Bình an

Chào các bạn,

Trong Mùa Lễ Hội này mình hay nghĩ đến câu “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và bình an dưới thế cho người thiện tâm.” Tại sao chỉ là “bình an” cho người thiện tâm, mà không là “vinh quang” để đi theo “vinh danh”? Hay chiến thắng? Hay thiên đàng?

Nếu đọc lại lời chúc “bình an”, thì thường là khi ta chúc “bình an” có nghĩa là: (1) ta không thường xuyên có bình an, và (2) bình an là điều quý giá nhất.

Nếu nhìn lại đời sống của ta và của mọi người quanh ta, có lẽ ta sẽ thấy được 2 điều trên tự minh chứng là đúng như 2 định đề.

1. Ta không thường xuyên có bình an: Ra đường thì đánh vật với giao thông và các quý vị dành đường. Vào sở làm là có thể bốc điện thoại chửi nhau với đối thủ; và đôi khi đấu đá ngay cả với bạn cùng sở cùng phòng. Cả ngày stress vì chạy đua với đồng hồ, về nhà thi lo lắng đủ chuyện nhà cửa con cái, hay tình duyên lấn cấn giữa vợ chồng, hay vấn đề với anh chị em hay bè bạn…

2. Và ai trong chúng ta đã biết stress bao vây ta hàng ngày thế nào thì đương nhiên là biết điều quý‎ nhất cho đời sống của ta không phải là tiền bạc, danh tiếng, địa vị, quyền lực… mà là stress-free, một cuộc sống không có stress. Tức là một cuộc sống bình an, an lạc.

Nhưng làm thế nào để ta có cuộc sống stress free, hay ít nhất cũng là ít stress ?

Câu trả lời rất hiển nhiên là:

1. Đừng tạo stress. Phần lớn stress là do ta tạo ra. Ví du: Vì l‎ý do gì đó ta muốn chửi anh kia một trận, và nếu ta chửi anh ta thật thì, (i) ta tự tạo stress cho mình trước và (ii) ta có thể tạo stress cho anh kia.

2. Đừng chấp trước. Nếu người ta chửi mình hay hạ nhục mình mà mình cứ có cảm giác như nghe nhạc Beethoven thì mình sẽ không bị stress. Đây là công phu thâm hậu của các bậc thầy, không chấp vào điều gì cả.


Hoặc ở một mức cao hơn, ta yêu thương thế giới và cả loài người
, vì khi yêu thương như thế thì ta tự động không tạo stress và không chấp trước điều gì ai làm cả.

Đây chính là tình yêu vô điều kiện Giêsu dạy.

Cho nên các bạn, để thế giới chúng ta có được hòa bình thì mỗi người chúng ta cần phải “đừng tao stress” và “đừng chấp trước”. Ngược lại ta nên thực tập “yêu tất cả mọi người vô điều kiện”.

Nếu các bạn nhận thơ rác tiếng Việt thường xuyên thì đương nhiên là thấy 95% các thơ rác ta nhận là thơ chửi bới, gây lộn và tạo stress cùng mình. (Theo mình nhẩm tính, thơ rác tiếng Anh chỉ có khoảng 1% là đấu đá chửi bới)

Cho nên con người chúng ta không có bình an không phải là vì Chúa/Phật không thương ta hay không lo cho ta, mà vì chúng ta tự tạo chiến tranh và stress.

Hãy lọc các loại thơ rác đó vào thùng rác. Và mọi thứ rác khác chúng ta đang mang trong đầu, cũng nên cho vào thùng rác hết đi. Rồi ứng xử với nhau bằng một thái độ và không khí đầy tình yêu và an bình giữa anh chị em, để ta có thể có “bình an dưới thế cho người thiện tâm.”

Bình an dưới thế thật sự là do chúng ta cho nhau, chẳng từ trời mà đến. Giêsu đến từ trời để dạy ta yêu nhau, để ta có thể sống stress-free với nhau. Nhưng stress hay peace, là do ta mang cho nhau, chứ chẳng phải từ trời.

Hãy tạo bình an cho chính mình và cho trần thế của mình.

Chúc các bạn một ngày đầy bình an.

Mến,

Hoành

© copyright 2011
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Một suy nghĩ 12 thoughts on “Bình an”

  1. Anh Hòanh kính,
    Câu ”Vinh danh Thiên chúa trên các tầng trời ,và bình an dưới thế cho người thiện tâm” câu này có liên hệ nào với một câu kinh nào của đạo Phật không ạ .

    Số lượt thích

  2. Hi Phong Lan,

    Anh không nghĩ ra được câu nào rất gần. Nếu có được, thì anh đã viết ra rồi. Lý do là Thượng đế là một khái niệm không quan trọng trong Phật giáo (Nhiều người cho rằng Phật giáo dạy là không có Thượng đế–nhưng anh đọc các kinh Phật thì Phật Thích ca cho rằng con người phải tự lo giải thoát cho mình, và các câu hỏi về Thượng đế là không quan trọng và xa xỉ. Chẳng có một kinh Phật nào nói “KHÔNG CÓ THƯỢNG ĐẾ”).

    Tuy nhiên, kinh sách nhà Phật bàng bạc như rừng. Nếu mai mốt có một câu có vẻ gần với câu “Gloria…” anh cũng không ngạc nhiên.

