Các bài đăng bởi tanai

teacher - poet

Khúc Thu Bồn

Cảm ơn ngươi, Thu Bồn ạ!
Dòng tĩnh lặng đã tải đầy kí ức
Và trong ăm ắp tình yêu
Ta đã kịp gửi trao một tâm tình.

Người sẽ sống cùng vĩnh viễn thời gian
Vĩnh viễn thời gian mượn ngươi để tạo dáng mình
Người lặng im. Vô ngôn của dòng chảy
Sự sống không lập ngôn.

Cảm ơn ngươi, Thu Bồn!
Sổ đinh trong tay người triệu triệu công dân có lẽ?
Và không quan liêu phù thế
Người lưu giữ từng dấu vân tay!

Rát mặt một ngày với nắng và gió
Cạn lòng một ngày với yêu thương
Sông nước vẫn lặng im
Chỉ ngô khoai bên đôi bờ mở mắt.

Tải bao nhiêu linh hồn trong cuộc đời mình
Là bấy cuộc chia li
Ủa lạ mà đời vẫn xanh
Hay từ biệt chỉ là lời bến bãi
Mà người mãi mãi là sông?

Ờ thì đã cùng suối cùng sông
Thì dại dại câu phù chú chẳng hai lần.
Riêng ta mong còn có thì
Lại tắm lần nữa với dòng Thu!
Cảm ơn ngươi, Thu Bồn !

Thu Bồn mùa đầu hạ.

Nguyễn Tấn Ái

Cảm Thức Thời Gian


Mọi năm mọi kì thơ đem tết về
Thơ cứ thung thăng quanh cành mai,
Cứ chấp chới tìm cánh én
Cứ nồng nàn như rượu, như em!
Như một lẽ thường ta và xuân và rượu và thơ
Bọn ta là tết
Mọi nỗi niềm ân oán vui buồn áo cơm gom hết
Quyết toán thời khắc giao thừa.
Nhẹ tênh tênh là xuân.
Bằng hữu chào nhau : Đâu xuân khai bút ?
Nhỏ to rỉ rả thơ phú
Rỉ rả rượu nồng
Được mất bại thành cũng chỉ là không!
Ô hay niết bàn đương thế.
Xuân nay không đậu trên cành mai cành đào
Cũng vắng bạn đón xuân
Hiếm hoi câu nghinh tân tống cựu
Chẳng lẽ bạn thành du thủ
Quên lối xưa?
Chẳng lẽ ta quên lối mùa?
Bạn chúc câu xuân muộn: Khỏe nha, xuân không về.
Em hỏi câu: Vui không, tết mà, bận lắm.
Ta soi gương biết thời gian riết róng
Như rối bời mớ tóc trên đầu!

Chợt đã giêng hai. Chợt đã tri thiên mệnh
Chợt biết thời gian không là vô tận
Đành vắng nhau, đã yên lòng đâu.
Chẳng dám dành cho ai mùa xuân
Chẳng chỉ để cho mình
Ta hiểu trong mênh mông ngóng trông lặng thinh
Phát ngôn thời gian đời người
Còn bao nữa tôi ơi!

Bận sắp xếp lại đời mình chẳng kịp rước mùa vui.
Xuân gõ cửa mà ta thì phong bế
Mười lăm trẻ,năm mươi già không kể
Đã kịp gì đâu cho ta, cho bạn, cho đời
Còn bao nữa xuân ơi!

Tháng giêng 2010

Nguyễn Tấn Ái

Màu Xuân

Như cành mai vàng rã cánh giêng hai
Người lặng thầm tha hương cầu thực
Bỏ một miền quê rưng rức
Chỉ còn mênh mông đồng xanh.

Rồi cũng như mai tích giọt nhựa lành
Mùa chạp về nở bung năm cánh tết
Múc gàu nước giếng làng uống trôi bao nhọc mệt
Múc gàu nước giếng làng rửa mặt đợi xuân sang.

Ngày tết quê tôi cũng lộng lẫy cúc vàng
Cũng lịch sự hồng, cũng thanh xuân thược dược.
Môi thiếu nữ lại nồng, tình lại mềm như nước
Xuân mà, cứ mở lòng vui.

Mẹ già gội đầu bằng nước lá chanh
Vòng tay nào ôm con còn thơm mùi tết
Ba tiếp bạn bằng củ hành củ kiệu
Chén rượu năm nao chừ vọng lại tiếng cười.

Thôi một năm cùng nước mắt mồ hôi
Người quê chừ thả lòng xuân mới
Ta đi giữa quê lòng như có đợi
Có chờ ai về nhắc chuyện xuân xưa!

Cuối năm Kỷ Sửu

Nguyễn Tấn Ái

Lời Phố Cũ


Tôi người tình phố Hội
Một tiễn đưa đã hóa thành xưa cũ
Lang thang lỗi nhịp tình đầu
Đêm mù sương
Nét phố không màu
Chợt biết mình đắm đuối
Phố mịt mù như cụ già trăm tuổi
Ta già nua với trăm tuổi mộng vàng
Chao ôi!Thèm được gặp cố nhân
Ngồi mơ đèn lồng cổ tích
Bạn cười khan trong chiều tịch mịch
Đêm Cẩm Hà ta đối thoại cùng trăng.

Những con đường cát lầm in vết lang thang
Thương mái ngói rêu phong buồn như nét cười tình phụ.
Phố xưa!
Những con đường chậm chạp chạy vào đêm
Đêm mưa ta lần dò thăm phố
Xóa lớp phấn son về hoang tàn mấy độ
Mưa phủ mặt người thật là phố trong ta.
Những trầm tích xưa lắng lại góc phố già!

Ngày chưa xuân ta hát lời phố cũ
Lâu chưa mưa nắng cuộc đời
Như cội mai già kham khổ phố ơi!

Ngày chưa xuân ta nghe lời phố hát
Khúc li hương, người xưa chưa về
Phố dùng dằng cơ nhỡ một đời quê
Ngày chưa xuân ta nghe lời phố hát
Khúc tương tư
Lòng ta chạnh buồn
Ừ rồi người về mai mốt có còn không ?
Ta múc nước sông Hoài
Rửa trôi bụi đường lữ thứ
Nhìn nhau thật mặt mà cười
Ừ nhé vẹn lành xưa tuổi đôi mươi!

Cuối năm Kỉ Sửu

~ Nguyễn Tấn Ái

.

Cho hay là giống hữu tình

Ca dao là bằng chứng thuyết phục về đời sống tình cảm phong phú của người bình dân. Có thể điểm danh điểm diện một số phương diện tình cảm đó.
Là nhân hậu ân tình.
Là thương cảm sẻ chia
Là nặng tình nặng nghĩa.
Và được xem như là thống soái trong ứng xử tình cảm bình dân là rất mực thủy chung.

Như cây đa chờ mãi khách bộ hành.
Như bến vắng chờ con thuyền rong ruổi

Và trong ta dậy lên một cảm thương trân quí cho những vẻ đẹp truyền thống.

Và như một phản xạ có điều kiện, người ta thường khước từ những vỉa tình cảm trái
ngược. Người ta thế, và tôi cũng thế.

Ấy vậy mà có một ngày tâm trí tôi cứ tưng tửng, tưng tửng, ấy là khi tư tưởng mô phạm vững chãi trong tôi chạm nảy lửa vào một câu ca dao dị dạng:

Đa tình thì vướng nợ tình
Trách người đã vậy, trách mình sao đang

Ô hay! Cái môi trường đã giáo dục chọn lọc cái tình thủy chung, đã tỉa sửa bằng hết những gì tà vạy lại ngang nhiên nảy nòi ông ổng một câu hát đa tình. Mà hấp dẫn và cám dỗ đáo để. Mà cam đoan rằng bất cứ cái người hiện đại nào cũng gặp mình trong cái tình ca dao ngót chừng vài trăm niên kỉ ấy.

Tôi cũng nghênh ngang nhận mình là giống đa tình (!) nên lại càng đồng cảm mà trân trọng lắm. Rồi băn khoăn dò tìm xem cái giống tình đi lạc đi loài ấy có kịp mọc lên thành vườn thành vỉa trong vườn ca dao xưa không.

Thật bất ngờ, cái mà tôi gặp được nếu không là phổ biến thì cũng đã không chịu dấu mình đơn lẻ.

Này là lời trách cứ người bắt cá hai tay:

Đa tình chi rứa hở trăng
Nửa treo núi nọ, nửa giằng sông kia.

Đích thị là mày đa tình rồi nhé!

Rồi sau hai đơn vị đại diện chính danh đầy can đảm ấy là đôi nét đồng dạng, tuy chưa kịp chính danh, tuy còn núp bóng dấu mình.

Là cái đèo bòng:

Anh đà có vợ thời thôi
Đèo bòng chi lắm tội trời ai mang!

Lời trách không khỏi giấu một chút nao nao. Và lời đáp cũng táo tợn nghệ sĩ:
Vì cam cho quýt đèo bòng
Vì em nhan sắc cho lòng nhớ thương.
Đáng chú ý là đôi ba lời hát ghẹo, khó có thể khen ở cái tình chung thủy, vậy mà đâu chỉ một hai lần đôi ba người ngâm nga thích thú.

