Hội sách 2013 và Chuyện con mèo dạy hải âu bay

 

Một đứa em thỏ thẻ nói với mình “có hội sách chị ạ”. Hỏi em mua được cuốn nào, em nó lặp lại 1 cái tên 3 lần nghe rất … tây chứ chẳng phải là tiếng Việt, đành bảo em sách đâu, đưa chị xem cái nào. Và đó là Chuyện con mèo dạy hải âu bay – một cái tên rất tuổi thơ, rất dễ thương và rất … kích thích…

1315638204_meo_hai_au_butchi_7624
 

http://motsach.info/story.php?story=chuyen_con_meo_day_hai_au_bay__luis_sepulveda&chapter=000

 

Điều thứ nhất, yêu điều khác mình.

“Chúng ta đã dành cho con sự chăm sóc mà không hề nghĩ tới việc biến con thành một con mèo. (more…)

Woman In Love

Woman in love - Tranh Henry Nelson O'Neil 1856

Woman in love – Tranh Henry Nelson O’Neil 1856

 

Chào các bạn,

Phụ nữ là biểu tượng của cái đẹp và tình yêu. Có lẽ nếu tình yêu của người đàn ông là sự chinh phục, là biểu hiện của một sức mạnh thuyết phục, thì tình yêu của người phụ nữ là sự mềm mại, dịu dàng và vô cùng dẻo dai. Nếu tình yêu của người đàn ông thường là sự khởi nguồn cho câu chuyện, thì tình yêu của người phụ nữ là sự tiếp nối và khiến câu chuyện trở nên vĩnh cửu.

Hôm nay, ngày 8-3, chúng ta cùng nhau nghe lại một bài hát kinh điển về người phụ nữ, người đàn bà khi họ yêu và gìn giữ tình yêu của mình nhé.

 

Em là người đàn bà đang yêu
Và em làm bất kì điều gì
Để mang anh vào thế giới của em
Và ôm chặt anh trong đó
Đó là một đặc quyền mà em bảo vệ
Hết lần này đến lần khác hoài hoài
Em làm gì được bây giờ?

(more…)

Cờ Vua

 

Tết này ba dạy Cá đánh cờ vua. Chà, trước tiên phải cám ơn bác Vân đã mua bàn cờ và sách học cờ vua cho chị Maika để Cá sang chơi ké và ba thấy vậy quyết định dạy Cá biết chơi thiệt luôn. :)

Mỗi ngày một ván cờ, dù có thể dang dở... :)

Mỗi ngày một ván cờ, dù có thể dang dở… :)


Cá học cờ vua rất nhanh. Có lẽ vì đã được ba cho làm quen với quân cờ từ hồi hơn … 1 tuổi, giờ chỉ còn học bước đi. Chẳng biết có phải từ những bài học ngày xưa của ba hay không, ba có phương pháp dạy dễ hiểu, dễ nhớ và thực hành ngay. Thế nên chơi đến buổi thứ ba thì Cá đã đi được hết bàn cờ và cả biết nhập thành. Mẹ vô cùng ngạc nhiên và ngưỡng mộ cả ba lẫn con!!! :D Vậy là kiến thức cờ vua của con bằng với mẹ – thật ra thì còn nhỉn hơn vì mẹ cũng vừa biết nhập thành sau khi ba dạy con. :) (more…)

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được” – Hồ Chí Minh

 

    TĐH: Nhân ngày Quốc Khánh, mời các bạn đọc lại bài này trong loạt bài “Các diễn văn làm thay đổi thế giới”, để ôn lại một đoạn lịch sử đầu tranh cho độc lập của tổ quốc.

Các bạn thân mến,

Bài tuần này là 1 bài rất đặc biệt vì chúng ta sẽ tìm hiểu 3 bài diễn văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến công cuộc chiến đấu dành độc lập và tìm kiếm hòa bình của dân tộc Việt Nam. Tiến trình dành độc lập và tìm kiếm hòa bình này đã đưa đến các cuộc chiến đấu chống Pháp với chiến thắng Điện Biên Phủ của quân đội Việt Minh 1945, và cuộc chiến đấu chống Mỹ với Đại thắng mùa xuân 1975, tạo nên hội chứng Việt nam (Vietnam Syndrome) trong chính sách ngoại giao của Mỹ.