    À, lúc câu hỏi của Phong Lan đến với anh, thì anh đang đọc bài này về “cầu nguyện trong Phật giáo”. Anh post để chia sẻ với em và vườn chuối.

    http://www.buddhistedu.org/viet/phat-phap/phat-hoc-thuong-thuc/516-cau-nguyen-trong-phat-giao

    Cầu nguyện trong Phật giáo

    Viết bởi Hoàng Phong

    Cầu nguyện là một hoạt động tinh thần phổ biến của con người, có từ buổi sơ khai của nhân loại.

    Ngay khi có ý thức về sự bất lực trước sức mạnh của thiên nhiên, trước sự tồn tại bấp bênh và sự chết chóc không thể kiểm soát được, con người bắt đầu bày tỏ sự cầu xin, ngợi ca và tạ ơn các đối tượng họ cho là thiêng liêng, có sức mạnh chi phối cuộc sống của họ.

    Ngày nay trong các tôn giáo, hình thức bảy tỏ sự cầu xin, ngợi ca, và tạ ơn vẫn hiện hữu như là nhu cầu tinh thần của con người, tuy nhiên cầu nguyện còn là một hình thức thực tập tâm linh.

    Đối với các tôn giáo hữu thần, cầu nguyện tuy có nhiều cấp độ ý nghĩa mang tính thực tập tâm linh, nhưng ý nghĩa căn bản và truyền thống nhất là thể hiện đức tin tuyệt đối vào đấng tạo hóa toàn năng có quyền ban phước giáng họa để được nhận phúc lành sống bình an hạnh phúc trong cõi thế này.

    Chúng ta hãy nghe lời của một Linh mục viết về ý nghĩa cầu nguyện trong Cơ Đốc giáo như thế này: “Chúng ta quỳ gối trước mặt Thiên Chúa là một cử chỉ để tuyên xưng lòng tin, để tôn vinh uy quyền của Thiên Chúa. Quỳ gối, tức là chúng ta đã đặt mình trước Ðấng Tối Cao, tự nhận mình là nhỏ bé, quỳ gối tôn thờ.

    Cầu nguyện trước tiên là đến với Chúa, mà đến với Chúa như một con người nhỏ bé đến trước Ðấng Toàn Năng. Cử chỉ quỳ gối là một cách biểu lộ lòng tin, biểu lộ sự nhìn nhận Thiên Chúa là Ðấng Toàn Năng.”

    Cầu nguyện trong Phật giáo có một ý nghĩa hoàn toàn khác như thế.

    Phật tử cũng quỳ gối trước đức Phật và các vị Bồ tát thánh hiền, cũng tỏ lòng tôn kính nhưng không phải để tuyên xưng lòng tin hay tôn vinh uy quyền của Phật và các vị Bồ tát thánh hiền mà chỉ để quán chiếu các đức tính hiền thiện của chư Phật và Bồ tát thánh hiền với trái tim khát khao được hoàn thiện những đức tính đó trong chính tự thân của mình nhằm thành tựu nhân cách cá nhân và hành động xây dựng xã hội toàn thiện.

    Mỗi lần quỳ gối hay đứng trước chư Phật và Bồ tát, Phật tử cũng cảm thấy mình nhỏ bé, nhưng không phải nhỏ bé trước một đấng toàn năng đầy quyền uy thưởng phạt và sinh sát mà cảm thấy nhỏ bé trước công hạnh cao cả và nhân cách hoàn thiện của các ngài.

    Như một hệ quả tự nhiên, cầu nguyện vói trái tim khát khao hoàn thiện các đức tính của chư Phật và Bồ tát thánh hiền, người Phật tử tự động quán chiếu lại bản tâm mình để trừ khử những xấu ác và làm phát khởi những đức tính hiền thiện trong chính tự thân mình, vì theo Phật giáo tất cả những đức tính hiền thiện của chư Phật và Bồ tát đều hiện hữu trong con người dưới dạng tiềm năng.

    Do vậy, cầu nguyện trong Phật giáo là tìm một phương pháp và sự chỉ dẫn hành trì để đoạn trừ các bất thiện pháp và làm phát khởi tiềm năng trong chính tự thân chứ không phải tìm cầu sự giúp đỡ bên ngoài thay cho hành động của mình.

    Hay nói cách khác, cầu nguyện trong Phật giáo không phải là những ngôn từ cầu xin mà những lời chỉ dẫn tu tập, chuyển hóa tâm hồn.

    Tụng kinh, niệm Phật, trì chú, thiền định trong Phật giáo là một hình thức cầu nguyện, mục đích là nhằm chuyển đổi quan niệm mê lầm xấu ác trở nên trong sáng lương thiện.

    “Cầu nguyện vì thế chính là phương pháp nhìn lại con người thật của mình, quan sát tâm mình và trừ khử khát vọng phàm tình, ích kỷ, ỷ lại, yếu đuối. Cầu nguyện là một cách định tâm định ý để chuyển hóa lòng mình, lòng người” (Thích Tịnh Từ).

    Hay nói bằng ngôn từ khác, “cầu nguyện là tiến trình làm phát khởi trạng thái cao thượng nhất là Phật tính của chúng ta. Một tiềm năng mà mọi người đều sở hữu bình đẳng như nhau. Phật tính là năng lượng sự sống căn bản và yêu thương vốn có trong vũ trụ. Cầu nguyện là tiến trình chuyển hóa những xung lực ham muốn ích kỷ thành tình thương vị tha”.(www.sgi.org/buddhism/buddhist-concepts/prayer-in-buddhism html)

    Cầu nguyện trong Phật giáo như vậy hoàn toàn mang tính tự lực, không có bóng dáng của tha lực, nghĩa là không có sự giúp đỡ hay gia hộ theo nghĩa ban phép lành của chư Phật và các vị thánh hiền.

