Các bài đăng bởi Đào Thu Hằng

I'm from Hanoi, Viet Nam. I hold a PhD on Sustainable Energy Systems from University of Lisbon and Aalto University. I graduated from Hanoi University of Technology on Environmental Engineering. I obtained a Master degree of the same major from Stanford University and Nanyang Technological University. I'm an author of Dot Chuoi Non (dotchuoinon.com/author/hangbelu/), a blog on Positive thinking, founded by Dr. Tran Dinh Hoanh, an attorney in Washington DC. I'm a co-founder of Conversations on Vietnam Development - cvdvn.net, a virtual think tank; a co-founder of POTATO - potato.edu.vn, working on outdoor education programs for kids in Vietnam. My English blog: hangbelu.wordpress/. I'm studying the Buddha's teaching and the teaching of Jesus. I practice mindful living including meditation. I play table tennis as a hobby.

Thái độ tích cực

Chào các bạn,

Hôm rồi, mình có việc ở Sài Gòn vài hôm. Buổi sáng hôm xong việc ra sân bay, mình đi từ quận 7, có việc đi qua quận 5 buổi sáng rồi chiều ra sân bay luôn. Lúc mình đang loanh quanh ở trạm xe bus đường Hàm Nghi quận 1 tìm xe bus đi ra quận 5, gặp một cậu trẻ trẻ đi qua hỏi chị đi về đâu, đi xe nào ta? Chắc thấy mình kéo vali biết là không phải người thạo đường ở đây. Đọc tiếp Thái độ tích cực

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Phụ lục)

APPENDIX

TWO FAVOURITE CHRISTIAN HYMNS OF GANDHIJI

The Wondrous Cross

When I survey the wondrous Cross

On which the Prince of Glory died,

My richest gain I count but loss,

And pour contempt on all my pride.

Forbid it, Lord, that I should boast

Save in the Cross of Christ, my God;

All the vain things that charm me most,

I sacrifice them to His Blood.

See from His Head, His Hands, His Feet,

Sorrow and love flow mingling down;

Did e’er such love and sorrow meet,

Or thorns compose so rich a crown?

Were the whole realm of nature mine,

That were an offering far too small;

Love so amazing, so divine,

Demands my soul, my life, my all.

To Christ, Who won for sinners grace

By bitter grief and anguish sore,

Be praise from all the ransom’d races, Forever and evermore

Issac Walts

 

 

 

 

 

 

https://www.youtube.com/watch?v=SsBiaBTFADI

 

Rock of Ages

Rock of ages, cleft for me,

Let me hide myself in Thee;

Let the Water and the Blood,

From Thy riven Side which flow’d

Be of sin the double cure,

Cleanse me from its guilt and power.

Not the labours of my hands

Can fulfill Thy law’s demands;

Could my zeal no respite know,

Could my tears for ever flow,

All for sin could not atone;

Thou must save, and Thou alone

Nothing in my hand I bring,

Simply to Thy Cross I cling;

Naked, come to Thee for dress;

Helpless, look to Thee for grace;

Foul, I to the Fountain fly;

Wash me, Saviour, or I die.

While I draw this fleeting breath,

When my eyelids close in death,

When I soar through tracts unknown,

See Thee on Thy judgment Throne;

Rock of ages, cleft for me.

Let me hide myself in Thee.

 

– A. M. Toplady

PHỤ LỤC

HAI BẢN THÁNH CA KITÔ ƯA THÍCH CỦA GANDHI

 Thập giá diệu kỳ

Khi con ngắm nhìn Thập giá diệu kỳ

Trên đó Hoàng tử của vinh quang đã chết,

Giàu có nhất đạt được con đếm không gì ngoài mất mát,

Và đổ khinh rẻ lên tất cả kiêu hãnh của con.

Lạy Chúa, hãy ngăn lại nếu con khoác lác

Hãy cứu rỗi trong Thập giá của Kitô, Chúa con;

Tất cả phù hoa hầu như mê đắm con,

Con hiến dâng chúng cho Máu của Người.

Hãy nhìn từ đầu Người, tay Người, bàn chân Người,

Sầu muội và tình yêu lẫn vào chảy xuống;

Đã bao giờ tình yêu và sầu muộn như thế gặp nhau,

Hay chông gai làm giàu vương miện?

Nếu cả vương quốc tạo hoá này là của con,

Đó vẫn là một quà tặng quá bé nhỏ;

Tình yêu quá sửng sốt, thật thiêng liêng,

Đòi hỏi tâm hồn con, cuộc sống con, tất cả trong con.

Dâng lên Kitô, Người đã thắng cho ân sủng của tội nhân

Bởi buồn rầu cay đắng và vết thương thống khổ,

Lời ngợi ca từ mọi dân tộc được chuộc tội,

Mãi mãi và mãi mãi

 

Tác giả Issac Walts

https://www.youtube.com/watch?v=qC1IllbwX4w

 

Đá Đời Đời

Đá thế kỷ, nứt ra cho con,

Để con giấu mình trong Người;

Để Nước và Máu,

Từ cạnh sườn bị đâm chảy xuống

Hãy là thuốc chữa lành gấp đôi tội lỗi,

Gột rửa con khỏi sai trái và quyền lực của tội.

Không phải sức dốc từ tay con

Có thể làm tròn luật của Người;

Xin nhiệt thành của con không trì hoãn,

Nước mắt con chảy vĩnh viễn

Tất cả vì tội không thể chuộc;

Người phải cứu rỗi, và chỉ mình Người

Không gì trong tay con mang,

Giản đơn Thập giá Người con bám víu;

Trần truồng, đến với Người được mặc;

Bất lực, tìm Người cho ân sủng;

Hôi hám, đến Đài phun nước con bay;

Hãy gột rửa con, Đấng cứu rỗi, hoặc con chết.

Khi con lấy hơi thở phù du này,

Khi mí mắt con đóng lại trong sự chết,

Khi con vút bay qua dải đất chưa biết,

Thấy Người trên ngai phán của Người;

Đá đời đời, nứt ra cho con.

Để con giấu mình trong Người.

 

Tác giả A. M. Toplady

 

https://www.youtube.com/watch?v=gM7gt_cSxjw

 

 

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 17)

CHAPTER 17

SOME QUESTIONS AND ANSWERS

[The following were some of the questions put to Gandhiji and answered by him when Christian missionaries and other followers of the faith visited him.]

Q.: Do you definitely feel the presence of the living Christ within you?

A.: If it is the historical Jesus surnamed Christ that you refer to, I must say I do not. If it is an adjective signifying one of the names of God, then I must say I do feel, the presence of God—call Him Christ, call Him Krishna, call Him Rama. We have one thousand names to denote God, and if I did not feel the presence of God within me, I see so much of misery and disappointment every day that I would be a raving maniac and my destination would be the Hooghli.

 

Young India, 6-8-1925

Q.: Why do you refuse to enter God’s house if Jesus invites you? Why does not India take up the Cross ?

A.: If Jesus has reference to God, I have never refused to enter the house of God, indeed every moment I am trying to enter it. If Jesus represents not a person, but the principle of non-violence, India has accepted its protecting power .

Young India, 31-12-1931

Q.: Did not Jesus himself teach and preach?

A.: We are on dangerous ground here. You ask me to give my interpretation of the life of Christ. Well, I may say that I do not accept everything in the Gospels as historical truth. And it must be remembered that he was working amongst his own people, and he said he had not come to destroy but to fulfil. I draw a great distinction between the Sermon on the Mount and the Letters of Paul.

They are a graft on Christ’s teaching, his own gloss apart from Christ’s own experience.

Young India, 19-1-1928

 

Q.: But, Mr Gandhi, why do you object to proselytization as such? Is not there enough in the Bible to authorize us to invite people to a better way of life?

A.: Oh yes, but it does not mean that they should be made members of the Church. If you interpret your texts in the way you seem to do, you straightaway condemn a large part of humanity unless it believes as you do. If Jesus came to earth again, he would disown many things that are being done in the name of Christianity. It is not he who says “Lord, Lord” that is a Christian, but “He that doeth the will of the Lord ” that is a true Christian. And cannot he who has not heard the name of Christ Jesus do the will of the Lord?

Harijan, 11-5-1935

Q.: Why may not I share with others my experience of Jesus Christ which has given me such an ineffable peace?

A.: Because you cannot possibly say that what is best for you is best for all. Quinine may be the only means of saving life in your case, but a dangerous poison in the case of another. And again, is it not superannuation to assume that you alone possess the key to spiritual joy and peace, and that an adherent of a different faith cannot get the same in equal measure from a study of his scriptures? I enjoy a peace and equanimity of spirit which has excited the envy of many Christian friends. I have got it principally through the Gita.

Your difficulty lies in your considering the other faiths as false or so adulterated as to amount to falsity. And you shut your eyes to the truth that shines in the other faiths and which gives equal joy and peace to their votaries. I have not hesitated, therefore, to recommend to my Christian friends a prayerful and sympathetic study of the other scriptures of the world. I can give my own humble testimony that, whilst such study has enabled me to give the same respect to them that I give to my own, it has enriched my own faith and broadened my vision.

Q,.: What would be your message to a Christian like me and my fellows?

A.: Become worthy of the message that is imbedded in the Sermon on the Mount, and join the spinning brigade.

 Harijan, 13-1-1940

Q.: Could you tell me the things one should avoid in order to present the gospel of Christ?

A.: Cease to think that you want to convert the whole world to your interpretation of Christianity. At the end of reading the Bible, let me tell you, it did not leave on my mind the impression that Jesus ever meant Christians to do what the bulk of those who take his name do. The moment you adopt the attitude I suggest, the field of service becomes limitless. You limit your own capacity by thinking and saying that you must proselytize.

Harijan, 23-3-1940

Q.: You often refer to the Sermon on the Mount. Do you believe in the verse, “If any man will take away thy coat, let him have thy cloak also?” Does it not follow from the principle of non-violence?

A.: In the verse quoted by you Jesus put in a picturesque and telling manner the great doctrine of nonviolent non-co-operation. Your non-co-operation with your opponent is violent when you give a blow for a blow, and is ineffective in the long run. Your non- co-operation is non-violent when you give your opponent all in the place of just what he needs. You have disarmed him once for all by your apparent co-operation, which in effect is complete non-co- operation.

Harijan, 13-7-1940

CHƯƠNG 17

MỘT SỐ CÂU HỎI VÀ TRẢ LỜI

[Sau đây là một số câu hỏi cho Gandhi và được ông trả lời khi các nhà truyền đạo Kitô và những người có tín ngưỡng khác đến thăm Gandhi.]

 

Hỏi: Ngài có chắc chắn cảm thấy sự hiện diện của Chúa Kitô sống trong ngài không?

Nếu đó là tên Giêsu mang tính lịch sử có họ là Kitô mà các bạn muốn nói đến, tôi phải nói rằng tôi không có. Nếu đó là một tính từ biểu thị một trong những cái tên của Thượng Đế, thì tôi phải nói rằng tôi cảm thấy, sự hiện diện của Thượng Đế – dù gọi Ngài là Chúa Kitô, gọi Ngài là Krishna, hay gọi Ngài là Rama. Chúng ta có một ngàn tên để biểu thị Thượng Đế, và nếu tôi không cảm thấy sự hiện diện của Thượng Đế trong tôi, thì tôi thấy rất nhiều khốn khổ và thất vọng mỗi ngày rằng tôi sẽ là một kẻ điên cuồng mê đắm và đích đến của tôi sẽ là Hooghli [Hooghli là một nhánh của sông Hằng ở Ấn Độ)

Báo Young India, 6-8-1925

Hỏi: Tại sao Ngài từ chối vào nhà Chúa nếu Giêsu mời ngài? Tại sao Ấn Độ không nâng Thập giá (không cải đạo thành Kitô giáo)?

 Nếu Giêsu có nói đến Thượng đế, tôi chưa bao giờ từ chối vào nhà Thượng đế, thực sự mỗi khoảnh khắc tôi đều đang cố gắng để vào đó. Nếu Giêsu không đại diện cho một người, mà là nguyên tắc bất bạo động, Ấn Độ đã chấp nhận quyền lực bảo vệ của của Giêsu.

Báo Young India, 31-12-1931

Hỏi: Chẳng phải chính Giêsu đã dạy và tuyên giảng sao?

 A.: Chúng ta đang đứng chỗ nguy hiểm ở đây. Các bạn yêu cầu tôi đưa ra lời diễn giải về cuộc sống của Chúa Kitô. Chà, tôi có thể nói rằng tôi không chấp nhận rằng mọi thứ viết trong các cuốn Tin mừng là sự thật lịch sử. Và phải nhớ rằng Giêsu hành đạo giữa chính dân tộc của Giêsu, và Giêsu nói rằng Người không đến để huỷ diệt mà là để làm tròn đầy. Tôi kẻ rõ một vạch phân biệt lớn giữa Bài giảng trên Núi và những lá thư của Paul (Phaolô).

Những lá thư của Paul, chỉ là một mảnh ghép trong lời dạy của Giêsu Kitô, là lớp đánh bóng của chính Paul ,khác vớicuộc sống của chính Chúa Kitô.

Báo Young India, 19-1-1928

Hỏi: Nhưng, Gandhi, tại sao ngài lại phản đối việc mời chào cải đạo như vậy? Chẳng phải có đủ điều trong Kinh Thánh để ủy quyền cho chúng ta mời mọi người đến một cách sống tốt hơn không?

Ồ vâng, nhưng điều đó không có nghĩa là họ cần trở thành thành viên của nhà thờ. Nếu các bạn diễn giải các văn bản Thánh Kinh theo cách bạn dường như đang làm, các bạn thẳng thừng lên án một phần lớn nhân loại trừ khi tin giống bạn. Nếu Giêsu đến trái đất một lần nữa, Người sẽ chối bỏ rất nhiều điều đang được thực hiện nhân danh Kitô giáo. Không phải là ai đó kêu “Chúa ơi, Chúa ơi” là một Kitô hữu, mà là Người làm theo ý Chúa “, đó là một Kitô hữu thực. Và người chưa từng nghe tên Giêsu thì Kitô không thể làm theo ý muốn của Chúa hay sao?

Báo Harijan, 11-5-1935

HỎI: Tại sao tôi không thể chia sẻ với người khác kinh nghiệm của tôi về Chúa Giêsu KiTô đã mang đến cho tôi một sự bình an khó tả?

Bởi vì bạn không thể nói rằng những gì tốt nhất cho bạn là tốt nhất cho tất cả người khác. Thuốc Quinine chống sốt rét có thể là thứ duy nhất để cứu mạng cho bạn, nhưng là chất độc nguy hiểm với người khác. Và một lần nữa, chẳng phải là lạc hậu khi cho rằng chỉ mình bạn sở hữu chìa khóa đến hoan hỉ và bình an tâm linh, và rằng một tín đồ đạo khác không thể có được niềm vui sướng tương tự nếu học kinh sách của anh ta? Tôi tận hưởng bình an và thanh thản tinh thần đến nỗi kích thích sự ghen tị của nhiều người bạn Kitô giáo. Tôi đã có hạnh phúc chủ yếu bởi trường ca Gita.

Khó khăn của bạn nằm ở việc bạn coi các đức tin khác là sai hoặc bị pha trộn đến mức giả dối. Và bạn nhắm mắt trước sự thật tỏa sáng trong các đức tin khác trong khi nó mang lại niềm vui và sự bình an cho tín đồ của họ. Do đó, tôi đã không ngần ngại giới thiệu cho các Kitô hữu của mình cách nghiên cứu kinh sách khác của thế giới qua cầu nguyện và cảm thông. Tôi có thể đưa ra lời chứng khiêm tốn của riêng mình rằng, cách nghiên cứu như thế đã cho tôi dành sự tôn trọng tương tự cho các kinh sách khác như kinh sách trong niềm tin của tôi, việc đó làm giàu thêm niềm tin của tôi và mở rộng tầm nhìn của tôi.

Hỏi : Thông điệp của Ngài cho một Kitô hữu như tôi và những người bạn của tôi là gì?

Trở nên xứng đáng với thông điệp nằm trong Bài giảng trên núi và tham gia vào lữ đoàn quay bánh xe cầu nguyện [của Phật giáo Tây Tạng].

Harijan, 13-1-1940

 

HỎI: Ngài có thể cho tôi biết những điều người ta nên tránh để trình bày phúc âm của Chúa Kitô?

  Ngừng nghĩ rằng bạn muốn cải đạo cả thế giới theo cách diễn giải của bạn về Kitô giáo. Khi đọc xong Kinh thánh, để tôi nói với bạn, không để lại trong đầu tôi bất cứ ấn tượng nào rằng Giêsu từng có nghĩa là những gì mà các Kitô hữu nhân danh Giêsu đang làm với thế giới. Khoảnh khắc bạn chấp nhận thái độ tôi đề nghị, giới hạn của phụng sự trở nên vô hạn. Bạn giới hạn năng lực của chính mình bằng cách suy nghĩ và nói rằng bạn phải mời chào cải đạo.

Báo Harijan, 23-3-1940

Hỏi: Ngài thường nói về Bài giảng trên núi. Ngài có tin vào câu, “Nếu có người lấy đi áo trong của anh em, hãy để họ lấy nốt tấm áo choàng?” Liệu điều đó có tuân theo nguyên tắc bất bạo động?