Từ 1975 cho đến cuối thập niên 1990’s của thế kỷ 20, hội chứng Việt Nam đòi hỏi các chính khách Mỹ quan tâm đặc biệt đến việc sa lầy quân sự và chính trị khi đưa quân Mỹ tham chiến tại một quốc gia nào đó, và do đó làm giảm thiểu đến mức tối đa các hoạt động quân sự của Mỹ trên thế giới. Sang thế kỷ 21, với cuộc đánh bom 911 (Sept. 11, 2001) của al Qeada ở Mỹ. Mỹ lại bắt đầu có nhiều cuộc chiến trên thế giới (Afghanistan, Irag…), nhưng hội chứng Việt Nam vẫn luôn có mặt trong các tranh cãi trong nội bộ Mỹ mỗi khi Mỹ định lâm chiến bên ngoài: “Mỹ có nên nhúng tay vào quân sự ở nước… không, hay là lại bị sa lầy như ở VN trước đây?” (Ví dụ, Worse than Vietnam [about Afghanistan], http://opinionator.blogs.nytimes.com/2010/11/23/afghanistan-and-vietnam/; Iraq: Learning the lessons of Vietnam War, http://www.foreignaffairs.com/articles/61195/melvin-r-laird/iraq-learning-the-lessons-of-vietnam)

(more…)

Quà xuân – tặng sách “TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống”

 

Chào các anh chị em Vườn Chuối,

Hiện tại ĐCN đang giữ một số sách “TƯ DUY TÍCH CỰC Thay Đổi Cuộc Sống” của anh Hoành, do một mạnh thường quân mua tặng các tổ chức/nhóm từ thiện, tôn giáo, xã hội, thanh niên/sinh viên/học sinh… ĐCN dự định sẽ gửi tặng mỗi tổ chức 2 quyển làm quà tết.

Nếu bạn là tác giả (đã có một bài đăng trên ĐCN) hay độc giả thường xuyên (đã phản hồi ít nhất là một lần trên ĐCN) bạn có thể giúp hoàn thành việc tặng sách này:

(more…)

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Hãy ngừng giết chóc! Để có được hòa bình” – Golda Meir

Các bạn thân mến,

Tuần này chúng ta cùng tìm hiểu bài diễn văn của thủ tướng Israel đọc trước nghị viện vào năm 1970, tìm hiểu về những vấn đề trong bài diễn văn này, là chúng ta đang tìm hiểu về một trong những cuộc xung đột chính trị – tôn giáo – xã hội sâu sắc và dai dẳng nhất trong lịch sử loài người – xung đột tại Trung Đông. Cuộc xung đột này bắt nguồn từ xa xưa và đến ngày nay vẫn chưa có giải pháp hoà bình hiệu quả.
Ngược dòng thời gian rất xa, quay về trước năm 1800 trước Công Nguyên, khu vực Trung Đông ngày nay là khu vực định cư của người Do Thái. Sau đó, người Ai Cập đã bắt toàn bộ dân Do Thái làm nô lệ (thời đó Ai Cập phát triển rực rỡ và hùng mạnh). Người Do Thái phải di cư sang Ai Cập nhưng suốt thế hệ này sang thế hệ khác, vẫn nhớ về nguồn gốc của mình.

(more…)

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được” – Hồ Chí Minh

 

Các bạn thân mến,

Bài tuần này là 1 bài rất đặc biệt vì chúng ta sẽ tìm hiểu 3 bài diễn văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến công cuộc chiến đấu dành độc lập và tìm kiếm hòa bình của dân tộc Việt Nam. Tiến trình dành độc lập và tìm kiếm hòa bình này đã đưa đến các cuộc chiến đấu chống Pháp với chiến thắng Điện Biên Phủ của quân đội Việt Minh 1945, và cuộc chiến đấu chống Mỹ với Đại thắng mùa xuân 1975, tạo nên hội chứng Việt nam (Vietnam Syndrome) trong chính sách ngoại giao của Mỹ.

