Tánh Phật trong ta

Chào các bạn,
lục tổ Huệ Năng
Trong bài này, phần chính là một đoạn trích ra từ chương đầu tiên (Hành do) của Pháp Bảo Đàn Kinh của thiền tông lục tổ Huệ Năng, bài dịch của Hòa thượng Thích Thanh Từ.

Đoạn này nói về việc Huệ Năng chứng ngộ và được ngũ tổ Hoằng Nhẫn truyền y bát, dù Huệ Năng không biết đọc, không biết viết, và chưa hề tu chùa ngày nào trước khi chứng ngộ.

Tương truyền, Phật Thích Ca truyền tâm pháp cho đại đệ tử Maha Cadiếp, khi Phật trong hội Linh sơn cầm đóa hoa sen đưa lên cao, đại chúng không ai hiểu gì, ngoại trừ Cadiếp mỉm cười. Phật liền nói: “Ta có chánh Pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu-tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn-tự, ngoài giáo lý truyền riêng, nay giao phó cho ngươi.”

Thiền tông Ấn độ, như vậy, bắt đầu từ sơ tổ Maha Cadiếp, đến Bồ Đề Đạt Ma là tổ thứ 29.

Đầu thế kỷ thứ 6, Bồ Đề Đạt Ma, tổ thứ 29 ở Ấn Độ, qua Trung quốc dạy Thiền, được xem là sơ tổ của dòng Thiền trung quốc, đến Huệ Năng là tổ thứ 6 (lục tổ) như sau:

1. Bồ-đề-đạt-ma (?-532)
2. Huệ Khả (487-593)
3. Tăng Xán (?-606)
4. Đạo Tín (580-651)
5. Hoằng Nhẫn (601-674)
6. Huệ Năng (638-713)

Pháp Bảo Đàn Kinh là kinh ghi lại những lời dạy của Huệ Năng. Đây là “kinh” duy nhất trong kinh phật mà không là lời Phật nói, tương truyền là vì Huệ Năng dặn các đệ tử gọi là “kinh”.

Truyện sau đây, do Huệ Năng kể lại, có ghi Huệ Năng là dân Lĩnh Nam (Lãnh Nam), tức là vùng nam sông Dương Tử, vùng dân Việt Nam ở cùng các bộ tộc Bách Việt khi xưa (chính vì thế mà người Việt Nam chúng ta có sách “Lĩnh Nam chích quái”).

Đây là đoạn đầu của Pháp Bảo Đàn Kinh (các phần chữ đỏ là do mình tô màu):

Khi ấy Đại sư đến chùa Bảo Lâm tại Thiều Châu, Thứ sử Vi Cừ cùng với quan liêu vào núi thỉnh Sư đến trong thành, ở chùa Đại Phạm, tại giảng đường vì chúng khai duyên nói pháp. Sư đăng tòa, Thứ sử quan liêu hơn ba mươi người, Nho tông học sĩ hơn ba mươi người, Tăng Ni đạo tục hơn một ngàn người đồng thời làm lễ, nguyện được nghe pháp yếu.

Lục Tổ bảo chúng rằng:

Này Thiện tri thức, Bồ-đề Tự tánh xưa nay thanh tịnh, chỉ dùng tâm này, thẳng đó trọn được thành Phật. Này Thiện tri thức, hãy lắng nghe Huệ Năng nói về hành do được pháp.

Nghiêm phụ của Huệ Năng bản quán ở Phạm Dương, bị giáng đày ra Lãnh Nam, làm thường dân ở Tân Châu. Thân này bất hạnh, cha lại mất sớm, mẹ góa con côi dời đến Nam Hải, gian nan nghèo khổ, thường ra chợ bán củi.

