi có nghĩa là dựa vào cơ hội (duyên, condition) và cũng có thể nói là dựa vào cơ sở/ gốc (vì theo Đạo Phật, con người có nhiều kiếp, và em có thể đã thực hành một phương pháp nào đó trước kia, nay có thể tiếp tục theo pháp ấy. Căn tánh có thể hiểu là dựa vào tính/ innate ability của mỗi người để chọn được phương pháp phù hợp với mình. Tìm được người thầy để chỉ cho mình biết điều này sẽ giúp cho con đường của mình thuận lợi hơn rất nhiều. Nhưng đúng như a Hoành nói, là phải tìm hiểu và thực tập đủ lâu để tự trải nghiệm được cái nào phù hợp với mình nữa. Cái này tự bản thân mình cũng chưa trả lời được.

    Số lượt thích

  15. Cảm ơn Hải chia sẻ. Cuốn Mindfulness in plain English này rất dễ hiểu.

    Cuốn The Path of Purification (Visuddhimagga) của luận sư Buddhaghosa là cuốn cẩm nang rất tốt cho các thực tập Nguyên Thủy mấy trăm năm nay. Bản tiếng Anh của tỳ kheo Nanamoli rất tốt. (Có bản dịch Tiếng Việt của Thích Nữ Trí Hải, gọi là Thanh Tịnh Đạo, nhưng bản tiếng Việt này có nhiều chỗ sai, và các nơi khác thì rất khó hiểu).

    Tông phái nào của Thiền thì cũng phải dùng thiển chỉ (Samatha) để nhập môn. Tập trung vào một điểm nào đó — hơi thở, hay đầu mũi, đan điền thượng.. hay một điểm trên tường) để giữ tư tưởng vào một chỗ, không chạy tán loạn.

    Ở mức cao hơn các tông phái mới bắt đầu dạy quán.

    – Ở Phật giáo Nguyên thủy, thì thiền quán là Vipassana, dùng Thiền Tứ Niệm Xứ của Phật Thích Ca.

    – Đại thừa thì, trên nguyên tắc, quán là quán các tư tưởng cao siêu từ các kinh mình trì tụng (Bát Nhã Tâm kinh, Pháp Hoa, Kim Cang v.v..), và chính tại khúc này là Đại thừa có vấn đề vì rất nhiều người đi lạc. Nhiều người lạc trong các ma trận của các tư tưởng phức tạp, và nói năng lung tung, chẳng đâu vào đâu cả, và chẳng được gì trong cách sống của mình. Nhưng các vị lại thích nói các điều cao siêu dù là chẳng hiểu gì cả. Hấp lực của chữ nghĩa. (Đây là hiện tượng tẩu hỏa nhập ma mà Thuận và nhiều người nhắc đến)

    Mình nghĩ là thiền sinh sẽ ít bị lạc đương nếu thiền sinh đi theo thứ tự 3 bước:

    Nguyên Thủy:

    1. Thiền chỉ

    2. Thiền Qúán Tứ Niệm Xứ

    Đại thừa:

    3. Quán các pháp trừu tượng. (Và thực ra bước này hoàn toàn không cần thiết, trừ các đại sư muốn nắm vững tư tưởng sâu xa)

    (Chú thích: Giới trí thức Tây Phương theo Phật giáo hay Thiền, đa số là theo Phật giáo Nguyên Thủy–dù họ chẳng gọi họ là Phật giáo Nguyên Thủy–vì mọi sự rõ ràng, quy củ, giản dị hơn tư tưởng phức tạp của Đại Thừa.)