 

Câu nói bạn trích dẫn, Giêsu mô tả sinh động và nói về bài học vĩ đại của bất hợp tác bất bạo động. Sự không hợp tác của bạn với đối thủ là bạo lực khi bạn trả đũa một đòn cho một đòn, và không hiệu quả trong thời gian dài. Sự không hợp tác của bạn là không bạo lực khi bạn đưa cho đối thủ chỉ những gì anh ta cần. Bạn đã vô hiệu hóa anh ta bằng một đòn cho mọi đòn bởi sự hợp tác rõ ràng của bạn, mà thực tế là hoàn toàn không hợp tác.

 

Harijan, 13-7-1940

 

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 16)

CHAPTER 16

TO THE CEYLONESE YOUTH

[During his tour of Ceylon Gandhiji gave the following message to the Christian and Buddhist youth that had gathered to hear him at the Colombo Y. M. C. A.]

 

o you, young Ceylonese friends, I say: Do not be dazzled by the splendour that comes to you from the West. Do not be thrown off your feet by this passing show. The Enlightened One has told you in never-to-be-for- gotten words that this little span of life is but a passing shadow, a fleeting thing, and if you realize the nothingness of all that appears before your eyes, the nothingness of this material case that we see before us ever changing, then indeed there are treasures for you up above, and there is peace for you down here, peace which passeth all understanding, and happiness to which we are utter strangers. It requires an amazing faith, a divine faith and surrender of all that we see before us. What did Buddha do, and Christ do, and also Mahomed ? Theirs were lives of self-sacrifice and renunciation. Buddha renounced every worldly happiness, because he wanted to share with the whole world his happiness which was to be had by men who sacrificed and suffered in search for truth.

If it was a good thing to scale the heights of Mt. Everest, sacrificing precious lives in order to be able to go there and make some slight observations, if it was a glorious thing to give up life after life in planting a flag in the uttermost extremities of the earth, how much more glorious would it be to give not one life, surrender not a million lives but a billion lives in search of the potent and imperishable truth!

So be not lifted off your feet, do not be drawn away from the simplicity of your ancestors. A time is coming when those, who are in the mad rush today of multiplying their wants, vainly thinking that they add to the real substance, real knowledge of the world, will retrace their steps and say, “What have we done?” Civilizations have come and gone, and in spite of all our vaunted progress I am tempted to ask again and again, “To what purpose?”

Wallace, a contemporary of Darwin, has said the same thing. Fifty years of brilliant inventions and discoveries, he has said, has not added one inch to the moral height of mankind. So said a dreamer and visionary if you will—Tolstoy. So said Jesus, and Buddha, and Mahomed, whose religion is being denied and falsified in my own country today.

By all means drink deep of the fountains that are given to you in the Sermon on the Mount, but then you will have to take sackcloth and ashes. The teaching of the Sermon was meant for each and every one of us. You cannot serve both God and Mammon. God the Compassionate and the Merciful, Tolerance incarnate, allows Mammon to have his nine days’ wonder. But I say to you, youths of Ceylon, fly from that self-destroying but destructive show of Mammon.

 

Young India; 8-12-1927

CHƯƠNG 16

NÓI CHUYỆN VỚI NGƯỜI TRẺ TẠI QUỐC ĐẢO CYLON

[Trong chuyến đi đến đảo Ceylon, một quốc đảo thuộc địa cũ của Anh Quốc, hiện nay là Sri Lanka, Gandhi đã đưa ra thông điệp sau đây cho người trẻ Kitô giáo và Phật giáo tại quốc đảo này.]

Các bạn, những bạn trẻ của đảo Ceylon, tôi nói: Đừng bị loà mắt bởi những lộng lẫy đến với các bạn từ phương Tây. Đừng choáng ngợp bởi màn trình diễn thoáng qua này. Người Giác Ngộ (Phật Thích Ca) đã nói với các bạn bằng những từ ngữ không thể quên rằng quãng đời nhỏ bé này chỉ là một cái bóng trôi qua, là một thứ thoáng qua và nếu các bạn nhận ra sự hư vô của tất cả những gì xuất hiện trước mắt bạn, hư vô của vật chất này trước mắt ta luôn thay đổi, thì thực sự bạn có kho báu ở trên cao, và bình an cho bạn ở đây, bình an vượt qua mọi hiểu biết và hạnh phúc mà chúng ta hoàn toàn xa lạ. Bình an đòi hỏi một đức tin tuyệt vời, một đức tin thiêng liêng và bỏ đi tất cả những gì trước mắt chúng ta. Phật Thích Ca đã làm gì, Giêsu đã làm gì, và tiên tri Mahomed đã làm gì? Đó là một cuộc đời của hy sinh và từ bỏ. Phật Thích Cả từ bỏ mọi hạnh phúc trần tục, bởi vì Người muốn chia sẻ với cả thế gian hạnh phúc của Người có được bằng hy sinh và chịu đựng trong khi tìm kiếm sự thật.

 

Nếu đo chiều cao của đỉnh núi Everest là một việc tốt, hy sinh nhiều mạng sống quý giá để có thể đặt chân lên đỉnh núi và làm vài quan sát nhỏ, nếu việc bỏ mạng này đến mạng khác để cắm một lá cờ ở điểm cực của trái đất là một vinh quang, thì sẽ vinh quang hơn biết bao nhiêu khi hiến dâng không chỉ một mạng sống, đầu hàng không phải một triệu mạng sống mà là một tỷ cuộc sống để tìm kiếm sự thật quyền năng và bất diệt!

Vì vậy, đừng bị choáng ngợp bởi lộng lẫy, đừng bị lôi cuốn khỏi sự giản dị của tổ tiên các bạn. Sẽ đến lúc những người, ngày nay đang trong cơn điên cuồng để nhân gấp bội ham muốn của họ, hão huyền nghĩ rằng họ góp thêm bản chất thực, kiến ​​thức thực của thế giới, sẽ quay trở lại và nói, “Chúng ta đã làm gì vậy? ” Mọi nền văn minh đến và đi, và bất chấp tất cả những tiến bộ khoác lác của chúng ta, tôi không ngừng hỏi đi hỏi lại, “Vì mục đích gì?

Afred Wallace, nhà khoa học đương thời với Darwin, đã nói điều tương tự. Năm mươi năm phát minh và khám phá tuyệt vời [của nhân loại] đã không thêm một ly nào vào chiều cao đạo đức của nhân loại. Điều tương tự cũng nói bởi, một người mơ mộng và có tầm nhìn – Leo Tolstoy (nhà văn người Nga). Giêsu và Phật Thích Ca và tiên tri Mahomed cũng đã nói như thế, trong khi tôn giáo gán tên của các Ngài đang bị chối bỏ và xuyên tạc ở chính đất nước tôi ngày nay.

Bằng mọi cách hãy uống sâu suối nước được trao cho các bạn bởi Bài Giảng Trên Núi, nhưng rồi các bạn sẽ phải ăn năn hối cải. Lời dạy của Bài giảng trên Núi là muốn nói với mỗi người chúng ta. Các bạn không thể phụng sự cả Thượng đế và chúa Quỷ Tiền Bạc. Thượng đế, đấng từ bi và xót thương, hiện thân của khoan dung, cho phép chúa quỷ có chín ngày lộng hành. Nhưng tôi nói với các bạn, những người trẻ của đảo Ceylon, bay thật xa khỏi sự tự hủy diệt và màn trình diễn tiêu huỷ đó của chúa Quỷ Tiền Bạc.

Ấn Độ trẻ; 8-12-1927

 

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 14-15)

 

CHAPTER 14

VALUE OF SCRIPTURAL TEXTS

I believe that all great religions of the world are true more or less. I say “more or less” because I believe that everything that the human hand touches, by reason of the very fact that human beings are imperfect, becomes imperfect. Perfection is the exclusive attribute of God and it is undescribable, untranslatable. I do believe that it is possible for every human being to become perfect even as God is perfect. It is necessary for us all to aspire after perfection, but when that blessed state is attained it becomes indescribable, indefinable. And, I, therefore, admit, in all humility, that even the Vedas, the Koran and the Bible are imperfect word of God and, imperfect beings that we are, swayed to and fro by a multitude of passions, it is impossible for us even to understand this word of God in its fullness.

Young India, 22-9-1927

I exercise my judgment about every scripture, including the Gita. I cannot let a scriptural text supersede my reason. Whilst I believe that the principle books are inspired, they suffer from a process of double distillation. Firstly they come through a human prophet, and then through the commentaries of interpreters. Nothing in them comes from God directly. Mathew may give one version of one text and John may give another. I cannot surrender my reason whilst I subscribe to divine revelation. And above all, ‘the letter killeth, the spirit giveth life*. But you must not misunderstand my position. I believe in faith also, in things where reason has no place, e.g. the existence of God. No argument can move me from that faith, and like that little girl who repeated against all reason, “yet we are seven”, I would like to repeat, on being baffled in argument by a very superior intellect, “Yet there is God”.

Harijan, 5-12-1936

CHƯƠNG 14

GIÁ TRỊ CỦA KINH SÁCH

Tôi tin rằng tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới đều đúng ít nhiều. Tôi nói “ít nhiều” bởi tôi tin mọi thứ khi mà bàn tay con người đụng vào thì trở nên không hoàn hảo, bởi chính thực tế là con người không hoàn hảo. Hoàn hảo là đặc tính riêng của Thượng Đế và là không thể diễn tả được, không thể diễn dịch. Tôi tin rằng điều có thể là mọi người đều có khả năng trở thành hoàn hảo, thậm hoàn hảo như Thượng Đế. Khao khát sự hoàn hảo là điều cần thiết cho tất cả chúng ta, nhưng khi đạt được trạng thái diễm phúc đó, nó trở nên không thể diễn tả, không thể định nghĩa được. Và, do đó, tôi thừa nhận, với tất cả khiêm nhường, rằng ngay cả Kinh Vệ Đà, Kinh Koran và Thánh Kinh đều là những từ ngữ không hoàn hảo của Thượng Đế và, lắc lư qua lại bởi vô số đam mê, chúng ta không thể hiểu hết những lời này của Thượng Đế một cách vẹn toàn.

Báo Young India, 22-9-1927

Tôi thực hiện đánh giá của tôi về mọi kinh sách, bao gồm trường ca Gita. Tôi không thể để văn bản kinh thánh thay thế lý trí của tôi. Trong khi tôi tin rằng những cuốn thánh kinh rất truyền cảm hứng, thì đều bị trải qua quá trình bị thanh lọc 2 lần. Đầu tiên kinh sách đến qua một nhà tiên tri của con người, và sau đó viết ra qua bình luận của người diễn giải. Không có kinh sách nào đến trực tiếp từ Thượng Đế. Học trò của Giêsu, Mathew có thể đưa ra một phiên bản và John có thể đưa ra phiên bản khác. Tôi không thể chối bỏ lý trí của tôi trong khi tìm kiếm mặc khải thiêng liêng. Và trên hết, ‘câu chữ giết người, tinh thần mang sự sống *. Nhưng quý vị không được hiểu nhầm thái độ của tôi. Tôi cũng tin vào đức tin, vào những điều mà lý trí không có chỗ đứng, ví dụ: tôi tin Thượng Đế hiện hữu. Không có lý lẽ nào có thể lay chuyển tôi khỏi niềm tin đó, và nó giống như cô bé gái nhỏ lặp đi lặp lại chống mọi lý lẽ, “nhưng chúng ta đã bảy tuổi rồi”, tôi muốn lập lại, khi bị một lập luận của trí tuệ rất vượt trội làm tôi bối rối: “Nhưng, vẫn có Thượng Đế”.

Báo Harijan, 5-12-1936

 

CHAPTER 15

WESTERN CHRISTIANITY TODAY

It is my firm opinion that Europe today represents not the spirit of God or Christianity but the spirit of Satan. And Satan’s successes are the greatest when he appears with the name of God on his lips. Europe is today only nominally Christian. It is really worshipping Mammon. ‘It is easier for a camel to pass through the eye of a needle than for a rich man to enter the Kingdom.’ Thus really spoke Jesus Christ. His so-called followers measure their moral progress by their material possessions.

The very national anthem of England is anti- Christian. Jesus, who asked his followers to love their enemies even as themselves, could not have sung of his enemies, “Confound his enemies, frustrate their knavish tricks.”

The last (Great) War, however, has shown as nothing else has, the Satanic nature of the civilization that dominates Europe today. Every canon of public morality has been broken by the victors in the name of virtue. No lie has been considered too foul to be uttered. The motive behind every crime is not religious or spiritual, but grossly material. … It is certainly necessary to purge religion of its excrescences, but it is equally necessary to expose the hollowness of moral pretensions on the part of those who prefer material wealth to moral gain. It is easier to wean an ignorant fanatic from his error than a confirmed scoundrel from his scoundrelism. This, however, is no indictment against individuals or even nations. Thousands of individual Europeans are rising above their environment. I write of the tendency in Europe, as reflected in her present leaders… It is combination of evil forces that India is really fighting through non-violent non-co-operation.

 

Young India, 8-9-1920

 

I consider Western Christianity in its practical working a negation of Christ’s Christianity. I cannot conceive Jesus, if he was living in the flesh in our midst, approving of modern Christian organizations, public worship or modern ministry.

 

Young India, 22-9-1921

 

Today I rebel against orthodox Christianity, as I am convinced that it has distorted the message of Jesus. He was an Asiatic whose message was delivered through many media, and when it had the backing of a Roman Emperor it became an imperialist faith as it remains to this day.

Harijan, 30-5-1936

CHƯƠNG 15

KITÔ GIÁO Ở PHƯƠNG TÂY NGÀY NAY

Theo ý kiến ​ chắc chắn của tôi, châu Âu ngày nay không đại diện cho tinh thần của Thượng đế hay Kitô giáo, mà cho tinh thần của quỷ Satan. Và Satan thành công lớn nhất khi hắn xuất hiện với tên của Thượng đế trên môi hắn. Châu Âu ngày nay chỉ có danh nghĩa là người Kitô. Họ thực sự tôn thờ sự Quỷ Tiền Bạc. ‘Một con lạc đà đi qua lỗ kim dễ hơn một giàu đi vào nước Chúa.’ Giêsu Kitô thực sự nói như thế. Những người tự cho là đi theo Giêsu đo lường tiến bộ đạo đức của họ bằng tài sản vật chất.

Quốc ca của Anh Quốc là phản Kitô. Giêsu, người yêu cầu những người đi theo mình yêu kẻ thù như yêu bản thân, không thể ca hát về kẻ thù của mình rằng “Khiến kẻ thù thất kinh, khiến mánh khóe dối trá của chúng thất bại.” [đoạn trong quốc ca Anh Quốc]

Tuy nhiên, Thế Chiến I, hơn tất cả điều gì khác,  đã cho thấy rõ bản chất quỷ Satan của nền văn minh đang thống trị châu Âu ngày nay. Mỗi giáo lý của đạo đức cộng đồng đều bị phá vỡ bởi những kẻ chiến thắng nhân danh đức hạnh. Không một lời dối trá nào bị coi là quá bẩn thỉu để không được nói. Đằng sau mỗi tội ác, động cơ chính không phải là tôn giáo hay tâm linh, mà là vật chất trắng trợn…Chắc chắn cần phải làm sạch tôn giáo khỏi những ung nhọt có trong đó, nhưng cần thiết không kém là phải phơi bày cái rỗng tuếch đạo đức gỉả của những kẻ chạy theo cảu cải vật chất hơn là đạo đức. Cai nghiện một kẻ cuồng tín dốt nát khỏi lỗi lầm của hắn thì dễ hơn là chữa bệnh cho một tên vô lại cố hữu khỏi chủ nghĩa côn đồ của hắn. Tuy nhiên, điều này không hề là bản cáo trạng chống lại mọi cá nhân hoặc thậm chí mọi quốc gia. Hàng ngàn cá nhân người châu Âu đang trỗi dậy cao hơn môi trường quanh họ. Tôi viết về xu hướng ở châu Âu, đang được phản ánh trong các nhà lãnh đạo hiện tại của châu Âu… Xu hướng đó là sự kết hợp của các thế lực tàn ác mà Ấn Độ đang thực sự chiến đấu bằng bất bạo động, bất hợp tác.

Báo Young India, 8-9-1920

Tôi coi Kitô giáo phương Tây trên thực tế đang chối bỏ chúa Chúa Giêsu Kitô. Tôi không thể hình dung được việc Giêsu, nếu đang sống bằng xương thịt giữa chúng ta, chấp nhận các tổ chức Kitô giáo hiện đại, hoặc kiểu họ thờ phụng công cộng hoặc cách họ thực hành phụng vụ.

.

Báo Young India, 22-9-1921

 

Hôm nay tôi nổi loạn chống lại Kitô giáo chính thống, vì tôi tin rằng Kitô giáo đã bóp méo thông điệp của Giêsu. Giêsu là một người gốc châu Á có thông điệp được truyền qua nhiều phương tiện truyền thông, và khi có sự hậu thuẫn của Hoàng đế La Mã, thông điệp Giêsu đã trở thành một đức tin đế quốc như đã và đang tồn tại đến ngày nay.