    Vậy thì người Phật tử thường cầu nguyện chư Phật và các vị Thánh hiền gia hộ cho mình và người khác mang ý nghĩa gì?

    Sự gia hộ ở đây có nghĩa là chư Phật và các vị Thánh hiền truyền sức mạnh niềm tin và cảm xúc hứng khởi cho người cầu nguyện hành động thánh thiện trong cuộc đời.

    Bất cứ khi nào ta nhận được niềm tin và cảm xúc hứng khởi từ hành động và nhân cách cao thượng của ai đó rồi hành động thiện lợi trong cuộc đời thì khi đó ta có thể nói rằng người đó đã gia hộ cho ta.

    Martin Luther King, nhà lãnh đạo phong trào vận động quyền công dân tại Hoa Kỳ mà ngày nay cả nước Mỹ tôn vinh, đã chịu ảnh hưởng sâu sắc nguyên lý bất bạo lực hay còn gọi là bất hại được nhà lãnh đạo độc lập người Ấn độ Mohandas Gandhi đề xướng với tên gọi Chấp trì chân lí trong cuộc kháng chiến chống chế độ thực dân đế quốc Anh.

    Ta có thể nói rằng sự thành công trong phong trào đấu tranh bất bạo động giành quyền công dân của Martin Luther King là nhờ sự gia hộ của Mohandas Gandhi.

    Khi ta tụng đọc kinh sách tìm hiểu lời dạy, cuộc đời, công hạnh và nhân cách của Phật và các vị thánh hiền là ta cầu nguyện với các vị đó. Và khi nhân cách, công hạnh và những lời dạy của các vị đó tạo cho ta niềm tin và cảm xúc hứng khởi hành động theo lẽ phải, thánh thiện thì các vị đó đã gia hộ cho ta vậy.

    Trong đạo Phật, cuộc đời, công hạnh, nhân cách và lời dạy của đức Phật Thích Ca và các vị Bồ tát, các vị tổ sư là nguồn cảm hứng vô tận cho vô số người trên thế giới từ quá khứ đến hiện tại noi theo và hành theo.

    Nguồn cảm hứng của các ngài cho chúng sinh là vô tận thì sự gia hộ của các ngài cho chúng sinh cũng là vô biên.

    Nhưng đôi khi ta không nhận được sự gia hộ của các ngài là vì khi ta cầu nguyện Bồ tát Quán Thế Âm, ta không biết Quán Thế Âm là gì hay khi ta cầu nguyện đức Phật Thích Ca, đức Phật A Di Đà, ta không biết đức Phật Thích Ca, đức Phật A Di Đà là ai, đã có những công hạnh gì.

    Cho nên khi cầu nguyện với Phật với Bồ tát, ta phải biết cuộc đời, công hạnh, nhân cách và biểu tượng ý nghĩa của các vị đó nữa.

    Ví dụ khi ta cầu nguyện với Bồ tát Quán Thế Âm, ta phải biết Quán Thế Âm là vị Bồ tát giàu lòng bi mẫn, chuyên hạnh lắng nghe tiếng khổ của thế gian để cứu khổ. Nhưng quan trọng hơn hết ta phải hiểu Bồ tát Quán Thế Âm là hiện thân của từ bi, là biểu tượng của từ bi.

    Bất cứ ai giàu lòng bi mẫn, rung cảm chân thành trước nỗi đau của cuộc đời và hành động bằng tất cả khả năng của mình để giúp đời đều là hiện thân của Bồ tát Quán Thế Âm.

    Đây cũng chính là ý nghĩa thị hiện ba mươi hai thân tướng của Bồ tát Quán Thế Âm được nói trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn.

    Đọc kinh chúng ta có thể không tin có một vị Quán Thế Âm đầy thần thông biến hóa, đi mây về gió, nhưng chúng ta không thể không tin sự hiện thân của vị Bồ tát này, vì sự thực trong cuộc đời có rất nhiều người với tấm lòng từ bi nhân ái đang giúp đỡ người hoạn nạn, khó khăn và đau khổ.

    Chính những người này là nguồn cảm hứng để ta phát khởi tình thương và hành động bằng tình thương. Và ngang qua hành động bằng tình thương, chúng ta sẽ “cảm nghiệm được hạnh phúc và niềm hạnh phúc ấy được gọi là sự gia hộ của Bồ tát Quán Thế Âm”.

    Trên đây là cầu nguyện mang tính thực tập tâm linh, còn cầu nguyện theo nghĩa cầu xin thì thế nào. Cầu xin để thỏa mãn mong ước nào đó như sức khỏe, giàu có, thành công, hạnh phúc, an bình đều là những nhu cầu chính đáng của con người.

    Đạo Phật không hề khước từ những nhu cầu đó. Nhưng cầu nguyện trong đạo Phật phải đi đôi với hành động. Cầu nguyện không phải là dịp để chúng ta làm biếng, đùn đẩy công việc cho các đấng Thánh hiền.

    Cầu nguyện chỉ là chất xúc tác tinh thần tạo niềm tin và sức mạnh để người cầu nguyện hạnh động mà thôi.