    Số lượt thích

  16. Anh Hoành mến.
    Em tự tỉm hiểu Đạo Phật do một sự tình cờ và ngộ ra đạo Phật có những giải đáp về sự sống của mọi loài hữu tình thật thâm thúy,càng tìm hiểu càng muốn biết sâu hơn nữa.Nhưng do hoàn cảnh riêng, em chưa có được một vị Thầy dẫn dắt mà là tự học,tự giải đáp cho chính mình nên cũng có nhiều điều bế tắc. Ví dụ như “Vấn đề tái sinh”: em chỉ hiểu rằng mọi người sau khi chết đều phải chịu tái sinh theo Nghiệp lực mà mình đã tự tạo,và trể lắm là sau 49 ngày thì mọi người đều phải chịu định luật Luân hồi tự nhiên này chi phối.Nhưng em cũng nghe rằng có rất nhiều vong linh không thể đi tái sinh được vì họ không chấp nhận rằng họ đã chết mà cố bám víu vào dương trần và họ trở thành các loại cô hồn vất vưởng khổ sở.Em không giải thích được vì sao họ có thể cưỡng lại được định luật Luân hồi sau 49 ngày mà không tái sinh ?Vậy một vong linh khi thấy mình phải tái sinh vào cảnh khổ hơn kiếp sống đã qua thì họ có thể giữ mãi thân trung ấm chứ không chịu đầu thai không? Và nếu không chịu tái sinh do tính chấp vào đời sống đã qua thì rất khổ sở,sao họ lại chấp nhận mà cưỡng lại nghiệp lực tái sinh ? Xin anh Hoành có thể vui lòng chỉ dẫn giúp em,rất cám ơn anh.

    Số lượt thích

  17. Hi VTD,

    1. Anh chưa chết nên chẳng biết chuyện gì xảy ra sau khi chết.

    2. Em đọc truyện Thiền “Gudo và Thiên Hoàng” sau đây:

    Thiên hoàng Goyozei học Thiền với Gudo. Thiên hoàng hỏi: “Trong Thiền, tâm này là Phật. Phải không?

    Gudo trả lời: “Nếu bần tăng nói ‘đúng’, hoàng thượng sẽ nghĩ là hoàng thượng hiểu trong khi không hiểu. Nếu bần tăng nói ‘sai’, bần tăng có thể nói ngược lại với điều hoàng thượng đã hiểu rất rõ.”

    Một hôm khác Thiên hoàng hỏi Gudo:: “Người giác ngộ đi đâu khi chết?”

    Gudo trả lời: “Bần tăng không biết.”

    “Tại sao thầy không biết?” Thiên hoàng hỏi.

    “Tại vì bần tăng chưa chết,” Gudo trả lời.

    Thiên hoàng ngại hỏi thêm về những điều mà trí óc Thiên hoàng không hiểu nổi. Nên Gudo vỗ tay xuống sàn như là để đánh thức Thiên hoàng, và Thiên hoàng giác ngộ!

    3. Nếu em muốn học Phật học, em có thể đọc “101 Truyện Thiền Bình Giải” và đến buddhismtoday.com, vào trang tiếng Việt, chọn “Phật Pháp”, rồi chọn “Bước dầu học Phật”.

    Em khỏe nhé.