Báo Harijan, 30-5-1936

 

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 13)

 

CHAPTER 13

FOR CHRISTIAN FRIENDS

“Dear Brother Gandhi,

 Under a double prompting when praying for you, I sit down to write. You have had your name blazoned abroad all over the (so-called) civilized world, as one of the greatest philosophers and sacrificial workers on earth. In India you have been proclaimed the Mahatma and actually worshipped as one of the incarnations of India’s many deities, and much as you have declared that you do not encourage these ascriptions of sanctity, you would indeed be more than human if you did not occasionally feel a sweet complacency in them. Your practice also of fastings when sin has been committed, or quarrels have taken place in your Ashram or schools, has had a tendency to make Indians believe that you can merit blessing which can be communicated to others,— but has anybody been loving and courageous enough to write and challenge you as to how personally you are going to obtain atonement for your own sin? All your self-denials and fastings and prayers and good deeds cannot blot out one sin of your earlier days. For thirty or more years of your life you lived the carnal self life, seeking and forming your own plans and ambitions without seeking to know God’s purpose for your life or to honour His holy name.

 

 You were a trustee of talents intended to be used for the glory of God and the good of your fellowmen. Nothing that you do can obliterate the record of those years of indifference and disobedience. Every hour of every day of that period at least lifts up its voice in condemnation. Law must be vindicated. Some punishment must be inflicted. But even on earth it is a recognized principle that the prerogative of an earthly king is to have mercy — and yet righteousness must be the very foundation from which mercy may flow. The Laws of the Universe proclaim the impartial justice of the Creator and confirm the Bible declaration: ‘The soul that sinneth, it shall die,’ and yet the doctrine of vicarious suffering is written in the very nature of human existence. God is Love. Every pulse of love in every creature has its origin and activity from Him. Parental, mother love,  all love is a manifestation of our emanation from the fountain of the Divine Love.

 Milton sings either accept His tremendous claims as of Divine origin, or reject them as only human and fallible. And when He declares as He did to the Jews of His day — ‘If ye believe not that I am He, you shall die in your sins,’ or ‘ I am the way, the truth and the life, no man cometh unto the Father but by me,’ — you must either believe Him to have been self-deceived, or deliberately false. I see no other solution.

 

I pray daily that Christ may grant you revelation of Himself, as He did to Saul of Tarsus, that before you pass off this earthly scene, you may be used to proclaim to India’s millions the sacrificial efficacy of His precious blood.

 Yours lovingly in His glad service.”

 

 

 

This is a typical letter from an old English friend who regularly writes such letters almost every six months. This friend is very earnest and well known to me. But there are numerous other correspondents unknown to me who write in the same strain without arguing. Since now I cannot, for reasons of health, write to individuals, I use this letter as a text for a general reply. Incidentally this effort will enable the readers of Harijan, who accept my guidance, to understand the nature of my religious belief.

My correspondent is a literalist. He gives its literal meaning to every text of the Bible in spite of its clear statement that “the letter killeth, the spirit giveth life.” My very first reading of the Bible showed me that I would be repelled by many things in it if I gave their literal meaning to many texts or even took every passage in it as the word of God. I found, as I proceeded with my study of the scriptures of the various religions, that every scripture had to be treated likewise, not excepting the Vedas or the Upanishads. Therefore the story of the immaculate conception when I interpret mystically does not repel me. I should find it hard to believe in the literal meaning of the verses relating to the immaculate conception of Jesus. Nor would it deepen my regard for Jesus if I gave those verses their literal meaning. This does not mean that the writers of the Gospels were untruthful persons. They wrote in a mood of exaltation. From my youth upward I learnt the art of estimating the value of scriptures on the basis of their ethical teaching. Miracles, therefore, had no interest for me. The miracles said to have been performed by Jesus, even if I had believed them literally, would not have reconciled me to any teaching that did not satisfy universal ethics. Somehow or other, words of religious teachers have for me, as I presume for millions, a living force which the same words uttered by ordinary mortals do not possess.

Jesus then, to me, is a great world teacher among others. He was, to the devotees of His generation, no doubt “the only begotten son of God”. Their belief need not be mine. He affects my life no less because I regard Him as one among the many begotten sons of God. The adjective ‘ begotten’ has, for me, a deeper and possibly a grander meaning than its literal meaning. For me it implies spiritual birth. In His own time He was the nearest to God.

Jesus atoned for the sins of those who accepted His teachings by being an infallible example to them. But the example was worth nothing to those who never troubled to change their lives. A regenerate outgrows the original taint even as purified gold outgrows the original alloy

I have made the frankest admission of my sins. But I do not carry their burdens on my shoulders. If I am journeying Godward, as I feel I am, it is safe with me. For I feel the warmth of the sunshine of His presence. My austerities, fastings and prayers are, I know, of no value if I rely upon them for reforming me. But they have an inestimable value if they represent, as I hope they do, the yearnings of a soul striving to lay his weary head in the lap of his Maker.

The Gita has become for me the key to the scriptures of the world. It unravels for me the deepest mysteries to be found in them. I regard them with the same reverence that I pay to the Hindu scriptures. Hindus, Mussalmans, Christians, Parsis, Jews are convenient labels. But when I tear them down, I do not know which is which. We are all children of the same God. ” Verily verily I say unto you, not everyone that sayeth unto me Lord, Lord, shall enter the Kingdom of heaven, but he that doeth the will of my Father which is in heaven shall enter the Kingdom,” was said, though in different words, by all the great teachers of the world.

 

Harijan, 18-4-1936

CHƯƠNG 13

VỚI NHỮNG NGƯỜI BẠN KITÔ HỮU

Anh  Gandhi kính mến,

 Dưới một sự thúc dục gấp bội khi cầu nguyện cho anh, tôi ngồi viết. Tên tuổi của anh đã được ca ngợi ở nước ngoài trên khắp (cái được gọi là) thế giới văn minh, như là  một trong những nhà triết học và người phụng sự hiến sinh vĩ đại nhất trên trái đất. Ở Ấn Độ, anh đã được tuyên bố là Mahatma [người có năng lực siêu nhiên] và thực sự được tôn thờ như hóa thân của một trong những vị thần Ấn Độ, và dù anh  đã tuyên bố nhiều lần rằng anh không khuyến khích việc gán chức thánh cho anh, anh thực sự siêu hơn loài người nếu anh không thỉnh thoảng cảm thấy một sự tự mãn ngọt ngào về những ca tụng đó. Việc anh thực hành ăn chay khi tội lỗi đã xảy ra, hoặc khi những cuộc cãi vã xảy ra trong làng Ashram hoặc các trường học của anh, có xu hướng khiến người Ấn Độ tin rằng anh đáng được phước lành mà anh sẽ chuyển lại cho những người khác,– nhưng có ai đủ yêu anh và đủ can đảm để viết cho anh và thử thách rằng làm sao cá nhân anh có thể chuộc tội cho chính tội lỗi của anh? Tất cả mọi chối bỏ chính mình, nhịn ăn, cầu nguyện, và việc thiện của anh không thể xóa bỏ một tội nào anh đã phạm ngày trước. Trong ba mươi năm hoặc hơn thế nữa, anh đã sống cuộc sống xác thịt, tìm kiếm và hình thành những kế hoạch và tham vọng của riêng anh mà không tìm kiếm để biết mục đích của Thượng đế dành cho đời anh hoặc để tôn vinh tên Ngài.

Anh là một người được giao phó nhiều tài năng để sử dụng cho vinh quang của Thượng đế và cho điều lành của đồng bào anh. Không điều gì anh làm có thể xóa sổ những năm tháng thờ ơ và bất lễ đó. Mỗi giờ mỗi ngày trong khoảng thời gian đó ít nhất cất tiếng nói kết án. Luật pháp phải chiến thắng. Hình phạt phải được giáng xuống. Nhưng ngay cả trên trái đất, một nguyên tắc được công nhận là đặc quyền của một vị vua trần thế là được lòng thương xót – tuy nhiên công chính phải là nền tảng từ đó lòng thương xót có thể tuôn chảy. Luật của Vũ Trụ tuyên bố công lý vô tư của Tạo Hóa và xác nhận tuyên ngôn Kinh Thánh: ‘Linh hồn nào phạm tội, sẽ chết’, tuy nhiên giáo lý về chịu đau khổ thay cho người khác được viết trong chính bản chất của sự tồn tại của con người. Thiên Chúa là Tình yêu. Mỗi nhịp đập của tình yêu trong mọi sinh vật đều có nguồn gốc và hoạt động từ Ngài. Tình yêu của cha mẹ, mẹ, tất cả tình yêu là một biểu hiện của sự xuất phát của chúng ta từ dòng Tình yêu thiêng liêng.

 Milton ca rằng hoặc chúng ta chấp nhận là những tuyên bố vĩ đại của Ngài đã có nguồn gốc từ Thượng đế, hoặc chối bỏ những tuyên bố đó như chỉ là lời nói con người và có thể sai. Và khi Ngài tuyên bố như Ngài đã làm với người Do Thái trong thời đại của Ngài – ‘Nếu anh em không tin ta là Thượng đế, anh em sẽ chết trong tội lỗi,’ hay ‘ Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến với Cha mà không qua thầy, ‘ – anh đã tin rằng Ngài hoặc là tự lừa dối mình hoặc là cố tình dối trá. Tôi không thấy câu trả lời nào khác.

[Tên Thượng đế trong Thánh kinh là I Am Who I Am, tên tắt là “I Am” như trong câu Giêsu nói “I am He” – Ta là Thượng đế – Thượng đế là Ta]

 Tôi cầu nguyện hàng ngày rằng Chúa Kitô có thể ban cho anh sự mặc khải về chính Ngài, như Ngài đã làm với Saul (Paul), rằng trước khi anh thoát khỏi cảnh trần gian này, anh có thể được Ngài dùng để tuyên bố cho hàng triệu người Ấn Độ về sự hiến sinh hữu hiệu của dòng máu quý giá của Ngài.

 Trân trọng trong hoan hỉ phụng sự của Ngài. 

Trên đây là một lá thư điển hình từ một người bạn cũ người Anh thường xuyên viết những lá thư như vậy cho tôi, gần như cứ sáu tháng một lần. Người bạn này rất nhiệt tình và tôi biết khá rõ ông. Nhưng tôi cũng có rất nhiều thư khác gửi từ người tôi không biết, họ đều viết cùng một suy nghĩ nhưng không tranh luận. Vì lý do sức khỏe, tôi không thể viết thư trả lời từng cá nhân, tôi lấy bức thư này như một văn bản ví dụ để trả lời chung. Tình cờ, lá thư trả lời này của tôi sẽ cho phép các độc giả của báo Harijan, những người chấp nhận sự hướng dẫn của tôi, hiểu bản chất của niềm tin tôn giáo của tôi.

Người viết lá thư đó cho tôi là một người dịch từng chữ. Ông hiểu theo nghĩa đen mọi từ ngữ trong văn bản Thánh Kinh bất chấp tuyên bố rõ ràng rằng “câu chữ giết người, tinh thần cho sự sống.” Lần tôi đọc Kinh thánh đầu tiên cho tôi thấy rằng tôi sẽ thấy kinh tởm bởi rất nhiều điều viết trong đó nếu tôi hiểu theo nghĩa đen của câu chữ hoặc thậm chí xem mọi đoạn trong đó là lời của Thượng đế. Tôi đã tìm thấy, khi tôi tiến hành nghiên cứu kinh sách của các tôn giáo khác nhau, rằng mọi kinh sách đều phải được đối xử tương tự, không ngoại trừ kinh Vệ Đà hay kinh Upanishads của Ấn giáo. Do đó, câu chuyện về vô nhiễm nguyên tội, khi tôi giải thích một như một ẩn ngữ, không làm tôi kinh tởm. Tôi thấy thật khó tin vào nghĩa đen của những đoạn liên quan đến thụ thai đồng trinh của mẹ của Giêsu. Điều này cũng chẳng khiến tôi tôn kính Giêsu hơn nếu tôi hiểu theo nghĩa đen. Cũng không có nghĩa là người viết Tin mừng không trung thực. Họ đã viết trong một tâm trạng phấn khích. Từ tuổi trẻ lớn lên tôi đã học được nghệ thuật ước tính giá trị của thánh thư trên cơ sở lời dạy đạo đức. Phép lạ, do đó, không có hứng thú với tôi. Các phép lạ được cho là làm bởi Giêsu, ngay cả khi tôi tin theo nghĩa đen, cũng sẽ không hòa giải được tôi với bất kỳ giáo lý nào không hợp với đạo đức chung. Bằng cách này cách khác, những lời của các thầy tâm linh dành cho tôi, cũng như cho hàng triệu người, là một sức sống mà những từ tương tự được nói ra bởi người phàm tục không có được.

Jesus, với tôi, là một người thầy thế gian vĩ đại trong số nhiều thầy khác. Đối với những người sùng bái vào thời Giêsu, chắc chắn Giêsu là “con một của Chúa”. Niềm tin của họ không nhất thiết phải là của tôi. Nhưng Giêsu ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi không ít đi khi tôi coi Giêsu là một trong số rất nhiều người con của Chúa. Tính từ ‘con một ‘, đối với tôi, có nghĩa sâu sắc hơn và có thể là lớn hơn nghĩa đen. Đối với tôi con một ngụ ý sự sinh ra về tâm linh. Trong thời của Giêsu, Giêsu là người gần gũi nhất với Thượng đế.

Giêsu chuộc tội cho những người đã tiếp nhận lời dạy của Ngài bằng việc trở thành một ví dụ không thể sai đối với họ. Nhưng ví dụ này không có giá trị nào đối với những người không bao giờ buồn thay đổi cuộc sống của họ. Một nhánh khuyết tật thành lớn hơn vết thương nguyên thuỷ, như một nhánh vàng ròng mọc lớn hơn cục hỗn hợp vàng thô.

Tôi vẫn thừa nhận thẳng thắn nhất về tội của mình. Nhưng tôi không mang gánh nặng tội lỗi trên vai. Nếu tôi đang đi tới Thượng đế, như tôi đang cảm thấy tôi làm, điều đó ổn với tôi. Vì tôi cảm thấy nắng ấm toả ra từ hiện diện của Thượng đế. Sự khắc khổ, nhịn ăn và cầu nguyện của tôi, tôi biết, không có giá trị nếu tôi dựa vào việc đó để chuyển đổi tôi. Tuy nhiên những thực hành đó có một giá trị không đo đếm được nếu như việc đó, như tôi hy vọng, đại diện cho khao khát của một linh hồn đang ra sức đặt cái đầu mệt mỏi của mình vào lòng Thượng đế.

Trường ca Gita đối với tôi trở thành chìa khóa cho kinh sách của thế giới. Gita làm sáng tỏ cho tôi những bí ẩn sâu sắc nhất được tìm thấy trong khinh sách thế giới. Tôi coi những bí ẩn đó với sự tôn kính tương tự như đối với kinh sách Ấn giáo. Người Ấn giáo, Hồi giáo, Cơ đốc giáo, Parsis, người Do Thái là những nhãn hiệu tiện lợi. Nhưng khi tôi xé toạc những nhãn hiệu, tôi không biết cái nào là cái nào. Chúng ta đều là con của cùng một Thượng đế. “Quả thật, thầy nói với anh em, không phải ai kêu Chúa ơi, Chúa ơi, sẽ vào Nước Thiên Đàng, nhưng ai làm theo ý của Cha thầy ở trên trời sẽ vào nước Chúa,” đã được nói ra bằng những cách khác nhau, bởi tất cả những người thầy vĩ đại của thế giới.

Báo Harijan, 18-4-1936

 

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 10-12)

 

CHAPTER 10

PROSELYTIZATION

I hold that proselytizing under the cloak of humanitarian work is, to say the least, unhealthy. It is most certainly resented by the people here. Religion after all is a deeply personal matter, it touches the heart. Why should I change my religion because a doctor who professes Christianity as his religion has cured me of some disease or why should the doctor expect or suggest such a change whilst I am under his influence? Is not medical relief its own reward and satisfaction? Or why should I whilst I am in a missionary educational institution have Christian teaching thrust upon me? In my opinion these practices are not uplifting and give rise to suspicion if not even secret hostility. The methods of conversion must be like Caesar’s wife above suspicion.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Faith is not imparted like secular subjects. It is given through the language of the heart. If a man has a living faith in him, it spreads its aroma like the rose its scent. Because of its invisibility, the extent of its influence is far wider than that of the visible beauty of the colour of the petals.

I am, then, not against conversion. But I am against the modern methods of it. Conversion nowadays has become a matter of business, like any other. I remember having read a missionary report saying how much it cost per head to convert and then presenting a budget for ‘the next harvest’.

Yes, I do maintain that India’s great faiths are all-sufficing for her. Apart from Christianity and Judaism, Hinduism and its offshoots, Islam and Zoroastrianism are living faiths. No one faith is perfect. All faiths are equally dear to their respective votaries. What is wanted, therefore, is a living friendly contact among the followers of the great religions of the world and not a clash among them in the fruitless attempt on the part of each community to show the superiority of its faith over the rest. Through such friendly contact it will be possible for us all to rid our respective faiths of shortcomings and excrescences

It follows from what I have said above that India is in no need of conversion of the kind I have in mind. Conversion in the sense of self-purification, self- realization is the crying need of the times. That, however, is not what is ever meant by proselytizing. To those who would convert India, might it not be said, “Physician, heal thyself”?

