Chiến tranh thế giới 2 kết thúc, khối phát xít bị tiêu diệt. 2 khối còn lại Đồng Minh Tư Bản và Đồng Minh Xã Hội Chủ Nghĩa vừa kình địch, vừa hoà hoãn nhau phân chia lại thế giới.
Ở một số quốc gia, 2 khối không thể thống nhất với nhau toàn bộ lãnh thổ sẽ thuộc về phe Tư Bản hay Xã Hội Chủ Nghĩa. Nên cả 2 thống nhất sẽ chia đôi đất nước để giải giáp quân Nhật, sau đó rút đi để quốc gia đó tự do tuyển cử theo chế độ nhân dân nước đó muốn (ví dụ điển hình là Hàn Quốc, Việt Nam).
Tuy nhiên, trong thời gian chiếm đóng các quốc gia này, các phe cố gắng nhanh chóng xây dựng/ủng hộ lực lượng chính trị địa phương thân với phe của mình, với hy vọng lực lượng chính trị đó sẽ thắng trong cuộc tổng tuyển cử.
Vì vậy, khi các cường quốc “rút đi”, sẽ để lại 2 lực lượng chính trị địa phương thù địch nhau quá gay gắt, nên tổng tuyển cử chỉ diễn ra 1 cách hình thức và nội chiến nổ ra. Đó là trường hợp của Hàn Quốc (và cả Việt Nam).
1950, một cuộc chiến khốc liệt diễn ra giữa Nam Bắc Hàn với sự hậu thuẫn ngầm và công khai của 2 khối làm thiệt hại 2.5 triệu dân và khoảng 1 triệu binh sĩ (Wikipedia – con số này có thể thay đổi tuỳ theo nguồn). Thủ đô Seoul thành 1 đống gạch vụn với 4 lần đổi chủ chỉ trong 1 năm.
Tháng 3 năm 1951, chiến sự 1 lần nữa xoay chuyển theo chiều hướng có lợi cho khối Tư Bản (do quân Trung Quốc bắt đầu hụt hơi do khó khăn trong tiếp vận), tổng thống Truman báo cho tư lệnh MacArthur, đang phụ trách khu vực này, về việc đề xướng các cuộc hội thảo ngưng bắn, vì lo ngại chiến tranh leo thang sẽ dẫn Liên Xô công khai tham chiến và mở rộng quy mô chiến tranh.
Tướng MacArthur không đồng ý, tự mình ra tối hậu thư cho quân Trung Quốc, yêu cầu được quyền quyết định chuyện ném bom nguyên tử (quyền này đang trong tay tổng thống), kêu gọi sự ủng hộ chiến tranh trên các phương tiện truyền thông và trước quốc hội.
Tháng 4 năm 1951, MacArthur bị giải chức chủ yếu với lý do quân sự (trước đó vào tháng 11 quân Đồng Minh đã thiệt hại rất nặng do Trung Quốc tấn công bất ngờ), nhưng nhiều người tin rằng là do ông chống lại đường lối của tổng thống.
Đây là bài diễn văn chia tay của MacArthur, bài văn này thể hiện sự cố gắng cuối cùng của ông trong việc thuyết phục quốc hội Mỹ tiến hành chiến tranh đến cùng (chứ không chỉ tái chiếm lại biên giới Nam Hàn và đàm phán), nó thể hiện ý chí quyết chiến đến cùng của ông.
Trong bài này đưa ra rất nhiều giả định và lý luận (chủ yếu là về tư tưởng bành trướng lãnh thổ của phe XHCN), mà ngày nay chúng ta cũng không biết là đúng hay sai (vì tình hình kinh tế nhiều thay đổi, làm ảnh hưởng đến chính trị và quân sự). Nhưng vào thời điểm đó, có rất nhiều người Mỹ tin vào các lý luận này, và quyết định giải chức tướng Arthur vấp phải làn sóng phản đối mạnh mẽ tại Hoa Kỳ
Về tướng MarArthur (Wikipedia)
Thống tướng Douglas MacArthur (26 tháng 1 năm 1880 – 5 tháng 4 năm 1964) là một vị tướng của Hoa Kỳ và là Thống tướng Quân đội Philippines (Field Marshal of the Philippines Army). Ông là Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ trong suốt thập niên 1930 và sau đó đã đóng một vai trò quan trọng trên mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ hai. MacArthur đã nhận được Huân chương Danh dự. Ông được bổ nhiệm chỉ huy cuộc xâm chiếm Nhật Bản mà đã được hoạch định tiến hành vào tháng 11 năm 1945. Nhưng khi thấy không còn cần thiết nữa, MacArthur chính thức chấp nhận sự đầu hàng của Nhật ngày 2 tháng 9 năm 1945.
MacArthur giám sát cuộc chiếm đóng Nhật Bản từ 1945 đến 1951 và được công nhận vì những đóng góp cho những thay đổi dân chủ sâu rộng của đất nước này. Ông chỉ huy Tổng lực lượng quân sự do Liên hiệp quốc lãnh đạo để bảo vệ Nam Triều Tiên trước sự tấn công của Bắc Triều Tiên từ 1950–1951. MacArthur bị Tổng thống Harry Truman cắt chức tư lệnh tháng 4 năm 1951 vì không nghe lời thượng cấp liên quan đến việc ông không tuân theo các chỉ thị của tổng thống.
Ông được biết đến với câu nói quân sự nổi tiếng: “In war, there is no substitute for victory” (Trong chiến tranh, không có gì thay thế được chiến thắng). MacArthur đã chiến đấu trong 3 cuộc chiến lớn (Đệ nhất Thế chiến, Đệ nhị Thế chiến và Chiến tranh Triều Tiên) và là một trong 5 người được phong quân hàm Thống tướng (General of the Army).
(Nguyễn Mai Anh Kiệt giới thiệu và bình)
Tướng Douglas MacArthur biện hộ
Cách lãnh đạo chiến tranh của ông trong cuộc chiến Triều Tiên
19 tháng 4, 1951
Thưa Tổng thống, Chủ tịch Hạ viện và các Nghị Sĩ đại diện trong Quốc hội:
Tôi đứng trên bục đài này với một cảm giác vô cùng khiêm nhường và với niềm tự hào to lớn – khiêm nhường dưới bóng những kiến trúc sư vĩ đại trong lịch sử của chúng ta đã đứng đây trước tôi, tự hào trong suy niệm rằng đây là tòa nhà thảo luận lập pháp đại diện cho quyền tự do của loài người trong hình thức tinh khiết nhất đã từng được sáng tạo.
Đây là nơi hy vọng và ước vọng và đức tin của toàn bộ loài người quy tụ.
Tôi không đứng đây như là người biện hộ cho mục đích đảng phái nào, bởi vì các vấn đề [của chúng ta] rất cơ bản và hoàn toàn vượt ra ngoài lĩnh vực cân nhắc đảng phái. Chúng phải được giải quyết với mức độ tối cao của lợi ích quốc gia nếu ta muốn chứng minh rằng chúng ta đang đi đúng hướng, đồng thời bảo vệ tương lai của chúng ta.
Do đó, tôi tin tưởng, rằng các bạn sẽ công bình chấp nhận lời tôi nói là chỉ thể hiện quan điểm của một đồng bào Mỹ.
(more…)