Tiếp theo trong bộ môn Cải lương, mình giới thiệu đến các bạn Cải lương Hồ Quảng, mà ngày nay người ta gọi là Cải lương tuồng cổ.
Nói đến Cải lương Hồ Quảng thì không thể không nói đến những nghệ nhân tiên phong của bộ môn này. Đó là gia đình cả 3 thế hệ của nghệ sĩ Thanh Tòng, được gọi là vị tướng soái của Cải lương Hồ Quảng.
Cải lương Hồ Quảng gồm các nhạc cải lương miền Nam, và một loại nhạc mới được mượn từ các bản nhạc mới du nhập từ Đài Loan vào Việt Nam thời đó, và các tuồng tích thường là các câu truyện lịch sử Trung Hoa thời cổ đại. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Cải lương Hồ Quảng→
Dưới đây là 3 bài báo về: (1) Các rạp cải lương xưa ở Sài Gòn và di tích còn lại ngày nay, (2) Tình trạng thiếu rạp cải lương hiện nay và dự án tái thiết rạp Hưng Đạo trên đường Trần Hưng Đạo và (3) Tình trạng suy yếu của cải lương ngày nay.
Ba bài này có thể cho chúng ta cái nhìn tổng quát về sự suy yếu của bộ môn nghệ thuật truyền thống này. Vấn đề có lẽ có nhiều lý do khác nhau. Một lý do rõ ràng nhất mà mình thấy là ngày nay mọi người đều quá bận rộn không còn thời giờ để vào rạp xem cải lương. Lý do thứ hai mà mình thấy là tuồng tích ngày nay thường có khuynh hướng tuyên truyền chính trị, trong khi đó ngày trước cải lương được hưng thịnh phần lớn là do các tuồng tích mang nhiều tình cảm cá nhân và gia đình. Tức là sự sáng tạo của cải lương hình như bị các đề tài chính trị làm cho nghẹt thở. Continue reading Dân ca dân nhạc VN: Các rạp cải lương xưa ở Sài Gòn – Tình trạng cải lương hiện nay→
Tiếp theo bộ môn Đờn Ca Tài Tử, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn bộ môn Cải Lương trong Cổ Nhạc Việt Nam.
Lịch Sử Hình Thành Cải Lương Nam Bộ
Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ.
Giải thích chữ “cải lương” theo nghĩa Hán Việt, giáo sư Trần Văn Khê cho rằng: “cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn”, thể hiện qua sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Cải lương→
Phần giới thiệu tiếp theo của mình với các bạn trong Dân ca Dân nhạc Việt Nam hôm nay sẽ là “Hệ Thống Tổng Quát Bài Bản Cổ Nhạc Miền Nam“, một số bài bản trong hệ thống này đã trở thành những bài thông dụng trong bộ môn Cải Lương qua nhiều thế hệ.
Cổ Nhạc Miền Nam bao gồm nhiều bài bản lớn nhỏ. Và đã được xếp loại chia các bài ra 10 nhóm thứ tự như sau:
– Nhứt Lý: các điệu Lý
– Nhì Ngâm: ngâm Kiều, ngâm thơ, ngâm sa mạc…
– Tam Nam: ba bài Nam lớn
– Tứ Oán: các bài Oán
– Ngũ Điểm: sáu bài Bắc lớn
– Lục Xuất: sáu bài ngắn
– Thất Chính: bảy bài nhạc lớn lễ, cung đình
– Bát Ngự: tám bài Ngự
– Cửu Nhĩ: 2 bài do nhóm tài tử miền Đông biên soạn
– Thập Thủ: thập thủ liên hoàn, 10 bài ngắn Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Hệ thống bài bản cổ nhạc miền nam→
Tiếp nối theo chuỗi bài Dân ca Dân nhạc Miền Nam, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn một thể loại dân nhạc phổ thông nhất của Miền Nam. Đó là Vọng Cổ. Giai điệu chính trong bộ môn Cải Lương.
