Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, ấy là biết vậy” — Khổng Tử

 

Khổng Tử - họa sĩ Ngô Đạo Từ, đời nhà Đường

Khổng Tử, còn gọi là Khổng Phu Tử, (551 – 479 TCN) là một nhà tư tưởng, triết gia, chính khách nổi tiếng của Trung quốc, có ảnh hưởng rộng lớn và sâu đậm với Trung quốc và các quốc gia Đông Á—Nhật, Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Việt Nam. Những khái niệm căn bản trong luân lý con người như tam cương (vua tôi, cha con, chồng vợ), ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín), các khái niệm về “người quân tử”, các khái niệm về “trung dung”—chừng mực trong mọi điều–là những mẫu mực sống cho những nền văn hóa ảnh hưởng “Khổng giáo” trong hơn 2000 năm.

Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, sinh và sống vào thời Xuân thu trong lịch sử Trung quốc. Ông sinh trong một gia cảnh nghèo, dù là gia tộc vốn có dòng quan. Năm lên ba, Khâu mồ côi cha, lớn lên, phải làm lụng vất vả để nuôi mẹ, nhưng rất ham học. Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho, xuất nạp tiền lương. Ông cũng từng đảm nhiệm chức quan nhỏ chuyên quản lý nông trường chăn nuôi, súc vật sinh trưởng rất tốt. Nhờ vậy ông được thăng chức lên làm quan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình. Năm 22 tuổi, ông mở lớp dạy học. Học trò gọi ông là Khổng Phu Tử, hay gọi gọn hơn là Khổng Tử. ‘Tử’ ngoài ý nghĩa là ‘con’ ra còn có nghĩa là “Thầy”. Do vậy Khổng Tử là Thầy Khổng.

(more…)

Những cành mai xa xứ

Nguyễn Hữu Vinh, mùa đông Tân Trúc, Ðài Loan

Trong cuộc đời phiêu lãng của mình, tôi đã ấp ủ nhiều kỹ niệm về loài hoa mai. Dù bây giờ quê hương ở đó…muốn về về cũng được, sông Hương còn đó có ai giành…(1), nhưng… mỗi năm trong những lúc trời xuân sắp trở lại, thì cứ văng vẳng nghe trong lòng tiếng cười vui của cha mẹ, anh em, quây quần dưới ngôi nhà vườn đầy nụ xanh non, có cội mai già mảnh khảnh, lốm đốm điểm những nụ mai vàng vừa hé. Hình ảnh cô bạn gái nhỏ áo trắng năm xưa cũng hiện về trước mắt, đạp chiếc xe đạp đến chơi dựng kề dưới gốc cây mai trước hiên nhà. Cũng vậy, chiếc thiệp chúc tết của nàng năm xưa nay vẫn còn trong cặp, cành hoa mai trên thiệp lụa đã phai màu cũng còn cười bên hàng chữ…năm năm rồi cũng sẽ không lâu đâu…! Mỗi lần nhìn lại cánh thiệp xuân in hình đóa mai vàng đó, trong lòng lại cảm xúc đến rưng rưng. Không có gì mang đến cho tôi ý niệm mùa xuân trọn vẹn hơn khi nâng trên tay một đóa mai vàng.

Đành rằng mỗi loài hoa có một vẻ đẹp, một màu sắc và ý nghĩa riêng, nhưng sao giữa thế giới hoa xuân muôn hồng nghìn tía, tôi vẫn yêu hoa mai, nhất là loài mai vàng. Có lẽ hình ảnh đóa mai vàng đã hằn sâu vào ký ức tôi, vượt ra ngoài khuôn khổ cách đánh giá về cái đẹp thường tình để nghiễm nhiên trở thành biểu tượng của những gì thương yêu, thanh cao, giản dị và thân thiết.