Chanh chua quýt ngọt bòng the
Thấy em còn nhỏ anh ve để dành.

*
Yêu em từ thuở trong nôi
Em nằm em khóc anh ngồi anh ru.

Có lẽ cái chuyện những câu hát đa tình này manh nha từ hồi người viết phải trao đổi với học trò về một ý thơ của Nguyễn Khoa Điềm:

Để Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân
Đất nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi
Biết quí công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu.

( Trích trường ca “ Mặt đường khát vọng”)

Và kết luận bắt buộc cho các lời giảng của các nhà giáo rằng đó là nhân dân thủy chung ( Yêu em từ thuở trong nôi ), quí trọng tình nghĩa ( quí công cầm vàng ), và quyết liệt dữ dội với kẻ thù ( đi trả thù mà không sợ dài lâu ).

Tôi băn khoăn mãi. Chao ôi, yêu em từ thuở trong nôi là thủy chung ư? Một thủy chung thật tội lỗi, đáng bỏ tù từ sáu tháng đến ba năm! Có chăng là cái đa mang được nói quá lên một chút. Vậy sao lại cứ cố tình gán ghép cái đa tình thành cái chung tình?

Phải chăng vì trong thẩm định đạo đức thì cái đa tình là cái phi chuẩn mực cần phê phán mà cái chung tình là phẩm chất đáng tuyên dương? Và vì vậy nên lộng giả thành chơn, và cái câu ca kia nghiễm nhiên được phong tặng cho cái phẩm chất mình không có, và bù lại bị tước đi cái mình vốn có.

Đành rằng thủy chung là phẩm chất , nhưng sự lên án thái quá với những đa mang là có nên chăng?

Hãy xem thái độ của người bình dân, với cái đa tình, họ ít nhiều trách móc, mà chưa có lời kết tội! Thì trách người đã vậy trách mình sao đang ( sao đành ) mà!

Nghe cứ như một khoan dung tòng phạm!

Và tôi âm thầm xem cái ý táo bạo kia cũng là phẩm chất của những người làm ra ca dao.
Chung tình là phẩm chất của nhân dân.
Mà đa tình là phẩm chất của nhân dân nghệ sĩ!
Nói thế tôi đâm lo quá! Khéo không khách quan, khéo lại bào hao bào chữa cho mình!
Mà may thay, lúc bí đàng bí lối, sắp đánh nước bài liều, lại vớ đâu được một tứ khá hay của một nhà thơ có tên tuổi:

Xem qua truyện cổ nước mình
Rất nhân hậu, lại đa tình đa mang.

Đó là kết luận của Phan Thị Thanh Nhàn. Thôi thì mời chị Nhàn đi trước gánh búa rìu dư luận, ai bảo chị liều lĩnh dám bảo dân ta đa tình đa mang trước!

Lại còn có một nhà thơ nữa, còn liều hơn cả chị Nhàn, khi dám tự nhận mình đích thị đa tình:

Anh đa tình nên cứ muốn lần theo
Xấu hổ gì đâu mà anh dấu diếm
Em muốn làm dâu thì em ở lại…

Phạm Ngọc Cảnh

Yên chí về quan điểm rồi tôi nhé!
Quả là người không biết điều khi thân mình còn chạy tội chưa xong lại lăm le đi nài nỉ gỡ tội cho người khác. Song quả thật tôi có ý đó.Rằng:

Những người làm ra những câu ca dao mộc mạc ấy họ thật nhiều phẩm chất.
Bậy một cái là họ cũng rất đa tình.

Thôi thì vì những cái được kia mà thể tất cho họ cái phần còn khuất tất!


NGUYỄN TẤN ÁI

Hoài Xuân

Mềm mại và tươi non
Dịu dàng và lá cỏ
Chẳng thể mượn mây trời xua đi dáng hình ai đó
Nên trong ta còn vần vũ một tình yêu.
Lãng đãng đâu đây một sắc mây chiều
Vào lặng lẽ giữa bồng bềnh mây khói
Hóa câm lặng trăm điều không thể nói
Thành cơn mơ vĩnh viễn nụ hôn nồng.
Em cứ là hư không
Ta cứ tìm ảo ảnh
Đem hoàng hôn vào giữa đêm trừ tịch
Nối dài nét ngày cô lẻ hoài xuân.

Nguyễn Tấn Ái

Nhớ Xuân


Tặng tuổi tím

Sắp xuân rồi đó nắng vàng hanh
Lá trở màu thương nhớ trên cành
Sắp xuân rồi đó ai có biết
Giữa lưng trời áo trắng trôi nhanh.

Sắp xuân rồi đó, cúc vàng tươi
Môi mím duyên duyên bé vẫn cười
Hiên trường ta vẫn thầm van vái
Xuân sắp về rồi đó bé ơi!

Nắng xuân rồi áo trắng vàng ươm
Lặng lẽ trôi theo tiếng trống trường
Hết mưa hạt nắng buồn như cát
Lặng lẽ gom tròn một chút thương.

Ta vẫn lang thang khắp sân trường
Để nghe buồn lẫn với yêu thương
Để nghe chiếc lá run nhè nhẹ
Rơi xuống lòng ta vương chút sương

Để mong bé bước đến hàng hiên
Cho ta cười mỉm rất vô duyên
Để nghe bé hỏi dù rất vội
Răng buồn, răng cứ thích đi riêng?

Anh đem tặng bé một bài thơ
Một chút yêu trong ánh mắt hờ
Mai mốt bé về bên gối mẹ
Còn rối trong lòng bao tiếng tơ?


Nguyễn Tấn Ái

Mơ Xưa

Mệt mỏi với những ngày áp thấp
Ta lãng quên ta trong bận bịu giả vờ
Thoảng hoặc tim mình lên tiếng gọi
Ta úp mặt vào chiều lơ ngơ, lơ ngơ…

Xa lăng lắc những buổi chiều dấu ái
Đôi môi nào hồng, mái tóc nào xanh
Để run rẩy một dòng tin ái ngại
“ Bé đây mà! Lạ hoắc phải không anh?”

Rạng vỡ một con đường, rụng vỡ một mùa trăng
Dòng suối nhỏ khóc lời xưa róc rách
Chạy trốn đến mệt nhoài những lời thóc mách
Hạnh phúc nào hao khuyết phía bên kia!

Con chim lìa nguồn mải miết ăn xa
Mùa trốn rét cánh tìm về chấp chới
Ta hát mãi lời cây đa mong đợi
À ơ ru người! À ơ ru ta!

À ơ!
Đêm qua ta nằm mơ
Ta theo ta về mùa trăng xưa con đường cũ
Con đường dài như chữ y… Qua rồi giấc ngủ
Hồn như ai vá khâu!

Nguyễn Tấn Ái

Đêm Thánh


Noel về chẳng được bước bên em

Mùa thi đến, đắng lòng không cô bé?

Lời nhắn gửi còn bên anh nhỏ nhẻ

Đêm thánh về nhớ cầu nguyện cho em.

Đêm thánh, đêm buồn, ơi đêm Noel

Ta là con chiên lạc loài tội lỗi

Tìm bóng dáng người xin ơn cứu rỗi

Đêm thánh, đêm buồn, ơi đêm Noel!
.

Nguyễn Tấn Ái

Thư cho bạn

    Gửi Cường của tôi


Lại một mùa giáng sinh nữa lại về. Bao nhiêu mùa đông rồi đi qua đời ta. Mưa rơi và gió lạnh. Song lòng ta vẫn là một mùa ấm áp, mùa Thiên Chúa vào đời, Chúa giáng sinh đêm nay mừng vui tiếng hát vang nơi nơi…

Đất nước bao cuộc thăng trầm, đời người mấy lần dâu bể. Duy một trông chờ không chịu thăng trầm, không chịu bể dâu, chờ một mùa đông cho lòng ấm lại. Ấy cái niềm tin đơn sơ để lòng an bình mừng đón Chúa:

Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao
Bình an dưới thế ân trạch cho loài người.

Bạn dấu yêu! Giờ ở đất Sài thành xa xôi, mệt phờ long đong thân cầu thực, ngày 24 tháng 12 bạn có khép nép mừng Chúa giáng sinh ở một góc giáo đường lộng lẫy?

Mùa Noel cũng là mùa của ta, của bạn, của những kỉ niệm tuổi thơ. Đôi ta như hai cây thông non trồng bên máng cỏ.. Ta rất yêu giọng bạn đọc thi ca trong trẻo, trong như lòng thành con trẻ kính dâng:

Chúng con muốn tình yêu không vị kỉ
Tình yêu không gò bó bởi hư danh
Tình yêu không bị vật chất dỗ dành
Con nhận lãnh từ tình yêu cứu Chúa.

Giáng sinh năm nào ta bạn tung tăng, giáo đường chật không chứa nổi tâm tình con trẻ. Bữa cơm chung những tháng năm còn nghèo còn đói, mình nhường cho nhau một lát thịt quay với một mẩu bánh mì. Ôi giáo đường ấm áp hoang sơ.