 

Young India, 23-4-1931

 

CHƯƠNG 10

MỜI CHÀO CẢI ĐẠO

Tôi cho rằng việc mời chào cải đạo dưới tên của công việc nhân đạo, nói một cách nhẹ nhàng nhất, là không lành mạnh. Việc này gần như chắc chắn khiến người dân ở [Ấn Độ] tức giận. Niềm tin tôn giáo rốt cuộc là một vấn đề cá nhân sâu sắc, chạm đến trái tim. Tại sao tôi phải đổi tôn giáo của mình bởi vì một bác sĩ theo đạo Kitô đang chữa bệnh cho tôi hay là tại sao vị bác sĩ mong đợi hoặc đề nghị một sự cải đạo như vậy trong khi tôi đang được trị bệnh bởi anh ta? Chẳng phải chính cứu trợ y tế đã là phần thưởng và sự thoả mãn hay sao? Rồi tại sao tôi phải ở trong một viện giáo dục truyền giáo để bị buộc phải chấp nhận giáo lý đạo Kitô? Theo tôi những thực hành này không nâng con người lên mà làm nảy sinh nghi ngờ thậm chí sự thù địch bí mật. Các phương pháp của cải đạo hẳn phải giống như là vợ của Caesar thì miễn nhiễm mọi ngờ vực.

 

[Cụm từ Caesar’s wife above suspicion – được cho là câu nói của Caesar, Hoàng Đế La Mã, để biện hộ cho việc Caesar ly hôn với vợ khi phát hiện ra vợ ngoại tình. Thời hiện đại sau này cụm từ được sử dụng ý nói rằng vợ, con cái, người nhà của quan chức, lãnh đạo mà bị nghi vấn về hành vi đạo đức là một điều nghiêm trọng ảnh hưởng đến hình ảnh và danh tiếng của người đó, cho nên hiển nhiên hưởng đặc quyền miễn nhiễm những ngờ vực.]

 

Lòng tin không phải được truyền qua như các môn học thế tục. Niềm tin được trao thông qua ngôn ngữ của trái tim. Nếu ai đó có một niềm tin sống trong họ, niềm tin đó sẽ lan tỏa mùi thơm như hoa hồng lan tỏa hương thơm. Do tính vô hình, phạm vi ảnh hưởng của hương thơm rộng hơn nhiều so với vẻ đẹp có thể nhìn thấy của màu sắc cánh hoa.

Tôi, do đó, không chống lại việc cải đổi niềm tin. Nhưng tôi chống lại các phương pháp hiện đại để thực hiện việc đó. Việc cải đổi niềm tin ngày nay đã trở thành một thứ kinh doanh, giống như bất cứ loại kinh doanh nào. Tôi nhớ đã đọc một báo cáo truyền giáo về chi phí cho mỗi đầu người để cải đạo là bao nhiêu và sau đó trình bày một ngân sách cho ‘vụ gặt tiếp theo’.

Vâng, tôi giữ nguyên ý kiến rằng các đức tin vĩ đại của Ấn Độ là đủ cho Ấn Đổ. Ngoài đạo Kitô và đạo Do Thái, Ấn Độ giáo và các nhánh khác, còn có Hồi giáo và Zoroastrian là tín ngưỡng sống. Không một đức tin tôn giáo nào là hoàn hảo. Tất cả các đức tin đều thân kính đối với riêng tín đồ của họ. Do đó, điều cầu mong là sự tồn tại bằng hữu giữa các tín đồ của tôn giáo vĩ đại trên thế giới mà không phải là đụng độ đọ sức một cách vô nghĩa để chỉ ra sự vượt trội của đức tin này so với các đức tin khác. Qua những tiếp xúc bằng hữu như vậy, tất cả chúng ta sẽ có thể loại bỏ những thiếu sót và những quá lố trong đức tin của chúng ta.

Theo những gì tôi đã nói ở trên, Ấn Độ không cần phải cải đạo theo cách như tôi thấy. Cải đổi theo nghĩa tự thanh lọc, tự nhận thức là nhu cầu thảm thiết của thời đại. Tuy nhiên, đó không phải là mời chào cải đạo. Đối với những người muốn Ấn Độ cải đạo, chẳng lẽ không phải nói rằng, “Thưa bác sĩ, ông hãy tự chữa bệnh của ông trước đi”?

 Báo Young India, 23-4-1931

CHAPTER 11

FOR MISSIONARIES IN INDIA

You are here to find out the distress of the people of India and remove it. But I hope you are here also in a receptive mood, and if there is anything that India has to give, you will not stop your ears, you will not close your eyes, and steal your hearts, but open up your ears, eyes and most of all your hearts to receive all that may be good in this land. I give you my assurance that there is a great deal of good in India. Do not flatter yourselves with the belief that a mere recital of that celebrated verse in St. John makes a man a Christian. If I have read the Bible correctly, I know many men who have never heard the name of Jesus Christ or have even rejected the official interpretation of Christianity will, probably, if Jesus came in our midst today in the flesh, be owned by him more than many of us. I therefore ask you to approach the problem before you with open-heartedness and humility.

Young India, 6-8-1925

Confuse not Jesus’ teaching with what passes as modern civilization, and pray do not do unconscious violence to the people among whom you cast your lot. It is no part of that call, I assure you, to tear up the lives of the people of the East by its roots. Tolerate whatever is good in them and do not hastily, with your preconceived notions, judge them. Do not judge lest you be judged yourselves.

In spite of your belief in the greatness of Western Civilization and in spite of your pride in all your achievements, I plead with you for humility, and ask you to leave some little room for doubt in which, as Tennyson sang, there was more truth though by ‘ doubt’ he certainly meant a different thing.

 

 

 

 

 

Let us each one live our life, and if ours is the right life, where is the cause for hurry? It will react of itself.

It is a conviction daily growing upon me that the great and rich Christian missions will render true service to India, if they can persuade themselves to confine their activities to humanitarian service without the ulterior motive of converting India or at least her unsophisticated villagers to Christianity, and destroying their social superstructure, which, notwithstanding its many defects, has stood now from time immemorial the onslaughts upon it from within and from without. Whether they—the missionaries—and we wish it or not, what is true in the Hindu faith will abide, what is untrue will fall to pieces. Every living faith must have within itself the power of rejuvenation if it is to live.

Harijan, 28-9-1935

CHƯƠNG 11

VỚI NHỮNG NHÀ TRUYỀN GIÁO Ở ẤN ĐỘ

Quý vị có mặt ở đây để tìm hiểu và loại bỏ sự đau khổ của người dân Ấn Độ. Nhưng tôi hy vọng quý vị cũng ở đây trong một tâm trạng dễ tiếp thu, và nếu Ấn Độ có thứ gì trao tặng, quý vị sẽ không bịt tai, không nhắm mắt và đánh cắp trái tim của quý vị, mà giỏng tai, mở mắt và trên hết là mở trái tim của quý vị để đón nhận tất cả những điều tốt đẹp ở vùng đất này. Tôi đảm bảo với quý vị rằng có rất nhiều điều tốt đẹp ở Ấn Độ. Đừng tự tâng bốc mình với niềm tin rằng chỉ một đoạn thuật lại của câu nói nổi tiếng của Thánh John khiến cho một người trở thành Kitô hữu. Nếu tôi đã đọc Kinh thánh một cách chính xác, tôi biết nhiều người chưa bao giờ nghe tên Giêsu, thậm chí người từ chối cách giải thích chính thức của Kitô giáo về Giêsu, có lẽ sẽ thuộc về Giêsu hơn nhiều người chúng ta ở đây, nếu Giêsu bằng xương thịt xuất hiện giữa chúng ta hôm nay. Do đó, tôi xin quý vị tiếp cận vấn đề trước mặt quý vị với trái tim cởi mở và khiêm tốn.

Báo Young India, 6-8-1925

Đừng nhầm lẫn lời dạy của Giêsu với những gì đang lưu hành như là văn minh hiện đại, và hãy cầu nguyện để không làm điều bạo lực vô thức cho những ai quanh các bạn mà bị các bạn chọn làm mục tiêu. Tôi đảm bảo với quý vị, lời dạy của Jesus hoàn tòan không dự phần vào kêu gọi xé nát tận gốc cuộc sống của người dân phương Đông. Chấp nhận bất cứ điều gì tốt đẹp ở phương Đông và đừng vội vàng, với những định kiến của quý vị, mà phán xét họ. Đừng phán xét kẻo chính quý vị sẽ bị phán xét.

Mặc dù quý vị tin vào sự vĩ đại của Văn minh phương Tây và bất chấp sự kiêu hãnh của quý vị về tất cả những thành tựu của quý vị, tôi khẩn cầu quý vị nên khiêm nhường, và yêu xin cầu quý vị để lại một chút không gian cho nghi vấn, như thơ của Tennyson nói, “có nhiều nhiều sự thật hơn ngờ vực”, dù nhà thơ chắc chắn dùng từ “ngờ vực” với ý nghĩa khác. [Câu nguyên gốc của nhà thơ người Anh Alfred Lord Tennyson thế ký 19: “Hãy tin tôi, có nhiều niềm tin trong ngờ vực thành thật, hơn là trong tín ngưỡng nửa vời. There lives more faith in honest doubt, believe me, than in half the creeds.]

Hãy để mỗi chúng ta sống cuộc sống của chúng ta, và nếu cuộc sống của ta đúng đắn, đâu là gốc rễ của sự vội vàng [cải đạo]? Cuộc sống sẽ phản ứng trong chính nó.

Tôi tin chắc rằng các sứ mệnh lớn và phong phú của những đoàn truyền giáo Kitô phụng sự thực cho Ấn Độ, nếu họ có thể tự thuyết phục họ giới hạn các hoạt động của họ vào phụng sự nhân đạo mà không mang động cơ thầm kín tột bậc là cải đạo nước Ấn Độ hoặc ít nhất là cải đạo dân quê Ấn Độ chân chất theo đạo Kitô, và không phá hủy cấu trúc xã hội Ấn, là một cấu trúc, dù có nhiều sai xót, đã tồn tại từ xa xưa, bất chấp những phá huỷ từ bên trong hay bên ngoài. Cho dù những người đó có phải là người truyền giáo hay không, và chúng tôi muốn hay không, cái gì đúng trong đức tin Hindu sẽ tồn tại, cái gì sai sự thật sẽ vụn vỡ từng mảnh. Mỗi đức tin sống phải có trong mình sức mạnh trẻ hóa nếu muốn tồn tại.

Báo Harijan, 28-9-1935

 

CHAPTER 12

FOR CHRISTIAN INDIANS

If Indian Christians will simply cling to the Sermon on the Mount, which was delivered not merely to the peaceful disciples but a groaning world, they would not go wrong, and they would find that no religion is false, and that if all live according to their lights and in the fear of God, they would not need to worry about organizations, forms of worship and ministry.

Young India, 22-9-1921

 

As I wander about throughout the length and breadth of India I see many Christian Indians almost ashamed of their birth, certainly of their ancestral religion, and of their ancestral dress. The aping of Europeans on the part of Anglo- Indians is bad enough, but the aping of them by Indian converts is a violence done to their country and, shall I say, even to their new religion. There is a verse in the New Testament to bid Christians avoid meat if it would offend their neighbours. Meat here, I presume, includes drink and dress. I can appreciate uncompromising avoidance of all that is evil in the old, but where there is not only no question of anything evil, but where an ancient practice may be even desirable, it would be a crime to part with it when one knows for certain that the giving up would deeply hurt relatives and friends.

 

Conversion must not mean denationalization. Conversion should mean a definite giving up of the evil of the old, adoption of all the good of the new and a scrupulous avoidance of everything evil in the new. Conversion, therefore, should mean a life of greater dedication to one’s own country, greater surrender to God, greater self-purification.

I know that there is a marvellous change coming over Christian Indians. There is on the part of a large number of them a longing to revert to original simplicity, a longing to belong to the nation and to serve it, but the process is too slow. There need be no waiting. It requires not much effort.. . .Is it not truly deplorable that many Christian Indians discard their own mother-tongue and bring up their children only to speak in English? Do they not thereby completely cut themselves adrift from the nation in whose midst they have to live?

Young India, 20-8-1925

CHƯƠNG 12

VỚI NHỮNG KITÔ HỮU NGƯỜI ẤN ĐỘ

Nếu các bạn Kitô hữu người Ấn Độ chỉ đơn giản bám vào Bài giảng trên Núi, những lời dạy không chỉ cho các môn đệ hòa bình mà cho cả một thế giới đang rên xiết, thì sẽ chẳng ai lạc đường, và họ sẽ thấy rằng không có niềm tin tôn giáo nào là sai, và nếu tất cả sống theo ánh sáng của họ và trong niềm kính sợ Chúa, họ sẽ không cần phải lo lắng về các tổ chức, các loại hình thức thờ cúng và phụng sự.

Báo Young India, 22-9-1921

Khi tôi lang thang khắp nơi ở Ấn Độ, tôi thấy rất nhiều Kitô hữu người Ấn Độ gần như vẫn hổ thẹn về sự sinh ra của họ, hiển nhiên do tôn giáo và trang phục của tổ tiên họ. Việc người Ấn Độ gốc Anh dập khuôn theo người Tây Âu của đã đủ tệ, nhưng việc học đòi dập khuôn bởi chính người Ấn Độ gốc Ấn là bạo lực đối với đất nước của họ và, tôi nên nói, đối với ngay cả tôn giáo mới của họ (Kitô giáo). Có một câu trong Thánh Kinh Tân Ước để các Kitô hữu tránh ăn thịt nếu việc ăn thịt có thể xúc phạm hàng xóm của họ. Thịt ở đây, tôi đoán, bao gồm cả đồ uống và ăn mặc. Tôi có thể đánh giá cao sự tránh né không khoan nhượng đối với tất cả những gì là ác xấu ở thời cũ, nhưng ở nơi không những chẳng có bất cứ điều gì xấu, mà các thực hành cổ xưa thậm chỉ còn là điều mong ước, thì sẽ là một tội ác để giũ bỏ truyền thống khi người ta biết rằng việc chối bỏ đó làm tổn thương sâu sắc người thân và bạn bè của họ.

Cải đổi niềm tin không có nghĩa xoá bỏ tinh thần quốc gia. Cải đổi nên có nghĩa là dứt khoát bỏ cái ác xấu của thời cũ, thu nạp tất cả điểm tốt của thời mới và cẩn trọng tránh đi cái xấu của thời mới. Cải đổi, do đó, cần có nghĩa là một cuộc sống cống hiến nhiều hơn cho đất nước của chính mình, sự khuất phục lớn hơn với Chúa, và tự thanh lọc bản thân tốt hơn.

Tôi biết rằng có một sự thay đổi kỳ diệu đến với Kitô hữu người Ấn Độ. Có một phần lớn số họ khao khát trở lại sự đơn giản ban đầu, khao khát sự thuộc về và phục vụ đất nước, nhưng quá trình này quá chậm. Không phải chờ đợi. Điều này không đòi hỏi nhiều nỗ lực… Chẳng phải là thực sự tệ hại khi nhiều Kitô hữu người Ấn Độ bỏ đi ngôn ngữ mẹ đẻ của họ và nuôi dạy con cái họ chỉ bằng tiếng Anh? Do đó, chẳng phái là họ hoàn toàn tự cắt đứt mình khỏi đất nước mà họ sống trong đó?

 

Báo Young India, 20-8-1925

 

 

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 8-9)

CHAPTER 8

CHRIST—A PRINCE AMONGST SATYAGRAHIS

 

 

Buddha fearlessly carried the war into the enemy’s camp and brought down on its knees an arrogant priesthood. Christ drove out the money-changers from the temple of Jerusalem and drew down curses from Heaven upon the hypocrites and the pharisees. Both were for intensely direct action. But even as Buddha and Christ chastized they showed unmistakable gentleness and love behind every act of theirs. They would not raise a finger against their enemies, but would gladly surrender themselves rather than the truth for which they lived. Buddha would have died resisting the priesthood, if the majesty of his love had not proved to be equal to the task of bending the priesthood. Christ died on the Cross with a crown of thorns on his head defying the might of a whole empire. And if I raise resistance of a non-violent character, I simply and humbly follow in the footsteps of the great teachers.

Young India, 12-5-1920

My reading of it (Bible) has clearly confirmed the opinion derived from a reading of the Hindu scriptures. Jesus mixed with the publicans and the sinners neither as dependent or as a patron. He mixed with them to serve and to convert them to a life of truthfulness and purity. But he wiped the dust off his feet of those places which did not listen to his word. I hold it to be my duty not to countenance a son who disgraces himself by a life of shame and vice.

 

Enlightened non-co-operation is the expression of anguished love…. Would Jesus have accepted gifts from money-changers, taken from them scholarships for his friends, and advanced loans to them to ply their nefarious traffic? Was his denunciation of hypocrites, pharisees, and sadducees merely in word? Or did he not actually invite the people to beware of them and shun them?

Young India, 19-1-1921

 

The virtues of mercy, non-violence, love and truth in any man can be truly tested only when they are pitted against ruthlessness, violence, hate and untruth.

If this is true, then it is incorrect to say that Ahimsa is of no avail before a murderer. It can certainly be said that to experiment with Ahimsa in face of a murderer is to seek self-destruction. But this is the real test of Ahimsa. He who gets himself killed out of sheer helplessness, however, can in nowise be said to have passed the test. He who when being kicked bears no anger against his murderer and even asks God to forgive him is truly non-violent. History relates this of Jesus Christ.

With His dying breath on his Cross he is reported to have said: “Father, forgive them, for they know not what they do.”