Khi ấy có một người khách mua, bảo gánh đến khách điếm, khách nhận củi xong, Huệ Năng lãnh tiền, lui ra khỏi cửa, thấy một người khách tụng kinh, Huệ Năng một phen nghe lời kinh, tâm liền khai ngộ, bèn hỏi khách tụng kinh gì, khách bảo: “kinh Kim Cang”. Huệ Năng lại hỏi: “Ở đâu đến thọ trì kinh này?” Khách bảo: “Tôi từ chùa Đông Thiền, huyện Huỳnh Mai, Kỳ Châu đến. Chùa ấy do Ngũ tổ Hoằng Nhẫn đại sư làm chủ giáo hóa, đệ tử có hơn một ngàn người, tôi đến đó lễ bái, nghe nhận kinh này. Đại sư thường khuyên kẻ Tăng người tục chỉ trì kinh Kim Cang liền được thấy tánh, thẳng đó thành Phật.” Huệ Năng nghe nói, do đời trước có duyên, mới được một người khách cho Huệ Năng một số bạc là mười lượng để giúp nuôi dưỡng mẹ già và bảo đến Huỳnh Mai tham vấn Ngũ Tổ.

Huệ Năng an trí mẹ xong liền từ giã ra đi, không hơn ba mươi ngày liền đến Huỳnh Mai lễ bái Ngũ Tổ. Tổ hỏi: “Ngươi từ phương nào đến, muốn cầu vật gì?” Huệ Năng đáp: “Đệ tử là dân Tân Châu thuộc Lãnh Nam, từ xa đến lễ Thầy, chỉ cầu làm Phật, chớ không cầu gì khác!”

Tổ bảo: “Ông là người Lãnh Nam, lại là người quê mùa, làm sao kham làm Phật?”

Huệ Năng liền đáp: “Người tuy có Nam Bắc nhưng Phật tánh vốn không có Nam Bắc, thân quê mùa này cùng với Hòa thượng chẳng đồng, nhưng Phật tánh đâu có sai khác.” .

Ngũ Tổ muốn cùng tôi nói chuyện, lại thấy đồ chúng hai bên đông, mới bảo theo chúng làm công tác.

Huệ Năng thưa: “Huệ Năng xin bạch Hòa thượng, tự tâm đệ tử thường sanh trí tuệ, không lìa Tự tánh tức là phước điền, chưa biết Hòa thượng dạy con làm việc gì?”

Tổ bảo: “Kẻ nhà quê này, căn tánh rất lanh lợi, ông chớ nói nữa, xuống nhà trù đi.”

Huệ Năng lui lại nhà sau, có một người cư sĩ sai Huệ Năng bửa củi, giã gạo, trải hơn tám tháng. Một hôm, Tổ chợt thấy Huệ Năng, mới bảo: “Ta nghĩ chỗ thấy của ngươi có thể dùng, nhưng sợ có người ác hại ngươi, nên không nói cùng ngươi, ngươi có biết chăng?” Huệ Năng thưa: “Đệ tử cũng biết ý của Thầy nên không dám đến nhà trên, để người không biết.”

Một hôm, Ngũ Tổ bảo các đệ tử: “Tất cả hãy đến, ta nói với các ông: Người đời sanh tử là việc lớn, các ông trọn ngày chỉ cầu phước điền, chẳng cầu ra khỏi biển khổ sanh tử, Tự tánh nếu mê thì phước nào có thể cứu? Các ông, mỗi người hãy đi, tự xem trí tuệ của mình, nhận lấy tánh Bát-nhã nơi Bản tâm mình, mỗi người làm một bài kệ đến trình cho ta xem, nếu ngộ được đại ý thì ta trao y pháp làm Tổ thứ sáu. Phải nhanh đi, không được chậm trễ, suy nghĩ tức là không trúng. Người kiến tánh ngay lời nói phải thấy, nếu như người này dù khi múa đao giữa trận cũng được thấy tánh.

Chúng được chỉ dạy, trở về họp bàn với nhau: “Tất cả chúng ta không cần phải lắng lòng dụng ý làm kệ để trình Hòa thượng, đâu có lợi ích gì? Thượng tọa Thần Tú, hiện làm Giáo thọ sư, ắt là người được, chúng ta có gắng làm kệ tụng cũng uổng dụng tâm lực.” Mọi người nghe lời này, thảy đều đồng ý nói: “Chúng ta về sau y chỉ Thượng tọa Thần Tú, nhọc gì phải làm kệ.”