    Số lượt thích

  18. Chào anh Hoành,
    Em cũng có biết một câu chuyện và muốn chia sẻ. Em xin được trích dẫn ra đây một phần. Câu chuyện trong kinh Phật kể về một đệ tử đến hỏi Đức Phật các câu hỏi liên quan đến các vấn đề siêu hình. Đức Phật đã nói ví dụ về một người trúng tên độc để trả lời vị đệ tử đó:
    “Ví như có người bị trúng tên độc vào thân, quyến thuộc của y thương xót, muốn làm cho y được an ổn, được nhiêu ích, cấp tốc mời thầy thuốc đến nhổ mũi tên độc ra. Khi ấy người bị trúng tên độc nghĩ rằng: Ta chưa muốn nhổ tên độc ra vội ta muốn biết người bắn cung họ gì, tên gì, hình dạng ra sao? Kẻ ấy cao hay thấp, hay trung bình? Kẻ ấy đen hay trắng, thuộc dòng Sát lợi hay bà la môn, hay cư sĩ, hay thợ thuyền? Kẻ ấy ở phương Ðông, phương Tây, phương Nam hay phương Bắc? Tại sao lại lấy tên bắn vào ta? Ta chưa muốn nhổ tên độc ra vội, hãy cho ta biết cây cung làm bằng loại cây Tát la hay loại cây Ða la, hay loại cây Xí la ương quật lê?
    Ta chưa muốn nhổ tên độc ra vội, hãy cho ta biết loại gân quấn cây cung làm bằng gân trâu, gân dê hay gân mèo?
    Ta chưa muốn nhổ tên độc ra vội, hãy cho ta biết mũi tên làm bằng xương trắng, đen hay là nâu?
    Ta chưa muốn nhổ tên độc ra vội, hãy cho ta biết dây cung làm bằng gân trâu hay gân dê hay gân mèo?
    Ta chưa muốn nhổ tên độc ra vội, hãy cho ta biết mũi tên làm bằng cây Xá la hay cây tre, hay cây La nga lê?
    Ta chưa muốn nhổ tên độc ra vội, hãy cho ta biết gân của cây cung ấy là gân trâu, gân dê hay gân mèo dùng để quấn nó?
    Ta chưa muốn nhổ tên độc ra vội, hãy cho ta biết cái lông vũ gắn sau mũi tên là của chim Khổng tước hay của chim Thương hạc, hay của chim Thứu?
    Ta chưa muốn nhổ tên độc ra vội, hãy cho ta biết sắt mà bịt đầu mũi tên là Bà ta, hay Bà la, hay Na la, hay Già la bệ?
    Ta chưa muốn nhổ tên độc ra vội, điều cần yếu cho ta biết người thợ làm mũi tên sắt ấy họ gì, tên gì, hình dáng ra sao, cao thấp hay trung bình? Kẻ ấy đen hay trắng, ở phương Ðông, phương Tây, phương Nam hay phương Bắc?
    Nhưng người ấy chưa kịp biết gì cả, nửa chừng thì nó đã chết mất rồi. ”
    Mọi người trong vườn chuối nếu thích có thể đọc toàn bộ tại đây ạ: http://www.quangduc.com/kinhdien/203muiten.html

    Số lượt thích

  19. Hi bạn VTD!
    Theo mình hiểu phẩm chất của sống sẽ quyết định phẩm chất chết ,muốn biết sau khi chết người nào đó sẽ đi đâu,cứ nhìn cách người ấy sống ở đây,lúc này ,hay cận nhất là thần thái người đó trước khi chết .Sau khi chết ,các căn chấm dứt,nếu mình có muốn biết cũng không biết được đâu bạn ạ, chỉ có nhân của sống sẽ trổ quả . Việc tìm hiểu vấn đề của thân trung ấm theo mình là không cần thiết ,vì chúng mình không thể can thiệp vào được,sống sẽ quyết định ,bạn ạ .

    Số lượt thích

  20. Cảm ơn Đăng Hằng.

    Kinh Dụ Mũi Tên trong tiếng Phạn là Cuula-malunkyasutta ( http://www.buddhanet.net/budsas/ebud/majjhima/063-cula-malunkhyaputta-e1.htm )

    Theo kinh này thì có 14 câu hỏi Đức Phật không trả lời:

    • 8 câu hỏi về vũ trụ: Is the world eternal or not eternal, is it limited or unlimited? (Vũ trụ là vĩnh cữu hay có ngày chấm dứt? Có biên giới hay không có biên giới?). Hay cây hỏi ngắn này thực ra có 8 câu hỏi trong đó:

    – vũ trụ là vĩnh cửu?
    – vũ trụ có ngày chấm dứt ?
    – vũ trụ VỪA vĩnh cửu VỪA có ngày chấm dứt ? [có cả hai ?]
    – vũ trụ KHÔNG vĩnh cửu VÀ cũng KHÔNG có ngày chấm dứt ? [không có cả hai ?]

    – vũ trụ có giới hạn ?
    – vũ trụ không có giới hạn ?
    – vũ VỪA có giới hạn VỪA không có giới hạn ? [có cả hai ?]
    – vũ trụ KHÔNG phải có giới hạn, cũng KHÔNG phải không có giới hạn [không có cả hai ?]