Harijan, 28-4-1946

The theory is that an adequate appeal to the heart never fails. Seeming failure is not of the law of Satyagraha but of incompetence of the satyagrahi by whatever cause induced. It may not be possible to give a complete historical instance. The name of Jesus at once comes to the lips. It is an instance of brilliant failure. And he has been acclaimed in the West as the prince of passive resisters. I showed years ago in South Africa that the adjective ‘passive’ was a misnomer, at least as applied to Jesus. He was the most active resister known perhaps to history. His was non-violence par excellence.

Harijan, 30-6-1946

Europe mistook the bold and brave resistance, full of wisdom, by Jesus of Nazareth for passive resistance, as if it was of the weak. As I read the New Testament for the first time, I detected no passivity, no weakness about Jesus as depicted in the four Gospels, and the meaning became clearer to me when I read Tolstoy’s Harmony of the Gospels and his other kindred writings. _Has not the West paid heavily in regarding Jesus as a passive resister? Christendom has been responsible for the wars which put to shame even those described in the Old Testament and other records, historical or semi-historical.

Harijan, 7-12-1947

Jesus as a Politician

Jesus, in my humble opinion, was a prince among politicians. He did render unto Caesar that which was Caesar’s. He gave the devil his due. He never shunned him and is reported never once to have yielded to his incantations. The politics of his time consisted in securing the welfare of the people by teaching them not to be seduced by the trinkets of the priests and the pharisees. The latter then controlled and moulded the life of the people.

Freedom’s Battle, p. 195, Ganesh & Co., Madras, 1921

CHƯƠNG 8

GIÊSU KITÔ – MỘT HOÀNG TỬ GIỮA NHỮNG NGƯỜI TÔN KÍNH SỰ THẬT (SATYAGRAHIS)

* Satyagrahis: là tên Gandhi đặt ra cho cuộc vận động đấu tranh bất bạo động

Phật Thích Ca không ngần ngại mang chiến tranh vào trại của kẻ thù và khiến toàn hàng ngũ giáo sĩ kiêu ngạo quỳ gối. Giêsu Kitô đã đuổi những người đổi chác tiền khỏi đền thờ Jerusalem và trút lời nguyền từ Thiên đàng lên đầu những kẻ đạo đức giả và thầy giảng lừa đảo. Cả hai vị thầy đều có hành động trực tiếp dữ dội. Nhưng ngay cả khi Phật Thích Ca và Giêsu khiển trách, các vị cho thấy sự dịu dàng và tình yêu hiển hiện đằng sau từng hành động. Các vị không giơ ngón tay chống lại kẻ thù, nhưng sẵn sàng trao phó thân mình, hơn là trao phó sự thật mà họ đã sống. Phật Thích Ca có thể chết vì chống lại giới giáo sĩ, nếu sự uy nghiêm của tình yêu của Phật đã không chứng mình được bằng rằng tình yêu đó cũng ngang bằng với việc Giêsu bẻ cong giới giáo sĩ. Giêsu Kitô chết trên Thập giá với một vương miện gai trên đầu bất chấp sức mạnh của cả một đế chế. Và nếu tôi khởi động cuộc kháng cự với đặc tính bất bạo động, tôi chỉ đơn giản và khiêm tốn đi theo bước chân của những người thầy vĩ đại.

Báo Young India, 12-5-1920

Việc tôi đọc Kinh thánh đã xác nhận rõ cái nhìn bắt nguồn từ việc đọc kinh sách Hindu. Giêsu sống giữa kẻ thu thuế và người tội lỗi không như là một người lệ thuộc cũng chẳng phải người bảo trợ. Giêsu sống giữa những con người đó để phục vụ và chuyển hoá họ đến một cuộc sống trung thực và thuần khiết. Nhưng Giêsu bỏ đi những nơi không nghe lời Giêsu. Tôi nắm bài học này như là trách nhiệm của tôi không được khuyến khích một đứa con trai tự sỉ nhục bản thân nó bởi một cuộc sống đầy hổ thẹn và truỵ lạc*

[*Con trai cả của Gandhi, lớn lên bất đồng với cha và sống cuộc sống nghiện ngập, truỵ lạc và kiếm tiền phi pháp.]

Bất hợp tác một cách sáng suốt là biểu hiện của tình yêu đau khổ …. Liệu Giêsu có chấp nhận quà tặng từ những người đổi tiền, lấy bổng lộc từ họ để cho bạn bè, và lợi dụng những khoản cho vay để điều khiển những hoạt động bất chính của họ? Có phải Giêsu vạch mặt những kẻ đạo đức giả, những thầy giảng, thầy tế đơn thuần chỉ bằng lời nói của Người? Hay là Giêsu thực tế không kêu gọi người khác cảnh giác với đám đạo đức giả đó và xa lánh chúng?

Báo Young India, 19-1-1921

Những đức hạnh của lòng thương xót, bất bạo động, tình yêu và sự thật trong bất cứ ai chỉ có thể được kiểm chứng thực thụ khi họ đối đầu với tàn nhẫn, bạo lực, thù ghét và dối trá.

Nếu điều này đúng, thì thật sai lầm khi nói rằng Ahimsa [tên gọi về nguyên tắc bất bạo động và từ bi trong Hindu giáo, Phật giáo, Kỳ na giáo tại Ấn Độ] không có tác dụng trước một kẻ giết người. Chắc chắn có thể nói rằng thử nghiệm với Ahimsa khi đối mặt với một kẻ giết người là tìm cách tự hủy diệt. Nhưng đây là kiểm chứng thực sự của Ahimsa. Tuy nhiên, người tự giết mình vì bất lực tuyệt đối, không thể được cho là đã vượt qua bài kiểm chứng. Người mà khi đị đánh đá vẫn không có sự giận dữ với kẻ giết mình và thậm chí cầu xin Thượng đế tha thứ cho kẻ sát nhân thực sự là bất bạo động. Lịch sử chỉ ra điều này trong Chúa Giêsu Kitô.

Với hơi thở hấp hối trên Thập giá, Giêsu cầu nguyện: “Lạy Cha, tha thứ họ, vì họ không biết họ đang làm gì”.

Báo Harijan, 28-4-1946

Lý thuyết rằng một sự kêu gọi đủ đến trái tim không bao giờ thất bại. Có vẻ như thất bại không phải là luật của bất bạo động mà là sự kém cỏi tạo ra bởi bất kỳ nguyên nhân nào. Có thể không có một ví dụ lịch sử hoàn chỉnh nào cho luật này. Nhưng tên của Giêsu ngay lập tức đến bờ môi. Đó là một ví dụ về sự thất bại tuyệt vời. Và Giêsu đã được ca ngợi ở phương Tây như là ông hoàng tử những người kháng cự thụ động. Tôi đã chỉ ra nhiều năm trước ở Nam Phi rằng tính từ ‘thụ động’  là một cách dùng sai, ít nhất với Giêsu. Vì Giêsu là người kháng cự tích cực nhất có lẽ tồn tại trong lịch sử. Sự bất bạo động của Giêsu không thể sánh bằng.

Báo Harijan, 30-6-1946

 

Châu Âu đã hiểu lầm sự kháng cự táo bạo và can đảm, đầy trí tuệ, của Giêsu là sự kháng cự thụ động, như thể đó là cách của kẻ yếu. Khi tôi đọc Tân Ước lần đầu tiên, tôi đã không thấy bất cứ sự thụ động, yếu đuối nào của Giêsu trong cả bốn cuốn Tin Mừng, và ý nghĩa này trở nên rõ ràng hơn với tôi khi tôi đọc Hòa âm Tin Mừng của Tolstoy (Harmony of the Gospels) và các tác phẩm tương tự khác của ông. Liệu có phải phương Tây đã trả giá nặng khi coi Giêsu là người kháng cự thụ động? Thế giới Kitô giáo phải chịu trách nhiệm cho các cuộc chiến gây hổ thẹn, thậm chí cả những cuộc chiến được mô tả trong Cựu Ước và các ghi chép lịch sử hoặc bán lịch sử khác

Báo Harijan, 7-12-1947

 

Giêsu, một chính trị gia

Giêsu, theo ý khiêm tốn của tôi, là một ông hoàng trong các chính trị gia. Giêsu đã hoàn lại Caesar những gì thuộc về Caesar. Giêsu trả cho quỷ những gì xứng đáng với quỷ. Giêsu không bao giờ xa lánh quỷ và chưa bao giờ khuất phục trước câu chú ma quái của quỷ. Chính trị ở thời của Giêsu là bảo đảm phúc lợi của người dân bằng cách dạy họ không bị quyến rũ bởi trang sức của các thầy giảng, thầy tế. Mà sau này những thứ đó điều khiển và thành hình cuộc sống của người dân.

Trận chiến tự do, trang. 195, Ganesh & Co., Madras, 1921

 

 

CHAPTER 9

THE GREATEST ECONOMIST OF HIS TIME

[From a lecture delivered by Gandhiji at a meeting of the Muir Central College Economic Society, held at Allahabad, on Friday 22nd December 1916.]

“Take no thought for the morrow” is an injunction which finds an echo in almost all the religious scriptures of the world. In a well-ordered society the securing of one’s livelihood should be and is found to be the easiest thing in the world. Indeed, the test of orderliness in a country is not the number of millionaires it owns, but the absence of starvation among its masses. The only statement that has to be examined is, whether it can be laid down as a law of universal application that material advancement means moral progress.

Now let us take a few illustrations. Rome suffered a moral fall when it attained high material affluence. So did Egypt and perhaps most countries of which we have any historical record. The descendants and kinsmen of the royal and divine Krishna too fell when they were rolling in riches. We do not deny to the Rockefellers and Carnegies possession of an ordinary measure of morality but we gladly judge them indulgently. I mean that we do not even expect them to satisfy the highest standard of morality. With them material gain has not necessarily meant moral gain. In South Africa, where I had the privilege of associating with thousands of our countrymen on most intimate terms, I observed almost invariably that the greater the possession of riches, the greater was their moral turpitude. Our rich men, to say the least, did not advance the moral struggle of passive resistance as did the poor. The rich men’s sense of self-respect was not so much injured as that of the poorest. If I were not afraid of treading on dangerous ground, I would even come nearer home and show how that possession of riches has been a hindrance to real growth. I venture to think that the scriptures of the world are far safer and sounder treatises on the laws of economics than many of the modern text-books.

The question we are asking ourselves… is not a new one. It was addressed of Jesus two thousand years ago. St. Mark has vividly described the scene. Jesus is in his  solemn mood. He is earnest. He talks of eternity. He knows the world about him. He is himself the greatest economist of his time. He succeeded in economizing time and space — he transcends them. It is to him at his best that one comes running, kneels down, and asks: “Good Master, what shall I do that I may inherit eternal life ?” And Jesus said unto him: “Why callest thou me good? There is none good but one, that is God. Thou knowest the Commandments. Do not commit adultery. Do not kill, Do not steal, Do not bear false witness. Defraud not, Honour thy Father and Mother.” And he answered and said unto him: “Master, all these have I observed from my youth.” The Jesus beholding him loved him and said unto him: “One thing thou lackest. Go thy way, sell whatever thou hast and give to the poor, and thou shalt have treasure in heaven—come, take up the cross and follow me.” And he was sad at that saying and went away grieved — for he had great possession.

And Jesus looked roundabout and said unto the disciples: “How hardly shall they that have riches enter into the kingdom of God.” And the disciples were astonished at his words. But Jesus answereth again and said unto them: “Children, how hard is it for them that trust in riches to enter into the kingdom of God. It is easier for a camel to go through the eye of a needle than for a rich man to enter into the kingdom of God!”

Here you have an eternal rule of life stated in the noblest words the English language is capable of producing. But the disciples nodded unbelief as we do to this day. To him they said as we say today: “But look how the law fails in practice. If we sell and have nothing, we shall have nothing to eat. We must have money or we cannot even be reasonably moral.” So they state their case thus. And they were astonished out of measure, saying among themselves: ‘Who then can be saved’. And Jesus looking upon them said: “With men it is impossible, but not with God, for with God, all things are possible.” Then Peter began to say unto him: “Lo, we have left all, and have followed thee.” And Jesus answered and said: “Verily I say unto you, there is no man that has left house or brethren or sisters, or father or mother, or wife or children or lands for my sake and Gospels but he shall receive one hundredfold, now in this time houses and brethren and sisters and mothers and children and land, and in the world to come, eternal life. But many that are first shall be last and the  last, first.”

You have here the result or reward, if you prefer the term, of following the law. I have not taken the trouble of copying similar passages from the other non- Hindu scriptures and I will not insult you by quoting, in support of the law stated by Jesus, passages from the writings and sayings of our own sages, passages even stronger, if possible, than the Biblical extracts I have drawn your attention to.

Perhaps the strongest of all the testimonies in favour of the affirmative answer to the question before us are the lives of the greatest teachers of the world. Jesus, Mahomed, Buddha, Nanak, Kabir, Chaitanya, Shankara, Dayanand, Ramakrishna were men who exercised an immense influence over, and moulded the character of thousands of men. The world is the richer for their having lived in it. And they were all men who deliberately embraced poverty as their lot.

Speeches and Writings of Mahatma Gandhi, pp. 350-53, Natesan & Co., Madras, 1933

 

 

CHƯƠNG 9

GIÊSU NHÀ KINH TẾ VĨ ĐẠI NHẤT TRONG THỜI ĐẠI CỦA NGƯỜI

[Đây là bài giảng của Gandhi tại một cuộc họp của Hội Kinh tế Đại học Trung tâm Muir, được tổ chức tại Allahabad, vào thứ Sáu ngày 22 tháng 12 năm 1916.]

“Không lo lắng cho ngày mai” là một huấn thị ta có thể nghe tiếng vang trong hầu hết kinh sách của các tôn giáo trên thế giới. Trong một xã hội trật tự, đảm bảo sinh kế của người dân nên được và được thấy là điều dễ nhất trên thế giới. Thật vậy, sự kiểm chứng về độ trật tự ở một quốc gia không phải là số người triệu phú mà quốc gia sở hữu, mà là sự vắng mặt của nạn đói trong dân chúng. Điều duy nhất cần được xem lại là, liệu có thể đặt ra như là một luật áp dụng phổ quát rằng tiến bộ vật chất có nghĩa là tiến bộ đạo đức?

Hãy cùng lấy một một vài minh họa. Kinh thành Rome hứng chịu sụp đổ đạo đức khi đạt được sung túc vật chất cao. Ai Cập cũng vậy và có lẽ xảy ra ở hầu hết các quốc gia mà chúng ta có bất cứ ghi chép lịch sử nào. Con cháu và họ hàng của thánh hoàng gia Krishna cũng gục ngã khi họ trở nên giàu có. Chúng ta không phủ nhận gia đình tỷ phú Mỹ Rockefeller và Carnegie sở hữu một chuẩn đạo đức thông thường nhưng chúng ta vui vẻ phán xét họ theo một cách đầy nuông chiều. Ý tôi là chúng ta thậm chí không mong đợi họ (các tỷ phú) đáp ứng tiêu chuẩn đạo đức cao nhất. Với họ lợi ích vật chất không nhất thiết có nghĩa là lợi ích đạo đức. Ở Nam Phi, nơi tôi có đặc quyền liên kết với hàng ngàn người đồng hương của chúng tôi một cách gần gũi nhất, tôi luôn luôn thấy rằng sự chiếm hữu của cải càng lớn, thì suy đồi đạo đức càng lớn. Những người giàu có của chúng tôi, nói cách nhẹ nhàng nhất, đã không thúc đẩy cuộc đấu tranh đạo đức phản kháng bất bạo động như những người nghèo. Lòng tự trọng của người giàu không bị tổn thương nhiều như những người nghèo nhất. Nếu tôi không sợ bước vào vùng nguy hiểm, tôi thậm chí sẽ đến gần nhà hơn và cho thấy sự sở hữu của cải của người giàu có đã cản trở sự phát triển thực [của quốc gia] ra sao. Tôi mạo hiểm cho rằng kinh sách của thế giới là sách dạy các định luật kinh tế an tòa và sâu sắc hơn nhiều, so với nhiều giáo trình kinh tế hiện đại.

Câu hỏi chúng ta đang tự hỏi mình… không hề mới. Câu hỏi này đã Giêsu nói đến hai ngàn năm trước. Thánh Mark đã mô tả sinh động cảnh tượng đó. Giêsu đang trong tâm trạng uy nghiêm của mình. Giêsu tha thiết. Giêsu nói về vĩnh cửu. Giêsu biết thế giới của mình. Bản thân Giêsu là nhà kinh tế vĩ đại nhất trong thời đại của Người. Giêsu đã thành công trong việc tiết kiệm thời gian và không gian – Giêsu vượt trên thời gian và không gian. Điều này thể hiện rõ nhất khi một người chạy đến, quỳ xuống và hỏi: “Thầy tốt, tôi phải làm gì để được cuộc sống vĩnh cửu?” Và Giêsu nói: “Tại sao bạn gọi tôi là thầy tốt? Không có ai tốt, ngoại trừ một người, đó là Thượng đế. Bạn đã biết các Điều Răn. Đừng ngoại tình. Đừng giết người, Đừng ăn cắp, Đừng làm chứng dối, Hãy tôn kính Cha Mẹ. ” Và anh ta trả lời Giêsu: “Thầy, tất cả những điều này tôi đã giữ từ thời trẻ.” Giêsu ngắm nhìn người này trìu mến và nói: “Một điều mà anh thiếu. Hãy đi về, bán hết của cải và ban cho người nghèo, và anh sẽ có kho báu trên thiên đàng – đến đây, nâng thập giá và đi theo tôi.” Và người này buồn vì câu nói đó và bỏ đi trong đau buồn – vì anh ta có có vô số của cải.

