Lưu trữ theo thẻ: Song ngữ

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 7)

CHAPTER 7

THE JESUS I LOVE[In December, 1931, when Gandhiji was voyaging back to India, after attending the Second Round Table Conference in London, he gave the following talk on Christmas Day at the request of Christian fellow-passengers who used to attend the daily morning prayers conducted by him.]

I shall tell you how, to an outsider like me, the story of Christ, as told in the New Testament, has struck. My acquaintance with the Bible began nearly forty- five years ago, and that was through the New Testament. I could not then take much interest in the Old Testament, which I had certainly read, if only to fulfill a promise I had made to a friend whom I happened to meet in a hotel. But when I came to the New Testament and the Sermon on the Mount, I began to understand the Christian teaching, and the teaching of the Sermon on the Mount echoed something I had learnt in childhood and something which seemed to be part of my being and which I felt was being acted up to in the daily life around me.

I say it seemed to be acted up to, meaning thereby that it was not necessary for my purpose that they were actually living the life. This teaching was non- retaliation, or non-resistance to evil. Of all the things I read, what remained with me forever was that Jesus came almost to give a new law — though he of course had said he had not come to give a new law, but tack something on to the old Mosaic law. Well, he changed it so that it became a new law — not an eye for an eye, and a tooth for a tooth, but to be ready to receive two blows when only one was given, and to go two miles when you were asked to go one.

I said to myself, this is what one learns in one’s childhood. Surely this is not Christianity. For all I had then been given to understand was that to be a Chris- tian was to have a brandy bottle in one hand and beef in the other. The Sermon on the Mount, however, falsified the impression. As my contact with real Chris- tians i.e., men living in fear of God, increased, I saw that the Sermon on the Mount was the whole of Christianity for him who wanted to live a Christian life. It is that Sermon which has endeared Jesus to me.

I may say that I have never been interested in a historical Jesus. I should not care if it was proved by someone that the man called Jesus never lived, and that what was narrated in the Gospels was a figment of the writer’s imagination. For the Sermon on the Mount would still be true for me.

Reading, therefore, the whole story in that light, it seems to me that Christianity has yet to be lived, unless one says that where there is boundless love and no idea of retaliation whatsoever, it is Christianity that lives. But then it surmounts all boundaries and book teaching. Then it is something indefinable, not capable of being preached to men, not capable of being transmitted from mouth to mouth, but from heart to heart. But Christianity is not commonly understood in that way.

Somehow, in God’s providence, the Bible has been preserved from destruction by the Christians, so-called. The British and Foreign Bible Society has had it translated into many languages. All that may serve a real purpose in the time to come. Two thousand years in the life of a living faith may be nothing. For though we sang, “All glory to God on High and on the earth be peace,” there seems to be today neither glory to God nor peace on earth.

As long as it remains a hunger still unsatisfied, as long as Christ is not yet born, we have to look forward to Him. When real peace is established, we will not need demonstrations, but it will be echoed in our life, not only in individual life, but in corporate life. Then we shall say Christ is born. That to me is the real meaning of the verse we have sung. Then we will not think of a particular day in the year as that of the birth of the Christ, but as an ever-recurring event which can be enacted in every life.

And the more I think of fundamental religion, and the more I think of miraculous conceptions of so many teachers who have come down from age to age and clime to clime, the more I see that there is behind them the eternal truth that I have narrated. That needs no label or declaration. It consists in the living of life, never ceasing, ever progressing towards peace.

When, therefore, one wishes “A Happy Christmas” without the meaning behind it, it becomes nothing more than an empty formula. And unless one wishes for peace for all life, one cannot wish for peace for oneself. It is a self-evident axiom, like the axioms of Euclid, that one cannot have peace unless there is in one an intense longing for peace all around. You may certainly experience peace in the midst of strife, but that happens only when to remove strife you destroy your whole life, you crucify yourself.

And so, as the miraculous birth is an eternal event, so is the Cross an eternal event in this stormy life. Therefore, we dare not think of birth without death on the cross. Living Christ means a living Cross, without it life is a living death.

Harijan, 31-12-1931

[At the pressing request of Mr. Mills of the Associated Press of America Gandhiji dictated the following message of Christmas Greetings the same day.]

I have never been able to reconcile myself to the gaieties of the Christmas season. They have appeared to me to be so inconsistent with the life and teaching of Jesus.

How I wish America could lead the way by devoting the season to a real moral stocktaking and emphasizing consecration to the service of mankind for which Jesus lived and died on the Cross.

Young India, 31-12-1931

 

CHƯƠNG 7

GIÊSU NGƯỜI TÔI YÊU

[Tháng 12 năm 1931, khi Gandhi đang trên đường về Ấn Độ sau Hội nghị Bàn tròn lần thứ hai ở London, ông có cuộc nói chuyện dưới sau đây vào Ngày Giáng sinh theo yêu cầu của các hành khách Kitô giáo, những người đã từng tham dự buổi cầu nguyện hàng sáng của Gandhi.]

Tôi sẽ kể cho bạn nghe, một người ngoài cuộc như tôi, câu chuyện về Chúa Kitô, được kể trong Thánh Kinh Tân Ước đã giáng tôi một cú như thế nào. Tôi bắt đầu làm quen với Kinh thánh gần 45 năm trước (1886), thông qua Thánh Kinh Tân Ước. Sau đó tôi không thể có lắm hứng thú với Kinh Cựu Ước, bộ sách tôi chắc chắn đã đọc, chỉ là để làm trọn lời hứa với một người bạn tôi tình cờ gặp ở một khách sạn. Nhưng khi đến với Tân Ước và Bài giảng trên núi, tôi bắt đầu hiểu lời dạy của Kitô, và Bài giảng trên núi lặp lại điều gì đó tôi đã học được từ thủa bé và thứ gì đó dường như là một phần của tôi, và tôi cảm thấy điều đó dường như đang được thực hành trong cuộc sống hàng ngày xung quanh tôi.

Tôi nói rằng nó dường như được thực hành, nghĩa là không nhất thiết vì mục đích của tôi mà lời dạy được sống thực. Lời dạy của Bài giảng trên núi là không trả thù, hoặc không kháng cự cái ác. Trong tất cả những gì đã đọc, điều mãi mãi còn lại với tôi là Giêsu đến hầu như chỉ để đưa ra một luật mới – mặc dù Giêsu hiển nhiên không nói rằng Người đến để đưa ra một luật mới, nhưng chỉ gắn thêm một chút lên lưng luật cũ của Môsê. Vâng, Giêsu đã đổi luật cũ thành một luật mới – không phải một mắt đền một mắt, một răng đền một răng, nhưng sẵn sàng hứng hai cái tát khi chỉ nhận được một cái tát, và sẵn sàng đi hai dặm khi bị buộc phải đi một dặm.