    • 2 câu hỏi về hồn và xác: Is the soul and body the same, is the soul different from the body?

    – Hồn và xác là một?
    – Hồn và xác khác nhau ?

    • 4 câu hỏi về “sau khi chết”: Is the Thus Gone One after death. Isn’t the Thus Gone One after death? Or is it the Thus Gone One is and isn’t after death? Or the Thus Gone One neither is, nor is not after death?

    – Người Giác Ngộ (Phật) còn sau khi chết?
    – Người Giác Ngộ mất sau khi chết?
    – Người Giác Ngộ VỪA còn VỪA mất sau khi chết?
    – Người Giác Ngộ KHÔNG còn mà cũng KHÔNG mất sau khi chết?

    Tổng cộng là 14 câu hỏi Phật không trả lời vì:

    Ví như có người bị trúng tên độc vào thân, quyến thuộc của y thương xót, muốn làm cho y được an ổn, được nhiêu ích, cấp tốc mời thầy thuốc đến nhổ mũi tên độc ra. Khi ấy người bị trúng tên độc nghĩ rằng: Ta chưa muốn nhổ tên độc ra vội ta muốn biết người bắn cung họ gì, tên gì, hình dạng ra sao? Kẻ ấy cao hay thấp, hay trung bình? Kẻ ấy đen hay trắng, thuộc dòng Sát lợi hay bà la môn, hay cư sĩ, hay thợ thuyền? Kẻ ấy ở phương Ðông, phương Tây, phương Nam hay phương Bắc? Tại sao lại lấy tên bắn vào ta? Ta chưa muốn nhổ tên độc ra vội, hãy cho ta biết cây cung làm bằng loại cây Tát la hay loại cây Ða la, hay loại cây Xí la ương quật lê?…

    … [Những] điều đó chẳng đúng nghĩa… không đưa đến chí đạo, không tương ưng với Niết bàn, cho nên ta không nói.

    Điều Phật muốn nói là:

    Vậy vấn đề gì ta một mực nói? Ta một mực nói đến: “Ðây là khổ”, ta một mực nói: “Ðây là khổ tập, khổ tận, trụ xứ”. Vì sao vậy? Ta một mực nói những vấn đề ấy là vì nó là nghĩa, là pháp, được thần thông, tu hành Phạm hạnh cho đến Ðẳng đạo, cùng tương ưng với Niết bàn, cho nên ta một mực nói đến. Những điều ta không nói đến thì nên bỏ đi, còn những điều ta nói đến thì nên thọ trì.

    http://www.quangduc.com/kinhdien/203muiten.html

    Số lượt thích

  21. Anh Hoành mến.
    Em rất cám ơn về câu trả lời vui và dí dỏm cùng bài đọc ẩn dụ thâm thuý mà căn cơ của em còn kém chưa hiểu nổi,em sẽ luôn suy tư để ngộ được như Thiên Hoàng sau cái đập tay của Gudo.Còn hiện giờ thắc mắc của em về”người chết không siêu sau 49 ngày ” là còn chưa có giải đáp thoả đáng,hễ chưa hiểu rõ là em còn chưa tin.Vậy trong nhà Phật có lễ “cầu siêu cho các vong linh chưa siêu ” là sao vậy?Nó có ngược với lý thuyết về “tái sinh sau 7 tuần thất”hay không?
    Em cũng đọc bài giải thích ý nghĩa Kinh “Lạy Cha” của Công giáo mà anh đã viết,lúc nhỏ học trường Dòng Lasan,đọc kinh này mỗi buổi học mà chẳng hiểu gì cả,bây giờ qua lời giải thích của Anh,em mới biết ý nghĩa sâu sắc lời kinh.Em sẽ tìm hiểu tiếp kinh “Kính Mừng”.
    Nhân đây,em mạo muội nhờ Anh chỉ giúp:giáo lý Công giáo giải thích thế nào về sự khác biệt nhau quá xa của con người,có người đẹp đẻ, ,người xấu xí,người rất thông minh,người ngu đần,người quá giàu sang,người rất nghèo khổ dù cố gắng hết sức,người luôn được may mắn bình an,người thì hay gặp tai ương hoạn nạn….Mọi người cùng là con của Chúa,tại sao lại có sự sai biệt nhiều đến thế,khi sinh ra ai là người hưởng phước đức,ai là người phải chịu hoạn nạn? Câu hỏi này cứ mãi vương vấn trong đầu em mà không có câu trả lời thích đáng.Mong Anh hiểu sâu biết rộng hãy giải thích giúp em.Chân thành cảm tạ Anh lắm.