Thần Tú suy nghĩ: “Các người đều không trình kệ vì ta làm Giáo thọ sư cho họ, ta cần phải làm kệ trình lên Hòa thượng; nếu không trình kệ thì Hòa thượng đâu biết được kiến giải trong tâm ta cạn hay sâu? Ý ta trình kệ, cầu pháp thì tốt, cầu làm Tổ thì xấu, vì đồng với tâm của kẻ phàm, muốn cướp được ngôi vị Thánh không khác, nếu chẳng trình kệ thì trọn không được pháp. Rất khó! Rất khó!”

Trước nhà của Ngũ Tổ có một hành lang ba gian, Ngũ Tổ nghĩ mời ông Cung Phụng Lư Trân đến vẽ Lăng-già biến tướng và Ngũ Tổ huyết mạch đồ để lưu truyền cúng dường.

Ngài Thần Tú làm kệ rồi, mấy phen muốn trình, đi đến nhà trước thì trong tâm hoảng hốt, khắp thân đổ mồ hôi, nghĩ trình chẳng được. Trước sau trải qua bốn ngày, đến mười ba lần, trình kệ không được. Thần Tú mới suy nghĩ: “Chẳng bằng đến dưới hành lang viết (bài kệ), Hòa thượng đi qua xem thấy, nếu chợt bảo rằng hay thì mình ra lễ bái thưa của Thần Tú làm; nếu nói không kham, thật uổng công ở núi mấy năm, thọ người lễ bái, lại tu đạo gì?” Canh ba đêm ấy, không cho người biết, Ngài tự cầm đèn viết bài kệ ở vách phương Nam để trình chỗ tâm mình thấy được. Bài kệ rằng:

Thân là cội bồ-đề,
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn phải lau chùi,
Chớ để dính bụi bặm.

(Thân thị bồ-đề thọ,
Tâm như minh cảnh đài.
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhạ trần ai.)

Ngài Thần Tú viết kệ xong, liền trở về phòng, mọi người đều chẳng biết. Thần Tú lại suy nghĩ: “Ngày mai Ngũ Tổ thấy bài kệ, nếu hoan hỉ tức ta cùng pháp có duyên, nếu nói không kham, tự là ta mê, nghiệp duyên đời trước nặng nề, không hợp được pháp, thật là Thánh ý khó lường.” Trong phòng suy nghĩ, ngồi nằm chẳng an cho đến canh năm.

Ngũ Tổ đã biết Thần Tú vào cửa chưa được, không thấy Tự tánh. Sáng hôm sau, Tổ gọi ông Lư Cung Phụng đến hành lang phía Nam để vẽ đồ tướng trên vách, chợt thấy bài kệ, Ngài bảo Cung Phụng rằng: “Thôi chẳng cần phải vẽ, nhọc công ông từ xa đến. Trong kinh có nói: phàm những gì có tướng đều là hư vọng, chỉ để lại một bài kệ này cho người tụng đọc thọ trì, y bài kệ này tu thì khỏi đọa trong ác đạo, y bài kệ này tu thì được lợi ích lớn.” Khiến đồ đệ thắp hương lễ bái cung kính và tụng đọc bài kệ này tức được thấy tánh. Môn nhân tụng bài kệ đều khen: “Hay thay!”