    Mới đây, một nghiên cứu của các nhà khoa học tại đại học Graz, Áo và các đồng nghiệp của họ ở Đức cho thấy cầu nguyện trước khi làm điều gì đó sẽ mang lại kết quả tốt đẹp hơn.

    Họ tuyển tám mươi sinh viên chia thành hai nhóm, một nhóm được yêu cầu cầu nguyện và nghĩ về tổ tiên, nhóm khác nghĩ về việc mua sắm.

    Kết quả khảo sát về mức độ tự tin và làm một số bài kiểm tra về trí tuệ, nhóm cầu nguyện về tổ tiên tỏ ra tự tin hơn và điểm trung bình, điểm tuyệt đối của họ cũng cao hơn nhóm nghĩ về hoạt động mua sắm.

    Lý giải cho điều này, tiến sĩ Peter Fischer nói: “Tổ tiên chúng ta đã vượt qua hàng loạt thử thách trong cuộc sống của họ, như bệnh tật hiểm nghèo, chiến tranh, nỗi đau do mất người thân, suy thoái kinh tế. Vì thế khi nghĩ tới họ, chúng ta nhận ra rằng những con người giống hệt chúng ta về mặt di truyền có thể vượt qua nghịch cảnh đáng sợ nhất. Nhờ đó mà chúng ta cảm thấy tự tin hơn”.

    Cầu nguyện với tổ tiên đã có sức mạnh niềm tin vượt trội như vậy, thì khi cầu nguyện với Phật, các vị Bồ tát, các vị thánh hiền chúng ta sẽ có nhiều sức mạnh niềm tin hơn nữa, nhất là trong việc nổ lực hoàn thiện nhân cách bản thân và hành động tìm kiếm hạnh phúc tối hậu, vì Phật, Bồ tát và các vị thánh hiền đều là con người như chúng ta, trải qua bao rèn luyện khó khăn gian khổ, cuối cùng thành tựu được nhân cách và đạt được hạnh phúc tối hậu.

    Tóm lại, cầu nguyện sẽ tạo nên sức mạnh niềm tin, mà hạnh động với một niềm tin mạnh mẽ có thể mang lại những thành công thần kỳ.

    Trên đây chúng ta mới chỉ nói đến phương diện tâm lý trong cầu nguyện, còn khía cạnh siêu hình của cầu nguyện, tức là kết quả cầu nguyện xảy ra một cách kỳ diệu mà ta hay gọi là sự linh ứng mầu nhiệm của Phật, các vị Bồ tát thánh hiền.

    Ví dụ có những người bệnh tật chữa hoài không hết hoặc bác sĩ đã “chê”, thành tâm cầu nguyện đức Phật Dược Sư, trong hai tháng tự nhiên họ khỏe mạnh trở lại.

    Hoặc có những người gặp lúc hoạn nạn, thành tâm cầu nguyện Quán Thế Âm Bồ tát, họ thoát nạn một cách thần kỳ.

    Chúng ta giải thích như thế nào về khía cạnh siêu hình này? Chúng ta không thể cho rằng người cầu nguyện đạt được những kết quả thần kỳ như vậy là do họ thành tâm, vì ai gặp lúc hoạn nạn, nguy bách đến tính mạng đều chí thành cầu nguyện cả, nhưng sao người đạt được, người thì không.

    Cho nên chúng ta chỉ có thể lý giải những hiện tượng kỳ diệu đó bằng luật nghiệp báo.

    Thực ra cái mà ta gọi là sự linh ứng mầu nhiệm khi cầu nguyện không thuộc tài sản của riêng tôn giáo hay hệ thống tín ngưỡng nào. Nó xảy ra khắp mọi nơi trong mọi nền văn hóa và tôn giáo.

    Những câu chuyện linh ứng mầu nhiệm trong Phật giáo, Cơ Đốc giáo hay Hồi giáo là một minh chứng.

    Đôi lúc không cầu nguyện, sự kỳ diệu vẫn xảy ra như thường. Chẳng hạn đứa bé bốn tháng tuổi bị cuốn khỏi tay mẹ khi cơn sóng thần khủng khiếp ập đến thị trấn Ishimomaki ven biển Sendai trong thảm họa động đất ở Nhật Bản ngày 11/3 vừa qua nhưng vẫn sống khỏe mạnh dưới ngôi nhà đổ nát là một điều kỳ diệu.

    Tất cả những điều này chứng minh cho một quy luật khách quan chi phối toàn bộ nhân sinh và vũ trụ. Đó là quy luật nhân quả nghiệp báo.

    Luật nhân quả nghiệp báo giải thích cho ta về những trường hợp kỳ diệu trong cuộc sống. Tại sao trong vụ tai nạn máy bay kinh hoàng xảy ra ngày 12/5/2010 cướp đi sinh mạng của 103 người, chỉ duy nhất một cậu bé mười tuổi thoát chết.

    Điều này luật nghiệp báo lý giải rằng 103 người tử nạn kia trong các kiếp sống quá khứ họ có thể đã cùng thực hiện một việc ác lớn nào đó hoặc là việc ác riêng lẽ từng người nhưng tính chất quả báo giống nhau và có mối nhân duyên với nhau nên đưa đẩy họ cùng đi trên một chuyến bay.

    Còn cậu bé chỉ có mối nhân duyên nào đó với họ mà không có nghiệp ác lớn tạo tác trong quá khứ nên thoát chết một cách thần kỳ như vậy.

    Vai trò nghiệp báo quyết định vận mệnh an nguy của cuộc đời như vậy thì vấn đề cầu an, cầu siêu trong Phật giáo có tác dụng như thế nào?