Nhạc sĩ Giang Tuyền trong bài Nguồn Gốc Cổ Nhạc Việt Nam dưới đây sẽ cho chúng ta tìm hiểu tổng quát hơn về lịch sử của thể loại dân nhạc độc đáo này:
“Các nghệ sĩ cổ nhạc [miền nam] đã không ngừng sáng tác trong gần một thế kỷ qua, với mục đích ngày càng phát triển bộ môn cổ nhạc được phong phú hơn. Theo tài liệu ghi lại, thì vào khoảng năm 1915 – 1916 có một loại hát gọi là “ca salon”. Ðó là một lối hát rất đơn giản, không có cảnh trí gì hết. Chỉ có một bộ ván. Trước bộ ván để một cái bàn chưn cheo. Các tài tử đều ngồi trên bộ ván và mặc quốc phục xem rất nghiêm trang. Có lẽ do ảnh hưởng của loại nhạc triều đình từ xưa còn rớt lại. Thường thì ca bản tứ đại lớp đầu. Chuyện thì dựa trên chuyện Lục Vân Tiên hay Kiều… Sau đó mới đến “ca ra bộ” có tánh cách tài tử. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Vọng cổ→
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thể loại “Hò” trong Dân ca Miền Nam.
“Hò là một thể loại diễn xướng trong đời sống người Việt Nam từ thời xa xưa, khởi nguồn từ tập quán sinh hoạt vùng chiêm trũng, diễn tả tâm trạng của người lao động. Hò và Lý tuy có phần giống nhau nhưng Hò thường gắn liền với một động tác khi làm việc còn Lý thì không.” (Giáo sư Trần Văn Khê. Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt nam. Tp HCM: nxb Trẻ, 2004. tr 81).
Trong sinh hoạt cộng đồng, thường thì một người hò đại diện cho một nhóm cho cùng một việc hay một mình tự thuật, kể lể. Điệu hò giao duyên giữ hai bên đối đáp với nhau, người con gái hay người con trai trong nhóm hai phía sẽ hò đáp trả lại ngay khi đó. Trên vùng sông nước khi đi ghe hay đò, người hò thường hò điệu giao duyên giữa hai chiếc ghe, đò gần nhau.
Miền Nam có những điệu hò đặc sắc mang âm điệu luyến láy đặc thù của từng vùng thường làm rung động lòng người như: Hò Miền Tây, Hò Đồng Tháp, Hò Đối, Hò Đố, Hò Cần Thơ, Hò Giọng Đồng, Hò Bản Đờn, Hò Cảnh Chùa, Hò Huê Tình, Hò Bắt Xác, Hò Ngạnh Trê, vân vân…
Trong các điệu hò, Dân ca Miền Nam còn có một điệu hò rất cổ, rất độc đáo là Hò Cấy Lúa (ngày nay được gọi tắt là Hò Cấy). Điệu hò này thường được các nam nữ hò giao duyên với nhau trong lúc họ cấy lúa vào những mùa cấy. Độc đáo nhất điệu Hò Cấy Lúa còn cho phép người hò tự do sáng tạo tùy theo trường hợp, bối cảnh, mỗi khi đối đáp trong khi nếu thích – hai bên còn có thể đề nghị và đồng ý với nhau hai thể loại có qui luật trước khi hò là: (1) Hò Bắt Xác. (2) Hò Ngạnh Trê.
Hò Bắt Xác có qui luật một bên đối và một bên đáp – nếu như bên nào không đối hoặc đáp được thì sẽ bị người thắng cuộc rượt đuổi bắt cho bằng được mới thôi rồi sau đó sẽ kết nghĩa thành vợ chồng với nhau. Lẽ dĩ nhiên là cuộc kết nghĩa này phải có sự đồng thuận của hai bên cha mẹ trong gia đình.
Còn Hò Ngạnh Trê thì có qui luật hai bên hò đối đáp chọc ghẹo móc ngoéo lẫn nhau cho đến khi một bên bị bí không thể đối đáp được nữa phải chịu thua và không được hờn giận.