Từ bao giờ ta đã đi qua mấy mươi mùa đông, giáo đường chừ khang trang bề thế, đêm Noel đèn điện khoe màu sang trọng mà nhớ hoài ổ rơm ngày xưa. Chờ đêm giáng sinh, mình đi chặt lá đùng đình kết vòng trang trí, những chiếc bong bóng thổi to thổi nhỏ làm những quả thông màu, đơn sơ như máng cỏ. Mình vừa mải mê việc làm vừa rộn ràng ca hát “ nơi hang Bê Lem con quỳ thiết tha, xin Chúa nhân hiền xuống ơn chan hòa”.

Bạn ơi! Ta đã lớn lên bằng niềm tin đơn sơ như thế đó, và bằng niềm tin, ta làm người thành thật, thanh thản chấp nhận những thua thiệt ở đời như một chợp mắt trần thế, mà có hề chi, Thiên Chúa từng rời bỏ nước Trời!

Bạn ơi! Giáng sinh này nữa đã là bốn mươi bốn mùa đông. Lòng ta se một chút giá băng khi nhớ người bạn cũ. Nhớ một mùa đông xa bạn ốm đau, ta đã đọc thư bạn trong chan hòa nước mắt: Ái ơi, giá mà có Ái ở bên mình!

Rồi từ đó trong mùa ấm áp lòng khôn nguôi trống vắng là từ buổi hai ta lớn khôn vào đời. Giã từ ấu thơ, giã từ niềm vui tuổi nhỏ. Mỗi một tháng ngày là một dần xa ngày xưa dấu ái.

Ngày tập tễnh làm người lớn, cô bé nào dắt ta xa bạn.
Ngày tập tễnh làm người lớn, cô bé nào dấu bạn khỏi mắt ta.
Chao ôi! Mỗi một kiếm tìm là mỗi một đánh rơi!

Yêu dấu! Giờ mình đã là cha của những đứa con. Hãy nhớ và truyền cho con trẻ niềm tin và tình yêu thuở nhỏ. Trong vườn hồn ngút ngái của ta có một thửa đất mang tên bạn. Mong sao con ta cũng tìm được trong đức tin mình một tình bạn như ta.

Bạn yêu, ta gửi tặng bạn tấm thiệp giáng sinh thật đẹp, những chú mục đồng nơi hang Bết Lê Hem. Bạn tìm thử xem gương mặt nào là của ta, của bạn?

Nguyễn Tấn Ái

Nhớ Xưa

Tóc em một thời che kín hoàng hôn
Trăng mờ ảo cho đường làng nghiêng ngả
Dáng em đi trên lối về sỏi đá
Nghe tim đau như lá trở mình!
Dáng em ngày xưa như kẻ phụ tình
Sau lần áo dấu bao nhiêu tội lỗi
Dáng tôi ngày xưa như hờn như dỗi
Xa lánh bạn bè tìm khoảng trời riêng!

Nguyễn Tấn Ái

Chuyện Với Dòng Sông


Ai hát câu à ơi
Để giữa lòng ta mênh mang chiều xuống
Chiều Trung Phước, chao ôi! Chiều quá muộn
Bắt tội dòng Thu tương tư.
Đã đôi lần xuôi ngược bến sông Thu
Ta mới hiểu Đại Bình đa mang đến thế
Em xõa tóc quấn đời dâu bể
Ta ngây ngô say trọn đêm rằm.
Đã lỗi với người vạn cuộc trăm năm
Sá gì không say cốc nữa

Chếnh choáng li tràn cụng ráng chiều rực lửa
Tân hôn chi, cuộc tình đầu.
Đã đọc nát nhiều nghĩa lí bể dâu
Lại ngu ngơ chi lời hẹn ước
Bạc tóc còn vương câu hò đò ngược
Ta lội về uống ngụm nước nguồn xanh
Trăm năm thôi đã… thôi đành!


Nguyễn Tấn Ái

Chuyện Nàng Thuý Vân

Nguyễn Du là một danh nhân văn hóa thế giới.
Bậc danh nhân sinh hạ được một cặp sinh đôi tuyệt thế: Thúy Kiều và Thúy Vân.
Cụ cũng gật gù đắc ý:

Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.


Ấy vậy mà số phận hai nàng lại quá khác nhau.

Kiều tiền hung hậu kiết. Kể từ độ bán mình chuộc cha, tính trung bình 20 lạng vàng định giá một năm son phấn kể cũng thua thiệt cho đời hoa ghen thua thắm. Tôi cũng tội thân Kiều. Mà qua cái tao đoạn ấy, đời Kiều kể lên hương. Hai thế kỉ rưỡi trôi qua, Kiều không thôi được các thi nhân xưng tụng, dẫu đôi lúc cũng bị đời mắng mỏ, song cái roi đe nẹt dẫu đau cũng chả bù những lúc được tôn vinh, nhất là khi một nhà thơ lạm quyền chủ tịch tôn Kiều là cái tiết trinh của đời dân tộc:

Chạnh thương cô Kiều như đời dân tộc
Chữ kiên trinh vượt trăm sóng Tiền Đường!

Chế Lan Viên
Ngẫm lại thấy tội nàng Vân.
Một đời thanh xuân hơ hớ, so cô chị dẫu có tủi phấn thẹn hương đôi chút , song cũng hàng quốc sắc thiên hương, mà chẳng được đời chiều. Từ cái đêm trao duyên chẳng đặng chối từ, Vân cứ mất hút vào cõi vô danh, đến cuối hồi soát sổ, Vân mới có cơ hội trình diện một lần nữa, cũng chỉ để làm xong cái phận sự: Mang khối tình cất dùm mà nguyên chủ phát hoàn!

Nguyễn Du kể cũng hay tâm nên giành cho Vân tàng tàng chén cúc dở say ý hẳn để nàng quên đi hờn tủi!

Kể thì cũng tội, hồng nhan chẳng kịp đa truân, chẳng chịu đa tình, thành dở dang quá đỗi. Mười lăm mười sáu cập kê, chưa kịp biết yêu, đã phải vì chị mà mậu đường tình, khuân vác cái duyên hờ của chị. Mà mười lăm năm ấy, nào hạnh phúc cho cam, nuôi nấng cái đấng lang quân vừa kịp bảng vàng bia đá, ngài vội vứt ngang mà đăm đăm tìm kiếm tình xưa, thật đúng cái tình cái cảnh “ thân em bắt tép nuôi cò, cò ăn cò béo cò dò lên cây”. Nghĩ vậy mà khuyên thi nhân nay có mài bút khen cái chí tình của chàng Kim thì xin “ nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay” kẻo tội nàng Vân lăm lắm! Hãy ngẫm xem linh hồn Vân cười khóc thế nào khi nghe đời sau nhạo báng:

Thôi đừng nhắc khúc đàn xưa mờ tỏ
Mảnh vườn khuya em băng lối một mình
Ta không bẻ nhụy đào đêm xuân ấy
Để bây giờ buồn tiếc đến khôn nguôi!

Nguyễn Tiên Khôi

Thôi thì tập làm người nghĩa hiệp mà đi ngược lẽ đời, để chia sẻ cùng Vân đôi điều uẩn khúc.
Một lần đem nỗi băn khoăn này mà tỏ bày cùng một danh sĩ đất Hội An, danh sĩ cười ngạo mà phán bảo:
– Thương tiếc khéo là vô lí, lẽ đời đã dấn một nửa bước chân vào chốn tài hoa ai lại đi thương một cái giải nhì!
*
* *
Thôi đành vậy.

Người viết bài này chỉ là nhất thời cao hứng mà diễn xuôi ý tứ của một thi nhân, Trương Nam Hương, nên có lỗi nào trong bài luận văn vô phép rất mong quí bạn vui lòng tìm đến ông Trương Nam Hương mà cật vấn.

Sau đây là bằng chứng:

TÂM SỰ NÀNG THÚY VÂN

Trương Nam Hương

Lặng nghe lời chị dặn dò
Mười lăm năm đắm con đò xuân xanh
Chị thương lệ khóc đã đành
Chứ em nước mắt đâu dành chàng Kim.

Ơ kìa sao chị ngồi im
Máu còn biết chảy về tim để nồng
Lấy người yêu chị làm chồng
Đời em thể thắt một vòng oan khiên
Sụt sùi ướt cỏ Đạm Tiên
Chị thương kẻ mất đừng quên người còn
Mấp mô số phận vuông tròn
Đất không thể nhốt linh hồn đòi yêu!
Là em nghĩ vậy thôi Kiều
Sánh sao đời chị ba chiều bão giông
Con đò đời chị về không
Chở theo tiếng khóc đáy sông Tiền Đường.

Em chưa được thế bao giờ
Tiết trinh thương chị đánh lừa trái tim.
Em làm vợ của chàng Kim
Ngồi ru giọt máu tượng hình chị trao
Đắp đầy đêm nỗi khát khao
Kiều ơi, em đợi kiếp nào để yêu?

Ý kiến các bạn thế nào?

