An trú

Chào các bạn,
TakeRefuge
Có lẽ chúng ta ai cũng có kinh nghiệm là mình thường không được bình an. Ta có đủ điều để băn khoăn lo lắng từ bản thân, đến gia đình, học đường, người yêu, sở làm, đất nước… Ta hay buồn, cô đơn, thất vọng, lo lắng, sợ hãi, thù hận… Chính vì vậy mà chúng ta thường đi tìm bình an. Và càng tìm bình an ta càng hiểu là bình an khó tìm.

Bình an không thể đến được nếu ta tìm cách dằn những cảm xúc bất bình an— buồn, cô đơn, thất vọng, lo lắng, sợ hãi, thù hận — xuống. Vì đó là cách… thường thua. Nếu ta cứ để ý đến cái tiêu cực (để dằn nó xuống), thì Luật Hấp Dẫn sẽ kéo thêm cái tiêu cực vào ta.

Bình an chỉ đến khi ta đem bình an đến, và bình an sẽ làm cho những cảm xúc tiêu cực đi mất.

An trú là trú ẩn nơi bình an. An trú là cách để ta vào trú trong căn nhà bình an.

• Người ta hay niệm Phật: Nam mô A di đà Phật. Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát. Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật…

Nam mô là an trú. [Con xin] an trú trong Phật A di đà. [Con xin] an trú trong Quan Thế Âm Bồ tát. [Con xin] an trú trong Phật Thích Ca.

Tiếng Anh là: I take refuge in Amitabha Buddha. I take refuge in Guanyin Bodhisattva, I take refuge in Shakyamuni Buddha.

Đó là cách người ta tìm bình an. Vào an trú trong các vị Phật. Vào đó ta không còn phải lo lắng, sợ hãi, hận thù nữa, vì ta biết không có gì đáng lo, đáng sợ, đáng hận.

• Ở mức thượng thừa của nhà Phật, chúng ta an trú trong chính tâm Phật của mình, vì chính mình là Phật.

Nhưng đương nhiên không phải ai cũng có bản lãnh để làm điều này, nên đại đa số bá tánh thường dùng hình ảnh chư Phật để an trú.

• Trong các thánh vịnh Kitô giáo, cũng có rất nhiều câu hát nói đến “trú ẩn” hay “ẩn náu” trong Chúa và cũng dịch sang tiếng Anh là take refuge in. Ví dụ, “Con trú ẩn trong Chúa” Psalm 7:1, “Cho con bình an, Chúa ơi, vì con ẩn náu trong Chúa, Psalm 16-1.

• Đọc lịch sử Việt Nam trong các thời kỳ cách mạng kháng chiến, ta thấy nhiều liệt sĩ dù bị bắt và tra khảo hành hình rất dã man, vẫn một lòng trung kiên và không sợ hãi điều gì. Mặc dù từ “an trú” chẳng được nhắc đến trong các trang sách lịch sử, mình nghĩ là họ đã được “an trú” trong tinh thần cách mạng nên mới có được trung kiên như thế.

• Khi lòng ta có được nơi an trú, thì ta có bình an và mọi băn khoăn, lắng lo, sợ hãi biến mất.

Tức là yếu tố để chúng ta có bình an tĩnh lặng trong lòng không phải là “Quẳng gánh lo đi và vui sống” mà là “Mang bình an đến và các gánh lo biến mất”.

Và bình an thường đến dễ nhất khi ta tìm an trú trong nơi bình an của ta, dù nơi đó là Phật, Chúa, tâm ta, hay lý tưởng cao quý của ta…

Và khi bình an đến thì tự nhiên tất cả những gì tiêu cực sẽ biến mất.

Chúc các bạn luôn an trú.

Mến,

Hoành

© copyright 2013
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Một suy nghĩ 11 thoughts on “An trú”

  1. Vâng anh Hoành! An trú phải từ trong tâm ta chứ không phải từ bên ngoài vào. Cũng như ta đi tìm Phật từ chính trong tâm chứ không phải tìm đâu xa lạ!
    Cám ơn anh Hoành về những điều anh đã khai thị tuyệt vời!

    Đã thích bởi 1 người

  2. Cảm ơn anh Hoành về bài viết.
    Mỗi khi em đi xe máy về quê, đi xa hoặc thấy hoang mang em đều niệm : Nam mô A di đà Phật..Em ko hiểu sâu xa của câu nói này. Nhưng mỗi lẫn niệm em thấy mình bình an hơn..
    Giờ em đã biết đó là sự nương tựa vào Phật..
    Cảm ơn anh nhiều lắm ah.
    Chúc anh khoẻ 🙂

    Đã thích bởi 1 người

  3. Hi anh Hoành

    Bài viết hay và thật sâu sắc. Em mới vừa comment bên bài viêt “Biết mình”, đọc bài này xong, bỗng thấy …thật bình an 🙂

    Cám ơn anh.

    Thích

  4. Bài này hay qúa anh Hoành , nhiều bài của anh viết rất giống 1 Thầy tu rất cao . An trú trong câu niệm Phật thì rất là vui và bình an .