Đến canh ba, Tổ mới gọi Thần Tú vào trong thất hỏi: “Kệ đó, phải ông làm chăng?” Ngài Thần Tú thưa: “Thật là con làm, chẳng dám vọng cầu Tổ vị, chỉ mong Hòa thượng từ bi xem đệ tử có chút ít trí tuệ chăng?” Tổ bảo: “Ông làm bài kệ này chưa thấy được Bản tánh, chỉ đến ngoài cửa, chưa vào được trong cửa, kiến giải như thế tìm Vô thượng Bồ-đề trọn không thể được. Vô thượng Bồ-đề phải được ngay nơi lời nói mà biết Bản tâm mình, thấy được Bản tánh mình chẳng sanh chẳng diệt, đối trong tất cả thời mỗi niệm mỗi niệm tự thấy, muôn pháp đều không kẹt, một chân tất cả đều chân, muôn cảnh tự như như, Tâm như như đó tức là chân thật. Nếu thấy được như thế tức là Tự tánh Vô thượng Bồ-đề. Ông hãy đi, một hai ngày sau, suy nghĩ làm một bài kệ khác đem lại tôi xem, bài kệ của ông nếu vào được cửa, sẽ trao y pháp cho ông.”

Ngài Thần Tú làm lễ lui ra, trải qua mấy ngày, làm kệ cũng không thành, trong tâm hoảng hốt, thần tư bất an, ví như ở trong mộng, đi ngồi không vui.

Lại hai ngày sau, có một chú bé đi qua chỗ giã gạo, đọc bài kệ này. Huệ Năng vừa nghe liền biết bài kệ này chưa thấy được Bản tánh. Tuy chưa nhờ chỉ dạy mà sớm đã biết được đại ý, bèn hỏi chú bé: “Tụng đó là kệ gì?” Chú bé đáp: “Cái ông nhà quê không biết, Đại sư nói: Người đời sanh tử là việc lớn, muốn được truyền y pháp, khiến đệ tử làm kệ trình Ngài xem, nếu ngộ được đại ý, liền trao y pháp làm Tổ thứ sáu. Thượng tọa Thần Tú viết bài kệ Vô tướng ở vách hành lang phía Nam, Đại sư khiến người đều đọc, y kệ này tu sẽ khỏi đọa đường ác, y kệ này tu sẽ có lợi ích lớn.”

Huệ Năng thưa: “Thượng nhân, đã hơn tám tháng, tôi ở nhà trù giã gạo, chưa từng đến nhà trên, mong thượng nhân dẫn tôi đến trước bài kệ lễ bái.”

Chú bé dẫn Ngài đến trước bài kệ lễ bái. Huệ Năng bảo: “Huệ Năng không biết chữ, nhờ thượng nhân vì tôi đọc.”

Khi ấy có quan Biệt giá ở Giang Châu họ Trương tên Nhật Dụng liền to tiếng đọc. Huệ Năng nghe rồi bèn nói: “Tôi cũng có một bài kệ, mong Biệt giá vì tôi viết.” Quan Biệt giá nói: “Ông cũng làm kệ nữa sao? Việc này thật ít có!”

Huệ Năng nói với Biệt giá rằng: “Muốn học đạo Vô thượng Bồ-đề, không được khinh người mới học. Kẻ hạ hạ cũng có cái trí thượng thượng, còn người thượng thượng cũng không có ý trí. Nếu khinh người thì có vô lượng vô biên tội.” Quan Biệt giá nói: “Ông chỉ tụng kệ, tôi vì ông viết, ông nếu được pháp, trước phải độ tôi, chớ quên lời này.” Huệ Năng đọc bài kệ:

Bồ-đề vốn không cây,
Gương sáng cũng chẳng đài.
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi bặm?

(Bồ-đề bản vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài.
Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai?)

Khi viết bài kệ rồi, đồ chúng thảy đều kinh hoàng, không ai mà chẳng xuýt xoa, mọi người bảo nhau rằng: “Lạ thay! Không thể do tướng mạo mà đoán người, đã bao lâu nay sai Nhục thân Bồ-tát làm việc.”

Tổ thấy cả chúng đều kinh ngạc, sợ có người làm hại, mới lấy giày xóa hết bài kệ, nói: “Cũng chưa thấy tánh.” Chúng cho là đúng.