Từ 1975 cho đến cuối thập niên 1990’s của thế kỷ 20, hội chứng Việt Nam đòi hỏi các chính khách Mỹ quan tâm đặc biệt đến việc sa lầy quân sự và chính trị khi đưa quân Mỹ tham chiến tại một quốc gia nào đó, và do đó làm giảm thiểu đến mức tối đa các hoạt động quân sự của Mỹ trên thế giới. Sang thế kỷ 21, với cuộc đánh bom 911 (Sept. 11, 2001) của al Qeada ở Mỹ. Mỹ lại bắt đầu có nhiều cuộc chiến trên thế giới (Afghanistan, Irag…), nhưng hội chứng Việt Nam vẫn luôn có mặt trong các tranh cãi trong nội bộ Mỹ mỗi khi Mỹ định lâm chiến bên ngoài: “Mỹ có nên nhúng tay vào quân sự ở nước… không, hay là lại bị sa lầy như ở VN trước đây?” (Ví dụ, Worse than Vietnam [about Afghanistan], http://opinionator.blogs.nytimes.com/2010/11/23/afghanistan-and-vietnam/; Iraq: Learning the lessons of Vietnam War, http://www.foreignaffairs.com/articles/61195/melvin-r-laird/iraq-learning-the-lessons-of-vietnam)

(more…)

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Các bạn không thể ghét gốc rễ của một cây mà không ghét chính cây đó” – Malcom X

 

Các bạn thân mến

Tuần trước chúng ta đã đã đọc một bài giới thiệu dài dòng về chế độ nô lệ và sự phân biệt chủng tộc đối với người da đen trong lịch sử cận-hiện đại của Hoa Kỳ. Chúng ta đã biết về Martin Luther King, là 1 trong 2 người được xem là đóng góp nhiều nhất cho sự xoá bỏ phân biệt chủng tộc, thông qua bài diễn văn nổi tiếng thế giới “tôi có một giấc mơ” rung động lòng người

Hôm nay chúng ta có dịp biết về người khác, sống cùng thời, cùng địa điểm và có cùng chí hướng với ông: Malcolm X. Điểm giống nhau của King và MalcolmX là họ đều mong muốn giải phóng người da đen. Tuy nhiên nếu triết lý của King là: hãy làm cho người da trắng cảm nhận họ đã đánh cắp gì từ người da đen, từ đó làm họ rung động và mở lòng ra với người da đen, thì triết lý của Malcolm cực đoan hơn: nếu người da trắng có các không gian dành riêng cho họ, thì người da đen cũng sẽ liên kết chặt chẽ trong cộng đồng của mình (và mặc xác người da trắng cho đến khi nào họ chủ động muốn người da đen mở lòng mình), vì không có lý gì mà người da đen phải đi xin xỏ người da trắng!

(more…)

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Họ đều là những người tốt” – Éamon de Valera

 

Lịch sử của Ireland trải dài suốt 800 năm từ thế kỷ 12 đến thế kỷ 20 là 1 giai đoạn xung đột và bất ổn kéo dài của người dân Ireland chống lại ách đô hộ của Vương Quốc Anh, lồng thêm vào đó là cuộc xung đột tôn giáo giữa Công Giáo La Mã và Kháng Cách (hay trong trường hợp này là Anh Giáo):

Cuối thế kỷ 12, nước Anh xâm chiếm toàn bộ Ireland và áp đặt ách đô hộ của mình lên Ireland.

Một thế kỷ sau đó, Giáo Hội Thiên Chúa Giáo tại châu Âu bắt đầu có những bất đồng, dẫn đến sự tồn tại của 2 Giáo Hoàng song song, phát sinh cuộc chiến giữa các vương hầu. Điều này ảnh hưởng đến hình ảnh thiêng liêng, quyền lực của Giáo Hoàng, rồi nhiều người bắt đầu “suy nghĩ thêm” về bản chất của giáo hội, nguồn gốc và giới hạn của thẩm quyền dành cho giáo hoàng và các vương hầu.