    Cầu an là mong ước bình an, sức khỏe và hạnh phúc cho mình và tha nhân, là nhu cầu được an ổn tự thân, đồng thời thể hiện sự quan tâm yêu thương đến người khác.

    Khi cầu nguyện mà trong ta có niềm tin, tình yêu thương, lòng chân thật và sự khiêm tốn thì chắc chắn cảm ứng được Phật lực gia hộ cho ta được an bình.

    Cầu nguyện với năng lượng niềm tin, tình yêu thương, lòng chân thật, tính khiêm tốn là một hình thức của tư duy tích cực, yếu tố quan trọng dẫn đến hành động tích cực, mà hành động tích cực là chìa khóa của thành công và hạnh phúc an lạc.

    Với sức mạnh niềm tin và năng lượng tình thương, ta hướng tâm đến người ta cầu nguyện thì sẽ có tác dụng ảnh hưởng lên người đó. Tâm thức của ta có khả năng thiết lập mối quan hệ tương tác với tâm thức người khác, thậm chí là với loài vật và thực vật.

    Một thí nghiệm của bác sĩ Randolph Byrd cho ta hiểu thêm về tác dụng của cầu nguyện này.

    Ông chia 393 bệnh nhân đau tim thành hai nhóm. Một nhóm được một số người hằng ngày cầu nguyện cho mau lành bệnh, nhóm kia thì không nhưng cả hai nhóm đều được điều trị cùng một bác sĩ và thuốc men như nhau.

    Kết quả là nhóm được cầu nguyện bệnh tật cải thiện tốt hơn năm lần so với nhóm không được cầu nguyện.

    Thực ra tác dụng có thật của cầu nguyện không phải là điều mới mẻ đối với cộng động Phật giáo, vì từ lâu giới Phật tử đều biết đến tác dụng này qua những câu chuyện trong kinh sách.

    Ví dụ trong kinh Angulimala, thuộc Trung Bộ Kinh, thuật lại câu chuyện tôn giả Angulimala cầu nguyện cho một sản phụ đau đớn vì khó sinh.

    Chuyện kể rằng một hôm trên đường đi khất thực tôn giả Angulimala gặp một sản phụ khó sinh, đau đớn, nguy kịch, Tôn giả cảm thương trở về bạch với đức Phật.

    Đức Phật dạy tôn giả đến cầu nguyện cho sản phụ đó bằng những lời cầu nguyện thế này: “Thưa chị, kể từ khi tôi tái sinh trong Thánh đạo đến nay chưa bao giờ cố ý giết hại mạng sống của chúng sinh, với sự thực ấy tôi nguyện cầu chị được an toàn và sinh đẻ được an toàn”.

    Quả thật sau khi cầu nguyện xong, người sản phụ đó được mẹ tròn con vuông!

    Qua lời cầu nguyện mà đức Phật đã chỉ dạy cho tôn giả Angulimala, rõ ràng ta thấy người cầu nguyện cần phải có năng lượng tích cực thì sự cầu nguyện mới có hiệu nghiệm.

    Cụm từ “kể từ khi tôi tái sinh trong Thánh đạo đến nay chưa bao giờ cố ý giết hại mạng sống của chúng sinh” nói lên sự thật rằng tôn giả Angulimala đã có công năng tu tập và tích lũy công đức từ khi bước vào đời sống xuất gia.

    Vậy nên khi cầu nguyện cho ai, ta phải có năng lượng tích cực của tự thân, được tạo ra bởi tình yêu thương, lòng thánh thiện và những việc làm công đức.

    Một câu chuyện khác, đúng hơn là một sự kiện, được ghi lại trong Vinaya Pitaka, phần Cullavagga, mục 26-27, nói lên rằng tâm thức con người có khả năng thiết lập mối tương quan giao cảm với các loài động vật.

    Nhân sự kiện một vị tỳ kheo tu tập trong rừng bị rắn cắn chết, đức Phật nói rằng nếu vị tỳ kheo đó quán niệm từ tâm đối với các loài rắn thì chắc chắn sẽ không bị rắn cắn chết và ngài dạy một bài kệ để các tỳ kheo thực hành rải từ tâm đến không chỉ với loài rắn mà tất cả các sinh vật khác.

    Quả nhiên, khi các vị tỳ kheo tụng đọc bài kệ đó với tâm lượng từ bi rải khắp các loài động vật thì không còn bị rắn, rết, bò cạp đến quấy nhiễu nữa.

    Nếu chúng ta có ác tâm, gây tổn hại cho kẻ khác thì kẻ khác cũng trở nên có ác tâm và gây tổn hại lại chúng ta.

    Cho nên trong thế giới cộng tồn tương sinh này, cách tốt nhất để bảo vệ chúng ta khỏi bị hại là không làm hại kẻ khác. Mối nguy hiểm, bất an lớn nhất đe dọa cuộc sống chúng ta chính là chúng ta không có từ tâm với nhau.

    Cho nên sống mà có tâm yêu thương đến tất cả chúng sinh là cách tốt nhất để giữ gìn bản thân, bảo vệ bản thân và hộ trì bản thân. Đây cũng chính là ý nghĩa cầu an trong Phật giáo. Vậy cầu siêu thì như thế nào?

    Cầu siêu cũng là mong ước cho người thân của mình được an lành hạnh phúc nhưng không phải với người còn sống mà với người đã quá vãng.