Và Giêsu nhìn quanh, nói với các môn đệ: “Thật khó nhường nào cho người giàu đi vào nước Thiên Đàng”. Và các môn đệ ngạc nhiên trước lời của Giêsu. Nhưng Giêsu nhắc lại, trả lời: “Các con, thật khó cho người tin vào tài sản giàu có vào được nước Thiên Đàng. Con lạc đà đi qua lỗ kim dễ hơn một người giàu đi vào nước Thượng đế!”

Ở câu nói này quý vị có một quy tắc sống vĩnh cửu được bày bỏ trong những từ cao quý nhất mà Anh ngữ có khả năng tạo ra. Nhưng các môn đệ lắc đầu không tin, như cách chúng ta phản ứng ngày nay. Các đệ tử nói với Giêsu như những gì chúng ta nói hôm nay: “Nhưng hãy nhìn xem luật pháp thất bại ra sao trong thực tế. Nếu chúng ta bán hết (tài sản) và chằng có gì, chúng ta sẽ chẳng có gì ăn. Chúng ta phải có tiền hoặc thậm chí không thể có đạo đức một cách hợp lý.” Như thế, họ tuyên bố tư duy của họ như vậy. Và họ ngạc nhiên không tưởng, tự nói với nhau: ‘Ai là người có thể được cứu rỗi’. Và Giêsu nhìn các đệ tử nói: “Với con người, điều đó là không thể, nhưng không đúng với Thượng đế, vì với Thượng đế, tất cả đều có thể.” Sau đó, Peter bắt đầu nói với Giêsu: “Chúa tôi, chúng con đã bỏ lại tất cả, và đang đi theo Người.” Giêsu trả lời và nói: “Quả thật thầy nói với anh em, không có ai đã rời khỏi nhà cửa hay bỏ lại anh chị em, cha mẹ, vợ con hay đất đai vì thầy và vì Tin mừng, mà sẽ không nhận được gấp trăm lần, nhà cửa, anh chị em, mẹ và con cái, đất đai, ngay trong thời này, và cuộc sống vĩnh cửu trong thế gian sẽ tới. Nhưng nhiều người cao nhất sẽ ngừi thấp nhất và người thấp nhất sẽ cao nhất.”

 

Quý vị có ở đây kết quả hoặc phần thưởng, nếu quý vị thích các từ này, nếu quý vị sống theo luật đó. Tôi đã không gặp khó khăn khi sao chép các đoạn tương tự từ các kinh sách khác ngoài Ấn giáo và tôi sẽ không xúc phạm quý vị bằng cách trích dẫn ra, để ủng hộ luật Giêsu đưa ra, các đoạn văn từ các bài viết và câu nói của các hiền nhân Ấn giáo thậm chí còn mạnh mẽ hơn, các trích đoạn Kinh Thánh tôi đã lấy ra để thu hút sự chú ý của các bạn.

 

Có lẽ điều mạnh mẽ nhất trong tất cả các minh chứng để khẳng định câu trả lời cho câu hỏi của chúng ta là cuộc sống của những người thầy vĩ đại nhất thế giới. Giêsu, Mohammed, Phật Thích Ca, Nanak, Kabir, Chaitanya, Shankara, Dayanand, Ramakrishna là những người có ảnh hưởng vô kể và hình thành tính cách của hàng ngàn người. Thế giới giàu có hơn vì những người thầy đã sống. Và họ đều là những người cố tình đón nhận nghèo đói như là số mệnh của họ.

 

Bài nói chuyện của Gandhi, trang 350-53, Natesan & Co., Madras, 1933

 

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 7)

CHAPTER 7

THE JESUS I LOVE[In December, 1931, when Gandhiji was voyaging back to India, after attending the Second Round Table Conference in London, he gave the following talk on Christmas Day at the request of Christian fellow-passengers who used to attend the daily morning prayers conducted by him.]

I shall tell you how, to an outsider like me, the story of Christ, as told in the New Testament, has struck. My acquaintance with the Bible began nearly forty- five years ago, and that was through the New Testament. I could not then take much interest in the Old Testament, which I had certainly read, if only to fulfill a promise I had made to a friend whom I happened to meet in a hotel. But when I came to the New Testament and the Sermon on the Mount, I began to understand the Christian teaching, and the teaching of the Sermon on the Mount echoed something I had learnt in childhood and something which seemed to be part of my being and which I felt was being acted up to in the daily life around me.

I say it seemed to be acted up to, meaning thereby that it was not necessary for my purpose that they were actually living the life. This teaching was non- retaliation, or non-resistance to evil. Of all the things I read, what remained with me forever was that Jesus came almost to give a new law — though he of course had said he had not come to give a new law, but tack something on to the old Mosaic law. Well, he changed it so that it became a new law — not an eye for an eye, and a tooth for a tooth, but to be ready to receive two blows when only one was given, and to go two miles when you were asked to go one.

I said to myself, this is what one learns in one’s childhood. Surely this is not Christianity. For all I had then been given to understand was that to be a Chris- tian was to have a brandy bottle in one hand and beef in the other. The Sermon on the Mount, however, falsified the impression. As my contact with real Chris- tians i.e., men living in fear of God, increased, I saw that the Sermon on the Mount was the whole of Christianity for him who wanted to live a Christian life. It is that Sermon which has endeared Jesus to me.

I may say that I have never been interested in a historical Jesus. I should not care if it was proved by someone that the man called Jesus never lived, and that what was narrated in the Gospels was a figment of the writer’s imagination. For the Sermon on the Mount would still be true for me.

Reading, therefore, the whole story in that light, it seems to me that Christianity has yet to be lived, unless one says that where there is boundless love and no idea of retaliation whatsoever, it is Christianity that lives. But then it surmounts all boundaries and book teaching. Then it is something indefinable, not capable of being preached to men, not capable of being transmitted from mouth to mouth, but from heart to heart. But Christianity is not commonly understood in that way.

Somehow, in God’s providence, the Bible has been preserved from destruction by the Christians, so-called. The British and Foreign Bible Society has had it translated into many languages. All that may serve a real purpose in the time to come. Two thousand years in the life of a living faith may be nothing. For though we sang, “All glory to God on High and on the earth be peace,” there seems to be today neither glory to God nor peace on earth.

As long as it remains a hunger still unsatisfied, as long as Christ is not yet born, we have to look forward to Him. When real peace is established, we will not need demonstrations, but it will be echoed in our life, not only in individual life, but in corporate life. Then we shall say Christ is born. That to me is the real meaning of the verse we have sung. Then we will not think of a particular day in the year as that of the birth of the Christ, but as an ever-recurring event which can be enacted in every life.

And the more I think of fundamental religion, and the more I think of miraculous conceptions of so many teachers who have come down from age to age and clime to clime, the more I see that there is behind them the eternal truth that I have narrated. That needs no label or declaration. It consists in the living of life, never ceasing, ever progressing towards peace.

When, therefore, one wishes “A Happy Christmas” without the meaning behind it, it becomes nothing more than an empty formula. And unless one wishes for peace for all life, one cannot wish for peace for oneself. It is a self-evident axiom, like the axioms of Euclid, that one cannot have peace unless there is in one an intense longing for peace all around. You may certainly experience peace in the midst of strife, but that happens only when to remove strife you destroy your whole life, you crucify yourself.

And so, as the miraculous birth is an eternal event, so is the Cross an eternal event in this stormy life. Therefore, we dare not think of birth without death on the cross. Living Christ means a living Cross, without it life is a living death.

Harijan, 31-12-1931

[At the pressing request of Mr. Mills of the Associated Press of America Gandhiji dictated the following message of Christmas Greetings the same day.]

I have never been able to reconcile myself to the gaieties of the Christmas season. They have appeared to me to be so inconsistent with the life and teaching of Jesus.

How I wish America could lead the way by devoting the season to a real moral stocktaking and emphasizing consecration to the service of mankind for which Jesus lived and died on the Cross.

Young India, 31-12-1931

 

CHƯƠNG 7

GIÊSU NGƯỜI TÔI YÊU

[Tháng 12 năm 1931, khi Gandhi đang trên đường về Ấn Độ sau Hội nghị Bàn tròn lần thứ hai ở London, ông có cuộc nói chuyện dưới sau đây vào Ngày Giáng sinh theo yêu cầu của các hành khách Kitô giáo, những người đã từng tham dự buổi cầu nguyện hàng sáng của Gandhi.]

Tôi sẽ kể cho bạn nghe, một người ngoài cuộc như tôi, câu chuyện về Chúa Kitô, được kể trong Thánh Kinh Tân Ước đã giáng tôi một cú như thế nào. Tôi bắt đầu làm quen với Kinh thánh gần 45 năm trước (1886), thông qua Thánh Kinh Tân Ước. Sau đó tôi không thể có lắm hứng thú với Kinh Cựu Ước, bộ sách tôi chắc chắn đã đọc, chỉ là để làm trọn lời hứa với một người bạn tôi tình cờ gặp ở một khách sạn. Nhưng khi đến với Tân Ước và Bài giảng trên núi, tôi bắt đầu hiểu lời dạy của Kitô, và Bài giảng trên núi lặp lại điều gì đó tôi đã học được từ thủa bé và thứ gì đó dường như là một phần của tôi, và tôi cảm thấy điều đó dường như đang được thực hành trong cuộc sống hàng ngày xung quanh tôi.

Tôi nói rằng nó dường như được thực hành, nghĩa là không nhất thiết vì mục đích của tôi mà lời dạy được sống thực. Lời dạy của Bài giảng trên núi là không trả thù, hoặc không kháng cự cái ác. Trong tất cả những gì đã đọc, điều mãi mãi còn lại với tôi là Giêsu đến hầu như chỉ để đưa ra một luật mới – mặc dù Giêsu hiển nhiên không nói rằng Người đến để đưa ra một luật mới, nhưng chỉ gắn thêm một chút lên lưng luật cũ của Môsê. Vâng, Giêsu đã đổi luật cũ thành một luật mới – không phải một mắt đền một mắt, một răng đền một răng, nhưng sẵn sàng hứng hai cái tát khi chỉ nhận được một cái tát, và sẵn sàng đi hai dặm khi bị buộc phải đi một dặm.

Tôi tự nhủ, đây là điều ta học được từ thời thơ ấu. Chắc chắn đây không phải là Kitô giáo. Vì tất cả những gì tôi được dạy là để trở thành một người Kitô là phải có một chai rượu nặng trên một tay và tay kia là thịt bò. Bài giảng trên núi, tuy nhiên, đã làm xoá đi ấn tượng đó. Khi tôi ngày càng được tiếp xúc với những Kitô hữu thực thụ, những người kính sợ Chúa, tôi thấy Bài giảng trên núi là toàn bộ Kitô giáo cho ai muốn sống một cuộc sống Kitô hữu. Chính Bài giảng trên núi khiến tôi yêu Giêsu.

Tôi có thể nói rằng tôi chưa bao giờ hứng thú đến tích lịch sử của Giêsu. Tôi không nên quan tâm nếu ai đó chứng minh rằng người đàn ông tên gọi Giêsu chưa từng sống, và những gì được thuật lại trong các cuốn Tin mừng (Gospels) là điều bịa đặt trong trí tưởng tượng của người viết. Vì Bài giảng trên núi vẫn sẽ đúng với tôi.

Do đó, đọc toàn bộ câu chuyện trong ánh sáng đó, đối với tôi, Kitô giáo vẫn chưa được sống, trừ khi người ta nói rằng nơi nào có tình yêu vô biên và không có bất cứ ý tưởng trả thù nào, nơi đó Kitô giáo đang sống. Và lời dạy vượt qua mọi ranh giới và sách vở. Sau đó, là một thứ gì đó không thể xác định, không có khả năng được rao giảng cho con người, không có khả năng truyền từ miệng sang miệng, nhưng từ trái tim đến trái tim. Nhưng thông thường Kitô giáo không được hiểu như thế.

Bằng cách nào đó, trong nhân từ của Chúa, Thánh Kinh đã được bảo vệ khỏi sự hủy diệt của những người được gọi là Kitô hữu. Hiệp hội Thánh Kinh Anh Quốc và Nước Ngoài đã dịch Thánh Kinh sang nhiều ngôn ngữ. Tất cả điều đó có thể phục vụ một mục đích thực sự trong thời gian tới. Hai ngàn năm trong đời của một đức tin sống có thể vô nghĩa. Mặc dù chúng ta đã hát, “Tất cả vinh quang cho Chúa Trên Cao và trên mặt đất hãy hòa bình”, ngày nay dường như không có vinh quang nào cho Chúa cũng như hòa bình trên mặt đất.

Chừng nào còn đó một người đói vẫn chưa no, chừng nào Chúa Kitô chưa được sinh ra, chúng ta phải trông ngóng Ngài. Khi hòa bình thực sự đạt được, chúng ta sẽ không cần các cuộc biểu tình, nhưng khúc ca hoà bình sẽ được vang vọng trong cuộc sống của chúng ta, không chỉ trong đời sống cá nhân, mà trong cả cộng đồng. Rồi chúng ta sẽ nói Chúa Kitô được sinh ra. Điều đó với tôi là ý nghĩa thực sự của câu hát chúng ta đã ca. Rồi, chúng ta sẽ không nghĩ về ngày Chúa giáng sinh là một ngày cụ thể trong năm, nhưng là một sự kiện không ngừng tái diễn có thể được hiển thị trong mọi cuộc sống.

Tôi càng nghĩ về điều cơ bản của tôn giáo, và tôi càng nghĩ về những khái niệm huyền diệu của rất nhiều người thầy đã đến từ trên cao từ thời này qua thời khác và từ vùng này qua vùng khác, tôi càng thấy rằng đằng sau họ là sự thật vĩnh cửu mà tôi đã thuật lại. Điều đó không cần nhãn hiệu hay công bố. Điều đó là sống đời sống, không bao giờ ngừng, chưa từng ngừng tiến tới hòa bình.

Do đó, khi ai đó chúc “Một Giáng sinh hạnh phúc” mà không có ý nghĩa đằng sau, câu chúc sẽ không hơn một công thức trống rỗng. Và trừ khi ta mong muốn hòa bình cho tất cả, ta không thể mong muốn hòa bình cho chính mình. Đó là một tiên đề hiển nhiên, giống như các tiên đề toán học của Euclid, một người không thể có hòa bình trừ khi anh ta có một khao khát mãnh liệt cho hòa bình xung quanh anh ta. Bạn chắc chắn có thể trải qua hòa bình ở giữa xung đột, nhưng điều đó chỉ xảy ra khi để loại bỏ xung đột bạn phải phá hủy cả cuộc sống của bạn, bạn tự đóng đinh chính mình trên thập giá.

Và như vậy, vì sự giáng sinh huyền diệu là một sự kiện vĩnh cửu, nên Thập giá cũng là một sự kiện vĩnh cửu trong cuộc đời đầy giông bão này. Do đó, chúng ta không dám nghĩ đến sự sinh  mà không sự chết trên thập tự giá. Chúa Kitô sống có nghĩa là Thánh giá sống, không có thập giá sống thì sự sống là một đời sống đã chết.

Báo Harijan, 31-12-1931

[Theo yêu cầu cấp bách của ông Mills tờ Associated Press of America, cùng ngày 31-12-1931 Gandhi đã đưa ra thông điệp chào mừng Giáng sinh  sau đây.]

Tôi chưa bao giờ có thể hòa giải được với chính tôi về những cuộc vui của mùa Giáng Sinh. Những thứ thể hiện đối với tôi quá mâu thuẫn với cuộc sống và lời dạy của Giêsu. Tôi ước gì nước Mỹ có thể dẫn đường bằng cách dành mùa Giáng Sinh cho việc kiểm kê đạo đức thực thụ và nhấn mạnh sự tận hiến cho phục vụ nhân loại mà Giêsu đã sống và chết trên Thập giá.

Theo báo Young India, 31-12-1931

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 5)

 

CHAPTER 5

WHAT JESUS MEANS TO ME

Although I have devoted a large part of my life to the study of religion and to discussion with religious leaders of all faiths, I know very well that I cannot but seem presumptuous in writing about Jesus Christ and trying to explain what He means to me. I do so only because my Christian friends have told me on more than a few occasions that for the very reason that I am not a Christian and that (I shall quote their words exactly) “I do not accept Christ in the bottom of my heart as the only Son of God,” it is impossible for me to understand the profound significance of His teachings, or to know and interpret the greatest source of spiritual strength that man has ever known.

Although this may or may not be true in my case, I have reasons to believe that it is an erroneous point of view. I believe that such an estimate is incompatible with the message that Jesus Christ gave to the world. For He was, certainly, the highest example of One who wished to give everything, asking nothing in return, and not caring what creed might happen to be professed by the recipient.

I am sure that if He were living here now among men, He would bless the lives of many who perhaps have never even heard His name, if only their lives embodied the virtues of which He was a living example on earth; the virtues of loving one’s neighbour as oneself and of doing good and charitable works among one’s fellow men.

What, then, does Jesus mean to me? To me, He was one of the greatest teachers humanity has ever had.