“Hò Cấy là điệu hò mái ngắn (còn gọi là mái đoản, mái cụt) thường diễn ra ngay trên đồng ruộng, có thể kéo dài từ sáng cho đến chiều tối. Các nhóm hò, có kẻ xướng người xô, vừa lao động, vừa trổ tài đối đáp.
“Xưa kia, mỗi vạn cấy thường tập trung từ 20 đến 30 người, đứng đầu là một “trùm vạn” – người trung gian giữa chủ ruộng và thợ cấy. Những thợ cấy hò giỏi thường được mọi người trọng vọng, công xá bao giờ cũng được nhận phần cao hơn so với các người khác trong vạn.
“Hò Cấy Miền Tây Nam Bộ trước đây diễn khắp các tỉnh, nhất là ở miệt ruộng của huyện Giồng Trôm, Ba Tri, Thạnh Phú, Mỏ Cày, Bình Đại, Giồng Lãnh, Trại Cá, Bình Ân…. Nay Hò Cấy có thể coi là điệu hò cổ nhất hiện còn được gìn giữ ở Tiền Giang.
“Hò Cấy Gò Công được chia thành 3 loại: Hò Đối Đáp, Hò Đậu, Hò Hội (phải có đông người tham dự hơn). Về âm điệu, tiết tấu và tiếng hò (hay vế xô) sau mỗi nhịp trong Hò Cấy Gò Công là ‘hò… hò… ơ… ơ…’ ”. (Tình Mặc. Sau Những Bài Hò Cấy Gò Công. Hội Thân Hữu Gò Công – Hoa Thịnh Đốn – USA)
Trong ca khúc Hò Lơ của nhạc sĩ Phạm Duy ông đã dùng phần xướng của bài Hò Cấy Lúa để mở đầu ca khúc Hò Lơ của ông. Hiện nay mình không tìm được một video clip nào có phần diễn xướng nguyên thủy cho bài hò độc đáo này nên mình ghi xuống đây lyric nguyên thủy tiêu biểu của nó để giới thiệu đến các bạn để các bạn cùng có một khái niệm tổng quát chung:
“Hò lơ hó lơ… lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ hò lơ hó lơ…
Tay ôm bó mạ xuống đồng… a li hò lờ… miệng hò tay cấy ờ… a li hò lờ… mà lòng nhớ ai.
Hò lơ hó lơ… lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ hò lơ hó lơ.
Mạ xanh mơn mởn nên tình… a li hò lờ… bao nhiêu lá mạ ờ… a li hò lờ… thương mình là bấy nhiêu…
Hò lơ hó lơ… lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ hò lơ hó lơ.
Thương sao cho được mà thương… a li hò lờ… nước kia muốn chãy ơ… a li hò lờ…mà mương không đào…
Hò lơ hó lơ… lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ hò lơ hó lơ.
Bây giờ chưa rỏ âm hao… a li hò lờ… còn chờ chi nửa ơ… a li hò lờ… má đào phôi pha…
Hò lơ hó lơ… lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ hò lơ hó lơ.
Em chờ cho hết sức chờ… a li hò lờ… chờ cho rau nhút ờ… a li hò lờ… lên bờ mà trổ bông…
Hò lơ hó lơ… lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ hò lơ hó lơ…”
Dưới đây mình có bài “Hò Nam Bộ” của ông Trần Trọng Trí, bài “Nhớ Điệu Hò Đồng Tháp” của ông Nguyễn Văn Trí, và bài “Hò Chèo Ghe Bạc Liêu” để các bạn tiện việc tham khảo thêm về bộ môn “Hò” của miền Nam, Việt Nam.
Tiếp theo mình có: 1 clip giới thiệu “Câu Hò Đồng Tháp”, 1 clip giới thiệu “Câu Hò Chèo Ghe Bạc Liêu”, và 8 clips các điệu “Hò” tiêu biểu của vùng đất Chín Rồng để các bạn rộng đường tham khảo và thưởng thức.
Lùi vào quá khứ, ba trăm năm trước, khoảng cuối thế kỷ 17, khi người Việt đặt chân xuống đồng bằng Cửu Long khai sơn phá thạch để lập nghiệp cũng là lúc họ phát huy bản lĩnh, khí phách của dân tộc Việt Nam có truyền thống văn hiến lâu đời. Trước khi gieo hạt giống làm nảy nở mùa màng, họ đã gieo tục ngữ ca dao, tiếng hò, điệu hát.