    Chính vì đối tượng cầu nguyện là những người quá vãng nên danh từ sử dụng là cầu siêu, siêu dộ, siêu sinh, siêu thoát, với ý nghĩa mong muốn người quá vãng được “siêu vượt lên trên”, tức là từ những cảnh giới tối tăm đau khổ đọa đày được thoát sinh lên các thế giới an lành sung sướng hơn, vì theo thế giới quan Phật giáo, có rất nhiều cảnh giới sống khác nhau, trong đó có những thế giới khổ đau, thiếu thốn, bức bách như địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và những thế giới có đời sống an vui sung sướng hơn như các cõi thiên, đặc biệt sung sướng và an lạc nhất là thế giới cực lạc của Phật A Di Đà.

    Giống như hiệu nghiệm của cầu an, cầu siêu cũng có tác dụng hiệu quả của nó. Bởi lẽ con người chết đi nhưng tâm thức vẫn tồn tại. Tâm thức của người còn sống và tâm thức của người đã chết vẫn có khả năng thiết lập sự tương tác ảnh hưởng lẫn nhau, dù chúng ở hai thế giới khác nhau.

    Bằng năng lượng tình thương, sức mạnh tâm linh do rèn luyện đạo đức và thiền định cộng với những việc làm công đức, chúng ta hướng toàn bộ năng lực này đến những người quá cố nguyện cầu họ được siêu thoát về các cảnh giới an lành thì chắc chắn có tác dụng hỗ trợ tích cực.

    Kinh Vu Lan thuật lại trường hợp bà Thành Đề, mẹ của ngài Mục Kiền Liên, nhờ oai lực cầu nguyện của chư Tăng thoát khỏi cảnh giới địa ngục, thác sinh lên cõi trời là một thí dụ điển hình.

    Thế nhưng, trong kinh Tương Ưng, ta bắt gặp những lời dạy khác của đức Phật. Để trả lời câu hỏi liệu đức Phật có thể cầu nguyện cho những người đã chết sinh vào các thiện xứ và thiên giới, điều mà các đạo sĩ Bà La Môn đương thời tự cho là họ có khả năng làm như vậy, của thôn trưởng Asibandakaputta (A Tư La Thiên), đức Phật hỏi lại vị thôn trưởng này: Này thôn trưởng, ông nghĩ thế nào, một người khi sống đã tạo nhiều ác nghiệp như sát sinh, trộm cướp, tham lam, dối trá… cho đến sống theo tà kiến, lúc chết được nhiều người chắp tay cầu nguyện, mong rằng người này được sinh lên thiện thú, thiên giới và cõi đời này, thì có phải do nhân cầu nguyện ấy mà người đó được sinh lên thiện thú, thiên giới không?

    Thôn trưởng trả lời không thể có chuyện như vậy được. Có vẻ như để tăng thêm tính thuyết phục cho quan điểm của mình, đức Phật nêu lên một ví dụ:
    Ví như một tảng đá lớn được ném xuống hồ nước rồi mọi người đứng trên bờ chắp tay cầu nguyện, van xin, mong rằng tảng đó ấy nổi lên. Này thôn trưởng, ông nghĩ có phải nhờ vào sự cầu nguyện đó mà tẳng đá ấy nổi lên không?

    Thôn trưởng trả lời đó là chuyện không tưởng, không thể nào xảy ra được.

    Đến đây đức Phật kết luận: Này thôn trưởng, một người sống theo tà kiến, làm mười ác nghiệp thì khi chết dù được đông đảo quần chúng cầu nguyện sinh thiên vẫn phải sinh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ và địa ngục.

    Dựa vào lời dạy trên của đức Phật, một số người cho rằng cầu nguyện trong cầu siêu là vô ích, không có tác dụng gì. Nhưng nếu như vậy thì giải thích thế nào về trường hợp bà Thanh Đề nhờ năng lực cầu nguyện của chư Tăng mà thoát khỏi cảnh giới khổ đau, sinh lên thiên giới. Phải chăng lời Phật mâu thuẫn? Tôi nghĩ kinh Phật không hề mâu thuẫn nếu ta xem xét trong bối cảnh mà bài kinh đó được nói ra.

    Nhân duyên dẫn thôn trưởng Asibandakaputta đến hỏi đức Phật xem ngài có khả năng làm cho những người đã chết sinh thiên hay không là vì các đạo sĩ Bà La Môn thời đó tuyên bố họ có thể cầu nguyện cho những người đã chết bằng cách gọi tên và dẫn họ vào thiên giới.

    Trong thâm tâm thôn trưởng Asibandakaputta, ông cho rằng cầu nguyện như vậy đồng nghĩa với sức mạnh quyền năng, mà đức Phật thì chưa bao giờ tự nhận mình là một người có quyền năng.

    Cho nên ý nghĩa cầu nguyện mang tính quyền năng như vậy không được đức Phật chấp nhận. Ngài phủ nhận là phủ nhận chính điểm này, chứ không phải phủ nhận hoàn toàn vai trò cầu nguyện trong tiến trình siêu độ vong linh.

    Năng lực cầu nguyện không phải là sức mạnh quyền năng muốn đẩy ai xuống địa ngục thì đẩy, muốn đưa ai lên thiên đường thì đưa. Xuống địa ngục hay lên thiên đường là tùy vào nghiệp lực của mỗi người.