Nguyễn Tấn Ái

Cho Cả


CHO QUASIMÔĐÔ*

Hắn ôm trong lòng tình yêu mênh mông thẳm sâu như vực như trời

Hắn cũng biết khoảng cách giữa hắn và nàng cũng thẳm sâu mênh mông như trời như vực

Ngày nàng chết có lẽ là ngày hắn sung sướng nhất

Ngày hắn được ôm nàng đưa nàng vào vĩnh cửu tình yêu.
.

CHO RÉT**

Nàng theo đuổi những hào hoa tráng lệ cao vời

Bỏ lại hắn một mình với trái tim buốt nhức

Hắn đâm chém nàng bằng những lời chát chua cùng cực

Để rồi trước cả nàng hắn tan nát vì yêu.
.

CHO TÔI

Miên viễn một tình yêu

Nụ hoa mười giờ nở trên bục giảng

Ông giáo già nghễnh ngãng

Giảng lời tình ca ê a… Lũ nhỏ ngồi buồn.

*Nhân vật của “Nhà Thờ Đức Bà, tác giả VictorHugo”
**Nhân vật của “Cuốn Theo Chiều Gió, tác giả Margaret Mitchell

Nguyễn Tấn Ái

Về Quê Nghe Tiếng Chim Bắt Cô Trói Cột


Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh
Ta xuống đồng, lúa mừng vui vẫy gọi
Cánh cò chao nghiêng ướm hỏi đôi điều
Ừ, nơi đây ta từng gieo kỉ niệm
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Ta cứ ngỡ quê nhà xưa vẫn vậy
Còn người thương gội bồ kết ướt lưng ong
Trăng vẫn cũ – con đường xưa lại mới
Hết đá vấp chân- sao lại nhói đau lòng!
Biết sao được chuyện của đời dâu bể
Sông có tự ngàn xưa chừ cũng xoay dòng
Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong.
Chim chỉ gọi- chẳng bắt ai trói cột
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa vườn xưa buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Trích từ tập TRƯỚC SÔNG THU.- Thơ Dương Quang Anh

Cảm nhận:

Một lần đêm quê, ngồi chơi cữ rượu độ gần tàn, người hàng xóm hứng chí ngâm lên:

Về quê nghe tiếng chim bắt cô trói cột
Ngỡ ai treo kí ức ở trên cành
Ta mòn gót đi cùng trời cuối đất
Tóc trên đầu hao hết nửa phần xanh

Cả bàn rượu lặng im. Còn tôi, câu thơ thứ nhì cứ treo lơ lửng trong đầu. Về sau, tôi đã tìm đọc trọn vẹn bài thơ ấy. Bài thơ tôi giới thiệu ở trên.

Bài thơ có cái duyên ngầm bởi bắt được một điệu quê. Với đa phần người, cái hồn quê thường thức dậy từ cánh diều mùa thu hay điệu lí mỗi chiều. Với Dương Quang Anh, thật đến bất ngờ là cái hồn quê lại dóng lên khắc khoải từ một loài chim chẳng mấy khi được chọn làm thi liệu: Chim bắt cô trói cột.

Và theo âm vang của nốt nhạc lạc loài ấy, khách tình quê đi về với cánh cò, đồng lúa, mùa trăng xưa và con đường cũ. Những bước lang thang mà định hướng cho cả một mùa kí ức.

Bắt được giai âm, tác giả như tình cờ được tặng luôn cả một giai điệu. Toàn bài thơ tuy có đôi chỗ phá cách nhưng chung qui vẫn nền nả mặn mà bằng điệu thơ tám chữ có phần xưa cũ. Ấy vậy mà giọng điệu rất quen thuộc ấy, tôi nghĩ, mới thật là một chọn lọc.

Có tình, có điệu. Chưa hết, tôi muốn bàn đến cái tứ của bài thơ. Phải nói thơ anh vừa xúc cảm vừa chắc trong cấu tứ. Ở mỗi khổ thơ, tác giả đã biết để lại một câu hay, một ý đắc để làm những chiếc đinh giữ vững bộ khung của thơ mình.

Ngang đồng lúa, người thơ tự hỏi:
Ai gặt hết rồi thuở tóc xanh yêu!?

Và trên quê xưa, đường nhựa phẳng lì thay cho những bậc đá ngày nào còn mấp mô trong kí ức, sao lòng lại xốn xang:

Hết đá vấp chân sao lại nhói đau lòng

Và đây là thái độ của người đã quá cái ngưỡng tri thiên mệnh trước mọi ngã đời dâu bể:

Núi sừng sững cũng trọc đầu mỏi mệt
Sá chi ta chỉ một kiếp long đong

Và bài thơ kết lại đúng nghĩa trữ tình. Kết mà không mở ra một cục diện mới nào, kết trong một thủy chung cảm xúc:

Chim vẫn gọi chẳng bắt ai trói buộc
Mà sao ta vùng vẫy đến rã rời
Đứng giữa đường làng buồn vui khôn nói được
Kêu chi hoài não nuột lắm chim ơi!

Tôi cũng thế, vùng vẫy mãi mà chẳng thể thoát ra khỏi những sợi tơ chăng mắc bằng ngôn ngữ trữ tình ấy. Bỡi tôi cũng là một người quê. Cũng đôi lần đi về quê xưa mà nghe thời gian còn phảng phất một màu kí ức. Và như để trả nợ cho một tình quê, tôi giải tỏa bằng một vài cảm nhận. Hẳn cũng quê kệch như tiếng “bắt cô trói cột” kia. Song lại là một điệu quê, có ai người đồng điệu?

Nguyễn Tấn Ái

Trường Cũ

Bỏ trường từ độ ấy

Ném thân hồ hải phong trần

Rồi chẳng hiểu vì sao một ngày trở lại

Bên cửa lớp bồi hồi ông giáo dừng chân.

Bỏ trường từ độ ấy

Cô giáo về xuôi vui với thị thành

Rồi cuồn cuộn thời gian cuồn cuộn người xuôi ngược

Một tháng đôi lần khắc khoải nhớ đồng xanh

Bỏ trường từ độ ấy

Cậu bé học trò đi hoang

Một chiều mùa xuân nắng vàng góc phố

Thoáng áo trắng bay trong hồn nhỏ bàng hoàng

Bỏ trường từ độ ấy

Cô bé về ru con lời hát thật buồn

Câu ca cũ sao thắt lòng đến vậy

À ơ, bướm vàng đậu đọt mù u…

Ta cũng bỏ trường từ độ

Thả lỡ câu văn em vén áo theo người

Chợt ngơ ngẩn đường về… chiều, lá đổ

Ngày ấy xa rồi… Thương lắm tuổi đời ơi!


Nguyễn Tấn Ái

Thơ Không Vần

Có ai nói rằng thầy giáo là người làm vườn chăm bón cây đời. Tôi nay đã là người làm vườn, cũng tại ngôi trường Quế Sơn này, tôi không quên cái ngày tôi hãy còn là một thứ trái xanh. Không chỉ là trái, hãy còn là hoa. Không chỉ là hoa, hãy còn là một nụ mầm. Có vui vẻ gì chăng khi tôi nhắc lại cái ngày lũ chúng tôi đói áo đói cơm cố níu ghì con chữ. Cái ngày lũ học trò chúng tôi chung đèn chung sách, chung mộng đẹp, chung quần áo đến trường, chung cả những đặc điểm lẽ ra là phải riêng: Chung hắc lào, ghẻ ngứa, chung cả bệnh phù chân. Ôi cái thời vinh quang và đói khổ. Đói khổ thuộc về chúng tôi. Vinh quang cũng thuộc về chúng tôi. Có nụ mầm xưa chỉ kịp se mình làm chiếc lá xanh, thành chiếc lá vàng, lá rụng. Song cũng có nụ mầm đã kịp cho đời quả ngọt, kịp rụng xuống để mọc lên thành kĩ sư, bác sĩ, công nhân… Và tôi, từ cây đời ấy, nay lại mọc lên thành người làm vườn. Một vụ mùa bội thu của thầy cô.

Tôi nhớ về những người làm vườn năm xưa ấy. Thầy Cao Thiệp, hiệu trưởng, rất hấp dẫn chúng tôi mỗi câu chuyện dưới cờ. Đôi tay tài hoa của thầy Thu dạy toán, nét chữ cứ đều như cấy, và vòng tròn tròn hơn cả com pa. Thầy Thuyết đến lớp và ra lớp làm chuẩn mực cho bác phu trường điểm từng tiếng trống. Thầy Quang dạy văn, và chúng tôi thực sự đã được học văn… Và còn nhiều,nhiều những thầy những cô, trực tiếp hoặc chưa trực tiếp dạy chúng tôi con chữ, song mỗi ánh mắt, mỗi dáng đi cũng là một chấm, một nét vẽ nên cuộc đời chúng tôi hôm nay.

Tôi trở về trường Quế Sơn không vì trôi theo dòng khẩu hiệu “ tiếp tục sự nghiệp trồng người”. Mà tôi đã về, tự nguyện, có thể buồn, có thể vui, mà không thể dửng dưng. Nay đã hai mươi năm rồi tôi sống trong giấc mơ xưa, giấc mơ làm thầy giáo. Mộng đời thật đẹp, mà đời cũng thật gian nan. Có lúc vỗ cánh bay, có lúc đi khập khiễng. Có lúc làm người hào phóng. Cũng có lúc xót xa nhìn ánh mắt vợ con.