    Số lượt thích

  22. Hi VTD,

    Các tiêu chuẩn đẹp xấu, thông minh dốt nát, nghề nhiều tiền nghề ít tiền… là do con người đặt ra. Chẳng có gì siêu nhiên để mà hỏi cả.

    Nhung em rất chậm tiêu. Chẳng hiểu câu trả lời của anh một chút nào.

    Em đọc lại phản hồi của anh vể 14 điều Phật Thích Ca không trả lời đi. Suy nghĩ về nó cho đến lúc em có thể nói một câu mà anh có thể nhận được là em đã hiểu 1/10 của điều Phật nói. (Nó đúng với tất cả mọi tôn giáo, chẳng riêng gì Phật giáo).

    Trong thời gian đó, đọc 101 Truyện Thiền và tìm hiểu (trên Đọt chuối non và Internet) “Sống ở đây lúc này có nghĩa là gì?”

    Và đừng nói đừng hỏi gì hết một thời gian, cho đén lúc em nghĩ là em đã hiểu được một vài điều quan trọng. Lúc đó hãy hỏi thêm.

    Đừng lảm nhảm.

    Số lượt thích

  23. Hi anh Hoành.
    Em có thắc mắc này nhờ anh giải đáp hộ ạ.

    Em cũng mới tập luyện theo hướng như thế này, ví dụ khi đi bộ em thường nhẩm trong đầu câu “vị Phật đi bộ” để làm cho bản thân luôn nhớ tới Phật tính của chính mình và đồng thời để chú ý hơn tới thời khắc lúc đó (bởi vì em cũng hay bị ảnh hưởng bởi quá khứ và tương lai nếu như không có gì giữ tâm mình ở hiện tại). Tương tự như vậy em cũng dùng với các trường hợp khác.(“vị Phật ăn cơm/ uống nước….”)

    Khi gặp một trường hợp khiến tâm xao động em lại nhẩm trong đầu câu “vị Phật luôn tĩnh lặng trong mọi hoàn cảnh”, “vị Phật luôn khiêm tốn/ thành thật/ yêu và đồng cảm với người khác”, “vị Phật luôn chiến thắng bản thân trong mọi hoàn cảnh”….

    Em xin hỏi là tập như vậy có khiến cho mình bị lạc lối hay bị vọng tưởng gì không ạ? Có cách nào để nhận biết được mình bị vọng tưởng ? Nếu bị sai thì anh có thể gợi ý cho em một hướng khác được không ạ?

    Em xin hỏi thêm là, khi em nhẩm những điều như vậy thì mình có bị dính vào ngã mạn, kiêu ngạo không ạ?

    Em cảm ơn anh nhiều.

    Số lượt thích

  24. Hi Conquer yourself,

    Rất hay đó em.

    Pháp môn nào cũng có thể lạc đường nếu ta không cảnh giác.

    Anh nghĩ là nếu lâu lâu em dùng thêm một câu “chú” nữa– “Phật là vô ngã” — thì có lẽ là ít bị lạc hơn.

    Chúc em hằng tinh tấn.