    Khi một người đã chết mang theo nhiều nghiệp bất thiện, thì cầu nguyện chỉ đóng vai trò trợ duyên, soi sáng và thức tỉnh tâm thức người đó để họ tự chuyển hóa nghiệp duyên của mình mà thăng hoa lên các cõi lành. Đây chính là ý nghĩa cầu siêu trong Phật giáo.

    Cầu nguyện trong Phật giáo, tóm lại, dù với mục đích nào, thực tập tâm linh, thực hiện một điều ước, hoàn thành một tâm nguyện, đạt được một thành tích hay gì gì đi nữa, thì tất cả đều phải được đặt trên sự tự nỗ lực bản thân, đối tượng mà ta cầu nguyện chỉ đống vai trò đánh thức niềm tin và truyền cảm hứng cho ta nỗ lực hành động mà thôi.

    Số lượt thích

  3. Bài viết về “cầu nguyện” nầy hay quá! Rất quý!
    Cảm ơn anh Hoành đã chia sẻ.

    Tôi thường cầu nguyện cho mình luôn có tâm bình an (tôi hiểu tâm bình an là tâm từ bi) và nhận biết được các tà niệm để không dính mắc vào chúng, để không tạo ra thêm các nhân xấu ác mà trước đây vì vô minh mình đã tạo ra nhiều quá rồi…

    Tôi cũng có cầu nguyện cho mình và mọi người ít khổ đau, nhiều hạnh phúc. Nhưng tôi nghĩ điều nầy Thượng Đế sẽ giúp cho chúng ta được ít hơn là chính chúng ta giúp chúng ta…

    Có thể Thượng Đế sẽ cho chúng ta nợ “nhận quả xấu” một thời gian. Nhưng nếu chúng ta không tích cực “tạo nhân tốt” để bù trừ, thì có khi hậu quả sẽ nặng hơn…

    Số lượt thích

  4. ”Khi một người đã chết mang theo nhiều nghiệp bất thiện, thì cầu nguyện chỉ đóng vai trò trợ duyên, soi sáng và thức tỉnh tâm thức người đó để họ tự chuyển hóa nghiệp duyên của mình mà thăng hoa lên các cõi lành. Đây chính là ý nghĩa cầu siêu trong Phật giáo.”
    Đây là điều rất quan trọng đấy ạ ,có những người được đọc kinh Phật,được hiểu các lời dạy ..họ có thể tự mình giải thoát cho mình để tự mình đạt tới trạng thái an vui,nhưng có những người vì nhiều hoàn cảnh ,lí do khác nhau ,nhiều khi rất tội nghiệp,chưa bao giờ được nghe lấy một câu kinh,thì sự trợ duyên của những người khác là một giúp đỡ vô cùng cần thiết và thường tạo ra thay đổi rất mạnhcho người đó, giống như mình ăn một món ngon lần đầu thấy rất ngon,rất nhớ,nhưng ăn đến lần thứ 2 thì giảm độ ngon đi, với những người chưa một lần được nghe những lời dịu dàng ,chưa bao giờ được một người cầu nguyện cho mình,đột nhiên được nghe lời dịu dàng,được nắm tay và niệm Phật,hay đọc một câu cầu nguyện như trong Thánh kinh chẳng hạn,sự chuyển biến đối với người đó rất mạnh,và một số trường hợp có thể là mọt chuyển đổi kì lạ ,thanh thản an lành hơn bất cứ người niệm Phật hay cầu nguyện lâu năm nào.
    Bài viết của tác giả Hoàng Phong thật công phu ,cảm ơn anh Hoành đã giới thiệu .
    Em vừa nghĩ một chút về câu cầu nguyện trên, em nghĩ là câu đó có thể hiểu : Khi mình nghĩ đến Chúa,Thánh ,trên trời,khi mình ca tụng những đức tính đẹp đẽ,sẽ mang lại cho mình sự bình an ,giống như luật hấp dẫn ấy ạ,và trong kinh Phật ,việc niệm Phật,xướng danh các vị Phật và Bồ tát ,việc niệm tên Bồ tát quán thế âm cầu bình an tai qua nạn khỏi có lẽ cũng có ý như vậy, khi ta nghĩ đến những điều tốt đẹp,tự nhiên ta trở lên tốt đẹp hơn,an bình hơn.KHông biết em có nghĩ xiên xẹo không anh Hoành nhỉ ,hihi, nếu không phải mong mọi người bỏ quá cho em ,từ khi đọc ĐCN,em mới biết đến Kinh thánh ,đột nhiên em hay xem có những điểm gì giống nhau giữa các đạo, em tin chắc mọi đạo đều xuất phát cùng một điểm .

    Số lượt thích

  5. Tác giả Hoàng Phong viết về cầu nguyện trong Phật giáo rất hay. Tuy nhiên có lẽ không nên so sánh với cầu nguyện trong Thiên chúa giáo, vì mọi sự so sánh đều khập khiễng và mỗi khái niệm cần được đặt trong “hệ quy chiếu” của nó. Hãy nghe một con chiên ngoan đạo nói về cầu nguyện trong Thiên chúa giáo và một vị sư nói về cầu nguyện trong Phật giáo, như vậy sẽ hay hơn chiều ngược lại. 🙂

    Số lượt thích

  6. Quỳ gối cầu nguyện trước Thiên Chúa, tôn vinh Chúa và tự nhận mình nhỏ bé là một hình ảnh rất đẹp và hoàn toàn đúng.

    Mỗi chúng ta là vô cùng nhỏ bé trước Thiên Chúa, trước Tạo Hoá, trước Vũ Trụ…

    Nhưng chính “lúc quỳ trước Chúa là lúc chúng ta lớn hơn”. Tôi nhớ hình như đó là câu nói của Napoléon, một người hùng của nước Pháp.