Ngày ấy tôi chỉ gặp thầy cô tôi vào những giờ lên lớp, những bữa cơm tập thể của thầy tôi chưa hề biết đến. Chúng tôi tưởng thầy giáo thì khỏi phải ăn. Khu tập thể giáo viên chỉ dành riêng cho những người độc thân, chúng tôi nghĩ thầy giáo thì chẳng cần có vợ. Và tôi đã chiêm ngưỡng ánh hào quang đơn độc và tinh khiết của thầy cô mình như trẻ em thích thú ngắm nhìn các vì sao xa.

Nay tôi đã về lại trường xưa mà khắc khoải làm thầy, nhớ oặn lòng về thầy cô , bè bạn. Thương và nợ những thầy, những cô, những đời thường đã cố hóa thân thành những vì sao xa xcho chúng tôi chiêm ngưỡng. Tôi thực sự hiểu cái giá để được làm thầy. Tôi hiểu, nhà văn thì có quyền chọn cửa để hóa thân- hiện thực hay lãng mạn. Nhà giáo chỉ duy nhất một độc chiêu chân truyền của bổn môn: Làm kiểu người lí tưởng.

Tôi về lại trường xưa làm một người thầy. Giữa bài giảng văn chợt nao nao nhớ về thằng bạn, thằng ấy giờ phiêu bạt phương trời để lại trong lòng tôi câu thơ nhoi nhói:

Cây phượng tương tư nối những hiên trường
Cho bên nớ bên ni cùng tâm sự


Cây phượng già năm xưa vẫn còn đó, khó nhọc với thời gian nhắc tôi nhớ lời thầy tôi thủ thỉ “chỉ cây phượng già hiểu người năm cũ, cứ âm thầm trút nhỏ một mùa thu.”

Tôi lại về trường Quế Sơn gắng gỏi làm thầy, qua đèo Le nhớ mùa sim chín muộn, nhớ con bé miệt mài cắm cúi để lưng đèo còn đọng giọt mồ hôi.

Nhớ ơi là nhớ! Thương ơi là thương!

Cậu học trò năm xưa lại về trên bục giảng. Chập chững làm thầy, khó nhọc làm thầy. Tôi đã dạy các em tôi những điều tôi chưa làm được. Tôi mời các em cùng tôi theo đuổi lí tưởng làm người. Lắm lúc rạng rỡ vui khi có những học trò vượt qua mình mà vươn vai hóa thành Phù Đổng. Thi thoảng buồn khi bạn bè xưa lối hẹn, bỏ cuộc, hoặc đành lòng làm một thứ hoa ôi!

…Rồi sau tôi , còn có cả một thế hệ học trò. Các em sẽ viết tiếp về thầy cô mình ngày ấy. Yêu toán, yêu luôn mái tóc bồng bềnh nghệ sĩ. Yêu văn, cố nhịn ăn để có vóc dáng hao gầy. Yêu lí, yêu cả những ai thật thà gan góc… Còn yêu, sẽ yêu hơn những thầy, những cô đã khiêm nhường hóa thân cho các em có một ngày mai.

Hai mươi năm kỉ niệm, hai mươi năm làm thầy, với tôi, trường lớp đã là một thứ của riêng, vừa muốn phô phang, vừa muốn âm thầm cất giấu. Nói ra và im lặng. Một thứ ngôn ngữ dở dang. Nhưng tôi vẫn chưa đi hết một đời nhà giáo. Hãy để thời gian viết tiếp những dòng xanh về chốn sinh thành. Và những dòng tâm sự của tôi, ước ao sao hãy cứ là tiếng nói của trẻ thơ vừa rời khỏi vòng nôi- bập bẹ khuyết mòn ý tưởng. Song rất mực chân thành. Như một bài thơ không vần. Mùa tặng mình. Tôi khe khẽ xướng ngâm.


Quế Sơn, Nguyễn Tấn Ái.

Phải Quấy Là Đâu?

Một người có người thân chết trôi. Xác dạt vào vườn một người. Người nhặt xác đòi tiền chuộc. Người kia không chịu, bèn lên quan kiện. Quan phán: Mày cứ để đó, xác chết có bán được cho ai. Người nhặt xác thấy lâu, cũng lên quan, quan phán: Mày cứ để đó, nó không mua người thân sao được.

Câu chuyện trên tôi nhặt được trong vườn cổ học.
Đố bạn đọc của Đọt Chuối Non cuộc người kia có mấy xác chết?
Người chết thì đã chết rồi. Nhưng thử hỏi người sống có là sống không?

Luận từ cái đạo làm người, nghĩa tử là nghĩa tận. Việc hỉ có thể buông tuồng. Việc hiếu thì cần nghiêm cẩn. Đang là việc hiếu, dù là của người hay của mình thì nghiêm cẩn mới là lễ. Vậy mà cả khổ chủ lẫn lân gia đều thi nhau tranh cạnh trong cái giá tử thi, buông tuồng quá đỗi. Vậy là không biết giữ lễ. Vậy là thêm hai cái thây sống.

Luận từ đạo làm quan, dù cao đạo mà tự nhận là “ phụ mẫu chi dân” hay đĩ thỏa mà quang quác là đầy tớ nhân dân đi nữa thì cũng phải hiểu cái lẽ cầm cân nảy mực. Có đâu biến hóa phù phép để cho từ một cái thây chết thành hai cái thây sống thế kia? Người kiếm ăn từ bãi tha ma người ấy không cú diều cũng âm hồn quỉ sứ. Vậy là ba cái chết.

Giờ thử luận xem, cái hại đến bực nào.
Tử thi thì chẳng hại được ai. Cùng lắm chỉ dọa dẫm những người yếu bóng vía sợ ma nhát quỉ.
Còn cái âm hồn bất tán trong những cái xác sống không có chất người ấy thực tác hại không biết đâu mà lường. Cái mùi thối của tử thi cùng lắm ba tháng mười ngày, còn cái mùi tanh tử của cái thây sống thì bao giờ mới dứt?
Mà cái xấu thì dễ lây lan, biết chừng đâu nó thành hội thành bè, thành băng thành đảng, có tôn chỉ hẳn hoi, thì cả xã hội không có nguy cơ thành nghĩa địa sao?

Than ôi! Cái sự nào chỉ chuyện xưa, nào chỉ chuyện người.
Có bao giờ ta bạn vì tình mà lơ đi một chuyện quấy?
Có bao giờ ta bạn vì tình mà thông cảm cho cái xấu của một người thân?
Hay vì nể bậc đàn anh, người trưởng thượng mà thủ khẩu như bình?
Hay vì áo cơm mà đành lòng đổi chác?

Tôi đang lôi cái thằng tôi mà phân chất, mà tự kiểm, thật không dám cao giọng luận đời!
Giá mà kiên trì học cách cổ nhân, cứ mỗi một việc xấu lại tự kiểm mình, lại nhích cái nhà mình gần nghĩa địa hơn mười mét. Ba năm sau thấy mình sống giữa nghĩa địa với loài ma quỉ.
Trước khi nguyền rủa đời quỉ quái, hãy tự xem lại mình có đúng là người?

Nguyễn Tấn Ái

Tổ Quốc Tôi

tatnuoc
Tổ Quốc tôi?
Là buổi người nông dân hát trên đồng cạn
Mênh mông bát ngát
Hình ảnh chiếc gàu sòng múc nước đêm trăng.
Tổ Quốc tôi?
Là buổi Ức Trai khóc ở Đông Quan
Hòa lệ viết Bình Ngô sách
Là Nguyễn Tiên Điền náu mình trong căn nhà rách
Đêm Thái Bình thiên lí tha hương!
Tổ Quốc tôi?
Là cột cờ Ngọ Môn trang nghiêm
Rêu phong dấu tích Nguyễn Hoàng
Trầm mặc thời gian lăng tẩm
Sá gì lời phù thịnh gian ngôn!
Tổ Quốc tôi?
Là những Mẹ già của hai cuộc đao gươm
Đứa con sinh đôi đi về hai phía
Nghe đại bác gào vang trận địa
megia2 Súng nổ bên nào lòng Mẹ cũng bị thương!
Tổ Quốc tôi?
Là thăm thẳm rừng xanh,
Cây trên rừng không tự biết trầm hương mà vẫn trầm hương
Không tự nhận sến lim mà bền mưa nắng
Thôi trả lại cho người cái định danh nhiều khi háo thắng
Rừng tự buổi không tên đã Tổ Quốc mình!
Tổ Quốc tôi!
Là Tổ Quốc ở trong lòng.
Tôi yêu Tổ Quốc mình!
( Nào ai bắt mình yêu Tổ Quốc?)
Cuối đầu trước linh thiêng bốn ngàn năm lòng tôi tự biết
Tôi yêu Tổ Quốc mình. Và tôi rất vô danh.