    Thích

  5. Cảm ơn xangkan nói rất đúng. Ở mức độ tột cùng, không có “tâm Phật”, cũng không có “của mình.”

    Nhưng mình nghĩ răng “thực tại” cũng không có, vì nhất thiết pháp giai không.

    Nhưng “không có” cũng chẳng phải, vì không mà là có, có mà là không. “Sắc bất dị không, không bất dị sắc; sắc tức thị không, không tức thị sắc.” (Bát Nhã Tâm Kinh).

    Vậy thì có mà không có, không có mà có. Có chính là không có và không có chính là có.

    Metta,

    Hoành

    Đã thích bởi 1 người

  6. Thực tại là những thứ thực sự có và được Đức Phật giảng. Các thực tại đó chính là Pháp (dhamma) chúng có những đặc tính riêng không thể thay đổi và sinh diệt liên tục theo các duyên hệ. “Giai không” không có nghĩa là không có thật, mà có nghĩa rằng chúng không có tự ngã (vô ngã), trống không tự ngã. Pháp bao gồm Danh và Sắc, có 141 (89 + 52) Danh pháp và 28 Sắc pháp. Nếu không hiểu đúng các pháp thì không có sự an trú vào Pháp và chuyện phân biệt Có, Không, Vô ngã là không có cơ sở, không có cơ sở thì ai thích nói gì cũng “đúng” hết.

    Bát Nhã Tâm Kinh thì không nằm trong Tam Tạng nên xin không bàn.
    Anh có thể bỏ công tìm hiểu lại thật chính xác những sự thật và Đức Phật đã dạy.

    Thích

  7. 🙂
    Vừa hay có từ metta. Xin mạn phép phân tích từ góc độ pháp chân đế (paramatha dhamma) về metta ạ:
    Thực tại của Metta (tâm từ) là gì? Thực tại của Metta là tâm sở vô sân (adosa cetasika, một trong 3 nhân tịnh hảo – sobhana hetu). Tâm sở vô sân này sinh kèm với các tâm nào. Tra sách thì ta thấy adosa sinh kèm với tất cả các tâm thiện. Có 69 tâm thiện trong tổng số 89 tâm. Bất cứ khi nào một trong 69 loại tâm thiện sinh khởi thì đều có ít nhất 7 tâm sở biến hành và 19 tâm sở tịnh hảo (bao gồm cả adosa) sinh kèm.
    Vậy có phải khoảnh khắc nào có tâm thiện thì có Metta hay không?
    Thực ra không phải. Metta là một trong “sắc thái” của adosa, tức là có adosa cũng chưa chắc đã có Metta vì biểu hiện của adosa ở những trường hợp khác nhau thì rất khác nhau.
    Các Chú giải có giải thích: Tâm từ có đối tượng là khái niệm (pannati), nghĩ đến sự an vui / khía cạnh tốt đẹp của chúng sinh. Tâm có thể lấy bản thân pháp chân đế (danh, sắc) hoặc các khái niệm khác nhau làm đối tượng. Chỉ tâm thiện sinh khởi với đối tượng là khái niệm cụ thể: “sự an vui/ khía cạnh tốt đẹp của chúng sinh” thì mới là metta.
    Vậy ở khoảnh khắc có metta thì có sự an trú vào Tam Bảo hay không?
    Các tâm thiện được chia làm 2 loại: hợp trí và ly trí (trí ở đây là panna- tâm sở trí tuệ). Trong số các tâm thiện hợp trí lại có 2 loại nhóm trí khác nhau: panna hiểu biết về đặc tính thiện/ bất thiện và panna hiểu biết đặc tính của pháp.
    Nếu tâm thiện ly trí hoặc hợp trí nhưng không hiểu biết về đặc tính của pháp (ví dụ như các tâm thiền có đề mục làm đối tượng) thì ở đó không có sự an trú vào Pháp. Chỉ khi tâm thiện hợp trí hiểu biết về đặc tính của pháp (có minh sát tuệ) sinh khởi thì ở đó mới có sự an trú vào Pháp. Vì sao? Thời kỳ không có các vị Phật và không có Giáo pháp vẫn có những người đắc thiền, tức là vẫn có sự phát triển hiểu biết (trí tuệ) về đặc tính thiện/ bất thiện. Loại trí tuệ này nhận ra hiểm hoạ của bất thiện và có thể phát triển đến mức độ tối đa là các tầng thiền vô sắc. Tuy vậy, hành giả dù an trú trong thiền này bao lâu thì cũng không đạt được đến giác ngộ Tứ Thánh Đế. Chỉ có thời kỳ có các vị Phật và có Giáo pháp thì mới có sự phát triển của minh sát tuệ. Thời điểm tâm thiện sinh kèm với minh sát tuệ thì có sự an trú vào Phật, Pháp, Tăng, panna ở mức độ minh sát tuệ là panna rất đặc biệt chỉ có ở con đường mà Đức Phật dạy.
    Với trường hợp của Metta: Do đối tượng của tâm thiện lúc đó là khái niệm (pannati) chứ không phải là pháp chân đế nên ở đó không có trí tuệ ở mức độ minh sát tuệ, vì thế đó chưa phải là mức độ an trú vào Phật Pháp.

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s