Rồi xuất hiện nhu cầu “vẫn tin Kinh Thánh, nhưng không muốn chịu ảnh hưởng của Giáo Hoàng” và phong trào Kháng Cách xuất hiện, ban đầu với mục tiêu tạo áp lực để cải cách Giáo Hội Công Giáo, nhưng sau đó chuyển thành ly khai khỏi Công Giáo. 1 loạt nhánh của Thiên Chúa Giáo xuất hiện: Tin Lành, Anh Giáo, Phái Thanh Tẩy (phần này quá dài và rộng để viết xuống đây)

Năm 1542, Anh Giáo được áp đặt lên Ireland, nhanh chóng làm bùng nổ cuộc chiến tranh tôn giáo giữa những người theo Công Giáo và Anh Giáo. Nước Anh đàn áp dã man những người theo Công Giáo, sáp nhập hẳn Ireland vào Anh và giải tán Quốc Hội Ireland, càng khơi sâu thêm xung đột giữa “Người Cai Trị ngoại lai – Dân Địa Phương”

1916, diễn ra cuộc nổi dậy Lễ Phục Sinh của những người theo chủ nghĩa quốc gia Ireland nhằm đánh đuổi người Anh và thành lập Cộng Hoà Ireland. Cuộc nổi dậy bị đàn áp đẫm máu: 15 lãnh đạo bị hành hình và hơn 1000 người bị cầm tù. Nhưng chính sự đàn áp này khơi dậy tinh thần yêu nước của dân Ireland làm phong trào bùng nổ dữ dội hơn dưới sự lãnh đạo của Eamon De Valera. Nước Anh sau nhiều cố gắng đàn áp không được, cuối cùng đồng ý đình chiến với Ireland vào năm 1921, làm tiền đề cho tiến trình trả tự do cho Ireland.

Bài diễn văn dưới đây được đọc nhân kỷ niệm 50 năm ngày diễn ra cuộc nổi dậy Lễ Phục Sinh, bước khởi đầu cho kết thúc của nền cai trị Anh. Đây là 1 bài diễn văn ngắn, lập luận giản dị nhưng vẫn có sức thuyết phục.

Có vài điểm nổi bật của bài diễn văn này:

    - 2 vấn đề “Quốc Gia” và “Tôn Giáo” đan xen lẫn nhau, nhiều lúc đồng nghĩa, do hoàn cảnh lịch sử (đã đề cập ở trên):

Họ đều là những con người tốt, sống trọn vẹn cho trách nhiệm của mình, và chính sự tin tưởng vững chắc nhất, đức tin đầy đủ nhất và tình yêu với đất nước đã thúc đẩy hành động của họ. Thời gian đã chứng minh những người này là các nhà tiên tri, và với sự ưu ái của Thiên Chúa…

- Tác giả đã khéo léo dựa vào sự hy sinh anh dũng của các nhà lãnh đạo, để nhắc nhở mọi người phải hoà hợp, thống nhất xây dựng đất nước. vì đó là mơ ước của những người đã ngã xuống

- Và tác giả cũng nhắc nhở việc gìn giữ tiếng Ireland như 1 niềm tự hào dân tộc, vì Ireland là 1 nước độc lập và có ngôn ngữ riêng. Cần biết sở dĩ tác giả phải kêu gọi như vậy, vì việc chuyển từ tiếng Anh sang tiếng Ireland vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn, và đến tận ngày nay, vẫn chưa được coi là thành công.

Về tác giả (Wikipedia)

Éamon de Valera (14/10/1882 – 29/8/1975) là một trong những nhà chính trị nổi bật nhất trong thế kỷ 20 của Ireland. Là người đứng đầu chính phủ Ireland. Ông cũng là người ban hành Hiến Pháp Ireland
De Valera là nhà lãnh đạo của phong trào giành độc lập từ tay người Anh trong Chiến Tranh Giành Độc Lập cho Ireland, là nhà lãnh đạo khuynh hướng không ủng hộ hiệp ước với Anh trong nội chiến Ireland (1922-1923). Ông là nhà lãnh đạo chính phủ 1932–48, 1951–54 và 1957–59 và là tổng thống Ireland giai đoạn 1959–73.