Nguyễn Tấn Ái

Hố Hụi Hò Khoan

Hố hụi hò khoan
Khoan anh chưa vợ, khoan em chưa chồng…

Xưa mỗi lần nghe ới lên như thế thì trai gái lục tục kéo đến đình làng…
Tôi thường nghe sách vở nói thế.
Hokhoan
Các cụ bảo: Toàn nói tầm phơ! Xưa làm gì có nhà văn hóa như bây giờ. Mà kéo đến đình làng để làm gì kia chứ?

Các ông tiên chỉ kéo đến đình làng là để chia phần cái thủ lợn, đôi móng giò kì thanh minh, giỗ chạp. Còn thường dân áo vá cũng chỉ đến đình mỗi khi nợ thuế đinh, trộm gà bẻ bí bị tóm, hay không chồng mà chửa, nhất nhất không vui. Trai gái chỉ ới với nhau kì gặt lúa ba trăng, kì hái đậu phụng hay giã vôi làm nhà, róc mía … Mà cũng ở bờ bãi ruộng đồng hay sân vườn ai đó. Mà cũng chỉ những đứa chưa chồng chưa vợ, đi hoang cho nó vui, đỡ cái cực cày cực cuốc, cực nắng cực mưa, thế thôi. Mà toàn là mặt mẹt với đực rựa, tha hồ mà trái khoáy.

Mà đúng là trai trống gái tơ, lời ý cứ xáp vô nhau, tình tứ thì nên vợ nên chồng, choảng nhau thì đớ lưỡi rát mặt.
Này là đàn chị ra roi dạy đàn em chơi trồi:

Đời chi quái lạ làm sao
Gà chưa cứng cựa đòi vô cửa trường

Gặp đàn em ớt chuột mà cay:

Đừng chê anh nhỏ anh rầu
Chớ con ong kia mấy lớn mà đú trái bầu cù queo!

Này em hát khó hòng loại đàn anh ra khỏi sới hát:

Gặp anh qua hỏi anh đây
Chớ trời không thắt gióng kéo mây làm gì?

Đàn anh thuận thế bịt đuôi không cho em chạy:

Hỏi qua đây thì qua trả lại đây
Trời không thắt gióng thì kéo mây đậy mù!

hokhoan1
Nói chung, trong lối hát “kiến tại”, hay hát “ môi miếng” này thì đúng là “xuất đối dị, đối đối nan”, nên cái tài cái trí thường ở vế sau, khoái là khoái cái lời đáp tài cao trí lẹ, tưởng những lúc chỉ còn “tẩu vi thượng sách”, vậy mà “mạt lộ xuất sinh lộ”, thế là đôi bên cùng “hố hụi hò khoan” tán thưởng cho lời xuất sắc.

Một em hát:

Anh về đào lỗ sau hè
Chôn con lấp vợ mới ve đặng nường ( nàng)

Thiệt là hát ác!
Ra đòn càng thâm thì vế phản càng độc:

Anh về đóng một cái thang
Mười hai cái nấc
Bắt từ dưới đất bắt thẳng lên trời
Mồ cha cái đứa bạc lời
Sử anh chôn con lấp vợ sống ở đời với ai

hokhoan2
Hố hụi hò khoan!
Hố hụi hò khoan!
Hố hụi hò khoan!
Có anh nghịch khẩu, ý muốn hát đến tốc váy mấy cô thì mới thích, thành sàm:

Ba cô đứng lại một chùm
Tui liều quần rách tui đùm ba cô

Đáp:

Tui liều một gốc tre khô
Đóng gông ba cậu giải vô đồn lầu

Bí!
Xin kết câu chuyện dông dài bằng một giai thoại:

Ở huyện Đại Lộc có anh Trần Hàn nổi danh cao thủ. Hàn thường dọc ngang xuất khẩu thành chương chinh phục các hội các làng. Vậy mà “cao nhơn tất hữu cao nhơn trị”, có lần trong một đám hát, một cô trẻ mà hát thiệt già:

Trần ai gặp cảnh cơ hàn
Rổ đan mặt mốt xuống làng mót khoai

Hàn đớ họng. Cái hiểm ở câu hát là xoi đúng cái khuyết tật ở Hàn: Mặt rổ hoa, lại chột con mắt ( rổ đan mặt mốt).
Sau bận thọ đòn độc, Hàn biết điều, ít hẳn cái sự dọc ngang.

Mà nghĩ cũng hay, cái văn hóa dân gian lành mạnh ngay trong ứng xử, không theo cái kiểu “miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời”, người ta cũng chỉ quăng quật nhất thời, rồi ai về nhà nấy, vỗ bụng ngủ khì, sự được thua quên sạch. Sự được mất cũng chỉ không ngoài mục đích khoe tài bắt nọn cho vui. Vui thôi mà!

Bây giờ mỗi khi đi ngang làng ngang xóm thấy thiếu hẳn miếng trầu đầu câu chuyện. Các cụ còn biết bỏm bẻm nhai trầu, còn vần vè đôi câu hát thì cũng đã quá cái tuổi tám mươi, càng khi càng hiếm. Những câu hát hò khoan của xứ Quảng quê tôi khi dần đi vào tuyệt lộ!

Tôi sinh sau đẻ muộn, thương cái sự văn thuở còn ăn chung ở lộn với đời khoai sắn mà lặn lội xóm làng khề khà chén rượu ki cóp đôi vần. Việc vặt mà mưu cái sự cao: Lưu giữ cho con cháu đời sau.

Cà kê thế nào lại sinh sử sự mai sau, một ngày tao ngộ, khi mời anh Đức Dược với chị Minh Tâm của Đọt Chuối Non đối đáp một phen cho mình “ kiến tại”.

Nhưng nhớ đừng ra những đòn quá độc!

Nguyễn Tấn Ái

Đi trắng về đen

Đôi khi dạo chơi phơ phất đâu đó nơi quen thuộc ta lại chợt nhặt được đôi điều mới lạ mà xưa kia vô ý chẳng nhận ra.
Đây là câu chuyện tôi nhặt lại trong vườn cổ học:
dogchasingman
Một hôm trời nắng Dương Bố đi chơi. Khi ở nhà mặc áo trắng, nửa đường gặp mưa ước hết. Người quen cho mượn cái áo thâm.
Bố về nhà, con chó nhà vừa cắn vừa đuổi. Bố giận toan cầm gậy đánh. Anh là Dương Chu chạy ra bảo:
“ Đừng đánh nó làm gì! Nó đuổi như thế cũng phải. Giả sử con chó trắng nhà ta đột nhiên đổi màu lông thành đen thì em có lấy làm lạ không?”

Không biết lỗi tại phía nào?
Nghĩ cái sự con người ta lạ ngay cái chỗ nết người, thường thì nhạy lắm cái sự người ta xoay ra chiều khác, mà cái sự mình đổi khác thì cứ tỉnh như nhiên! Thế là cố chấp và ích kỉ lắm. Giá như lúc nào cũng sẵn một người anh bên mình như Bố để cảnh tỉnh mình.

Lại nữa, cái màu mè sơn phết bên ngoài còn có cơ nhận ra mà tránh, còn cái đen từ ruột đen ra, mình còn không biết, nói chi anh em!

Mà phàm phu tục tử thì chẳng chấp làm gì. Đôi lúc hiền nhân quân tử mà cũng cứ bị cái sự được không cao thấp của đời nó hoặc cho đến mê mới hại. Anh cả của đọt chuối non có lúc chê Nguyễn Công Trứ bị hoặc bởi chữ danh ngẫm mà có lí!

Mà có riêng gì tướng công Uy Viễn, tội nghiệp Nguyễn Tiên Điền chọn cho mình tên tự Tố Như hẳn giàu hàm ý, vậy mà cũng có lúc cứ đau đắm đuối trong một nỗi niềm hư ảo:

Dao ức gia hương thiên lí ngoại
Trạch xa đoạn mã quí đông lân

Tạm dịch:

Quê nhà xa hút mù khơi
Đời xe ngựa, thẹn với người thuở xưa!

Ý hẳn cũng mong cái sự khác mình nhiều lắm!
Xin lượng thứ!
heartcarvedintotree
Cũng xin lượng thứ khi kể một chuyện không vui, một nhà thơ từ một “kiếp phôi pha” cho đến khi rời cái bậc tam công của mình vẫn còn oán “chúng nó tiếc gì cái chức cố vấn mà không cho miền giữ”( theo phóng sự của Phùng Quán).

Ô hay, hành trình làm người khó giữ thiên lương cho lành vững!

Ngẫm mà thương Vương Xương Linh, đỗ tiến sĩ, đi làm quan xa, chỉ lo ngai ngái cái lòng mình trên hoạn lộ, chỉ sợ cố nhân ngày về chẳng còn nhận mặt nhau mà chí tình nhắn gửi:

Lạc Dương thân hữu như tương vấn
Nhất phiến băng tâm tại ngọc hồ.

Tạm dịch:

Bạn xưa dù hỏi, rằng ta
Lòng trong vẫn giữ như là thuở nao!