(more…)

Về Tháp Phước Duyên của Chùa Linh Mụ

Nguyễn Hữu Vinh biên soạn 

Chùa Linh Mụ gắn liền với Huế như hai mà một. Ngôi chùa như là máu thịt của Huế, là biểu trưng của Huế, là hồn của Huế, là là Huế. Ngôi chùa trầm nhiên, tự tại trong lòng người dân Huế, tự nhiên như cơm ăn áo mặc. Cho nên đôi lúc, người dân Huế đã quên, đã nhớ ngôi chùa như chuyện thường ngày tưởng như không có một chút gì xao động trong cõi lòng. Nhưng trong tiềm thức, ngôi chùa vẫn đã và đang sống âm thầm, mãnh liệt, là nguồn năng lực cho mỗi con tim khi mỗi người con Huế trở về với Huế trong cuộc sống thường ngày, hay trở về với Huế trong tâm tưởng của những người con Huế xa nhà. Tôi là một trong những kẻ đã quên, đã nhớ ngôi chùa, bình thường như đã quên, đã nhớ chuyện ăn cơm, uống nước. Huế và chùa Linh Mụ đã cho tôi quá nhiều, tôi làm sao quên được. Tôi may mắn được sinh ra và lớn lên dưới bóng tháp của ngôi chùa ngày ngày êm ả soi mình xuống dòng sông thơ mộng đó. Và đã trưởng thành trong xóm làng bên ngôi chùa thân yêu này. Tôi ngày ngày ngẩn đầu nhìn bóng tháp, đêm đêm nghe tiếng chuông vọng lại. Đối với tôi, chùa là nhà, là vườn, là hơi thở, là những gì thân yêu nhất của tôi. Do vậy, chùa Linh Mụ trong tiềm thức của tôi là một cái gì không thể thiếu và tự nhiên. Nếu nói, tôi đã quên ngôi chùa thì cũng như tôi đã quên rằng tôi đã hít thở không khí, thì chuyện quên nhớ này cũng đáng được thứ lỗi lắm thay!

(more…)

Hoà Thượng Thạch Liêm, chúa Nguyễn Phúc Chu và chùa Thiên Mụ

Nguyễn Hữu Vinh biên soạn

Kể từ khi vết tích của chùa Thiên Mụ được ghi lại đơn sơ trong sách Ô Châu Cận Lục vào năm 1553 (1), chùa đã tồn tại gần 450 năm cho đến ngày nay. Dù trải qua bao nhiêu cuộc bể dâu, chùa vẫn giữ được địa vị và vẫn đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống đạo và đời của dân Huế, nói riêng, và của dân cả nước, nói chung.  Qua đầu thế kỷ 17, chùa đã thực sự đi vào lịch sử sau khi Nguyễn Hoàng vào xứ đàng trong để gây dựng cơ nghiệp đế vương với huyền thoại “bà tiên mặc áo đỏ”.

(more…)

Lĩnh Nam Chích Quái – Lời Cuối

Qua tổng cộng 41 truyện, chúng ta thấy Lĩnh Nam Chích Quái là một kho tàng tâm linh, triết lý, văn hóa, và tâm l‎ý Việt. Các truyện này nói đến tư duy của người Việt từ thuở xa xưa về nguồn gốc, sứ mệnh, lối sống và mơ ước của mình. Thần thoại là trình bày bề mặt, nằm ẩn bên sau huyền thoại là những nghĩa l‎ý vừa triết lý vừa thực dụng, như tất cả các các phẩm lớn khác của nhân loại trong mọi nền văn hóa cổ.

Vấn đề của chúng ta là giải mã những huyền thoại đó cho cuộc sống của ta hôm nay. Huyền thoại là những cây cổ thụ luôn luôn sống với thời gian và nghĩa l‎ý của huyền thoại luôn luôn thay đổi theo thời gian, để chiếc áo xưa luôn luôn có thể là chiếc áo mới khít khao vừa vặn và sắc màu với đời sống hôm nay.

(more…)

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Phạm Tử Hư

Lều chõng đi thi

Vào thòi Lý Huệ Tông (1), có người tên Tử Hư ở xã Nghĩa Lư, huyện Cẩm Giàng, gia đình bần hàn, dời nhà sang sinh sống ở làng Hoa Phong. Lúc nhỏ mồ côi, theo thầy là Dương Trạm (tự là Công Trực), Tử Hư rất ham học, thông minh, hiếu kính và vâng lời dạy bảo của thầy.