(Nguyễn Mai Anh Kiệt giới thiệu)

Phục Sinh này, chúng ta tưởng nhớ về Phục Sinh năm mươi năm trước đây, và tôn vinh những người khi đó đã trao mạng sống của mình, hoặc chấp nhận rủi ro với mạng sống của mình để Ireland có thể được tự do.

Đặc biệt, chúng ta mong muốn tôn vinh bảy con người dũng cảm đã bất chấp mọi cản trở vẫn kiên quyết khẳng định, một lần nữa với vũ trang, quyền độc lập chủ quyền của đất nước chúng ta. Đó là một quyết định định mệnh mà ngày nay chúng ta biết rằng là bước tiến táo bạo nhất và vượt xa nhất trong lịch sử của chúng ta.

Họ đều là những người tốt, sống trọn vẹn cho trách nhiệm của mình, và chính sự tin tưởng vững chắc nhất, đức tin đầy đủ nhất và tình yêu với đất nước đã thúc đẩy hành động của họ. Sự chuyên tâm và không vị kỷ của họ, sự hy sinh của họ và những hy sinh của những người đã mất trong Cuộc Nổi Dậy đã khơi mào cho sự trỗi dậy của cả nước tiếp theo. Nguyện xin Thiên Chúa tốt lành giữ tất cả họ trong sự che chở của Ngài.

Thời gian đã chứng minh những người này là các nhà tiên tri. Họ đã nhìn thấy những gì ít ai thời đó có thể tiên đoán, và với sự ưu ái của Thiên Chúa, các đặc ân chúng ta được hưởng ở đây hôm nay là do chúng ta nợ tầm nhìn xa của họ và sự thấu hiểu của họ về trái tim của dân tộc ta.

Tự do chính trị tự nó không phải là mục tiêu cuối cùng. Đúng hơn, tự do chính trị là điều kiện để từng bước xây dựng lên một cộng đồng, trong đó một số lượng thành viên càng ngày càng nhiều, nhờ được giảm nhẹ áp lực của các nhu cầu kinh tế nhiều đòi hỏi, nên được tự do để cống hiến đời họ cho tinh thần và tâm hồn càng ngày càng nhiều, và như vậy, họ có thể có được hạnh phúc của một cuộc sống đầy đặn. Đất nước ta khi đó có thể một lần nữa, như bao nhiêu thế kỷ trong quá khứ, trở thành một trung tâm mục vụ và trí tuệ vĩ đại, từ đó các chân lý cứu rỗi viên mãn của Mạc Khải của Thiên Chúa cũng như những thành quả của kiến thức chín chắn nhất về thế giới trần tục được phát triển.

Chúng ta không thể tôn vinh đầy đủ những con người của năm 1916 nếu chúng ta không làm việc và phấn đấu để mang lại cho Ireland những điều mà họ đã mong ước. Để làm được điều đó, mỗi người chúng ta phải làm phần của mình, và mặc dù các nhiệm vụ trước mắt chúng ta bây giờ khác những nhiệm vụ năm mươi năm trước đây, nếu chúng ta đủ tận tâm và ý chí của chúng ta kiên định, chúng ta có thể có ngày hôm nay sự hồi sinh của đất nước có thể sánh với sự hồi sinh sau năm 1916: chúng ta có thể khiến cho dân tộc chúng ta thống nhất như một gia đình – quốc gia của những người anh em – mỗi người làm việc trong sự hài hòa công nghiệp, không phải chỉ cho chính mình, mà vì điều tốt đẹp cho tất cả. Chúng ta khi đó có thể một cách tự tin tiến tới sự tôn cao đất nước ta giữa các nước khác, điều mà những con người năm 1916 đã tuyên thệ hiến thân phục vụ.