Có thể nói thức ăn tinh thần chính của dân Nam Bộ trong buổi đầu là tiếng hò câu hát. Những điệu hò cấy lúa, hò quốc sự, hò lờ, đã làm thổn thức, xao xuyến lòng người từ xưa đến nay vẫn còn văng vẳng bên tai. Những cuộc hò làm bớt nặng nhọc trong lúc cày bừa, sạ tỉa giữa nơi nước mặn, đồng chua, làm phấn khởi tinh thần trước cảnh thiên nhiên, đồng thời là đầu mối cho duyên tình trai gái dẫn tới những cuộc vuông tròn vàng đá trăm năm.
Tiết điệu và âm điệu
Tiết điệu trong câu hò biến đổi khá nhiều, nhưng có thể gom trong hai điệu chính: Hò huê tình, tức là hát chậm và kéo dài ra, còn hò lăn, tức tiếng hát mau và ngắn lại. Dù hò huê tình, hò lăn hay hàng chục điệu hò khác biệt của mỗi địa phương Sa Đéc, Tháp Mười, Gò Công, Rạch Giá, Hà Tiên, Cai Lậy, Tiền Giang… người mộ điệu hò bao giờ cũng sành cung đoạn, âm giai. Họ không bao giờ chịu hạn chế lời ca trong một điệu, hò tuỳ hứng mà sáng tác, tuỳ nội dung mà định hình thức của nốt nhạc. Nhưng luôn luôn, họ có cung đoạn riêng để quyết định cho sự hô ứng, cho lúc nghỉ ngừng. Chúng ta thử nghe một câu hò lục bát:
“Hò… ơ… ơ… ờ… ờ…
Gió đưa con buồn ngủ lên bờ… ờ… ờ… ờ…
Mùng ai có rộng… ờ… ờ… ờ… cho tôi ngủ nhờ một đêm… ờ… ờ…”
Và một câu dài trong lục bát biến thể:
“Hò… ơ… ơ… ờ… ờ…
Vận bạc tình bất hủ… Nhơn phi nghĩa bất giao… ờ… ờ… ơ…
Anh nguyền thưởng bận một dao… ơ… ơ… ơ… ơ…
Răn người lòng dạ mận đào lố lăng… ơ… ơ… ơ… ơ”
Thử nghe một anh trỗi giọng và một cô hoà điệu tiếp theo. Đây là câu của giới nam:
“Hò… ơ… i… i… i… Thấy em có cái gò má hồng hồng… ì… ì… ì…
Hoà hơ… ơ… ơ
Phải chi em đừng mắc cỡ…
Hoà hơ… ơ… ơ
Đừng mắc cỡ, thì anh xin bồng… em hôn…i… i… i…”
Và đây là câu của nữ giới hoà theo:
“Hò… ơ… ơ… ơ… ứ… ứ…
Chuyện vợ chồng đâu có khá bôn chôn… ư… ư…ư…
Hoà hơ… ơ… ơ
Anh thương em nên dè dặt… ư… ư… ư…
Hoà hơ… ơ… ơ
Chớ để thiên hạ đồn không hay… ư… ư… ư…”
Tiếng dùng và cách xưng hô khi hò.