Khi Công Trực mất, con còn nhỏ dại, không có tiền để làm đám tang. Tử Hư về nói với mẹ rằng: “Nhà thầy nghèo, con cái còn bé. Nhà ta còn được mấy mẫu ruộng?”. Mẹ nói: “Nhà ta để lại cho con tất cả 6 sào ruộng”. Tử Hư vừa khóc vừa xin với mẹ rằng: “ Xin mẹ đem bán đi 2 sào, lấy tiền giúp đỡ nhà thầy”. Bà mẹ cũng khóc theo, rồi đem bán 2 sào ruộng được tất cả 30 quan tiền. Tử Hư liền đem đến giúp đỡ việc tang ma. Lại cho dựng lều bên mộ thầy, ngày đêm hương đèn cúng vái xong đến 3 năm mới trở về nhà.

(more…)

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Ni sư Đức Hạnh

Sư bà ở Thanh Lương họ Phạm, một gia tộc ở đất Giao Chỉ. Bà xuất gia tu hành ở đất Thanh Lương, giả trang để tu khổ hạnh, tu hành tinh tấn cần mẫn, thông suốt đạo mầu. Bà thường hay thiền định, có đạo cốt trông giống như các vị La Hán, nên có nhiều thiện nam tín nữ xa gần đều ngưỡng mộ, tôn bà lên bậc tôn sư ngang hàng với các vị cao tăng đức hạnh. Năm Hồng Vũ (1), vào đời vua Trần Nghệ Tông bà được sắc phong làm Huệ Thông Đại Sư, sống ở núi Vọng Đông.

Một ngày kia, bà bỗng nhiên nói với đệ tử rằng: “Ta muốn lấy thân xác ta cho cọp, beo”. Rồi một buổi chiều, bà lên núi ngồi thiền trên một tảng đá, tuyệt thực nhiều ngày. Cọp beo ngày ngày vây quanh, nhưng đều không dám động đến bà. Sau đó, các đệ tử khẩn cầu bà trở về am tu, thuyết pháp cho mọi người nghe. Xong, bà viên tịch, hưởng thọ được hơn 80 tuổi. Sau lễ Trà tì, có nhiều Xá lợi để lại, được quan sở tại dựng chùa cất giữ, thờ phụng.

(more…)

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Thần Châu Long Vương

Người đời truyền nhau răng Thần chính là tinh của thần Viêm Quân.

Xưa, ở làng Kiêu Hãn, huyện Hồng Lộ, có hai anh em họ Đặng, một người tên Thứ, một người tên Xạ. Cả hai đều làm nghề đánh cá. Một hôm, trông thấy một vật lạ, hình dạng như khúc gỗ, dài độ ba thước, màu sắc như trứng chim, theo thủy triều dạt tới. Họ nhặt lấy đem về. Đêm đến, bỗng nhiên nghe trong khúc gỗ có tiếng nói như hai người đang trò chuyện với nhau, hai người hoảng sợ, lại đem vứt xuống dòng sông rồi dời thuyền đến bãi khác để nghỉ. Sau, hai người mơ thấy có người đến nói: “Tôi vốn phi tần của Đông Hải Long vương. Trước kia, vì giao hoan với Viêm Quy, sợ Đông Hải Vương biết được, cho nên gửi cho các ông trông giữ, chớ để vật khác chạm phải. Sau này, nó trưởng thành nhất định sẽ ban phước cho, đừng có lo gì khác”.

(more…)

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện thần Uy Hiển Bạch Hạc

(Đền thờ ở Sông Tam Hiệp, huyện Bạch Hạc)

Đền Tây Tựu, huyện Từ Liêm, Hà Nội

Theo truyện Giao Châu ký của Triệu Công thì thần hiệu là Thổ Lệnh. Năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, Lý Thường Minh khi mới đến nhiệm sở làm Đô đốc Phong Châu, thấy sông núi nơi đây kỳ vĩ, liền cho dựng đền có ba bức tượng để thờ. Trước đền định chạm đúc tượng thần hộ pháp. Vì chưa biết linh ứng thế nào, nên thắp hương khấn rằng: “Các vị thần ở đây, nếu hiển linh, xin mau hiện hình để khắc làm tượng”. Đêm ấy, Thường Minh mơ thấy hai người, dáng vẻ tuấn nhã, mỗi người đều mang theo quân lính, gọi nhau đến trước màn trướng. Thường Minh hỏi :”Các ông tên họ là gì?”. Một người trả lời tên là Thổ Lệnh, người kia tên là Thạch Khanh”. Thường Minh muốn hai người thi đấu tài năng, ai thắng sẽ đứng trước. Thạch Khanh nhảy tót sang bờ sông bên kia, đã thấy Thổ Lệnh ở bên đó rồi. Thạch Khanh lại nhảy sang bờ bên này, lại thấy Thổ Lệnh ở bờ bên này rồi. Thế nên Thổ Lệnh đứng trước. Pho tượng uy linh, người trong châu kính cẩn thờ phụng, làm phúc thần nơi ngả ba sông.