Tôi tự nhủ, đây là điều ta học được từ thời thơ ấu. Chắc chắn đây không phải là Kitô giáo. Vì tất cả những gì tôi được dạy là để trở thành một người Kitô là phải có một chai rượu nặng trên một tay và tay kia là thịt bò. Bài giảng trên núi, tuy nhiên, đã làm xoá đi ấn tượng đó. Khi tôi ngày càng được tiếp xúc với những Kitô hữu thực thụ, những người kính sợ Chúa, tôi thấy Bài giảng trên núi là toàn bộ Kitô giáo cho ai muốn sống một cuộc sống Kitô hữu. Chính Bài giảng trên núi khiến tôi yêu Giêsu.

Tôi có thể nói rằng tôi chưa bao giờ hứng thú đến tích lịch sử của Giêsu. Tôi không nên quan tâm nếu ai đó chứng minh rằng người đàn ông tên gọi Giêsu chưa từng sống, và những gì được thuật lại trong các cuốn Tin mừng (Gospels) là điều bịa đặt trong trí tưởng tượng của người viết. Vì Bài giảng trên núi vẫn sẽ đúng với tôi.

Do đó, đọc toàn bộ câu chuyện trong ánh sáng đó, đối với tôi, Kitô giáo vẫn chưa được sống, trừ khi người ta nói rằng nơi nào có tình yêu vô biên và không có bất cứ ý tưởng trả thù nào, nơi đó Kitô giáo đang sống. Và lời dạy vượt qua mọi ranh giới và sách vở. Sau đó, là một thứ gì đó không thể xác định, không có khả năng được rao giảng cho con người, không có khả năng truyền từ miệng sang miệng, nhưng từ trái tim đến trái tim. Nhưng thông thường Kitô giáo không được hiểu như thế.

Bằng cách nào đó, trong nhân từ của Chúa, Thánh Kinh đã được bảo vệ khỏi sự hủy diệt của những người được gọi là Kitô hữu. Hiệp hội Thánh Kinh Anh Quốc và Nước Ngoài đã dịch Thánh Kinh sang nhiều ngôn ngữ. Tất cả điều đó có thể phục vụ một mục đích thực sự trong thời gian tới. Hai ngàn năm trong đời của một đức tin sống có thể vô nghĩa. Mặc dù chúng ta đã hát, “Tất cả vinh quang cho Chúa Trên Cao và trên mặt đất hãy hòa bình”, ngày nay dường như không có vinh quang nào cho Chúa cũng như hòa bình trên mặt đất.

Chừng nào còn đó một người đói vẫn chưa no, chừng nào Chúa Kitô chưa được sinh ra, chúng ta phải trông ngóng Ngài. Khi hòa bình thực sự đạt được, chúng ta sẽ không cần các cuộc biểu tình, nhưng khúc ca hoà bình sẽ được vang vọng trong cuộc sống của chúng ta, không chỉ trong đời sống cá nhân, mà trong cả cộng đồng. Rồi chúng ta sẽ nói Chúa Kitô được sinh ra. Điều đó với tôi là ý nghĩa thực sự của câu hát chúng ta đã ca. Rồi, chúng ta sẽ không nghĩ về ngày Chúa giáng sinh là một ngày cụ thể trong năm, nhưng là một sự kiện không ngừng tái diễn có thể được hiển thị trong mọi cuộc sống.

Tôi càng nghĩ về điều cơ bản của tôn giáo, và tôi càng nghĩ về những khái niệm huyền diệu của rất nhiều người thầy đã đến từ trên cao từ thời này qua thời khác và từ vùng này qua vùng khác, tôi càng thấy rằng đằng sau họ là sự thật vĩnh cửu mà tôi đã thuật lại. Điều đó không cần nhãn hiệu hay công bố. Điều đó là sống đời sống, không bao giờ ngừng, chưa từng ngừng tiến tới hòa bình.

Do đó, khi ai đó chúc “Một Giáng sinh hạnh phúc” mà không có ý nghĩa đằng sau, câu chúc sẽ không hơn một công thức trống rỗng. Và trừ khi ta mong muốn hòa bình cho tất cả, ta không thể mong muốn hòa bình cho chính mình. Đó là một tiên đề hiển nhiên, giống như các tiên đề toán học của Euclid, một người không thể có hòa bình trừ khi anh ta có một khao khát mãnh liệt cho hòa bình xung quanh anh ta. Bạn chắc chắn có thể trải qua hòa bình ở giữa xung đột, nhưng điều đó chỉ xảy ra khi để loại bỏ xung đột bạn phải phá hủy cả cuộc sống của bạn, bạn tự đóng đinh chính mình trên thập giá.

Và như vậy, vì sự giáng sinh huyền diệu là một sự kiện vĩnh cửu, nên Thập giá cũng là một sự kiện vĩnh cửu trong cuộc đời đầy giông bão này. Do đó, chúng ta không dám nghĩ đến sự sinh  mà không sự chết trên thập tự giá. Chúa Kitô sống có nghĩa là Thánh giá sống, không có thập giá sống thì sự sống là một đời sống đã chết.

Báo Harijan, 31-12-1931

[Theo yêu cầu cấp bách của ông Mills tờ Associated Press of America, cùng ngày 31-12-1931 Gandhi đã đưa ra thông điệp chào mừng Giáng sinh  sau đây.]

Tôi chưa bao giờ có thể hòa giải được với chính tôi về những cuộc vui của mùa Giáng Sinh. Những thứ thể hiện đối với tôi quá mâu thuẫn với cuộc sống và lời dạy của Giêsu. Tôi ước gì nước Mỹ có thể dẫn đường bằng cách dành mùa Giáng Sinh cho việc kiểm kê đạo đức thực thụ và nhấn mạnh sự tận hiến cho phục vụ nhân loại mà Giêsu đã sống và chết trên Thập giá.

Theo báo Young India, 31-12-1931

Lời khuyên nào dành cho sinh viên vừa mới tốt nghiệp?

(Dịch từ What career advice do you have for recent graduates?)

Gần đây, tôi đã được hỏi câu hỏi này khá nhiều lần – từ các con của tôi, bạn bè của chúng và từ những người bạn đang có con sắp ra nhập thị trường lao động. Mặc dù mọi thứ đã thay đổi khá nhiều kể từ khi tôi tốt nghiệp, nhưng tôi vẫn luôn cảm thấy vinh dự khi được hỏi về điều này và rất vui vì được chia sẻ những hiểu biết của mình vì nó có thể giúp ích cho người khác. Mặc dù không có câu trả lời đúng hay sai, nhưng dưới đây là lời khuyên mà tôi đã đưa ra khi được hỏi:

Đọc tiếp trên CVD >>

Lời hứa đã quên

Chào các bạn,

Lời hứa đã quên là bài hát kêu gọi giúp đỡ nạn đói ở vùng Sừng Châu Phi năm 2011 với dòng chữ mở đầu clip: “1$ có thể nuôi 1 người mẹ và 1 đứa trẻ trong 1 ngày tại vùng Sừng Châu Phi.”

Các nước thuộc vùng Sừng Châu Phi (màu xanh) gồm Djibouti, Ethiopia, Eritrea và Somalia

Hiện tại, 2019, Somalia vẫn đang phải chịu nạn đói trầm trọng.

