Các bài đăng bởi Nguyễn Hữu Vinh

Trúc Lâm Đạo Sĩ xuất sơn đồ

Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 8

Hội thứ tám

 

CƯ TRẦN LẠC ĐẠO PHÚ

Đệ bát hội

Chưng ấy
Chỉn xá tua rèn, chớ nên tuyệt học.
Lay ý thức, chớ chấp chằng chằng.
Nén niềm vọng, mựa còn xóc xóc.
Công danh mảng đắm, ấy toàn là những đứa ngây thơ.
Phước tuệ kiêm no, chỉn mới khá nên người thật cóc.
Dựng cầu đò, giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu.
Cương hỷ xả, nhuyễn từ bi, nội tự tại kinh Lòng hằng đọc.
Rèn lòng làm Bụt, chỉn xá tua một sức dồi mài.
Ðãi cát kén vàng, còn lại phải nhiều phen lựa lọc.
Xem kinh đọc lục, làm cho bằng thửa thấy thửa hay.
Trọng Bụt tu thân, dùng mựa lỗi một tơ một tóc.
Cùng nơi ngôn cú, chỉn chăng hề một phút ngại lo.
Rất thửa cơ quan, mựa còn để tám hơi đụt lọt.

Đọc tiếp

Trúc Lâm Đạo Sĩ xuất sơn đồ

Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 7

Hội thứ 7
 

Cư Trần Lạc Đạo Phú

Đệ thất hội

 
Vậy mới hay,
Pháp Bụt trọng thay, rèn mới cóc hay.
Vô minh hết, bồ đề thêm sáng.
Phiền não rồi, đạo đức càng say.
Xem phỏng lòng kinh, lời Bụt thuyết dễ cho thấy dấu.
Học đòi cơ Tổ, sá thiền không khôn tột biết nay.
Cùng căn bản, tả trần duyên, mựa để mấy hào li đương mặt.
Ngã thắng tràng, viên tri kiến, chớ cho còn hoạ trữ cong tay.
Buông lửa giác ngộ, đốt hoại bỏ rừng tà ngày trước.
Cầm kiếm trí tuệ, quét cho không tính thức thuở nay.
Vâng ơn thánh, xót mẹ cha, thờ thầy học đạo.
Mến đức Cồ, kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay.
Cảm đức từ bi, để nhiều kiếp nguyền cho thân cận.
Ðội ơn cứu độ, nát muôn thân thà chịu đắng cay.
Nghĩa hãy nhớ, đạo chẳng quên, hương hoa cúng xem còn nên thảo.
Miệng rằng tin, lòng lại lỗi, vàng ngọc thờ cũng chửa hết ngay.
Đọc tiếp

Trúc Lâm Đạo Sĩ xuất sơn đồ

Cư trần lạc đạo phú – Hội 6

hội thứ 6

Cư Trần Lạc Đạo Phú

Đệ lục hội

Thực thế!
Hãy xá vô tâm, tự nhiên hợp đạo.
Đình tam nghiệp, mới lặng thân tâm.
Ðạt một lòng, thì thông Tổ giáo.
Nhận văn giải nghĩa, lạc lài nên Thiền khách bơ vơ.
Chứng lý tri cơ, cứng cát phải nạp tăng khôn kháo.
Han hữu lậu, han vô lậu, bảo cho hay: the lọt, duộc thưng.
Hỏi Ðại thừa, hỏi Tiểu thừa, thưa thẳng tắt: lòi tiền, tơ gáo.
Nhận biết làu làu lòng vốn, chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên.
Chùi cho vặc vặc tính gương, nào có nhuốm căn trần huyên náo.
Vàng chưa hết quặng, xá tua chín phen đúc, chín phen rèn.
Lộc chẳng còn tham, miễn được một thì chay, một thì cháo.
Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ Tát trang nghiêm.
Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung háo.
Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân.
Học đạo thờ thầy, rục xương óc chưa thông của báo.
 
Đọc tiếp

Trúc Lâm Đạo Sĩ xuất sơn đồ

Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 5

    Ghi chú: Tấm ảnh bên trên là Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ, nghĩa là “tranh vẽ Trúc Lâm Đại Sĩ xuất núi”. Đây là tên của một tác phẩm hội họa khổ rộng của Việt Nam vào thời Trần. Trước đây bức họa được cho là của Trần Giám Như, một họa sư đời Nguyên. Nhưng dựa vào giám định của bảo tàng Liêu Ninh, được đề cập trong cuốn “Ngàn năm áo mũ”, thì chắc chắn bức tranh không phải do Trần Giám Như thực hiện. Ngoài ra dựa vào những lời đề bạt sau bức tranh, thì khả năng rất cao là của một họa sĩ Việt Nam [cần dẫn nguồn]. Tác phẩm là họa phẩm tranh thủy mặc kết hợp nghệ thuật thư pháp đặc sắc, nó miêu tả cảnh Trúc Lâm đại sĩ (tức Trần Nhân Tông) từ động Vũ Lâm xuất du. Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ được vẽ trên một trường quyển (长卷) có kích thước 961×28 cm.