(more…)

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện thần Thổ địa Đằng Châu

Cung cấm Đền Mây thờ 3 pho tượng: Phạm Bạch Hổ (bên phải), Phu nhân (bên trái) và Thánh mẫu (ở giữa)

Theo Sử ký của Đỗ Thiện thì thần vốn là thần thổ địa ở miếu cổ đất Đằng Châu. Xưa ,vào cuối thời Lê Ngọa Triều, Lý Thái Tổ chưa lên ngôi, nắm giữ binh quyền, được phong thực ấp ở đất Đằng. Một hôm,ông đi chu du tới đó, bỗng gặp mưa to, gió lớn nổi lên, liền quay lại hỏi mọi người: “Bên bờ sông là đền thờ thần nào, có linh nghiệm không?”. Người trong thôn trả lời :”Đây là đền cổ thờ thổ thần châu Đằng, dân cầu mưa thì được mưa, rất linh nghiệm”. Thái Tổ nghiêm giọng nói: “Nếu có được trận mưa gió này, nhưng bên kia sông thì tạnh nắng mới là linh nghiệm”. Một lát sau, một bên sông thì tạnh, còn một bên sông thì mưa. Vua lấy là lạ, mới cho sửa chữa lại đền thờ và đốt hương cầu mưa. Có người trong làng làm bài thơ ca ngợi như sau (1):

(more…)

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Xung Thiên Chiêu Ứng Thần Vương

Đền Thánh Gióng, núi Sóc


Theo truyện ký Cổ Pháp và bia Kỷ Đức thì Vương vốn là thổ thần của chùa Kiến Sơ. Xưa, làng Phù Đổng dựng am thần thổ địa ở các hòn đá ở cửa chùa. Sau, để làm nơi tụng kinh, các sư đem dời đi chỗ khác và bị mất dấu, tìm mãi không thấy. Người làng cho là đã thành thần, theo tục lệ mà cầu khẩn.

Khi thiền sư Đa Bảo (1) trùng tu chùa, thấy chùa không được đàng hoàng, không tiện lợi cho việc hoằng pháp, định dời chùa đi chỗ khác. Một hôm, thấy thần đề thơ ở cây trong chùa sau: (2)

Phép Phật thật bao la,
Đất chùa để cho ta
Nếu không cùng nòi giống ,
Đã sớm rời đi xa
Nếu chẳng thân Hộ Pháp
Dám ai cưỡng việc chùa
(3)

(more…)

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện thần đá Cao Lỗ

Theo sách Sử ký của Đỗ Thiện thì thần họ Cao, tên Lỗ, là tôi hiền của An Dương Vương. Tục gọi là Thần đá Cao Lỗ, vốn là tinh của Thạch Long.

Nỏ liên hoàn


Xưa, Cao Biền đánh chiếm Nam Chiếu xong, đi tuần tới châu Vũ Ninh, nằm mộng thấy một người thân cao 9 thước, mặt mày gân guốc, mắt xếch, mày ngài, mặc áo đỏ, thắt đai lưng, đến yết kiến. Biền hỏi: “Thần nhân là ai”, đáp rằng: “Ta là Cao Lỗ, làm tướng theo phò An Dương Vương, thường có công lớn, bị Lạc Hầu gièm pha, phải về (1). Sau khi chết, Thượng đế thương ta trung trực, cho trông coi một dải núi sông, trông coi các vị tướng quân khác, chống giặc Nam Chiếu, bảo vệ mùa màng, là phúc thần ở đây. Nay thấy ông đi dẹp giặc, bờ cõi bình yên. Ta nếu không tới gặp thì e thất lễ vậy”.