Bài hát được Sami Yusuf hát. Đọc tiếp Lời hứa đã quên

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 6)

 

CHAPTER 6

THE MESSAGE OF JESUS

 

The message of Jesus, as I understand it, is contained in his Sermon on the Mount unadulterated and taken as a whole and even in connection with the Sermon on the Mount, my own humble interpretation of the message is in many respects different from the orthodox. The message, to my mind, has suffered distortion in the West. It may be presumptuous for me to say so but as a devotee of truth, I should not hesitate to say what I feel.

 

I consider him as a historical person — one of the greatest amongst the teachers of mankind. I have studied His teachings as prayerfully as I could, with the reverence of a Christian, in order to discover the truth that is buried in them. I have done so, just as I have done about the teachings of other teachers.

 

Even the blind who do not see the rose perceive its fragrance. That is the secret of the gospel of the rose. But the gospel that Jesus preached is more subtle and fragrant than the gospel of the rose. If the rose needs no agent much less does the gospel of Christ need any agent.

 

Jesus preached not a new religion but a new life. He called men to repentance. It was he who said, ”Not everyone that saith unto me, Lord, Lord, shall enter into the kingdom of heaven; but he that doeth the will of my Father which is in heaven”.

 

Jesus lived and died in vain if he did not teach us to regulate the whole of life by the eternal Law of Love.

 

The love that Jesus taught and practised was not a mere personal virtue, but it was essentially a social and collective virtue. Buddhism ‘taught and practised the same thing six hundred years before Jesus.

 

 

CHƯƠNG 6

THÔNG ĐIỆP CỦA GIÊSU

 

Thông điệp của Giêsu, như tôi hiểu, được chứa đựng trong Bài giảng trên Núi là thuần khiết và là một toàn thể chặt chẻ.  Thậm chí cả trong kết nối với Bài Giảng trên Núi, cách giải thích khiêm tốn của tôi về thông điệp này có nhiều khía cạnh rất khác với các cách giải thích chính thống. Thông điệp này, theo tôi, đã bị bóp méo ở phương Tây. Tôi có thể tự phụ khi nói như vậy nhưng là người tôn kính sự thật, tôi không nên ngần ngại nói ra những gì tôi cảm nhận.

 

Tôi coi Giêsu là một nhân vật lịch sử – một trong những vị thầy vĩ đại nhất của nhân loại. Tôi đã nghiên cứu lời dạy của Giêsu với nhiều cầu nguyện mà tôi có thể có, với sự tôn kính của một Kitô hữu, để khám phá ra sự thật bị chôn giấu trong đó. Tôi đã làm như thế, cũng như cách tôi tìm hiểu lời dạy của những vị thầy khác.

 

Ngay cả người mù không nhìn thấy bông hồng cũng cảm nhận được mùi thơm của hoa. Đó là bí mật của phúc âm hoa hồng. Nhưng phúc âm mà Giêsu rao giảng tinh tế và thơm hương hơn nhiều phúc âm hoa hồng. Nếu hoa hồng mà không cần đến tác nhân trung gian, thì phúc âm Kitô lại càng không cần bất kỳ tác nhân nào.

 

Giêsu không rao giảng một tôn giáo mới mà rao giảng một cuộc sống mới. Giêsu kêu gọi con người hối cải. Chính Giêsu nói: ”Không phải ai đến với thầy kêu, Chúa ơi, Chúa ơi, sẽ vào nước   thiên đàng; mà là những ai làm theo ý Cha thầy trên thiên đàng”.

 

Giêsu đã sống và chết trong vô vọng nếu Giêsu không dạy chúng ta chỉnh đốn toàn bộ cuộc đời bằng Luật Tình Yêu vĩnh cửu.

 

Tình yêu mà Giêsu đã dạy và thực hành không đơn thuần là đức hạnh của một cá nhân, mà đó là cốt lõi của một đức hạnh xã hội và tập thể. Nhà Phật đã dạy và thực hành điều tương tự sáu trăm năm trước thời Giêsu.

 

Tổng hợp bài viết trên báo Harijan 1937 – 1939

 

Bắt đầu dạy tiếng Anh cho trẻ em ở nhà như thế nào?

English: How do I start teaching my kids English at home?

Nhiều phụ huynh muốn tự dạy tiếng Anh cho con mình ở nhà nhưng lại không biết bắt đầu từ đâu. Không sao cả nếu Tiếng Anh của chính bạn không tốt lắm. Điều quan trọng nhất là bạn nhiệt tình và cho con bạn nhiều khích lệ và lời khen. Con bạn sẽ đón nhận sự nhiệt tình của bạn đối khi học ngôn ngữ. Đừng lo lắng nếu bé chưa nói được tiếng Anh ngay lập tức. Các bé cần thời gian nhất định để tiếp thu ngôn ngữ mới. Hãy kiên nhẫn và các con sẽ bắt đầu nói tiếng Anh theo thời gian của các em.

Đọc tiếp trên CVD >>

Một giấc mơ một Korea

Chào các bạn,

Nếu một người có giấc mơ, đó chỉ là giấc mơ
Nhưng nếu mọi người cùng chia sẻ giấc mơ đó,
giấc mơ sẽ thành hiện thực

Một giấc mơ một Korea là ca khúc do Kim Hyun-seol sáng tác nhằm hưởng ứng chiến dịch hướng tới thống nhất bán đảo Triều Tiên, phát hành vào năm 2015.

Các ca sĩ gồm BTS Jungkook và thành viên các nhóm nhạc EXO, GOT7, Girl’s Day, Red Velvet, VIXX, EXID, Sistar, B1A4 và AOA. Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In (năm 2015 là chủ tịch lãnh đạo Đảng Dân chủ Hàn Quốc) cũng tham gia trình bày. Đọc tiếp Một giấc mơ một Korea

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 5)

 

CHAPTER 5

WHAT JESUS MEANS TO ME

Although I have devoted a large part of my life to the study of religion and to discussion with religious leaders of all faiths, I know very well that I cannot but seem presumptuous in writing about Jesus Christ and trying to explain what He means to me. I do so only because my Christian friends have told me on more than a few occasions that for the very reason that I am not a Christian and that (I shall quote their words exactly) “I do not accept Christ in the bottom of my heart as the only Son of God,” it is impossible for me to understand the profound significance of His teachings, or to know and interpret the greatest source of spiritual strength that man has ever known.

Although this may or may not be true in my case, I have reasons to believe that it is an erroneous point of view. I believe that such an estimate is incompatible with the message that Jesus Christ gave to the world. For He was, certainly, the highest example of One who wished to give everything, asking nothing in return, and not caring what creed might happen to be professed by the recipient.

I am sure that if He were living here now among men, He would bless the lives of many who perhaps have never even heard His name, if only their lives embodied the virtues of which He was a living example on earth; the virtues of loving one’s neighbour as oneself and of doing good and charitable works among one’s fellow men.

What, then, does Jesus mean to me? To me, He was one of the greatest teachers humanity has ever had.