Ngày kế Tổ thầm đến chỗ giã gạo thấy Huệ Năng đeo đá giã gạo, mới bảo rằng: “Người cầu đạo vì pháp quên mình đến thế ư?” Tổ lại hỏi: “Gạo trắng hay chưa?” Huệ Năng thưa: “Gạo trắng đã lâu, còn thiếu giần sàng.” Tổ lấy gậy gõ vào cối ba tiếng rồi đi. Huệ Năng liền hội được ý Tổ, đến khi trống đổ canh ba liền lén vào thất. Tổ lấy ca-sa che chung quanh không để người thấy, vì nói kinh Kim Cang, đến câu “ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Huệ Năng ngay lời đó đại ngộ, thấy tất cả muôn pháp chẳng lìa Tự tánh , liền thưa Tổ rằng:

Đâu ngờ Tự tánh vốn tự thanh tịnh,
Đâu ngờ Tự tánh vốn không sanh diệt,
Đâu ngờ Tự tánh vốn tự đầy đủ,
Đâu ngờ Tự tánh vốn không dao động,
Đâu ngờ Tự tánh hay sanh muôn pháp!

Ngũ Tổ biết Huệ Năng đã ngộ được Bản tánh mới bảo: “Chẳng biết Bản tâm, học pháp vô ích, nếu biết được Bản tâm mình, thấy được Bản tánh mình, tức gọi là Trượng phu, là Thầy của trời người, là Phật.

Canh ba thọ pháp, người trọn không biết, Tổ liền truyền pháp đốn giáo và y bát, nói rằng: “Ngươi là vị Tổ đời thứ sáu, khéo tự hộ niệm, rộng độ chúng hữu tình, truyền khắp đời sau, không khiến cho đoạn tuyệt. Nghe ta nói kệ:

Hữu tình đến gieo giống,
Nhân đất quả lại sanh.
Vô tình cũng không giống,
Không tánh cũng không sanh.”

(Hữu tình lai hạ chủng,
Nhân địa quả hoàn sanh.
Vô tình diệc vô chủng,
Vô tánh diệc vô sanh.)

Tổ lại bảo: “Xưa Đại sư Đạt-ma ban đầu đến cõi này, người chưa tin nên mới truyền y này để làm tín thể, đời đời truyền nhau, pháp thì dùng tâm truyền tâm, đều khiến cho tự ngộ tự giải. Từ xưa Phật Phật chỉ truyền Bản thể, thầy thầy thầm trao Bản tâm, y là đầu mối của sự tranh giành, nên dừng ngay nơi ngươi, chớ truyền nữa. Nếu truyền y này thì mạng của người nhận y cũng như sợi chỉ mành. Ông phải đi nhanh e người hại ông.”

Hy vọng là các bạn có thể nắm được cốt lõi truyện này, không cần giải thích thêm. Mình có thể kết bài này bằng vài câu tâm pháp của Thiền tông:

Thiền là:

Bất lập văn tự
Giáo ngoại biệt truyền
Trực chỉ nhân tâm
Kiến tánh thành thật

Không lập chữ nghĩa
Đặc biệt truyền bên ngoài giáo pháp
Chỉ thẳng tâm người
Thấy tánh, thành Phật

Và, về bản tánh của chúng ta (cũng như của vũ trụ) thì:

Tánh vốn tự thanh tịnh,
Tánh vốn không sanh diệt,
Tánh vốn tự đầy đủ,
Tánh vốn không dao động,
Tánh sanh muôn pháp.

Người đã thấy tánh, thì đương nhiên trong tư duy và hành động luôn “Ưng vô sở trụ” (không trụ, không chấp, vào đâu cả).

Nếu ta nắm được bản tánh chúng ta như thế tức là ta đã kiến tánh và thành Phật.

Chúc các bạn thấy được tánh của mình.