Trong việc thực hiện của tất cả các điều này, ngôn ngữ nước ta đóng một vai trò thiết yếu. Ngôn ngữ là một đặc tính chủ đạo của đất nước – là biểu hiện, như chính nó, của cá tính của quốc gia và là sự gắn kết chặt chẽ nhất giữa những người dân của đất nước. Không một quốc gia nào có một ngôn ngữ riêng của mình mà sẵn sàng từ bỏ ngôn ngữ đó. Ví dụ như người dân Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy, học và biết rõ một hoặc nhiều ngôn ngữ khác, như chúng ta cũng nên như vậy, tất nhiên, vì lợi ích của truyền thông, thương mại quốc tế, và cho các mục đích văn hóa; nhưng họ sẽ không bao giờ từ bỏ ngôn ngữ bản địa của họ, ngôn ngữ của tổ tiên của họ, thứ ngôn ngữ đã cất giữ một cách thiêng liêng tất cả những ký ức quá khứ của họ. Họ biết rằng nếu không có ngôn ngữ đó, họ sẽ chìm vào một chủ nghỉa thế giới vô định hình không có một quá khứ hay tương lai riêng biệt. Để tránh một số phận như vậy, thế hệ này của chúng ta phải chắc chắn là ngôn ngữ của chúng ta sẽ tồn tại. Đó là quyết tâm của những con người của năm 1916. Liệu đó có là quyết tâm của những người trẻ của năm 1966 không?

(Quỳnh Linh chuyển ngữ)

This Easter we are bringing to our minds the Easter of fifty years ago, and are seeking to honor the men who at that time gave, or risked their lives, that Ireland might be free.We wish to honor, in particular, the seven brave men who, despite all the deterrents, made the decision to assert, once more in arms, our nation’s right to sovereign independence. It was a fateful decision which we now know to have been one of the boldest and most far-reaching in our history.

These were all good men, fully alive to their responsibilities, and it was only the firmest conviction, the fullest faith and love of country that prompted their action. Their single-mindedness and unselfishness, their sacrifice and the sacrifices of the others who gave their lives in the Uprising inspired the national resurgence which followed. May the good God have them all in His keeping.

Time has proved these men to have been prophets. They foresaw what few could then have foreseen, and to their foresight and their insight into the hearts of our people, under God’s favor, we owe the privileges we enjoy here today.

Political freedom alone was not the ultimate goal. It was to be, rather, the enabling condition for the gradual building up of a community in which an ever increasing number of its members, relieved from the pressure of exacting economic demands, would be free to devote themselves more and more to the mind and spirit, and so, able to have the happiness of a full life. Our nation could then become again, as it was for centuries in the past, a great intellectual and missionary center from which would go forth the satisfying saving truths of Divine Revelation, as well as the fruits of the ripest secular knowledge.

We cannot adequately honor the men of 1916 if we do not work and strive to bring about the Ireland of their desire. For this, each one of us must do his part, and though the tasks immediately before us now are different from those of fifty years ago, we can have today, if we are sufficiently devoted and our will be firm, a national resurgence comparable to that which followed 1916: we can have our people united as a family—a nation of brothers —each working in industrial harmony, not for himself only, but for the good of all. We could then march forward confidently to that exaltation of our nation amongst the nations to which the men of 1916 pledged themselves.

In the realization of all this, our national language has a vital role. Language is a chief characteristic of nationhood—the embodiment, as it were, of the nation’s personality and the closest bond between its people. No nation with a language of its own would willingly abandon it. The peoples of Denmark, Holland, Norway, for ex-ample, learn and know well one or more other languages, as we should, of course, for the sake of world communication, commerce, and for cultural purposes; but they would never abandon their native language, the language of their ancestors, the language which enshrines all the memories of their past. They know that without it they would sink into an amorphous cosmopolitanism—without a past, or a distinguishable future. To avoid such a fate, we of this generation must see to it that our language lives. That would be the resolve of the men and women of 1916. Will it not be the resolve of the young men and women of 1966?