    Bất cứ sự cầu nguyện nào thành tâm và hướng thiện, đều tốt đẹp.

    Chúng ta hoàn toàn không nên phê phán và muốn người khác cũng cầu nguyện như mình.

    Vì vậy, tôi đồng ý với phản hồi của QL.

    Số lượt thích

  7. Hi cả nhà,

    Cầu nguyện trong các tôn giáo thuộc dòng Moses (Do thái giáo, Ki tô giáo, Hồi giáo) có một ý nghĩa quan trọng như là vô ngã của Phật giáo, gọi là submission.

    Người cầu nguyện submit chính mình, cuộc đời mình, gia nghiệp mình và tất cả những gì của mình–thân thể, linh hồn, tài sản, sắc đẹp, danh dự, tiền bạc, sức khỏe… vào tay Thượng đế. Chính mình không có gì hết, không là gì hết.

    Đây là khái niệm rất gần với vô ngã của nhà Phật, (mà đa số các học giả không thấy, chỉ vì họ chỉ nhắm đến cái khác nhau nhỏ mà không thấy cái giống nhau lớn).

    Thực sự thì ta thấy ở mức căn bản nhất của các trường phái tâm linh–việc loại bỏ cái tôi, hạ nó xuống zero–là điều chính để con người có được những cái khác–tình yêu, hòa bình, và an lạc….

    (Và nếu ai đọc Karl Marx tử tế thì sẽ thấy chính việc loại bỏ cái tôi cho tình yêu và hòa bình của con người là nền móng cốt lõi nhất của tư tưởng của Marx. Duy vật biện chứng pháp chỉ là phương tiện, một loại lý luận để làm cho tư tưởng tình yêu và hòa đồng của Marx có tính thuyết phục. Đó chỉ là một kỹ thuật lý luận như tam đoạn luận mà thôi không có gì đáng kể. Chính mục tiêu tối hậu của tư tưởng Marx mới là điểm chính.

    Cái sai căn bản của Marx là tự mâu thuẫn: Dùng chiến tranh và đấu tranh giai cấp để mong đạt được tình yêu và hòa bình vĩnh cửu. Đó là điều rất khó xảy ra. Chiến tranh thì thường tạo ra chiến tranh và thù hận. Tình yêu và hòa bình thì thường tạo ra tình yêu và hòa bình. cho nên phương pháp để đạt tình yêu và hòa bình cũng quan trọng như mục tiêu tình yêu và hòa bình).

    Số lượt thích

  8. Hi QL,

    Em vừa sờ đến điểm có vẻ mâu thuẫn nhưng thú vị nhất trong tư tưởng và thần học Ki tô giáo (Christianity), hay nói đúng hơn là của thần học Mosaic (3 nhánh tôn giáo dòng Moses — tổ phụ Môi-sen hay Mai-sen).

    Tóm tắt tư tưởng đó là thế này, Phúc âm John, chương 15, câu 5 và 6:

    “I am the vine; you are the branches. If you remain in me and I in you, you will bear much fruit; apart from me you can do nothing. 6 If you do not remain in me, you are like a branch that is thrown away and withers”.(John 15:5-6).

    “Ta là cây nho; các con là nhánh nho. Nếu các con ở trong ta và ta ở trong các con, các con sẽ sinh hoa trái; rời ta, các con không làm được gì cả. Nếu các con không ở trong ta, các con sẽ như nhánh nho bị ném đi và héo úa.” John 15:5-6.

    Nghĩa là, con người chỉ có thể có tự do trong Thượng đế. Không có thượng đế — tức là nếu đứng ngoài Thượng đế — thì con người không có tự do.

    Tại sao?

    Vì con người bản chất yếu đuối, nếu tách khỏi Thượng đế con người sẽ là nô lệ cho tham sân si, kiêu căng, giành giật… và đủ mọi thói xư tật xấu của mình.

    Chỉ ở trong Thượng đế con người mới đủ sức mạnh để đứng vững trên thiện tâm và do đó có tự do.

    Tư tưởng có vẻ như là mâu thuẫn của thần học là: Chỉ bằng cách “nộp mình” (submitting the self) hoàn toàn vào tay Thượng đế thì con người mới có thể có tự do. Tức là, chỉ khi cho đi/mất đi cái “self” thì cái “self” mới thực sự sống tự do.

    Hay nói một cách punchy để có ấn tượng.

    – Chỉ cho đi tự do con người mới có tự do.

    – Chỉ cho đi “the self” chính mình, con người mới có được “the self” (chính mình).

    Rất giống triết lý nhà Phật, phải từ bỏ cái tôi (the self) — vô ngã — thì ta mới được giải thoát.

    Về phương diện thực tế thì chính submission vào tay Thượng đế như thế làm cho người Ki tô hữu (Christian) mạnh mẽ và tự do–không lo sợ, không stress, không nhụt chí, không bị rào cản về tình yêu… như là những người khiêm tốn và điềm nhiên chịu chết trong các thời Ki tô giáo bị bách hại, hoặc các vị nữ tu sống với người cùi hủi mà không lo, hoặc ngày nay chúng ta có thể ngồi giữa mọi thứ bão đời mà điềm nhiên tự tại.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s