To His believers, He was God’s only begotten son. Could the fact that I do or do not accept this belief make Jesus have any more or less influence in my life? Is all the grandeur of His teaching and of His doctrine to be forbidden to me? I cannot believe so. To me it implies a spiritual birth. My interpretation, in other words, is that in Jesus’ own life is the key of His nearness to God; that He expressed, as no other could, the spirit and will of God. It is in this sense that I see Him and recognize Him as the son of God. But I do believe that something of this spirit that Jesus exemplified in the highest measure, in its most profound human sense, does exist. I must believe this; if I did not believe it I should be a sceptic; and to be a sceptic is to live a life that is empty and lacks moral content. Or, what is the same thing, to condemn the entire human race to a negative end.

It is true that there certainly is reason for scepticism when one observes the bloody butchery that European aggressors have unloosed, and when one thinks about the misery and suffering prevalent in every corner of the world, as well as the pestilence and famine that always follow, terribly and inevitably, upon war. In the face of this, how can one speak seriously of the divine spirit incarnate in man? Because these acts of terror and murder offend the conscience of man; because man knows that they represent evil; because in the inner depths of his heart and of his mind, he deplores them. And because, moreover, when he does not go astray, misled by false teachings or corrupted by false leaders, man has within his breast an impulse for good and a compassion that is the spark of divinity, and which some day, I believe, will burst forth into the full flower that is the hope of all mankind. An example of this flowering may be found in the figure and in the life of Jesus. I refuse to believe that there now exists or has ever existed a person that has not made use of His example to lessen his sins, even though he may have done so without realizing it. The lives of all have, in some greater or lesser degree, been changed by His presence, His actions, and the words spoken by His divine voice.

I believe that it is impossible to estimate the merits of the various religions of the world, and moreover I believe that it is unnecessary and harmful even to attempt it. But each one of them, in my judgment, embodies a common motivating force: the desire to uplift man’s life and give it purpose. And because the life of Jesus has the significance and the transcendency to which I have alluded I believe that He belongs not solely to Christianity, but to the entire world; to all races and people, it matters little under what flag, name or doctrine they may work, profess a faith, or worship a God inherited from their ancestors.

The Modern Review, Oct. 1941, p. 406

CHƯƠNG 5

GIÊSU NGHĨA LÀ GÌ VỚI TÔI

Mặc dù tôi đã dành phần lớn cuộc đời mình để nghiên cứu về tôn giáo và thảo luận với các nhà lãnh đạo tôn giáo của tất cả các tín ngưỡng, tôi biết rất rõ rằng tôi không thể tránh có vẻ tự phụ khi viết về Giêsu Kitô và cố gắng giải thích Giêsu có ý nghĩa gì đối với tôi. Tôi làm vậy chỉ vì những người bạn Kitô giáo của tôi vẫn nói với tôi thường xuyên rằng vì tôi không là người Thiên Chúa giáo, và (tôi sẽ trích dẫn chính xác lời của các Kitô hữu) “Tôi, tận đáy lòng, không chấp nhận việc Giêsu Kitô là con trai duy nhất của Thượng đế”, cho nên tôi không thể hiểu được ý nghĩa sâu đậm trong lời dạy của Giêsu, hoặc không thể biết và giải thích nguồn sức mạnh tâm linh lớn nhất [từ Giêsu] mà con người từng biết.

Mặc dù điều này có thể đúng hoặc không đúng trong trường hợp của tôi, tôi có nhiều lý do để tin rằng đó là một cái nhìn sai lầm. Tôi tin rằng một ước tính như vậy là không thể tương xứng với thông điệp mà Giêsu Kitô đã trao cho thế giới. Bởi Người, chắc chắn, là hình mẫu cao nhất của Đấng có ao ước cho đi tất cả, không mong đợi hoàn trả điều gì, và không quan tâm đến lòng tin của người được nhận.

Tôi chắc chắn rằng nếu bây giờ Giêsu đang sống ở đây giữa con người, thì Người sẽ ban phước cho nhiều người có thể chưa bao giờ nghe đến tên Giêsu, chỉ vì cuộc sống của họ là hiện thân những phẩm hạnh mà Giêsu là một ví dụ sống trên quả đất; phẩm hạnh về yêu hàng xóm như chính mình, và làm điều lành và từ thiện giữa mọi người.

Vậy thì, Giêsu là gì với tôi? Với tôi, Giêsu là một trong những người thầy vĩ đại nhất mà nhân loại từng có.

Đối với người tin Giêsu, Người là con trai duy nhất của Thượng đế. Việc tôi chấp nhận hay không chấp nhận niềm tin đó liệu có khiến Giêsu có nhiều hoặc ít ảnh hưởng trong cuộc sống của tôi? Có phải tất cả vĩ đại trong lời dạy và giáo lý của Người bị ngăn cấm đối với tôi? Tôi không thể tin vậy. Với tôi điều đó ngụ ý một cuộc sinh nở tâm linh. Cách giải thích của tôi là, nói cách khác, chính cuộc sống của Giêsu là chìa khoá của sự gần gũi của Giêsu với Thượng đế, và thể hiện, một cách mà không ai làm được, tinh thần và ý chí của Thượng đế. Theo nghĩa này, tôi thấy được Giêsu và nhận ra Người là con trai của Thượng đế. Nhưng tôi tin rằng một điều gì đó của tinh thần này mà Giêsu biểu hiện cách cao cả nhất, trong ý nghĩa sâu sắc nhất của con người, thật sự hiện hữu. Tôi phải tin điều này; nếu tôi không tin thì tôi chỉ nên là một kẻ hoài nghi; và trở thành một kẻ hoài nghi là sống một cuộc đời trống rỗng và thiếu đạo đức. Hoặc, điều tương tự, là kết án toàn bộ loài người đến một cái kết tiêu cực.

Đúng là có lý do cho hoài nghi khi ta quan sát thứ giết chóc đẫm máu mà dân xâm lược châu Âu đã ném ra, và khi ta nghĩ về sự khốn khổ và đau đớn tràn ngập ở mọi ngõ ngách trên thế giới, cũng như bệnh dịch và nạn đói luôn đeo bám một cách khủng khiếp và không tránh nổi trong chiến tranh. Đối mặt với điều này, làm sao người ta có thể nói nghiêm túc về tinh thần linh thiêng đầu thai trong con người? Bởi vì những hành vi khủng bố và giết người này xúc phạm đến lương tâm con người; bởi vì con người biết rằng họ đại diện cho cái ác; bởi vì sâu thẳm trong trái tim và tâm trí anh ta, anh ta chán ghét những điều này. Và bởi, hơn thế, khi anh ta không đi lạc, thì bị lừa dối bởi những giáo lý sai trái hoặc bị tha hóa bởi những người lãnh đạo giả dối, con người có trong lồng ngực một thôi thúc làm điều thiện và lòng từ bi là tia chớp thần thánh, mà một ngày nào đó, tôi tin, sẽ bùng nổ thành bông hoa tròn đầy, như là niềm hy vọng của cả nhân loại. Một ví dụ về sự nở hoa này có thể được tìm thấy trong con người và trong cuộc đời của Giêsu. Tôi từ chối tin rằng bây giờ có, hoặc đã từng có, một người không lấy tấm gương của Giêsu lấy tấm gương của Giêsu để giảm tội lỗi của mình, dù anh ta có thể đã làm vậy mà không nhận ra điều đó. Cuộc sống của tất cả mọi người, ở một mức độ nào đó, it nhiều đã bị thay đổi bởi sự hiện diện của Giêsu, bởi hành động và những lời được nói bằng giọng nói thiêng liêng của Giêsu.