To His believers, He was God’s only begotten son. Could the fact that I do or do not accept this belief make Jesus have any more or less influence in my life? Is all the grandeur of His teaching and of His doctrine to be forbidden to me? I cannot believe so. To me it implies a spiritual birth. My interpretation, in other words, is that in Jesus’ own life is the key of His nearness to God; that He expressed, as no other could, the spirit and will of God. It is in this sense that I see Him and recognize Him as the son of God. But I do believe that something of this spirit that Jesus exemplified in the highest measure, in its most profound human sense, does exist. I must believe this; if I did not believe it I should be a sceptic; and to be a sceptic is to live a life that is empty and lacks moral content. Or, what is the same thing, to condemn the entire human race to a negative end.

It is true that there certainly is reason for scepticism when one observes the bloody butchery that European aggressors have unloosed, and when one thinks about the misery and suffering prevalent in every corner of the world, as well as the pestilence and famine that always follow, terribly and inevitably, upon war. In the face of this, how can one speak seriously of the divine spirit incarnate in man? Because these acts of terror and murder offend the conscience of man; because man knows that they represent evil; because in the inner depths of his heart and of his mind, he deplores them. And because, moreover, when he does not go astray, misled by false teachings or corrupted by false leaders, man has within his breast an impulse for good and a compassion that is the spark of divinity, and which some day, I believe, will burst forth into the full flower that is the hope of all mankind. An example of this flowering may be found in the figure and in the life of Jesus. I refuse to believe that there now exists or has ever existed a person that has not made use of His example to lessen his sins, even though he may have done so without realizing it. The lives of all have, in some greater or lesser degree, been changed by His presence, His actions, and the words spoken by His divine voice.

I believe that it is impossible to estimate the merits of the various religions of the world, and moreover I believe that it is unnecessary and harmful even to attempt it. But each one of them, in my judgment, embodies a common motivating force: the desire to uplift man’s life and give it purpose. And because the life of Jesus has the significance and the transcendency to which I have alluded I believe that He belongs not solely to Christianity, but to the entire world; to all races and people, it matters little under what flag, name or doctrine they may work, profess a faith, or worship a God inherited from their ancestors.

The Modern Review, Oct. 1941, p. 406

CHƯƠNG 5

GIÊSU NGHĨA LÀ GÌ VỚI TÔI

Mặc dù tôi đã dành phần lớn cuộc đời mình để nghiên cứu về tôn giáo và thảo luận với các nhà lãnh đạo tôn giáo của tất cả các tín ngưỡng, tôi biết rất rõ rằng tôi không thể tránh có vẻ tự phụ khi viết về Giêsu Kitô và cố gắng giải thích Giêsu có ý nghĩa gì đối với tôi. Tôi làm vậy chỉ vì những người bạn Kitô giáo của tôi vẫn nói với tôi thường xuyên rằng vì tôi không là người Thiên Chúa giáo, và (tôi sẽ trích dẫn chính xác lời của các Kitô hữu) “Tôi, tận đáy lòng, không chấp nhận việc Giêsu Kitô là con trai duy nhất của Thượng đế”, cho nên tôi không thể hiểu được ý nghĩa sâu đậm trong lời dạy của Giêsu, hoặc không thể biết và giải thích nguồn sức mạnh tâm linh lớn nhất [từ Giêsu] mà con người từng biết.

Mặc dù điều này có thể đúng hoặc không đúng trong trường hợp của tôi, tôi có nhiều lý do để tin rằng đó là một cái nhìn sai lầm. Tôi tin rằng một ước tính như vậy là không thể tương xứng với thông điệp mà Giêsu Kitô đã trao cho thế giới. Bởi Người, chắc chắn, là hình mẫu cao nhất của Đấng có ao ước cho đi tất cả, không mong đợi hoàn trả điều gì, và không quan tâm đến lòng tin của người được nhận.

Tôi chắc chắn rằng nếu bây giờ Giêsu đang sống ở đây giữa con người, thì Người sẽ ban phước cho nhiều người có thể chưa bao giờ nghe đến tên Giêsu, chỉ vì cuộc sống của họ là hiện thân những phẩm hạnh mà Giêsu là một ví dụ sống trên quả đất; phẩm hạnh về yêu hàng xóm như chính mình, và làm điều lành và từ thiện giữa mọi người.

Vậy thì, Giêsu là gì với tôi? Với tôi, Giêsu là một trong những người thầy vĩ đại nhất mà nhân loại từng có.

Đối với người tin Giêsu, Người là con trai duy nhất của Thượng đế. Việc tôi chấp nhận hay không chấp nhận niềm tin đó liệu có khiến Giêsu có nhiều hoặc ít ảnh hưởng trong cuộc sống của tôi? Có phải tất cả vĩ đại trong lời dạy và giáo lý của Người bị ngăn cấm đối với tôi? Tôi không thể tin vậy. Với tôi điều đó ngụ ý một cuộc sinh nở tâm linh. Cách giải thích của tôi là, nói cách khác, chính cuộc sống của Giêsu là chìa khoá của sự gần gũi của Giêsu với Thượng đế, và thể hiện, một cách mà không ai làm được, tinh thần và ý chí của Thượng đế. Theo nghĩa này, tôi thấy được Giêsu và nhận ra Người là con trai của Thượng đế. Nhưng tôi tin rằng một điều gì đó của tinh thần này mà Giêsu biểu hiện cách cao cả nhất, trong ý nghĩa sâu sắc nhất của con người, thật sự hiện hữu. Tôi phải tin điều này; nếu tôi không tin thì tôi chỉ nên là một kẻ hoài nghi; và trở thành một kẻ hoài nghi là sống một cuộc đời trống rỗng và thiếu đạo đức. Hoặc, điều tương tự, là kết án toàn bộ loài người đến một cái kết tiêu cực.

Đúng là có lý do cho hoài nghi khi ta quan sát thứ giết chóc đẫm máu mà dân xâm lược châu Âu đã ném ra, và khi ta nghĩ về sự khốn khổ và đau đớn tràn ngập ở mọi ngõ ngách trên thế giới, cũng như bệnh dịch và nạn đói luôn đeo bám một cách khủng khiếp và không tránh nổi trong chiến tranh. Đối mặt với điều này, làm sao người ta có thể nói nghiêm túc về tinh thần linh thiêng đầu thai trong con người? Bởi vì những hành vi khủng bố và giết người này xúc phạm đến lương tâm con người; bởi vì con người biết rằng họ đại diện cho cái ác; bởi vì sâu thẳm trong trái tim và tâm trí anh ta, anh ta chán ghét những điều này. Và bởi, hơn thế, khi anh ta không đi lạc, thì bị lừa dối bởi những giáo lý sai trái hoặc bị tha hóa bởi những người lãnh đạo giả dối, con người có trong lồng ngực một thôi thúc làm điều thiện và lòng từ bi là tia chớp thần thánh, mà một ngày nào đó, tôi tin, sẽ bùng nổ thành bông hoa tròn đầy, như là niềm hy vọng của cả nhân loại. Một ví dụ về sự nở hoa này có thể được tìm thấy trong con người và trong cuộc đời của Giêsu. Tôi từ chối tin rằng bây giờ có, hoặc đã từng có, một người không lấy tấm gương của Giêsu lấy tấm gương của Giêsu để giảm tội lỗi của mình, dù anh ta có thể đã làm vậy mà không nhận ra điều đó. Cuộc sống của tất cả mọi người, ở một mức độ nào đó, it nhiều đã bị thay đổi bởi sự hiện diện của Giêsu, bởi hành động và những lời được nói bằng giọng nói thiêng liêng của Giêsu.

Tôi tin rằng không thể ước tính giá trị của các tôn giáo khác nhau trên thế giới, và hơn nữa tôi tin rằng điều đó là không cần thiết và gây tai hại ngay cả khi chỉ thử làm việc đó. Nhưng mỗi tôn giáo, theo đánh giá của tôi, là hiện thân của một động lực thúc đẩy chung: mong muốn nâng đời sống của con người lên và cho đời sống đó có mục đích. Và bởi vì cuộc đời của Giêsu có ý nghĩa và sự siêu việt mà tôi đã nhắc đến,tôi tin rằng Giêsu không chỉ thuộc về Kitô giáo, mà là của toàn thế giới; cho tất cả các chủng tộc và tất cả các dân tộc, chẳng quan trọng họ đứng dưới lá cờ nào, tên nào hay giáo lý nào, tuyên xưng đức tin nào, hoặc tôn thờ một vị Thượng đế được thừa hưởng từ tổ tiên của họ.

Tạp chí The Modern Review, tháng 10 năm 1941, trang. 406

 

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 4)

 

CHAPTER 4

ONLY BEGOTTEN SON OF GOD?

I regard Jesus as a great teacher of humanity, but I do not regard him as the only begotten son of God. That epithet in its material interpretation is quite unacceptable. Metaphorically we are all begotten sons of God, but for each of us there may be different begotten sons of God in a special sense. Thus for me Chaitanya may be the only begotten son of God.

 

 

 

 

 

 

Q. : But don’t you believe in the perfection of human nature, and don’t you believe that Jesus had attained perfection ?

A. : I believe in the perfectibility of human nature. Jesus came as near to perfection as possible. To say that he was perfect is to deny God’s superiority to man. And then in this matter I have a theory of my own. Being necessarily limited by the bonds of flesh, we can attain perfection only after dissolution of the body. Therefore God alone is absolutely perfect.

When He descends to earth, He of His own accord limits Himself. Jesus died on the Cross because he was limited by the flesh. I do not need either the prophesies or the miracles to establish Jesus’ greatness as a teacher. Nothing can be more miraculous than the three years of his ministry. There is no miracle in the story of the multitude being fed on a handful of loaves. A magician can create that illusion. But woe worth the day on which a magician would be hailed as the saviour of humanity.

As for Jesus raising the dead to life, well I doubt if the men he raised were really dead. I raised a relative’s child from supposed death to life, but that was because the child was not dead, and but for my presence there she might have been cremated. But I saw that life was not extinct. I gave her an enema and she was restored to life. There was no miracle about it. I do not deny that Jesus had certain psychic powers and he was undoubtedly filled with the love of humanity. But he brought to life not people who were dead but who were believed to be dead.

The laws of Nature are changeless, unchangeable, and there are no miracles in the sense of infringement or interruption of Nature’s laws. But we limited beings fancy all kinds of things and impute our limitations to God. We may copy God, but not He us. We may not divide Time for Him, Time for Him is eternity. For us there is past, present and future. And what is human life of a hundred years but less than a mere speck in the eternity of Time?

Harijan, 17-4-1937

Q. : Then you will recognize degrees of divinity. Would you not say that Jesus was the most divine?

A. : No, for the simple reason that we have no data. Historically we have more data about Muhammad than anyone else because he was more recent in time. For Jesus there is less data and still less for Buddha, Rama and Krishna; and when we know so little about them, is it not preposterous to say that one of them was more divine than another? In fact even if there were a great deal of data available, no judge should shoulder the burden of sifting all the evidence, if only for this reason that it requires a highly spiritual person to gauge the degree of divinity of the subjects he examines. To say that Jesus was 99 per cent divine, and Muhammad 50 per cent, and Krishna 10 per cent, is to arrogate to oneself a function which really does not belong to man.

Harijan, 6-3-1937

I therefore do not take as literally true the text that Jesus is the only begotten son of God. God cannot be the exclusive Father and I cannot ascribe exclusive divinity to Jesus. He is as divine as Krishna or Rama or Mahomed or Zoroaster.

Similarly I do not regard every word of the Bible as the inspired word of God even as I do not regard every word of the Vedas or the Koran as inspired. The sum-total of these books is certainly inspired, but I miss that inspiration in many of the things taken individually. The Bible is as much a book of religion with me as the Gita and the Koran.

Harijan, 6-3-1937

CHƯƠNG 4

LÀ CON TRAI DUY NHẤT CỦA THƯỢNG ĐẾ?

Tôi coi Giêsu là một người thầy vĩ đại của nhân loại, nhưng tôi không coi Giêsu là con trai duy nhất của Thượng đế. Danh hiệu đó diễn dãi theo nghĩa thế tục thật khá là khó chấp nhận. Nói một cách ẩn dụ, tất cả chúng ta đều là con của Chúa, nhưng đối với mỗi người chúng ta, có thể là có những đứa con khác nhau của Thượng đế theo một nghĩa đặc biệt. Do đó, đối với tôi Chaitanya có thể là con trai duy nhất của Thượng đế. [Chaitanya là một lãnh đạo tâm linh của Ấn Độ, người lập lên trường phái Yoga Bkahti vào thế kỷ 15, tên Chaitanya Mahaprabhu có nghĩa là Tâm thức vĩ đại].

 

(Dưới đây là bài trả lời phỏng vấn của Gandhi cho tờ Harijan năm 1937 khi được hỏi về Giêsu)

Hỏi: Nhưng ông có tin vào sự hoàn hảo của bản chất con người, và ông có tin rằng Chúa Giêsu đã đạt được sự hoàn hảo?

Tôi tin vào sự hoàn hảo của bản chất con người. Giêsu đạt đến gần hoàn hảo nhất có thể. Nói rằng Giêsu hoàn hảo là từ chối sự tối cao của Thượng đế đối với con người. Và thế, về điểm này này tôi có một lý thuyết của riêng tôi. Bị giới hạn một cách cần thiết bởi trói buộc của xác thịt, chúng ta có thể đạt được sự hoàn hảo chỉ sau khi thân thể ta rã. Do đó, chỉ có Thượng đế là hoàn hảo.

Khi Thượng đế xuống trần gian, Ngài tự muốn giới hạn chính Ngài. Giêsu chết trên thập giá vì Giêsu bị giới hạn bởi xác thịt. Tôi không cần những lời tiên tri hay các phép lạ xác định sự vĩ đại của Giêsu như là một vị thầy. Không điều gì có thể huyền diệu hơn ba năm thuyết giảng của Giêsu. Không có phép lạ nào trong câu chuyện về vô số người được cho ăn với chỉ vài ổ bánh mỳ. Một ảo thuật gia có thể tạo ra ảo ảnh đó. Nhưng thật khốn thay cho ngày mà một ảo thuật gia được ca ngợi là vị cứu tinh của nhân loại.

Khi Giêsu làm người chết sống lại, thì tôi nghi ngờ liệu những người mà Giêsu làm sống lại có thực sự đã chết không. Tôi đã làm sống lại từ cõi chết một đứa bé bà con, nhưng thật sử bởi vì đứa bé chưa chết, nếu tôi không có mặt ở đó đứa bé đó có thể đã bị hỏa táng rồi. Nhưng tôi nhìn thấy bé chưa chết hẳn. Tôi đã súc ruột em bé và em đã lấy lại được mạng sống. Không có phép lạ nào trong việc đó. Tôi không phủ nhận rằng Giêsu có một số sức mạnh tâm linh nhất định và ông chắc chắn tràn đầy tình yêu của nhân loại. Nhưng ông đã dựng sống lại không phải người đã chết mà là người bị tưởng là đã chết.

Luật của Tự nhiên là bất biến, không thể thay đổi và không có phép lạ nào theo nghĩa có thể xâm phạm hoặc làm gián đoạn luật của Tự nhiên. Nhưng chúng ta, những sinh vật có giới hạn, tưởng tượng mọi thứ và áp đặt những hạn chế của chúng ta lên Thượng đế. Chúng ta có thể sao chép Thượng đế, nhưng Ngài không sao chép chúng ta. Chúng ta không thể phân chia Thời gian cho Ngài, Thời cho Ngài là vô tận. Với chúng ta thì có quá khứ, hiện tại và tương lai. Và cuộc sống của con người trong một trăm năm là gì khác hơn là một chấm li ti trong quãng vô tận của Thời gian?

Báo Harijan, ngày 17-4-1937

Hỏi: Vậy, ông sẽ công nhận các mức độ thần thánh. Liệu ông có cho rằng Chúa Giêsu là linh liêng nhất?

Không, vì lý do đơn giản rằng chúng ta không có dữ liệu. Trong lịch sử, chúng ta có nhiều thông tin về tiên tri Muhammad hơn bất cứ vị nào khác bởi vì ông gần chúng ta hơn về thời gian. Đối với Giêsu, có ít dữ liệu hơn và còn ít hơn cho Phật Thích Ca, Rama và Krishna [trong Hindu giáo được coi là hiện thân thứ 7 và thứ 8 của thần Vishnu, thần bảo vệ vũ trụ]; và khi chúng ta biết rất ít về họ, chẳng phải là quá vô lý khi nói rằng người này thì linh thiêng hơn người kia? Thực tế, ngay cả khi có sẵn rất nhiều thông tin, không có thẩm phán nào phải mang gánh nặng lựa lọc tất cả các bằng chứng, chỉ vì lý do là công việc này cần một người có tâm linh cực cao để đánh giá mức độ thần thánh của các đối tượng xem xét. Nói rằng Giêsu là 99 phần trăm thần thánh, và Muhammed 50 phần trăm, và 10 phần trăm của Krishna, là tự kiêu để gán cho mình một chức năng không thuộc về con người.

Trích Báo Harijan, 6-3-1937

Do đó, tôi không nhận đúng nghĩa đen của văn bản viết rằng Giêsu là con trai duy nhất của Thượng đế. Thượng đế không thể là Cha độc quyền và tôi không thể gán linh thiêng độc quyền cho Giêsu. Giêsu cũng thiêng liêng như Krishna hay Rama hay Mahomed hay Zoroaster [lãnh đạo tâm linh tồn tại 1000 năm trước công nguyên theo truyền thuyết của Iran].