(more…)

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện thần Minh Ứng Yên Sở Lý Phục Man

(Đền ở huyện Đan Phượng, xã Yên Sở. Nay xã Châu Sở, huyện Đông Yên hằng năm còn thờ phụng, tế lễ, tôn thần làm Thượng Đẳng thần)

Quán Giá, đền thờ Lý Phục Man ở huyện Hoài Đức, Hà Nội


Theo sách Sử Ký của Đỗ Thiện thì Vương họ Lý, tên Phục Man, người làng Yên Sở. Vua Lý Thái Tổ đi tuần tới bến đò Cổ Sở, thấy sông núi tươi đẹp, cảm xúc, rồi lấy rượu khấn rằng: “Trẫm thấy phong cảnh nơi này xinh đẹp, nếu có thần linh hạo khí thì xin nhận rượu của Trẫm”. Đêm đến, vua nằm mộng thấy một người cao lớn, vạm vỡ, đến lạy tạ nói rằng: “Thần là người làng này, tên là Lý Phục Man, làm tướng thờ vua Lý Nam Đế. Trung thành với vua, được coi giữ một vùng giang sơn của đất Đường Lâm và Đỗ Động, để dân sống yên ổn, man mọi không dám cướp phá. Sau khi thần mất, Thiên đế khen thần trung thành, cho thần giữ chức vụ như cũ. Thần thường dẫn quỉ binh đánh giặc. Thần sống ở đây đã được nhiều năm rồi. Nay, may được bệ hạ tiếp đãi. Xin biết cho thần giữ chức ở đây cũng đã lâu lắm rồi”. Lại than rằng: “Dân tình nay mê muội, Trung thần thì giấu mặt, Giữa trời trăng sáng tỏ, Ai thấy được hình chân”. Nói xong bay lên trời mà đi.

(more…)

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Đại Thần Vương Hồng Thánh

Đình Lương Sử thờ Phạm Cự Lượng ở Hà Nội

Theo sách Sử ký thì Vưong họ Phạm, tên là Cự Lượng.

Thời Lý Thái Tông (1), vì phủ Đô hộ (2) có nhiều vụ án còn tồn nghi, các quan Sĩ Sư (3) không xử được minh bạch, vua lập bài vị trong miếu thờ ở ngục thất, nhờ uy của thần linh để cho những kẻ tham lam, dối trá phải sợ sệt. Bèn đốt hương thơm, tắm rửa sạch sẽ, cầu đảo với thượng đế. Đêm đến, vua mộng thấy một sứ giả mặc áo đỏ nói rằng: “Thượng Đế có lệnh, cho Phạm Cự Lượng làm minh chủ ở phủ Đô hộ”. Vua hỏi rằng: “Người đó là ai? Có chức vụ gì, làm quan ở đâu?”. Sứ giả trả lời: “Đó là viên Thái Úy họ Phạm của Vua Lê Đại Hành, là người hết lòng trung thành với vua. Đến khi mất, Thượng Đế xét thấy có công, bổ vào làm Trung Ty Thượng Thư. Theo như trật cũ, đứng đầu việc xét xử các nghi án trong dân gian”. Nói xong thì biến mất.

(more…)

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Trinh Liệt Phu Nhân Mỵ Ê

Phu nhân chưa rõ họ là gì, tên là Mỵ Ê, là phi tần của Sạ Đẩu (1), chúa nước Chiêm Thành. Thời Vua Lý Thái Tông, Chiêm Thành không theo lễ triều cống, vua bèn xuất quân đi đánh. Sạ Đẩu đem quân chống giữ ở Bố Chánh. Sau bị vua Thái Tông đánh bại. Sạ Đẩu chết tại trận. Vua bắt vợ con Sạ Đẩu đem về. Đến sông Hoàng, vua sai Trung sứ gọi Mỵ Ê đến chầu ở thuyền rồng. Mỵ Ê oán giận, dùng chăn trắng quấn quanh người, nhảy xuống sông tự tử. Từ đó về sau, mỗi buổi sương khuya, trăng lạnh thường nghe tiếng khóc than ai oán. Dân chúng nghe thấy, lập đền thờ phụng.

(more…)