Tôi tin rằng không thể ước tính giá trị của các tôn giáo khác nhau trên thế giới, và hơn nữa tôi tin rằng điều đó là không cần thiết và gây tai hại ngay cả khi chỉ thử làm việc đó. Nhưng mỗi tôn giáo, theo đánh giá của tôi, là hiện thân của một động lực thúc đẩy chung: mong muốn nâng đời sống của con người lên và cho đời sống đó có mục đích. Và bởi vì cuộc đời của Giêsu có ý nghĩa và sự siêu việt mà tôi đã nhắc đến,tôi tin rằng Giêsu không chỉ thuộc về Kitô giáo, mà là của toàn thế giới; cho tất cả các chủng tộc và tất cả các dân tộc, chẳng quan trọng họ đứng dưới lá cờ nào, tên nào hay giáo lý nào, tuyên xưng đức tin nào, hoặc tôn thờ một vị Thượng đế được thừa hưởng từ tổ tiên của họ.

Tạp chí The Modern Review, tháng 10 năm 1941, trang. 406

 

Ngày mới đã đến

Chào các bạn,

Đây là bài hát được Aldo Nova và Stephan Moccio sáng tác; Celine Dion hát; phát hành năm 2002.

Lời bài hát rất hay. Đó là nói về Jesus nhưng cũng có thể hiểu là tình ca.

Mời các bạn cùng nghe.

Ngày mới đã đến

Em đã đợi rất lâu
Cho phép lạ đến
Mọi người bảo em phải mạnh mẽ
Kiên trì và đừng rơi nước mắt Đọc tiếp Ngày mới đã đến

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 4)

 

CHAPTER 4

ONLY BEGOTTEN SON OF GOD?

I regard Jesus as a great teacher of humanity, but I do not regard him as the only begotten son of God. That epithet in its material interpretation is quite unacceptable. Metaphorically we are all begotten sons of God, but for each of us there may be different begotten sons of God in a special sense. Thus for me Chaitanya may be the only begotten son of God.

 

 

 

 

 

 

Q. : But don’t you believe in the perfection of human nature, and don’t you believe that Jesus had attained perfection ?

A. : I believe in the perfectibility of human nature. Jesus came as near to perfection as possible. To say that he was perfect is to deny God’s superiority to man. And then in this matter I have a theory of my own. Being necessarily limited by the bonds of flesh, we can attain perfection only after dissolution of the body. Therefore God alone is absolutely perfect.

When He descends to earth, He of His own accord limits Himself. Jesus died on the Cross because he was limited by the flesh. I do not need either the prophesies or the miracles to establish Jesus’ greatness as a teacher. Nothing can be more miraculous than the three years of his ministry. There is no miracle in the story of the multitude being fed on a handful of loaves. A magician can create that illusion. But woe worth the day on which a magician would be hailed as the saviour of humanity.

As for Jesus raising the dead to life, well I doubt if the men he raised were really dead. I raised a relative’s child from supposed death to life, but that was because the child was not dead, and but for my presence there she might have been cremated. But I saw that life was not extinct. I gave her an enema and she was restored to life. There was no miracle about it. I do not deny that Jesus had certain psychic powers and he was undoubtedly filled with the love of humanity. But he brought to life not people who were dead but who were believed to be dead.

The laws of Nature are changeless, unchangeable, and there are no miracles in the sense of infringement or interruption of Nature’s laws. But we limited beings fancy all kinds of things and impute our limitations to God. We may copy God, but not He us. We may not divide Time for Him, Time for Him is eternity. For us there is past, present and future. And what is human life of a hundred years but less than a mere speck in the eternity of Time?

Harijan, 17-4-1937

Q. : Then you will recognize degrees of divinity. Would you not say that Jesus was the most divine?

A. : No, for the simple reason that we have no data. Historically we have more data about Muhammad than anyone else because he was more recent in time. For Jesus there is less data and still less for Buddha, Rama and Krishna; and when we know so little about them, is it not preposterous to say that one of them was more divine than another? In fact even if there were a great deal of data available, no judge should shoulder the burden of sifting all the evidence, if only for this reason that it requires a highly spiritual person to gauge the degree of divinity of the subjects he examines. To say that Jesus was 99 per cent divine, and Muhammad 50 per cent, and Krishna 10 per cent, is to arrogate to oneself a function which really does not belong to man.

Harijan, 6-3-1937

I therefore do not take as literally true the text that Jesus is the only begotten son of God. God cannot be the exclusive Father and I cannot ascribe exclusive divinity to Jesus. He is as divine as Krishna or Rama or Mahomed or Zoroaster.

Similarly I do not regard every word of the Bible as the inspired word of God even as I do not regard every word of the Vedas or the Koran as inspired. The sum-total of these books is certainly inspired, but I miss that inspiration in many of the things taken individually. The Bible is as much a book of religion with me as the Gita and the Koran.

Harijan, 6-3-1937

CHƯƠNG 4

LÀ CON TRAI DUY NHẤT CỦA THƯỢNG ĐẾ?

Tôi coi Giêsu là một người thầy vĩ đại của nhân loại, nhưng tôi không coi Giêsu là con trai duy nhất của Thượng đế. Danh hiệu đó diễn dãi theo nghĩa thế tục thật khá là khó chấp nhận. Nói một cách ẩn dụ, tất cả chúng ta đều là con của Chúa, nhưng đối với mỗi người chúng ta, có thể là có những đứa con khác nhau của Thượng đế theo một nghĩa đặc biệt. Do đó, đối với tôi Chaitanya có thể là con trai duy nhất của Thượng đế. [Chaitanya là một lãnh đạo tâm linh của Ấn Độ, người lập lên trường phái Yoga Bkahti vào thế kỷ 15, tên Chaitanya Mahaprabhu có nghĩa là Tâm thức vĩ đại].

 

(Dưới đây là bài trả lời phỏng vấn của Gandhi cho tờ Harijan năm 1937 khi được hỏi về Giêsu)

Hỏi: Nhưng ông có tin vào sự hoàn hảo của bản chất con người, và ông có tin rằng Chúa Giêsu đã đạt được sự hoàn hảo?

Tôi tin vào sự hoàn hảo của bản chất con người. Giêsu đạt đến gần hoàn hảo nhất có thể. Nói rằng Giêsu hoàn hảo là từ chối sự tối cao của Thượng đế đối với con người. Và thế, về điểm này này tôi có một lý thuyết của riêng tôi. Bị giới hạn một cách cần thiết bởi trói buộc của xác thịt, chúng ta có thể đạt được sự hoàn hảo chỉ sau khi thân thể ta rã. Do đó, chỉ có Thượng đế là hoàn hảo.