Tương tự, tôi thậm chí không coi từng từ trong Kinh Thánh là lời truyền của Thượng đế cũng như tôi không coi mọi lời của kinh Vệ Đà (Vedas) trong Hindu hay kinh Koran trong Hồi giáo là lời truyền của Thượng đế. Kết hợp của những cuốn sách này chắc chắn là được linh cảm từ Thượng đế, nhưng tôi thấy thiếu linh cảm đó trong nhiều điều khi đọc những điều đó riêng rẽ. Với tôi, Kinh thánh là một cuốn sách về tôn giáo cũng như trường ca Gita và kinh Koran.

Trích báo Harijan, 6-3-1937

Gandhi on Jesus – Gandhi viết về Giêsu (Chương 1-3)

 

CHAPTER 1

MY EARLY STUDIES IN CHRISTIANITY

It was more than I could believe that Jesus was the only incarnate son of God, and that only he who believed in Him would have everlasting life. If God could have sons, all of us were His sons. If Jesus was like God, or God Himself, then all men were like God and could be God Himself.

My reason was not ready to believe literally that Jesus by his death and by his blood redeemed the sins of the world. Metaphorically there might be some truth in it.

Again, according to Christianity only human beings had souls, and not other living beings, for whom death meant complete extinction; while I held a contrary belief.

I could accept Jesus as a martyr, an embodiment of sacrifice, and a divine teacher, but not as the most perfect man ever born. His death on the Cross was a great example to the world, but that there was anything like a mysterious or miraculous virtue in it, my heart could not accept.

 

The pious lives of Christians did not give me anything that the lives of men of other faiths had failed to give. I had seen in other lives just the same reformation that I had heard of among Christians.

Philosophically there was nothing extraordinary in Christian principles. From the point of view of sacrifice, it seemed to me that the Hindus greatly surpassed the Christians. It was impossible for me to regard Christianity as a perfect religion or the greatest of all religions.

An Autobiography, pp. 98-99, Edn. 1958

CHAPTER 2

THE SERMON ON THE MOUNT

I could not possibly read through the Old Testament. I read the book of Genesis, and the chapters that followed invariably sent me to sleep But just for the sake of being able to say that I had read it, I plodded through the other books with much difficulty and without the least interest or understanding. I disliked reading the book of Numbers.

But the New Testament produced a different impression, especially the Sermon on the Mount which went straight to my heart. I compared it with the Gita.

The verses, “But I say unto you, that ye resist not evil: but whosoever shall smite thee on thy right cheek, turn to him the other also. And if any man take away thy coat let him have thy cloak too,” delighted me beyond measure and put me in mind of Shamal Bhatt’s “For a bowl of water, give a goodly meal”, etc.

An Autobiography, p. 49, Edn. 1958

I have not been able to see any difference between the Sermon on the Mount and the Bkagavadgita. What the Sermon describes in a graphic manner, the Bkagavadgita reduces to a scientific formula. It may not be a scientific book in the accepted sense of the term, but it has argued out the law of love — the law of abandon as I would call it — in a scientific manner. The Sermon on the Mount gives the same law in wonderful language.

The New Testament gave me comfort and boundless joy, as it came after the repulsion that parts of the Old had given me. Today supposing I was deprived of the Gita and forgot all its contents but had a copy of the Sermon, I should derive the same joy from it as I do from the Gila.

Young India, 22-12-1927

 

Christ, a Supreme Artist

Truth is the first thing to be sought for, and Beauty and Goodness will then be added unto you. Jesus was, to my mind, a supreme artist because he saw and expressed Truth; and so was Mahomed, the Koran being the most perfect composition in all Arabic literature — at any rate, that is what scholars say. It is because both of them strove first for Truth that the grace of expression naturally came in and yet neither Jesus nor Mahomed wrote on art. That is the Truth and Beauty I crave for, live for and would die for.

Young India, 20-1 1-1924

CHƯƠNG 1

NHỮNG TÌM HIỂU BAN ĐẦU CỦA TÔI VỀ KITÔ GIÁO

Tôi không thể tin rằng Giêsu là người con đầu thai duy nhất của Thượng Đế và chỉ có ai tin vào Giêsu mới có cuộc sống vĩnh hằng. Nếu Thượng Đế có thể có nhiều con, tất cả chúng ta đều là con của Người. Nếu Giêsu giống Thượng Đế, hoặc chính là Thượng Đế, thì tất cả con người đều giống Thượng Đế và có thể là chính Thượng Đế.

Lý trí của tôi không sẵn sàng để tin, theo nghĩa đen, rằng Giêsu đã chuộc tội của thế gian này bằng cái chết và bằng máu của mình. Nhưng nói nột cách ẩn dụ, trong đó có thể có một số sự thật.

Một lần nữa, theo Kitô giáo, chỉ có con người có linh hồn, còn những sinh vật khác thì không có linh hồn và cái chết của chúng có nghĩa là tiệt diệt hoàn toàn; trong khi tôi tin ngược lại.

Tôi có thể chấp nhận Giêsu là một vị tử đạo, một hiện thân của hiến sinh và một người thầy thiêng liêng, nhưng không phải là người hoàn hảo nhất từng được sinh ra. Cái chết của Người trên Thập giá là một ví dụ vĩ đại cho thế giới, nhưng trái tim tôi không thể chấp nhận là có bất cứ điều gì như một đức hạnh bí ẩn và thần diệu trong đó.

Đời sống ngoan đạo của các Kitô hữu không cho tôi thấy bất cứ điều gì mà những người có những đức tin khác không làm được. Tôi đã thấy trong đời sống của những người khác những hoán cải mà tôi đã được nghe trong các Kitô hữu.

Về mặt triết học, không có gì phi thường trong các nguyên lý Kitô giáo. Từ cái nhìn về sự hiến sinh, dường như đối với tôi, người Ấn giáo đã vượt qua các Kitô hữu rất nhiều. Tôi không thể coi Kitô giáo là một tôn giáo hoàn hảo hay vĩ đại nhất trong tất cả các tôn giáo.

Trích Gandhi Tiểu sử tự thuật – An Autobiography, năm 1958, trang 98-99

CHƯƠNG 2

BÀI GIẢNG TRÊN NÚI

Tôi đã không thể đọc hết tập Cựu Ước. Tôi đã đọc cuốn Sáng Thế Ký, và những chương tiếp theo khiến tôi rất buồn ngủ. Vì chỉ muốn nói là tôi đã đọc Cựu Ước, tôi đã lê lết qua các cuốn khác trong Cựu Ước với nhiều khó khăn và không hề có hứng thú hay hiểu biết nào. Tôi không thích đọc cuốn Dân Số.

Nhưng Tân Ước tạo ra một ấn tượng khác, đặc biệt là Bài Giảng Trên Núi đi thẳng vào trái tim tôi. Tôi đã so sánh bài giảng đó với Bhagavad Gita [gọi tắt là Gita, một trường ca cổ tiếng Phạn, còn được gọi là Bài ca của Thượng Đế – The song of God].

Những câu, “Nhưng thầy nói với anh em, anh em không chống lại kẻ ác: hễ ai đánh vào má phải, thì giơ ra má trái cho họ luôn. Và hễ ai lấy áo trong của anh em, hãy để họ lấy luôn cả áo choàng,” khiến tôi vui sướng khôn tả, và đưa tôi vào tâm trí của Shamal Bhatt [một nhà thơ Ấn Độ thời trung cổ] “Nhận một bát nước, cho lại một bữa tiệc”, v.v …

Trích Gandhi Tiểu sử tự thuật – An Autobiography, năm 1958, trang 49

Tôi đã không thể thấy bất cứ khác biệt nào giữa Bài giảng trên Núi và trường ca Bkagavad Gita. Những gì Bài giảng mô tả theo phương cách đồ họa, thì Bkagavadgita rút gọn thành một công thức khoa học. Gita có thể không phải là một cuốn sách khoa học theo nghĩa được chấp nhận của thuật ngữ “khoa học”, nhưng Gita thảo luận sâu sắc một cách khoa học về luật tình yêu – luật đầu hàng như tôi gọi. Bài giảng trên Núi đưa ra luật tương tự bằng ngôn ngữ tuyệt vời.

Tân Ước mang đến cho tôi sự thoải mái và niềm vui vô biên, vì cuốn sách xuất hiện sau những đáng ghét mà nhiều phần của Cựu Ước đã mang lại cho tôi. Hôm nay, giả như tôi bị lấy mất cuốn Gita và quên tất cả nội dung trong đó nhưng vẫn có một bản sao của Bài giảng trên Núi, tôi sẽ nhận được niềm vui tương tự như tôi có được từ Gita.

Trích báo Young Indian, 22-12-1927

Giêsu Kitô, một Nghệ sĩ Tối cao

Sự thật là điều đầu tiên được tìm kiếm, Vẻ đẹp và Điều lành sẽ được mang đến cho bạn. Giêsu, theo tôi, là một nghệ sĩ tối cao bởi vì Giêsu đã nhìn thấy và bày tỏ Sự thật; và Tiên tri Mahomed cũng vậy, Koran là tác phẩm hoàn hảo nhất trong toàn bộ văn học Ả Rập – dù sao thì đó cũng là điều các học giả nói. Chính vì cả hai cuốn sách đều cố gắng trước tiên vì Sự thật, mà cách diễn tả đầy ân sủng đến rất tự nhiên, dù cả Giêsu và Mahomed đều không dùng nghệ thuật viết. Đó là Sự thật và Vẻ đẹp mà tôi khao khát, sống vì đó, và sẵn sàng chết vì đó.

Trích báo Young Indian, 20-1 1-1924

GIÊSU (theo Tin Mừng của Luke, chuyển ngữ Tin Lành). Phim này đã đươc chuyển ngữ sang hơn 1 ngàn thứ tiếng từ khi được ra mắt năm 1979, và là phim được chuyển ra nhiều thứ tiếng nhất và được xem nhiều nhất trong lịch sử thế giới.

JESUS (film full)
A docudrama on the life of Jesus Christ based on the Gospel of Luke, JESUS has been translated into more than 1,000 languages since its 1979 release. It remains the most translated and viewed film in history.

CHAPTER 3

WHY I AM NOT A CONVERT TO CHRISTIANITY

Though I admire much in Christianity, I am unable to identify myself with orthodox Christianity…Hinduism as I know it entirely satisfies my soul, fills my whole being, and I find a solace in the Bhagavadgita and Upanishads that I miss even in the Sermon on the Mount. Not that I do not prize the ideal presented therein; not that some of the precious teachings in the Sermon on the Mount have not left a deep impression upon me, but I must confess… that when doubt haunts me, when disappointments stare me in the face, and when I see not one ray of light on the horizon, I turn to the Bhagavadgita, and find a verse to comfort me; and I immediately begin to smile in the midst of overwhelming sorrow. My life has been full of external tragedies, and if they have not left any visible and indelible effect on me, I owe it to the teachings of the Bhagavadgita.

Young India, 6-8-1925

 

 

There is nothing in the world that would keep me from professing Christianity or any other faith, the moment I felt the truth of and the need for it. Where there is fear there is no religion…. If I could call myself, say, a Christian, or a Mussalman, with my own interpretation of the Bible or the Koran, I should not hesitate to call myself either. For then Hindu, Christian and Mussalman would be synonymous terms.

Young India, 2-9-1926

 

Though I cannot claim to be a Christian in the sectarian sense, the example of Jesus’ suffering is a factor in the composition of my undying faith in non- violence which rules all my actions, worldly and temporal.

Harijan, 7-1-1939

CHƯƠNG 3

TẠI SAO TÔI KHÔNG CẢI ĐẠO SANG KITÔ GIÁO

Mặc dù tôi ngưỡng mộ Kitô giáo rất nhiều, tôi không thể tự nhận mình là người Kitô giáo chính thống… Ấn Độ giáo như tôi biết hoàn toàn thỏa mãn tâm hồn tôi, làm đầy toàn bộ con người tôi, và tôi tìm thấy an ủi trong Bhagavadgita và Upanishads, điều mà tôi không tìm thấy ngay cả trong Bài giảng trên núi. Điều đó không có nghĩa là tôi không đề cao lý tưởng của Bài giảng; cũng không phải là một vài lời dạy quý giá trong Bài giảng không để lại ấn tượng sâu sắc với tôi, nhưng tôi phải thú nhận rằng … khi hoài nghi ám ảnh, khi thất vọng trực diện, và khi tôi không thấy một tia sáng nào phía chân trời, tôi quay sang Bhagavadgita và tìm một câu để an ủi mình; và tôi ngay lập tức bắt đầu mỉm cười giữa nỗi buồn quá lớn. Cuộc sống của tôi đầy rẫy những bi kịch bên ngoài, và nếu những bi kịch đó chưa từng để lại bất cứ ảnh hưởng hiển hiện và không thể xoá được trong tôi, là do tôi mang nợ những lời dạy của Bhagavadgita.

Trích báo Young Indian, 6-8-1925

Không có gì trên thế gian khiến tôi không tuyên xưng Kitô giáo hay bất cứ đức tin nào khác, ngay khi tôi cảm nhận được sự thật và sự cần thiết của đức tin đó. Ở đâu có sợ hãi thì không có đức tin…. Nếu tôi có thể tự gọi mình là một người Kitô giáo hay một người Hồi giáo, với sự giải thích của riêng tôi về Kinh Thánh hoặc Kinh Koran, thì tôi không ngần ngại tự gọi mình như thế. Bởi vì khi đó Ấn Độ giáo, Kitô giáo và Hồi giáo chỉ là các thuật ngữ đồng nghĩa.

Trích báo Young Indian, 2-9-1926

Mặc  dù tôi không thể tự nhận mình là Kitô hữu theo nghĩa giáo phái, nhưng hình mẫu về nỗi thống khổ của Giêsu là một yếu tố tạo nên niềm tin bất diệt của tôi vào bất bạo động, niềm tin đó chi phối mọi hành động của tôi, trần tục và tạm thời.

Trích báo Harijan, 7-1-1939

 

Trí tuệ tâm linh trong thờ phụng

Chào các bạn,

Không ít lần mình bắt gặp có bạn nói mấy chuyện kiêng kị buồn cười đại loại như: con gái đến ngày kinh nguyệt thì không được đi chùa, vì không thanh tịnh; đầu năm thì không ăn mực vì đen đủi; em là người Công giáo, không đi nhà thờ hàng tuần sợ Chúa quở… Đôi khi nghe được, mình hỏi lại cho vui, “Em có biết vì sao lại phải thế không?” Các bạn trả lời kiểu, “Em thấy bảo thế thì mình làm theo thôi”, hay là “cũng chả biết, có kiêng có lành”. Mình rất là choáng váng thậm chí cả các thầy chùa cũng không khá hơn. (Mời đọc bài mình đã nói về vấn đề kinh nguyệt con gái, phụ nữ ở đây, và ở đây.) Đọc tiếp Trí tuệ tâm linh trong thờ phụng

Nhà trọ

Nhà trọ

Con người này là một nhà trọ.
Mỗi sáng đến một khách mới.

Vui, buồn, dữ tợn,
một ý thức thoảng qua nào đó đến
như một vị khách bất ngờ.

Hãy chào đón và tiếp đãi tất cả!
Thậm chí khi cả một đám muộn phiền,
bạo tàn càn quét nhà bạn
lấy rỗng đồ đạc,
hãy cứ đối xử với mỗi vị khách đầy trân trọng.
Vị đó có thể đang dọn rỗng bạn
cho một niềm vui mới. Đọc tiếp Nhà trọ

Hai phần ba con sông trên thế giới không còn được chảy tự do nữa

  • Chỉ một phần ba trong số 242 con sông dài nhất thế giới vẫn có dòng chảy không gián đoạn suốt chiều dài, đa số các con sông không gián đoạn nằm ở những vùng hẻo lánh ở Bắc Cực, lưu vực sông Amazon, và lưu vực sông Congo, theo như một nghiên cứu sắp xuất bản trên tạp chí Nature.
  • Nhóm chuyên gia quốc tế thực hiện nghiên cứu này, dẫn đầu bởi Gunther Grill thuộc ĐH McGill (Canada) xác định rằng trong số 91 con sông có chiều dài hơn 1000 ki-lô-mét (khoảng 600 dặm) đổ ra biển, chỉ còn 21 dòng vẫn có dòng chảy không bị cản trở từ thượng nguồn ra đến biển.
  • Các con đập và những hồ đập chứa nước là nguyên nhân lớn nhất cản trở dòng chảy của sông, các nhà nghiên cứu tuyên bố. Hiện tại trên thế giới đã có gần 60000 đập lớn, và có đến 3700 đập thủy điện lớn nữa đang trong quá trình lên kế hoạch hoặc đang xây dựng.
  • Những con sông khỏe mạnh mang lại nhiều lợi ích cho con người, từ hoạt động vui chơi đến đảm bảo lương thực. Đảm bảo sự liên kết của những con sông tự do còn lại trên thế giới cũng mang tính tối quan trọng để bảo tồn đa dạng sinh học của những hệ thống nước ngọt.

(Công trình đập thủy điện, Souanké, CH Congo. Thị trấn Sembé sẽ nhận điện từ Đập thủy điện Liouesso có công suất 19 MW này. Vì mạng lưới điện tập trung vẫn chưa có mặt ở khu vực này của Congo, các thị trấn thường phụ thuộc vào máy phát điện chạy dầu diesel. Ảnh: Jaap van der Waarde / WWF-Netherlands)

Đọc tiếp trên CVD >>