Mến,

Hoành

© copyright 2013
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com

Một suy nghĩ 10 thoughts on “Tánh Phật trong ta”

  1. Em cảm ơn anh đã giới thiệu Pháp Bảo Đàn Kinh, đoạn cuối đã giải thích rõ ràng về việc dừng không truyền y bát nữa, và em nghĩ chắc cũng là một trong những lí do chính để viết Kinh này, vì việc dừng một truyền thống là việc lớn:

    Tổ lại bảo: “Xưa Đại sư Đạt-ma ban đầu đến cõi này, người chưa tin nên mới truyền y này để làm tín thể, đời đời truyền nhau, pháp thì dùng tâm truyền tâm, đều khiến cho tự ngộ tự giải. Từ xưa Phật Phật chỉ truyền Bản thể, thầy thầy thầm trao Bản tâm, y là đầu mối của sự tranh giành, nên dừng ngay nơi ngươi, chớ truyền nữa. Nếu truyền y này thì mạng của người nhận y cũng như sợi chỉ mành. Ông phải đi nhanh e người hại ông.”

    Đã theo Phật để tầm đạo giải thoát, mà vẫn lâm vào cảnh “y là đầu mối của sự tranh giành”, mới thấy tâm tranh giành của con người thật là lớn ạ ^^

    Em Hường

    Số lượt thích

  2. Em thấy đoạn này còn interesting hơn ạ:

    Truyện sau đây, do Huệ Năng kể lại, có ghi Huệ Năng là dân Lĩnh Nam (Lãnh Nam), tức là vùng nam sông Dương Tử, vùng dân Việt Nam ở cùng các bộ tộc Bách Việt khi xưa (chính vì thế mà người Việt Nam chúng ta có sách “Lĩnh Nam chích quái”).

    Vậy có phải Lục tổ Huệ Năng là người Việt Nam không ạ? Em có nghe nói đến điều này nhưng chưa có câu trả lời rõ ràng.

    Số lượt thích

  3. Hi Thu Hường,

    Đó cũng là câu hỏi hấp dẫn: “Huệ Năng có phải là người Việt Nam?”

    Anh không thấy có bằng chứng đủ đển nói, Huệ Năng là người Việt Nam. Chỉ nói Huệ Năng ở Lĩnh Nam, thì không đủ để quyết đoán đó là người Việt, vì có nhiều bộ tộc Việt khác ở Lĩnh Nam. Hơn nữa kinh có nói: “Nghiêm phụ của Huệ Năng bản quán ở Phạm Dương, bị giáng đày ra Lãnh Nam, làm thường dân ở Tân Châu.” Chẳng biết Phạm Dương là ở đâu, nhưng câu nói nghe như Phạm Dương là ở phía bắc sông Dương Tử, đất của Hán tộc. Điều khá rõ ràng là Huệ Năng lớn lên ở Lĩnh Nam và có lẽ vì thế, và vì nhà nghèo, mà không biết đọc và biết viết chữ Hán.

    Hường đọc một bài Lục tổ Huệ Năng là người Hoa hay người Việt? để biết thêm về vấn đề này.

    Số lượt thích

  4. Bốn câu này, rất tầm thường và nghe hoàn toàn trật chỗ trong đoạn kinh này, nên anh nghĩ là câu của người đời sau, trí tuệ tầm thường, thêm vào:

    Hữu tình đến gieo giống,
    Nhân đất quả lại sanh.
    Vô tình cũng không giống,
    Không tánh cũng không sanh.”

    (Hữu tình lai hạ chủng,
    Nhân địa quả hoàn sanh.
    Vô tình diệc vô chủng,
    Vô tánh diệc vô sanh.)

    Số lượt thích

  5. Dạ, em cũng nghĩ câu hỏi Lục tổ Huệ Năng có phải người Việt Nam không là một câu hỏi hấp dẫn… không cần lời đáp, giống như câu hỏi sau khi chết đi về đâu vậy ạ, bản thân câu hỏi bản đó đã vui rồi (vì đang còn sống để hỏi), không cần câu trả lời ạ ^^

    Bốn câu anh nhắc đến em mới đọc kĩ, lúc đọc em cũng bỏ qua đoạn này, mấy câu này đúng là hơi có ý phân biệt giữa người thượng căn (hữu tình) và hạ căn (vô tình) quá ạ, em đoán có lẽ đó chỉ là bài kệ truyền pháp truyền thống thời đó.