Khi Thượng đế xuống trần gian, Ngài tự muốn giới hạn chính Ngài. Giêsu chết trên thập giá vì Giêsu bị giới hạn bởi xác thịt. Tôi không cần những lời tiên tri hay các phép lạ xác định sự vĩ đại của Giêsu như là một vị thầy. Không điều gì có thể huyền diệu hơn ba năm thuyết giảng của Giêsu. Không có phép lạ nào trong câu chuyện về vô số người được cho ăn với chỉ vài ổ bánh mỳ. Một ảo thuật gia có thể tạo ra ảo ảnh đó. Nhưng thật khốn thay cho ngày mà một ảo thuật gia được ca ngợi là vị cứu tinh của nhân loại.

Khi Giêsu làm người chết sống lại, thì tôi nghi ngờ liệu những người mà Giêsu làm sống lại có thực sự đã chết không. Tôi đã làm sống lại từ cõi chết một đứa bé bà con, nhưng thật sử bởi vì đứa bé chưa chết, nếu tôi không có mặt ở đó đứa bé đó có thể đã bị hỏa táng rồi. Nhưng tôi nhìn thấy bé chưa chết hẳn. Tôi đã súc ruột em bé và em đã lấy lại được mạng sống. Không có phép lạ nào trong việc đó. Tôi không phủ nhận rằng Giêsu có một số sức mạnh tâm linh nhất định và ông chắc chắn tràn đầy tình yêu của nhân loại. Nhưng ông đã dựng sống lại không phải người đã chết mà là người bị tưởng là đã chết.

Luật của Tự nhiên là bất biến, không thể thay đổi và không có phép lạ nào theo nghĩa có thể xâm phạm hoặc làm gián đoạn luật của Tự nhiên. Nhưng chúng ta, những sinh vật có giới hạn, tưởng tượng mọi thứ và áp đặt những hạn chế của chúng ta lên Thượng đế. Chúng ta có thể sao chép Thượng đế, nhưng Ngài không sao chép chúng ta. Chúng ta không thể phân chia Thời gian cho Ngài, Thời cho Ngài là vô tận. Với chúng ta thì có quá khứ, hiện tại và tương lai. Và cuộc sống của con người trong một trăm năm là gì khác hơn là một chấm li ti trong quãng vô tận của Thời gian?

Báo Harijan, ngày 17-4-1937

Hỏi: Vậy, ông sẽ công nhận các mức độ thần thánh. Liệu ông có cho rằng Chúa Giêsu là linh liêng nhất?

Không, vì lý do đơn giản rằng chúng ta không có dữ liệu. Trong lịch sử, chúng ta có nhiều thông tin về tiên tri Muhammad hơn bất cứ vị nào khác bởi vì ông gần chúng ta hơn về thời gian. Đối với Giêsu, có ít dữ liệu hơn và còn ít hơn cho Phật Thích Ca, Rama và Krishna [trong Hindu giáo được coi là hiện thân thứ 7 và thứ 8 của thần Vishnu, thần bảo vệ vũ trụ]; và khi chúng ta biết rất ít về họ, chẳng phải là quá vô lý khi nói rằng người này thì linh thiêng hơn người kia? Thực tế, ngay cả khi có sẵn rất nhiều thông tin, không có thẩm phán nào phải mang gánh nặng lựa lọc tất cả các bằng chứng, chỉ vì lý do là công việc này cần một người có tâm linh cực cao để đánh giá mức độ thần thánh của các đối tượng xem xét. Nói rằng Giêsu là 99 phần trăm thần thánh, và Muhammed 50 phần trăm, và 10 phần trăm của Krishna, là tự kiêu để gán cho mình một chức năng không thuộc về con người.

Trích Báo Harijan, 6-3-1937

Do đó, tôi không nhận đúng nghĩa đen của văn bản viết rằng Giêsu là con trai duy nhất của Thượng đế. Thượng đế không thể là Cha độc quyền và tôi không thể gán linh thiêng độc quyền cho Giêsu. Giêsu cũng thiêng liêng như Krishna hay Rama hay Mahomed hay Zoroaster [lãnh đạo tâm linh tồn tại 1000 năm trước công nguyên theo truyền thuyết của Iran].

Tương tự, tôi thậm chí không coi từng từ trong Kinh Thánh là lời truyền của Thượng đế cũng như tôi không coi mọi lời của kinh Vệ Đà (Vedas) trong Hindu hay kinh Koran trong Hồi giáo là lời truyền của Thượng đế. Kết hợp của những cuốn sách này chắc chắn là được linh cảm từ Thượng đế, nhưng tôi thấy thiếu linh cảm đó trong nhiều điều khi đọc những điều đó riêng rẽ. Với tôi, Kinh thánh là một cuốn sách về tôn giáo cũng như trường ca Gita và kinh Koran.

Trích báo Harijan, 6-3-1937

Trường học sáng tạo: Cốt lõi của cách mạng cải cách giáo dục

Bài viết nhận định về cuốn sách Creative Schools: The Grassroots Revolution That’s Transforming Education của Ken Robinson Ken Robinson và Lou Aronica.

Một thập kỉ trước, bài chia sẻ trên cộng đồng Tedtalk “Trường học có giết chết sáng tạo?” của Ken Robinson – Giáo sư tại đại học Greg Chalfin bắc Colorado đã trở thành video được theo dõi nhiều nhất trong lịch sử của TEDtalk với hơn 37 triệu lượt xem.

Bài nói chuyện, trường học có giết chết sáng tạo?

Đọc tiếp trên CVD >>

Chữa lành thế giới

Chào các bạn,

Hôm nay là ngày 11 tháng 11, là ngày kỷ niệm 101 năm chấm dứt Chiến tranh thế giới thứ nhất, ngày 11-11-1918. Vì thế giới chưa thật sự được chữa lành, mình giới thiệu bài hát Chữa lành thế giới để động viên tất cả chúng ta kiên trì với sứ mệnh này.

Đây là bài hát được Michael Jackson sáng tác và hát, phát hành năm 1992. Michael Jackson (29-8-1958 – 25-6-2009) là ca sĩ, nhạc sĩ và vũ công người Mỹ. Đọc tiếp Chữa lành thế giới

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 1-3)

 

CHAPTER 1

MY EARLY STUDIES IN CHRISTIANITY

It was more than I could believe that Jesus was the only incarnate son of God, and that only he who believed in Him would have everlasting life. If God could have sons, all of us were His sons. If Jesus was like God, or God Himself, then all men were like God and could be God Himself.

My reason was not ready to believe literally that Jesus by his death and by his blood redeemed the sins of the world. Metaphorically there might be some truth in it.

Again, according to Christianity only human beings had souls, and not other living beings, for whom death meant complete extinction; while I held a contrary belief.