Lại nhớ cụ Nguyễn Khuyến dù thương Dương Khuê đến thế mà khi khóc Vân Đình tiến sĩ lại lẫn trong tiếng tình thống thiết một lời trách khôn nguôi:

“Bác già tôi cũng già rồi
Biết thôi, thôi thế thời thôi mới là.”

Khi nói những lời này, lòng cứ ngùi ngùi nhớ dăm thằng bạn, lại thon thót giật mình không biết cái tôi giờ đã ra sao?
Một chút phản tỉnh giữa ngày đời bận rộn, không biết có đại ngôn tật hô không thế?
Mà e khi to tiếng lớn giọng thì đã khác ngay từ cái giọng của mình, chao ôi!
Mà Dương Bố chỉ có một Dương Chu, tôi thì còn có cả anh em mình, ta hãy nhắc nhau sống từng ngày đời cho thật!

NGUYỄN TẤN ÁI.

Chuyện của những đêm tối trời

Ở quê, thuở chưa xa, những đêm không trăng mênh mông là đêm tối, sự sống lu bu quần tụ quanh những ngọn đèn dầu. Và lũ trẻ có được cái thú háo hức nghe những chuyện li kì rùng rợn.

Chuyện ma le
ghost1
Chú Bốn góa vợ, không phải chú không có vợ, mà vợ chú chết rồi. Mà cái việc chú có vợ cũng là chuyện “hên”. Một cô gái không biết từ đâu đến làng mót khoai, thấy nhà chú một mẹ một con, xin ở nhờ, rồi thành vợ chú.
Ai cũng khen cô tốt nết, tốt người, lại khéo vá may. Từ ngày có cô dâu, cái cơm tấm áo nhà mẹ con chú Bốn tươm tất hẳn. Chỉ khổ ba năm rồi mà chưa có mụn con, mà chú Bốn ngày một xanh xao. Thương chồng, vợ chú dành cơm cho chú, không ăn hột nào.
Có tiếng dè bỉu: “Chỉ làm bộ, không ăn sao người hồng hào béo tốt mặn mắt thế, khéo ở nhà ăn vụng.”
Mẹ chú Bốn sinh nghi, một bận giả bộ đi làm đồng, nửa buổi quay về rình sau hè.
Cô dâu vẫn chăm chỉ vá áo. Bỗng một cơn gió thổi tung rẻo vá.
Rồi cái lưỡi cô dâu cứ thế le ra dài thườn từ chổ ngồi đến mảnh vải có chừng vài sải.Cô nhặt mảnh vải bằng lưỡi!
Mụ gia chết điếng người.
Mụ cầu phù thủy. Phù thủy mách: Ma le dễ trị, nó không ăn cơm, chỉ hút tinh khí người, ban đêm thường đi ăn thêm phân gia súc. Rồi cho một lá bùa.
Đến đêm, mụ gia qua giường con dâu, thấy chỉ còn cái xác rỗng, phần đầu và ruột đâu mất!!! Mụ đem lá bùa dán nơi cổ, rồi lật úp xác lại. Xong về giường nằm.
Nửa khuya mụ nghe có tiếng gào khóc trên mái hiên, con dâu đòi mở cửa cho nó vào nhà. Mụ sợ ngồi tho lo một xó,Chú Bốn vẫn ngủ mê mệt.
Gần sáng, con ma bay đi đâu mất. Chỗ cái xác chỉ còn dúm giẻ rách.
Chú Bốn về sau khỏe mạnh như thường, chỉ cái không có vợ nữa, ai hỏi chú cười hề hề bảo: Ngủ với ma đã đời ông địa rồi, không nghiện người nữa!
.

Chuyện ma bù cào
ghost
Các bạn có biết cái cào năm răng dùng để cào cỏ không? Ở quê gọi là cái bù cào.
Tiếng đồn ở dốc Bà Giáo có con ma răng dài mặt đỏ, ai cũng sợ, gọi là ma bù cào.
Vì sợ nên lúc chạng vạng thì trên dốc tuyệt không có bóng người. Ai có chuyển bụng cũng chờ đến sáng hôm sau.
Một vị khách có việc ngang đường, không dám lên dốc, đành ghé nhà bên đường xin nghỉ qua đêm. Một lát, lại có người xin ở lại, cùng một lí do. Hai ông khách bàn nhau: Mình có hai người, trời chưa tối lắm, cũng có thể cùng nhau vượt dốc. Mặc chủ nhà ngăn cản, hai ông khách lên đường.
Càng đi, đường càng vắng, gió càng lạnh. Một người đã bắt đầu sợ, nói với người kia:
Sợ quá, hay hồi nãy ở lại, nghe nói chỗ ni kinh lắm.
Người kia bảo: Đừng lo, có tôi đây, anh xem con ma kia có đáng sợ như tôi không?
He!!!Trên mặt là hai cục lửa đỏ lòm lòm, hai cái nanh dài như hai cái tay vượn!
Sáng hôm sau người đi đường thấy một cái xác còng queo, tái nhợt không còn hột máu.
Dốc Bà Giáo từ ngày san đồi lấp hố, đường nhựa phẳng lì, chẳng biết con ma bù cào đi đâu không rõ.
Chỉ biết mấy chú ngồi xác cầu cơ thỉnh thoảng la hét cào cấu, mặt xanh dờn,máu chó chổi rể phải đập tới tấp mới xả nổi. Ấy là ma bù cào nhập xác.

Hề, chuyện hoang đường kiểu này ở quê còn nhiều lắm, không kể sợ thất thoát. Nếu bạn đọc có hứng thú thì xin cho biết, sẽ còn nhiều chuyện như rắn hiển linh, phù thủy bị quỉ vật… Tha hồ.
Xin cam đoan rằng chỉ kể vui, không thật đến trăm phần trăm đâu.

NGUYỄN TẤN ÁI.

Chiêu Niệm

ladywithfan-Ơi em của diệu huyền, ơi em của tình yêu
Em của sớm mưa bay, em của chiều tắt nắng
Ơi sứ giả dắt hồn lang thang hoang vắng
Ơi mảnh vỡ của đời, ơi vết cắt lòng anh!
Ơi hơi hướng thiên thần, ơi mái tóc ngời xanh
Ơi một thuở ta đam mê khờ dại
Ơi tuổi đôi mươi hãy cùng ta về lại
Điểm xuất phát ngày nào khi ta hãy còn em!

Nguyễn Tấn Ái.

.

Calling memories
memory
O maiden of mystery, O maiden of love
Maiden of rainy morning, maiden of sunless afternoon
O messenger who leads my soul to the wilderness
O splinter of life, O the cut on my heart!
O breath of angel, O flowing hair of the sky
O the time of my naive passion
O the twenties, come back with me
To the beginning
When I still had my beloved!

TDH
Lake of the Woods, VA, USA
10:45 pm Oct. 28, 2009

Đêm Dài

ĐÊM DÀI

    Kính tặng Tú Xương

Nam Định.

Tú Xương. Tranh của họa sĩ Trần Quang Trân vẽ sau khi ông Tú mất khoảng 20 năm
Tú Xương. Tranh của họa sĩ Trần Quang Trân vẽ sau khi ông Tú mất khoảng 20 năm

Cuối thế kỉ 19 không còn yên tĩnh nữa, cái tin mừng ông hoàng giáp làng Vị Hạ tỉnh Hà Nam vừa vinh qui không đắp đổi dồn dập nghững nỗi kinh hoàng: Hà thành thất thủ, danh tướng Nguyễn Tri Phương rồi liên tiếp thủ khoa Huân , hoàng giáp Phạm Văn Nghị tuẫn tiết; hòa ước Hác- măng ô nhục, Tự Đức băng hà.

Sĩ tử rụt rè gà phải cáo.

Trên đường đê, dấu cũ của con sông Vị Hoàng phố cổ thành Nam, một thư sinh bước đi thiểu nảo.

Căn nhà ba gian tường gạch trát đất vữa đứng sùm sụp sau một hàng trúc lơ thơ.

Đến ngoài bờ trúc, nho sĩ dừng lại, thở dài. Trong nhà mấy đứa con nít túa ra, vừa chạy vừa reo:

Thầy đã về.

Trái với vẻ hớn hở của lũ trẻ, nho sĩ chậm rãi sờ đầu từng đứa: Thằng Bái, thằng Bột, thằng Bành, con Thục.

Gói quà là mấy nắm xôi lạc mua vội từ góc phố, chút vớt vát của một mùa thi Hương thất bát.

Bà Tú vẫn chưa về. Ông Tú ngồi bắt bằng trên bộ ngựa đợi vợ, rít một khói thuốc lào.

Đợi vợ trong nỗi buồn mà xót bà Tú tất bật chợ đời.