    Em H

    Số lượt thích

  6. Hường nghi là thượng căn và hạ căn, như là người quan tâm và người không quan tâm, là nhẹ tay lắm đó.

    Anh nghĩ rằng vô tình và hữu tình ở đây là 2 từ Phật học có nghĩa là “chúng sinh có đời sống, có giác quan” (animate being, sentient being) và các loài không có giác quan, không có đời sống (đất, đá, inanimate objects).

    Nói rằng hữu tình có gieo giống và vô tình thì không, thì rất thừa thải và vô duyên ở đây.

    Nhưng, kinh Hoa Nghiêm “Tình dữ vô tình đồng viên chủng trí” (cả hữu tình và vô tình đều là chúng sinh). Nhưng đây là điếm đế khi khác bàn.

    Số lượt thích

  7. Dạ, em còn nghĩ đến hữu tình thì tạo nghiệp (sanh nhân quả), vô tình thì không tạo nghiệp (vô tánh vô sanh), nhưng dù phân lích lý giải thế nào thì cũng cứ cảm thấy vướng vướng sao đó ạ (lúc thì vướng có, lúc thì vướng không :D).

    Em nghĩ đây chỉ là một kiểu lời khen của thày cho trò giỏi nhất của mình thôi, Ngũ tổ dạy cả ngàn trò hầu hết tự cao tự đại, nên có thể khá nản lòng ^^

    Phật học đi sơ sơ bên ngoài thì vui, đi sâu sâu một chút dễ bị choáng quá ạ.
    Em Hường

    Số lượt thích

  8. Xin trích cái lược giải của HT Duy Lực :

    Hữu tình lai hạ chủng,

    Nhơn địa quả hườn sanh,

    Vô tình diệc vô chủng,

    Vô tánh diệc vô sanh.

    Dịch nghiã:

    Hữu tình được gieo giống,

    Nhơn gieo quả ắt sanh,

    Vô tình thì vô chủng,

    Vô tánh cũng vô sanh.

    LƯỢC GIẢI:Sinh vật có hai loại: hữu tình là động vật, vô tình là thực vật. Hữu tình mới được gieo giống Phật, vô tình thì không; có giống là nhơn, ắt sẽ sanh quả. Nhơn địa là hữu tình, quả địa là Phật. Vô tình chẳng phải nhơn địa của Phật nên chẳng phải là giống (vô chủng). Tất cả pháp vốn chẳng có tự tánh, nên nói vô tánh. Vậy thì hữu tình và vô tình, Phật và chúng sanh đều chẳng có tự tánh, cũng là pháp vô sanh vậy. Nên nói: Vô tánh diệc vô sanh. Vì đây là kệ truyền pháp, kệ truyền pháp chẳng được lọt vào tứ cú.

    Hỏi: Ðã nói không lọt vào tứ cú, tại sao nói vô tánh diệc vô sanh? Như vậy là lọt vào cú thứ nhì rồi?

    Ðáp: Nói tất cả pháp vốn chẳng tự tánh thì làm sao có vô tánh và vô sanh để làm tự tánh! Hành giả đọc đến chỗ này, chớ nên dùng ý thức để lãnh hội, cho là đúng hay không đúng: Ðã nói pháp vô sanh thì làm sao sanh ra pháp đúng và pháp không đúng? Ðây là cửa ải của Thiền môn, cần phải thấu qua (tự ngộ) mới được.Kệ này lược giải là để phá chấp, còn muốn hiểu ý Tổ, cần phải tự tham ngộ mới được.

    Số lượt thích

  9. Đoạn này hay quá ạ.

    ““Muốn học đạo Vô thượng Bồ-đề, không được khinh người mới học. Kẻ hạ hạ cũng có cái trí thượng thượng, còn người thượng thượng cũng không có ý trí. Nếu khinh người thì có vô lượng vô biên tội.”

    Em Hương

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s