Nguồn tham khảo:

http://uk.answers.yahoo.com/question/index?qid=20100124063643AAJmQvp
http://en.wikipedia.org/wiki/Irish_people
http://en.wikipedia.org/wiki/United_Kingdom_of_Great_Britain_and_Ireland
http://en.wikipedia.org/wiki/Easter_Rising
http://www.bbc.co.uk/history/british/easterrising/
http://www.theirishstory.com/category/the-1916-rising/

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “chúng ta đã làm công việc này bởi vì nó là một cần thiết hữu cơ” – J. Robert Oppenheimer, cha đẻ của bom nguyên tử

 

Thế chiến thứ 2 đi dần đến hồi kết, Nước Đức ngày càng yếu. Tuy nhiên, Đồng Minh cũng rất lo ngại các phát minh vũ khí mới của Đức, mang tính cách mạng và cực kỳ lợi hại, chẳng hạn tên lửa khổng lồ V1 và V2, là những tên lửa xuyên lục địa đầu tiên trên thế giới, xuất phát từ Đức và oanh tạc dữ dội vào Anh. Máy bay Me 262, máy bay phản lực đầu tiên trên thế giới, nó không có đối thủ trên không. Chỉ có thể tập trung tiêu diệt nó khi đang cất cánh, đang hạ cánh hay đang nằm trên đường băng.

(more…)

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “kẻ thù đã bắt đầu sử dụng một quả bom mới và hiểm ác nhất” – Tuyên bố đầu hàng của Nhật hoàng Hirohito

 

Tháng 8 năm 1945, chiến tranh thế giới thứ 2 đi đến hồi kết. Nhật Bản là nước duy nhất còn lại của phe Trục (Đức và Ý đều đã đầu hàng vô điều kiện). Giờ đây cả thế giới nhằm vào Nhật bản và thất bại của quân Nhật là không thể tránh khỏi.

Tuy nhiên, Nhật Bản với tinh thần ngoan cường của mình vẫn chiến đấu đến cùng, liên tục diễn ra những cuộc tấn công liều mạng của quân Nhật vào quân Đồng Minh, những cuộc xung phong cảm tử quân Banzai (trong đó nhiều người chỉ dùng kiếm), các cuộc tấn công cảm tử bằng tàu ngầm “Kairyu”, thủy lôi sống “Kaiten”, khinh tốc đỉnh “Shinyo” và kinh hoàng hơn hết là phi đội cảm tử “Kamikaze”. Sự chống trả liều lĩnh của Nhật gây nhiều tổn thất cho quân Đồng Minh.

Ngày 2 tháng 8 năm 1945, các nước Đồng Minh ra tuyên bố Postdam, kêu gọi Nhật Bản đầu hàng. Đây thực chất 99% là bản yêu cầu “đầu hàng vô điều kiện”. Đồng Minh chỉ có 1 số cam kết nhỏ nhoi nếu Nhật Bản đầu hàng (không tiêu diệt nước Nhật, không bắt dân Nhật làm nô lệ …). Ngoài ra, từ “đầu hàng vô điều kiện” rất được tránh né nhắc đến, chỉ xuất hiện 1 lần ở cuối bản tuyên bố, nhằm tránh đánh vào sự tự tôn của Nhật.

Nhật từ chối

(more…)

Các Diễn Văn Làm Thay Đổi Thế Giới – “Ngọn lửa đấu tranh của người Pháp không được tắt và sẽ không tắt” – De Gaulle

 

Tháng 5 năm 1940, Đức tấn công Đồng Minh, liên quân Đồng Minh nhanh chóng thảm bại. Nước Anh rút toàn bộ quân đội về nước với hy vọng giữ được nước Anh. Chính phủ lưu vong của các nước Đồng Minh chạy sang Anh.

Tháng 6, nước Pháp còn lại đơn độc trong cuộc chiến với Đức, và nhanh chóng bị nghiền nát. Đức duyệt binh trên đại lộ Champs Elyssés.

Chính phủ Pháp đứng trước lựa chọn: chiến hay hàng ?

(more…)

Các diễn văn làm thay đổi thế giới – “điều duy nhất chúng ta phải sợ hãi chính là sự sợ hãi” – Diễn văn nhậm chức của TT Roosevelt

 

Các bạn thân mến,

Lần này, chúng ta sẽ cùng nhau đọc hai bài diễn văn nổi tiếng của Franklin Delano Rosevelt (1882 – 1945, thường được gọi tắt là FDR) , vị tổng thống thứ 32 của nước Mỹ, người mà đánh giá là vị tổng thống số 1 của nước Mỹ (theo đánh giá của các học giả Anh năm 2010). Đây là hai bài diễn văn tiêu biểu cho chính sách và thành tựu của ông ở cương vị tổng thống: lèo lái nước Mỹ qua cuộc Đại Khủng Hoảng và Chiến Tranh Thế Giới Thế Hai. (Tuần này chúng ta đọc bài Diễn Văn Nhậm Chức lần đầu, và tuần sau chúng ta sẽ đọc bài Diễn Văn Trân Châu Cảng). Trước khi đọc hai bài diễn văn, có lẽ ta nên điểm qua một chút về tính cách và con người của tác giả, Franklin Delano Rosevelt.