I could accept Jesus as a martyr, an embodiment of sacrifice, and a divine teacher, but not as the most perfect man ever born. His death on the Cross was a great example to the world, but that there was anything like a mysterious or miraculous virtue in it, my heart could not accept.

 

The pious lives of Christians did not give me anything that the lives of men of other faiths had failed to give. I had seen in other lives just the same reformation that I had heard of among Christians.

Philosophically there was nothing extraordinary in Christian principles. From the point of view of sacrifice, it seemed to me that the Hindus greatly surpassed the Christians. It was impossible for me to regard Christianity as a perfect religion or the greatest of all religions.

An Autobiography, pp. 98-99, Edn. 1958

CHAPTER 2

THE SERMON ON THE MOUNT

I could not possibly read through the Old Testament. I read the book of Genesis, and the chapters that followed invariably sent me to sleep But just for the sake of being able to say that I had read it, I plodded through the other books with much difficulty and without the least interest or understanding. I disliked reading the book of Numbers.

But the New Testament produced a different impression, especially the Sermon on the Mount which went straight to my heart. I compared it with the Gita.

The verses, “But I say unto you, that ye resist not evil: but whosoever shall smite thee on thy right cheek, turn to him the other also. And if any man take away thy coat let him have thy cloak too,” delighted me beyond measure and put me in mind of Shamal Bhatt’s “For a bowl of water, give a goodly meal”, etc.

An Autobiography, p. 49, Edn. 1958

I have not been able to see any difference between the Sermon on the Mount and the Bkagavadgita. What the Sermon describes in a graphic manner, the Bkagavadgita reduces to a scientific formula. It may not be a scientific book in the accepted sense of the term, but it has argued out the law of love — the law of abandon as I would call it — in a scientific manner. The Sermon on the Mount gives the same law in wonderful language.

The New Testament gave me comfort and boundless joy, as it came after the repulsion that parts of the Old had given me. Today supposing I was deprived of the Gita and forgot all its contents but had a copy of the Sermon, I should derive the same joy from it as I do from the Gila.

Young India, 22-12-1927

 

Christ, a Supreme Artist

Truth is the first thing to be sought for, and Beauty and Goodness will then be added unto you. Jesus was, to my mind, a supreme artist because he saw and expressed Truth; and so was Mahomed, the Koran being the most perfect composition in all Arabic literature — at any rate, that is what scholars say. It is because both of them strove first for Truth that the grace of expression naturally came in and yet neither Jesus nor Mahomed wrote on art. That is the Truth and Beauty I crave for, live for and would die for.

Young India, 20-1 1-1924

CHƯƠNG 1

NHỮNG TÌM HIỂU BAN ĐẦU CỦA TÔI VỀ KITÔ GIÁO

Tôi không thể tin rằng Giêsu là người con đầu thai duy nhất của Thượng Đế và chỉ có ai tin vào Giêsu mới có cuộc sống vĩnh hằng. Nếu Thượng Đế có thể có nhiều con, tất cả chúng ta đều là con của Người. Nếu Giêsu giống Thượng Đế, hoặc chính là Thượng Đế, thì tất cả con người đều giống Thượng Đế và có thể là chính Thượng Đế.

Lý trí của tôi không sẵn sàng để tin, theo nghĩa đen, rằng Giêsu đã chuộc tội của thế gian này bằng cái chết và bằng máu của mình. Nhưng nói nột cách ẩn dụ, trong đó có thể có một số sự thật.

Một lần nữa, theo Kitô giáo, chỉ có con người có linh hồn, còn những sinh vật khác thì không có linh hồn và cái chết của chúng có nghĩa là tiệt diệt hoàn toàn; trong khi tôi tin ngược lại.

Tôi có thể chấp nhận Giêsu là một vị tử đạo, một hiện thân của hiến sinh và một người thầy thiêng liêng, nhưng không phải là người hoàn hảo nhất từng được sinh ra. Cái chết của Người trên Thập giá là một ví dụ vĩ đại cho thế giới, nhưng trái tim tôi không thể chấp nhận là có bất cứ điều gì như một đức hạnh bí ẩn và thần diệu trong đó.

Đời sống ngoan đạo của các Kitô hữu không cho tôi thấy bất cứ điều gì mà những người có những đức tin khác không làm được. Tôi đã thấy trong đời sống của những người khác những hoán cải mà tôi đã được nghe trong các Kitô hữu.

Về mặt triết học, không có gì phi thường trong các nguyên lý Kitô giáo. Từ cái nhìn về sự hiến sinh, dường như đối với tôi, người Ấn giáo đã vượt qua các Kitô hữu rất nhiều. Tôi không thể coi Kitô giáo là một tôn giáo hoàn hảo hay vĩ đại nhất trong tất cả các tôn giáo.

Trích Gandhi Tiểu sử tự thuật – An Autobiography, năm 1958, trang 98-99

CHƯƠNG 2

BÀI GIẢNG TRÊN NÚI

Tôi đã không thể đọc hết tập Cựu Ước. Tôi đã đọc cuốn Sáng Thế Ký, và những chương tiếp theo khiến tôi rất buồn ngủ. Vì chỉ muốn nói là tôi đã đọc Cựu Ước, tôi đã lê lết qua các cuốn khác trong Cựu Ước với nhiều khó khăn và không hề có hứng thú hay hiểu biết nào. Tôi không thích đọc cuốn Dân Số.

Nhưng Tân Ước tạo ra một ấn tượng khác, đặc biệt là Bài Giảng Trên Núi đi thẳng vào trái tim tôi. Tôi đã so sánh bài giảng đó với Bhagavad Gita [gọi tắt là Gita, một trường ca cổ tiếng Phạn, còn được gọi là Bài ca của Thượng Đế – The song of God].

Những câu, “Nhưng thầy nói với anh em, anh em không chống lại kẻ ác: hễ ai đánh vào má phải, thì giơ ra má trái cho họ luôn. Và hễ ai lấy áo trong của anh em, hãy để họ lấy luôn cả áo choàng,” khiến tôi vui sướng khôn tả, và đưa tôi vào tâm trí của Shamal Bhatt [một nhà thơ Ấn Độ thời trung cổ] “Nhận một bát nước, cho lại một bữa tiệc”, v.v …

Trích Gandhi Tiểu sử tự thuật – An Autobiography, năm 1958, trang 49

Tôi đã không thể thấy bất cứ khác biệt nào giữa Bài giảng trên Núi và trường ca Bkagavad Gita. Những gì Bài giảng mô tả theo phương cách đồ họa, thì Bkagavadgita rút gọn thành một công thức khoa học. Gita có thể không phải là một cuốn sách khoa học theo nghĩa được chấp nhận của thuật ngữ “khoa học”, nhưng Gita thảo luận sâu sắc một cách khoa học về luật tình yêu – luật đầu hàng như tôi gọi. Bài giảng trên Núi đưa ra luật tương tự bằng ngôn ngữ tuyệt vời.