    Năm 1922, bức thư họa được hoàng đế Phổ Nghi bí mật đưa ra ngoài và lưu lạc cho đến năm 1949 mới được đem về cất giữ tại Bảo tàng Liêu Ninh, thành phố Thẩm Dương. Cho đến trước tháng 4 năm 2012 những gì được biết về bức thư họa vẫn chỉ là những lời miêu tả, ghi chép trên văn bản. Vào tháng 4 năm 2012, trong một cuộc đấu giá, bản phục chế của bức thư họa được bán với giá 1,8 triệu đô la Mỹ. Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C3%BAc_L%C3%A2m_%C4%90%E1%BA%A1i_s%C4%A9_xu%E1%BA%A5t_s%C6%A1n_%C4%91%E1%BB%93

 

CTLD_5

 
Cư Trần Lạc Đạo Phú
Đệ ngũ hội

Vậy mới hay
Bụt ở cung nhà, chẳng phải tìm xa.
Nhân khuy bổn nên ta tìm Bụt, đến cóc hay chỉn Bụt là ta.
Thiền ngỏ năm câu, nằm nướng trong quê Hà hữu.
Kinh xem ba bận, ngồi ngơi mé nước Tân la
Trong đạo nghĩa, khoáng cơ quan, đà đụt lẫn trường Kinh cửa Tổ. Đọc tiếp

Trúc Lâm Đạo Sĩ xuất sơn đồ

Cư trần lạc đạo phú – Hội 4

ctld_4

 

Đệ tứ hội

Tin xem,
Miễn cóc một lòng, thì rồi mọi hoặc.
Chuyển tam độc, mới chứng tam thân.
Ðoạn lục căn, nên trừ lục tặc.
Tìm đường hoán cốt, chỉn xá năng phục dược luyện đan.
Hỏi pháp chân không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc.
Biết Chân như, tin Bát nhã, chớ còn tìm Phật Tổ Tây Ðông.
Chứng thật tướng, ngộ vô vi, nào nhọc hỏi kinh Thiền Nam Bắc.
Xem Tam tạng giáo, ắt học đòi Thiền uyển thanh quy.
Ðốt ngũ phân hương, chẳng tốn đến chiên đàn chiêm bặc.
Tích nhơn nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca.
Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham, chỉn thật ấy là Di Lặc.
Đọc tiếp

Trúc Lâm Đạo Sĩ xuất sơn đồ

Cư Trần Lạc Đạo Phú – Hội 3

 
Hội 3

 

Đệ tam hội

Nếu mà cóc,
Tội ắt đã không, pháp học lại thông.
Gìn tính sáng, mựa lạc tà đạo.
Sửa mình học, cho phải chính tông.
Chỉn Bụt là lòng, xá ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ.
Vong tài đuổi sắc, ắt tìm cho phải thói Bàng công.
Áng tư tài, tính sáng chẳng tham, há vì ở Cánh Diều Yên Tử.
Răn thanh sắc, niềm đình chẳng chuyển, lọ chi ngồi am Sạn non Ðông.
Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc.
Sơn lâm chẳng cóc, hoạ kia thực cả đồ công.
Nguyền mong thân cận minh sư, quả bồ đề một đêm mà chín.
Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa ưu đàm mấy kiếp đơm bông.

Đọc tiếp

Trúc Lâm Đạo Sĩ xuất sơn đồ

Cư Trần Lạc Đạo Phú – hội 2

 
CTLD_2
 

Chào các bạn,

Đây là hội 2 của Cư Trần Lạc Đạo Phú của Trần Nhân Tông.

Ảnh bên trên là bản gỗ khắc của Hôi 2 bằng chữ Nôm. Dưới đây là phần dịch đọc Nôm ra chữ quốc ngữ và chú thích của Nguyễn Hữu Vinh. Sau đó là phần viết lại bằng tiếng Việt hiện đại và dịch sang tiếng Anh của Trần Đình Hoành.

Chúc các bạn vui hưởng.