F.D.Roosevelt sinh trưởng trong một dòng họ với những tên tuổi gắn bó với lịch sử nước Mỹ, một gia đình giàu có và môi trường sống nhiều đặc quyền. Bà nội của ông là chị em họ của phu nhân tổng thống thứ năm của Hoa Kỳ, James Monroe. Còn ông ngoại của ông hậu duệ của những nhà lập quốc đến đất Mỹ trên tàu Mayflower, Richard Warren, Isaac Allerton, Degory Priest, và Francis Cooke. Ông cũng là anh em họ năm đời với tổng thống Theodore Rosevelt. Mẹ ông là một bà mẹ độc đoán với nhiều ảnh hưởng trên con trai, trong khi bố ông là một ông bố xa cách.

(more…)

Các diễn văn làm thay đổi thế giới – “Xin hãy tiến lên” – Winston Churchill

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, có rất nhiều sự việc được đem ra mổ xẻ và phân tích, và (như thường lệ) có rất nhiều từ “nếu” được đặt ra nhằm giúp mọi người tưởng tượng về các kịch bản: “nếu Đức đánh chiếm Anh ?”, “nếu Hitle không tấn công Liên Xô mà cũng cố châu Âu và xâm chiếm Bắc Phi” …Và trong các “nếu” đó, nổi bật là câu mọi người hay hỏi “liệu nước Anh (và thế giới) sẽ ra sao, nếu không có Churchill ?” (người ta không hỏi câu tương tự về Charles de Gaulle hay Stalin).

Trong giờ phút tuyệt vọng nhất của nước Anh, Churchill nổi lên như 1 điểm tựa tinh thần, người đã kêu gọi cả nhân dân Anh đứng lên chuẩn bị chống lại nước Đức Phát Xít, nước vừa đánh tan rã liên quân Đồng Minh 1 cách chớp nhoáng

Muốn mường tượng vai trò của Churchill và các bài diễn văn của ông, chúng ta phải xem xét tình hình tuyệt vọng lúc bấy giờ.

(more…)

Các diễn văn làm thay đổi thế giới – “Ý chí của chúng ta và nước Đức của chúng ta sẽ chiến thắng” – Hitler

 

Chào các bạn thân mến,

Ngày 1 tháng 9 năm 1939, 4:45 phút, chiến tranh Thế Giới 2 bùng nổ, Đức đột ngột tấn công Ba Lan trong đêm không hề có tuyên chiến.

Sáng ngày 1 tháng 9, bài diễn văn này của Adolf Hitler được đọc và nhanh chóng được biết đến ở nhiều nước trên thế giới (tuy đây chỉ là bài diễn văn đọc trước quốc hội Đức) với nội dung chủ yếu là các nước đồng minh đã ép Đức đến mức phải tiến hành chiến tranh thế giới, và người Đức buộc phải đánh trả vì nhân dân Đức, vì dân tộc Đức, vì nước Đức.

Tác động chủ yếu của bài diễn văn này là liều thuốc tinh thần kích động nhân dân Đức dấn thân vào cuộc chiến dài và gian khổ trước mắt (chứ thật ra, đối với phe Đồng Minh, bài diễn văn này không có nhiều tác dụng lắm).

Ngày nay, đọc lại bài diễn văn này, với tâm trạng khách quan, chúng ta sẽ dễ dàng thấy có rất nhiều sơ hở trong cách lập luận, cách xâu chuỗi và lý giải các sự kiện, cũng như các hành động đi đôi với bài diễn văn này. Có thể đơn cử vài ví dụ.

(more…)