Một quãng đồng mênh mông quạnh vắng, vùng Nam Định trắng xóa là nước ngày đông, chang chang là nắng ngày hạ. Bà cứ như một chấm trắng nhỏ giữa trời chiều. Chao! Cái cánh cò lẻ loi đó lặn lội chắc đã nửa đời, rồi chắc cũng lặn lội kì hết nửa phần còn lại. Phố Nam Định từ Tây sang tấp nập trên bến dưới thuyền. Những con tàu viễn dương khổng lồ nuốt từng tấn than đen no bụng, ầm ì nhả khói, lừng lững ra khơi. Những con thuyền thủ công nhọc lòng đi khơi đi lộng dạt về bến mới. Bến cá trong cái nhỏ bé nhọc nhằn của mình cũng không kém phần chao chát eo sèo.Một người phụ nữ chừng dưới ba mươi, mặt lành da trắng, thị vuốt ngược một giọt mồ hôi, tức tửi lách mình bưng bê giữa đám người nhốn nháo. Chao ôi! Ai dám nghĩ đó là bà Mẫn, vợ của đấng tú tài nổi tiếng tài hoa. Chao ôi! Nhớ cái ngày bà về làm dâu mới rình rang nở mặt:

Căn nhà 280 Hàng Nâu (Minh Khai) nơi Tú Xương từng cư ngụ
Căn nhà 280 Hàng Nâu (Minh Khai) nơi Tú Xương từng cư ngụ

Ông tu tát nhà cao cửa rộng toan để cho dâu
Chồng lăm le bia đá bảng vàng cho vang mặt vợ.

Năm ấy là năm Ất Dậu ( 1885).

Những tưởng rồi Tú Xương đỗ đạt, võng tía lọng vàng, danh thơm bốn bể, bà cũng thơm lây:

Võng anh đi trước võng nàng
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò.

Nào ngờ… con gái dòng dõi thi thư nổi tiếng làng Lương Đường tỉnh Hải Dương nay lại hàng tôm hàng cá thế này, chao ôi! Eo sèo mặt nước buổi đò đông!

Ngồi nghĩ mình lận đận, tám khoa nhẵn mặt chỉ vớt vát nổi cái tú tài, nghĩ mà xót đồng tiền mồ hôi nước mắt của bà vợ lắm!

Và kì này mùa thi năm Đinh Dậu( 1897), sĩ tử buồn hiu. Một vì văn tinh từ trời cao vừa rơi rụng, vì văn khúc ứng vào Tuy Lí Vương Miên Trinh.* Cái văn nghiệp nước nhà đến kì hỏng bét.

Kì thi phú. Tú Xương đắt chí cái thơ mà hụt hẫng cái trường:

Nào có ra gì cái chữ nho
Ông nghè ông cống cũng nằm co
Chi bằng đi học làm thông phán
Tối rượu sâm banh sáng sữa bò
.

Kì văn sách, quan trường một phường bợ đít Đu – me lại học đòi nói câu cửa khổng: “ Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”.
TruongNamĐinh
Tú Vị Xuyên chấm bút, huơ liền một mạch, nét bút lông cứ xoắn lên nền giấy hoa tiên, phần phật như gió lại ran rát như lửa:

Dân ta hỏng rồi

Nhà kia lỗi phép con khinh bố
Mụ nọ chanh chua vợ chửi chồng

Xã tắc ta hỏng rồi

Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai

Vua ta hỏng rồi, quí sĩ tử cứ ngóng lời ông nghè làng Yên Đỗ mà rõ việc

Vua chèo còn chẳng ra gì
Quan chèo vai nhọ khác chi thằng hề

Tú nộp quyển, chệnh choạng ra khỏi trường thi, lần ruột tượng ghé bà hàng nước, đồng tiền kẽm rơi đánh keng trên nền gạch, mấy đồng xu đã hoen gỉ xanh với mùi muối cá bà Mẫn gom góp từ những phiên chợ chiều.

Chợt mi mắt vị tú tài cay cay.

Tiễn chân cô mất dăm đồng lẻ
Sờ bụng thầy không một chữ gì!

Hỏng kì này là chẵn năm.

Tú Xương ngồi chong đèn thu mình trên gác ván, nghĩ lại câu chuyện Đặng Tử Mẫn thì thào khi chiều: Phan Bội Châu đã ra Bắc, lên Phồn Xương, chắc là để gặp Đề Thám.

Tú ngẫm lại đôi lần trò chuyện cũng Phan danh sĩ. Miệng rồng mắt sư tử, con người chọc trời khuấy nước ấy ngang nhiên mang cái án “hoài hiệp văn tự” ngao du bốn bể, kết giao cùng nhân sĩ hào kiệt Bắc Nam. Cũng là kẻ sĩ mà thẹn mình chưa được cái khí cốt Bội Châu. Ngẫm một đời văn nhược tài hoa, một đời phong nguyệt tình hoài, một đời nổi tiếng được cái chơi ngông phá bĩnh, cũng hoài phí một kiếp đầu thai nhầm thế kỉ. Tú thở dài, chấm bút nắn nót những dòng thơ cuối đời:

Chập tối trông ra ngỡ sáng lòa
Đêm sao đêm mãi thế ru mà
Kìa kìa ai kẻ tìm ta đó
Đốt đuốc mà soi kẻo lộn nhà.


NGUYỄN TẤN ÁI

* Tuy Lí Vương Miên Trinh mất ngày 18 tháng 11 năm1897.

Tưởng Rằng Đã Quên

Thoáng qua một bắt tay san sẻ, một nụ cười gửi trao, một ân cần muộn màng…sao nặng lòng đến thế!
Cuộc công chức viên vo đến từng giờ, từng ngày, từng tuần… giá trị người như còm đi theo thời gian biểu. Cần lắm một lời chào tử tế, một ngưỡng mộ giả vờ, một đồng cảm bâng quơ… như hâm nóng con tim ngày nguội lạnh.

Có thể rằng trong một vật vã đời thường, một câu thúc đời thường, một chỉn chu đời thường… tâm hồn chợt lóe lên một chớp sáng kì dị, khát một chia li, khát một đạp đổ, khát một rũ bỏ để thênh thênh nhẹ cánh bay vèo đến những cơn mơ.
Và trong những phút giây tăng tốc vượt đèn đỏ có thể tình cờ ta cùng một đường bay.
Cũng có thể trong một phút giây thôi miên nào đó ta tình cờ lạc vào túi đen nhân loại, biến mất khỏi những lực hút trái đất một cách dị kì.

Từ Thức xưa, Lưu Thuần xưa tìm được đào nguyên cũng cùng một uyên nguyên như thế.
Mà vườn đào thì yêu quái lắm, chốn đây hoa xuân chưa gặp bướm trần gian, có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn phai một lần.
Mà đào nguyên thì cô đơn lắm, những lúc phiêu bồng làm đám mây lãng đãng lại khát hoài một sợi dây liên hệ với gia đình, vợ con, bè bạn. Cái con rối người cắt đứt những sợi dây thì rủ liệt tay chân.

Lại quay về với chức phận làm người, lại đứng hát nghiêm trang bên bờ vực mái tóc xòa hứng hết gió gieo neo.
Mà cũng thế, chẳng thể nào nguôi quên một phút phiêu bồng.
Nơi ấy ta tạo hóa diệu kì tạc hình em thành tiên nữ, nơi ấy ta nghệ sĩ điên rồ tội lỗi say mê hôn ước với tác phẩm của mình.
Nơi ấy ta vắt hồn ta thành suối nguồn yêu thương chảy ngang đời em chân bùn tay lấm, em rũ áo sáng lòa bao nhiêu!
Nơi ấy ta bang chủ ngạo cuồng đong đời bằng vung múc đời bằng vá. Em ý hẳn cho ta là điên, ý hẳn cho ta là cuồng, ý hẳn cho ta là lạ. Và em cũng hóa tâm thần cho vừa tầm kẻ loạn thần kinh.
tovuong
Và nơi này ta là kẻ mọt sách lần hoài những trang kí ức xa xăm.
Và nơi này ta là gã công chức già một chiều lang thang vào quán cà phê, biết chẳng là gì của nhau xin trả em về, lời Khánh Li muôn thuở não nùng oan khổ như buổi người về trong lặng lẽ đam mê.
Ngồi sắp xếp lại đời mình cứ thấy ngổn ngang rối rắm một sự đời, rối rắm một thước đo, rối rắm một hôn ước, rối rắm một nước cờ.
Mỗi một đời là một tồn sinh. Mỗi một đời là một sáng tạo. Mỗi một đời là một sự sống chưa có lập trình. Ta đã dại dột tự tin đời là một chuyến tàu dẫu tốc hành thì lộ trình cũng đã kí định ở những chuẩn mực thông thường.

Và chẳng thể phi thường được nữa.
Và trả những cơn mơ về với những cơn mơ.
Như trả ngày bão nổi về cho biển cả.
Như trả giọt sương đi hoang về tận mây trời.
Như kí thác mình cho lục địa bình yên.
Và biết xa xăm còn một dỗi hờn.
Và day dứt khôn nguôi.

Cuối xin em chút dỗi hờn
Về ươm cả một mùa buồn cho nhau.
Ai đó có lời mãnh liệt: “ Có một tình yêu mãnh liệt là vứt bỏ”
Ta đang làm một lộ trình ngược chiều: “ Có một tình yêu đích thực là vọng tưởng
Cũng là đốt hết năng lượng của mình để chứng nghiêm một tình yêu!

NGUYỄN TẤN ÁI