Mến,

Hoành

Đọc tiếp

Trúc Lâm Đạo Sĩ xuất sơn đồ

Cư Trần Lạc Đạo Phú – Giới thiệu và Hội 1

 

Trần Nhân Tông
Trần Nhân Tông

Nguyễn Hữu Vinh

Trần Đình Hoành

Chào các bạn,

Thời đại Lý Trần là một khoảng thời gian huy hoàng trong lịch sử đất nước ta. Đây là 1 giai đoạn lịch sử oai hùng khi Đại Việt chiến thắng 3 lần tấn công liên tiếp của quân Mông cổ. Đây cũng là 1 giai đoạn văn chương Việt Nam phát triển rực rỡ, để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm văn chương rất có giá trị. Mộc bản khắc lại một phần các tác phẩm văn học thời này đã được khắc in và lưu giữ ở chùa Vĩnh Nghiêm, tỉnh Bắc Giang (1). Năm 2012 UNESCO đã chính thức ghi danh mộc bản này vào danh mục Di sản tư liệu ký ức thế giới.

Đọc tiếp

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, ấy là biết vậy” — Khổng Tử

 

Khổng Tử - họa sĩ Ngô Đạo Từ, đời nhà Đường
Khổng Tử, còn gọi là Khổng Phu Tử, (551 – 479 TCN) là một nhà tư tưởng, triết gia, chính khách nổi tiếng của Trung quốc, có ảnh hưởng rộng lớn và sâu đậm với Trung quốc và các quốc gia Đông Á—Nhật, Triều Tiên, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Việt Nam. Những khái niệm căn bản trong luân lý con người như tam cương (vua tôi, cha con, chồng vợ), ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín), các khái niệm về “người quân tử”, các khái niệm về “trung dung”—chừng mực trong mọi điều–là những mẫu mực sống cho những nền văn hóa ảnh hưởng “Khổng giáo” trong hơn 2000 năm.

Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, người nước Lỗ, sinh và sống vào thời Xuân thu trong lịch sử Trung quốc. Ông sinh trong một gia cảnh nghèo, dù là gia tộc vốn có dòng quan. Năm lên ba, Khâu mồ côi cha, lớn lên, phải làm lụng vất vả để nuôi mẹ, nhưng rất ham học. Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho, xuất nạp tiền lương. Ông cũng từng đảm nhiệm chức quan nhỏ chuyên quản lý nông trường chăn nuôi, súc vật sinh trưởng rất tốt. Nhờ vậy ông được thăng chức lên làm quan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình. Năm 22 tuổi, ông mở lớp dạy học. Học trò gọi ông là Khổng Phu Tử, hay gọi gọn hơn là Khổng Tử. ‘Tử’ ngoài ý nghĩa là ‘con’ ra còn có nghĩa là “Thầy”. Do vậy Khổng Tử là Thầy Khổng.

Đọc tiếp

Những cành mai xa xứ

Nguyễn Hữu Vinh, mùa đông Tân Trúc, Ðài Loan

Trong cuộc đời phiêu lãng của mình, tôi đã ấp ủ nhiều kỹ niệm về loài hoa mai. Dù bây giờ quê hương ở đó…muốn về về cũng được, sông Hương còn đó có ai giành…(1), nhưng… mỗi năm trong những lúc trời xuân sắp trở lại, thì cứ văng vẳng nghe trong lòng tiếng cười vui của cha mẹ, anh em, quây quần dưới ngôi nhà vườn đầy nụ xanh non, có cội mai già mảnh khảnh, lốm đốm điểm những nụ mai vàng vừa hé. Hình ảnh cô bạn gái nhỏ áo trắng năm xưa cũng hiện về trước mắt, đạp chiếc xe đạp đến chơi dựng kề dưới gốc cây mai trước hiên nhà. Cũng vậy, chiếc thiệp chúc tết của nàng năm xưa nay vẫn còn trong cặp, cành hoa mai trên thiệp lụa đã phai màu cũng còn cười bên hàng chữ…năm năm rồi cũng sẽ không lâu đâu…! Mỗi lần nhìn lại cánh thiệp xuân in hình đóa mai vàng đó, trong lòng lại cảm xúc đến rưng rưng. Không có gì mang đến cho tôi ý niệm mùa xuân trọn vẹn hơn khi nâng trên tay một đóa mai vàng.

Đành rằng mỗi loài hoa có một vẻ đẹp, một màu sắc và ý nghĩa riêng, nhưng sao giữa thế giới hoa xuân muôn hồng nghìn tía, tôi vẫn yêu hoa mai, nhất là loài mai vàng. Có lẽ hình ảnh đóa mai vàng đã hằn sâu vào ký ức tôi, vượt ra ngoài khuôn khổ cách đánh giá về cái đẹp thường tình để nghiễm nhiên trở thành biểu tượng của những gì thương yêu, thanh cao, giản dị và thân thiết.

Đọc tiếp