Tân Ước mang đến cho tôi sự thoải mái và niềm vui vô biên, vì cuốn sách xuất hiện sau những đáng ghét mà nhiều phần của Cựu Ước đã mang lại cho tôi. Hôm nay, giả như tôi bị lấy mất cuốn Gita và quên tất cả nội dung trong đó nhưng vẫn có một bản sao của Bài giảng trên Núi, tôi sẽ nhận được niềm vui tương tự như tôi có được từ Gita.

Trích báo Young Indian, 22-12-1927

Giêsu Kitô, một Nghệ sĩ Tối cao

Sự thật là điều đầu tiên được tìm kiếm, Vẻ đẹp và Điều lành sẽ được mang đến cho bạn. Giêsu, theo tôi, là một nghệ sĩ tối cao bởi vì Giêsu đã nhìn thấy và bày tỏ Sự thật; và Tiên tri Mahomed cũng vậy, Koran là tác phẩm hoàn hảo nhất trong toàn bộ văn học Ả Rập – dù sao thì đó cũng là điều các học giả nói. Chính vì cả hai cuốn sách đều cố gắng trước tiên vì Sự thật, mà cách diễn tả đầy ân sủng đến rất tự nhiên, dù cả Giêsu và Mahomed đều không dùng nghệ thuật viết. Đó là Sự thật và Vẻ đẹp mà tôi khao khát, sống vì đó, và sẵn sàng chết vì đó.

Trích báo Young Indian, 20-1 1-1924

GIÊSU (theo Tin Mừng của Luke, chuyển ngữ Tin Lành). Phim này đã đươc chuyển ngữ sang hơn 1 ngàn thứ tiếng từ khi được ra mắt năm 1979, và là phim được chuyển ra nhiều thứ tiếng nhất và được xem nhiều nhất trong lịch sử thế giới.

JESUS (film full)
A docudrama on the life of Jesus Christ based on the Gospel of Luke, JESUS has been translated into more than 1,000 languages since its 1979 release. It remains the most translated and viewed film in history.

CHAPTER 3

WHY I AM NOT A CONVERT TO CHRISTIANITY

Though I admire much in Christianity, I am unable to identify myself with orthodox Christianity…Hinduism as I know it entirely satisfies my soul, fills my whole being, and I find a solace in the Bhagavadgita and Upanishads that I miss even in the Sermon on the Mount. Not that I do not prize the ideal presented therein; not that some of the precious teachings in the Sermon on the Mount have not left a deep impression upon me, but I must confess… that when doubt haunts me, when disappointments stare me in the face, and when I see not one ray of light on the horizon, I turn to the Bhagavadgita, and find a verse to comfort me; and I immediately begin to smile in the midst of overwhelming sorrow. My life has been full of external tragedies, and if they have not left any visible and indelible effect on me, I owe it to the teachings of the Bhagavadgita.

Young India, 6-8-1925

 

 

There is nothing in the world that would keep me from professing Christianity or any other faith, the moment I felt the truth of and the need for it. Where there is fear there is no religion…. If I could call myself, say, a Christian, or a Mussalman, with my own interpretation of the Bible or the Koran, I should not hesitate to call myself either. For then Hindu, Christian and Mussalman would be synonymous terms.

Young India, 2-9-1926

 

Though I cannot claim to be a Christian in the sectarian sense, the example of Jesus’ suffering is a factor in the composition of my undying faith in non- violence which rules all my actions, worldly and temporal.

Harijan, 7-1-1939

CHƯƠNG 3

TẠI SAO TÔI KHÔNG CẢI ĐẠO SANG KITÔ GIÁO

Mặc dù tôi ngưỡng mộ Kitô giáo rất nhiều, tôi không thể tự nhận mình là người Kitô giáo chính thống… Ấn Độ giáo như tôi biết hoàn toàn thỏa mãn tâm hồn tôi, làm đầy toàn bộ con người tôi, và tôi tìm thấy an ủi trong Bhagavadgita và Upanishads, điều mà tôi không tìm thấy ngay cả trong Bài giảng trên núi. Điều đó không có nghĩa là tôi không đề cao lý tưởng của Bài giảng; cũng không phải là một vài lời dạy quý giá trong Bài giảng không để lại ấn tượng sâu sắc với tôi, nhưng tôi phải thú nhận rằng … khi hoài nghi ám ảnh, khi thất vọng trực diện, và khi tôi không thấy một tia sáng nào phía chân trời, tôi quay sang Bhagavadgita và tìm một câu để an ủi mình; và tôi ngay lập tức bắt đầu mỉm cười giữa nỗi buồn quá lớn. Cuộc sống của tôi đầy rẫy những bi kịch bên ngoài, và nếu những bi kịch đó chưa từng để lại bất cứ ảnh hưởng hiển hiện và không thể xoá được trong tôi, là do tôi mang nợ những lời dạy của Bhagavadgita.

Trích báo Young Indian, 6-8-1925

Không có gì trên thế gian khiến tôi không tuyên xưng Kitô giáo hay bất cứ đức tin nào khác, ngay khi tôi cảm nhận được sự thật và sự cần thiết của đức tin đó. Ở đâu có sợ hãi thì không có đức tin…. Nếu tôi có thể tự gọi mình là một người Kitô giáo hay một người Hồi giáo, với sự giải thích của riêng tôi về Kinh Thánh hoặc Kinh Koran, thì tôi không ngần ngại tự gọi mình như thế. Bởi vì khi đó Ấn Độ giáo, Kitô giáo và Hồi giáo chỉ là các thuật ngữ đồng nghĩa.

Trích báo Young Indian, 2-9-1926

Mặc  dù tôi không thể tự nhận mình là Kitô hữu theo nghĩa giáo phái, nhưng hình mẫu về nỗi thống khổ của Giêsu là một yếu tố tạo nên niềm tin bất diệt của tôi vào bất bạo động, niềm tin đó chi phối mọi hành động của tôi, trần tục và tạm thời.

Trích báo Harijan, 7-1-1939

 

Ngày của em

Chào các bạn,

Nhân vật “em” trong clip dưới đây chia sẻ với Thượng đế những điều nhỏ bé em làm trong ngày.

Với Thượng đế, việc chúng ta chia sẻ với Thượng đế và chia sẻ những điều nhỏ bé hằng ngày với Thượng đế mới là quan trọng. Thượng đế chỉ muốn chúng ta gắn bó chặt chẽ với Thượng đế như vậy, và gắn bó bằng những điều nhỏ bé, mỗi ngày. Đọc tiếp Ngày của em

Tình yêu không thất bại

Chào các bạn,

Đây là bài hát dựa vào Thánh kinh, quyển Corinthians 1, chương 13, gọi là 1 Corinthians 13. Corinthians nghĩa là các tín hữu thành Corinth, thành phố miền Trung Nam Hy Lạp.

1 Corinthians 13 là đoạn nói về tình yêu nổi tiếng nhất ở Âu Mỹ. Đoạn này do Thánh Paul (Phaolô) viết trong một lá thơ gởi các tín hữu thành Corinth. Đây là đoạn luôn được đọc trong các lễ cưới, các ngày lễ về tình yêu và các cuộc vui liên hệ đến tình yêu. Đọc tiếp Tình yêu không thất bại