    Số lượt thích

  25. Cảm ơn anh vì lời giải đáp, thế là em có thể yên tâm về pháp môn của mình rồi.

    Hồi trước thì sau các bữa ăn cơm em thường vào mạng chơi vô bổ (ví dụ như là vào facebook mặc dù không có chuyện gì cần thiết, vào youtube xem những thứ không thực sự quan trọng đối với mình…). Lý do bởi vì, em nghe người ta nói rằng ngay sau khi ăn cơm thì không nên làm việc trí óc nặng (người ta giải thích rằng nếu làm việc trí óc sẽ ảnh hưởng tới lượng máu đi tới dạ dày), nhưng em không biết là liệu những việc như cầu nguyện hoặc là nghe Voa (e phải tập trung chú ý mới nghe được bởi vì e mới học lại English), xem những phim tài liệu mà mình yêu thích(có thể yêu cầu việc suy nghĩ),… liệu có ảnh hưởng tới tiêu hóa sau bữa ăn không ạ?

    Mong anh giải thích hộ em.

    Số lượt thích

  26. Hi conqueryourself,

    Mới ăn xong thì đương nhiên là làm các việc có nhiều chuyển động mạnh của cơ thể (chạy, khuân vác, cày cấy) thì không nên. Và sau bữa ăn nặng, như ăn tối, thì chỉ nên đi bộ để giúp tiêu hóa. Nhưng nếu ăn nhẹ bữa trưa, anh chẳng thấy có vấn đề gì nếu sau đó mình ngồi Thiền hay làm việc đòi nhiều suy nghĩ.

    Số lượt thích

  27. Hi anh Hoành.
    Có lẽ bây giờ quan trọng nhất đối với em là thực hành những điều đã đọc ở dotchuoinon.

    Em sẽ tập trung vào tâm tĩnh lặng với bộ ba khiêm tốn, thành thật, nhân ái + sống hết mình ở phút giây hiện tại.

    Hôm trước em đọc một đoạn mà anh viết: “chỉ cần tập trung vào “tâm tĩnh lặng” và để mọi sự tự động chuyển hóa theo tâm”, mặc dù chỉ mới thực hành theo điều này trong thời gian ngắn nhưng em cũng cảm thấy được phần nào sự an lạc từ nó.

    Sau khoảng hai tháng nữa, em hy vọng có những điều thú vị về những điều mình thực tập để kể cho anh và mọi người trong vườn chuối.

    Em cảm ơn anh nhé.

    Số lượt thích

  28. Em chịu anh Hoành về khoản kiên nhẫn và nhẹ nhàng trả lời hết các comment.

    Em chúc anh mạnh khoẻ.

    Em hiểu câu nói “Phật là vô ngã” có nghĩa là không vướng vào cái gì cả.

    Em thấy nhiều người “muốn”, “mong muốn” và “rất muốn” thành Phật mà không hiểu rằng họ đã bị vướng vào cái đầu tiên rồi. Vì “còn muốn” tức là chưa “vô ngã”.

    Em hiểu thế có đúng không anh?

    Số lượt thích

  29. Hi T9,

    Đương nhiên còn muốn là chưa vô ngã. Nhưng trong cách tu tập, thường có 2 đoạn chính:

    1. Đoạn thứ nhất là “muốn” một điều hoàn toàn để mình nhắm theo đó là tiến tới, sống trong chánh niệm và tập tâm thanh tịnh–như là muốn thành Phật, muốn lên Thiên đàng, muốn thành Bồ tát…

    2. Đến một mức tâm mình đã thanh tịnh kha khá, mình buông bỏ luôn cái muốn cuối cùng tức là ý muốn thành Phật, ý muốn thành Bồ tát.

    Liked by 1 person

  30. Anh Hoành cho em hỏi từ “Ưng” trong câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” có thể hiểu nghĩa là “con chim ưng” đúng không ạ ?

    Và một câu hỏi nữa là em đọc trên mạng thấy nói sự tái sinh của chim ưng sau khi nó 40 tuổi, Không biết có đúng thế ko anh ?

    Số lượt thích

  31. Hi T9,

    Chữ “ưng” đó có nghĩa là “nên”. “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” là “nên không có chỗ trụ mà sanh tâm như thế”. “Tâm như thế” là “tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác”, tức là “tâm Phật”, đã nhắc đến trong câu hỏi trước đó trong Kinh Kim Cang.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s