Trong điệu nghệ hò, riêng có một số từ ngữ nghe lạ tai và vài cung cách xưng hô tự do. Thí dụ bên nữ cất giọng trao tình trước:
“Hò… ơ… ơ… ơ… ơ…
Em đến đây kiếm anh như con cò trắng bay cao… ơ… ơ… ơ
Này bạn ơi… Còn thân em đâu khác thể… ơ… ơ… ơ… ơ…
… Đâu khác thể vì sao trên trời… ơ… ơ… ơ…”
Giọng hò thiệt hay, có nhiều bỡn cợt lơi lả, nhất là ở cuối câu cái hơi ngân dài như nói lên một niềm lưu luyến. Câu hò có ý kèo trên và khó đối. Phía bên nam vẫn không chịu thua, vừa nghĩ câu hò đối lại ngay:
“Hò… ơ… ơ… ơ… ơ…
Thân anh như tấm da trời… ơ… ơ… ơ…
Ơ… mình ơi, bốn mùa sương lạnh… ơ… ơ… anh không rời vì sao… ơ… ơ… ơ…”
Nếu chúng ta là những người chưa sành điệu, tất sẽ lạ lùng qua cách xưng hô “bạn ơi”, “mình ơi” quá tự do đến mức “sỗ sàng”. Còn những tiếng khác nữa như: “Này bậu ơi”, “Này người nghĩa ơi”, “hai đứa ta”, “đôi ta”… được xưng hô một cách thân mật tự nhiên. Người ta không bắt lỗi nhau và coi như cuộc trao đổi tâm tình chân chính…
Sông Cửu Long quanh năm chở nặng phù sa cho bãi bồi bến lở, nơi có Đồng Tháp Mười thẳng cánh cò bay với nửa mùa nắng cháy, nửa mùa nước dâng.Chính nơi đây đã sản sinh ra một điệu hò kỳ diệu, nó len lỏi và sống mãi trong tâm hồn mọi người, một tâm hồn chứa đựng những hoài niệm, những ký ức, những ước mơ cháy bỏng. Đêm Tháp Mười thanh vắng nghe một giọng hò lảnh lót ngân vang và hòa tan vào khoảng không gian cao vời vợi nghe mà nhớ, mà đau thắt lòng.
Hò Đồng Tháp ra đời đầu thế kỷ XIX và giao thoa từ nhiều dòng văn hóa của người bản địa (các dân tộc Kinh, Chăm, Khmer, Hoa) lúc bấy giờ. Phát triển cực thịnh, trở thành điệu hò nổi tiếng nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long vào nửa đầu thế kỷ XX .
Hò Đồng Tháp là một loại hò trên đồng nước, âm điệu của hò Đồng Tháp thể hiện rỏ tâm tư tình cảm của con người, nhất là vào các mùa trăng nước mênh mông thơ mộng. Đây là một âm điệu đặc biệt được hò ở tốc độ chậm, buông lơi, nhịp điệu lúc nhặt, lúc khoan, lúc trầm, lúc bổng, có lúc thì thật thấp, có lúc thì thật cao chót vót. Nó có sức lôi cuốn, hấp dẫn mọi người một cách kỳ lạ.
Có nghệ nhân tâm sự: “Nếu xưa kia người nào mời hò thì ngay lập tức được đáp lại với câu hò:
Câu hò tôi đựng một nia Chị em nào thích tôi chia cho hò…
Còn ngày nay nhiều nghệ nhân tuổi cao sức yếu, không thể hò được nữa mà chỉ còn có câu:
Câu hò tôi đựng một khạp da bò, Tôi quên đậy nắp nó bò hết trơn.
Hò Đồng Tháp được chuyển thơ thành lời để đưa hơi, lấy đà, ngắt nhịp, ngân, thường chen vào từ ơ.
Rượu lưu ly chân quỳ tay rót ơ.ơ.ơ ơ.ơ.ơ ơ.ơ.ơ Cha mẹ uống ơ..ơ… rồi Em dời gót theo anh ơ hò…ơ…
Nghệ sĩ Linh Phượng. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Lời hò Đồng Tháp đều xuất phát từ thơ lục bát, song thất lục bát hoặc từ ca dao tục ngữ.
Ơ à. Ngó lên trời thì trời trong mây trắng Dòm xuống nước thì nước trắng lại trong Nhỏ như ai chứ nhỏ nhỏ như em đây mà chắc dạ ơ à Bền lòng ơ à Ơ à… Lỡ duyên thời em chịu lỡ chớ đóng cửa loan phòng ờ ơ à… Em chờ anh, ơ à
Hò Đồng Tháp có những đặc trưng riêng mà không điệu hò nào ở Nam bộ có được. Mỗi bài hò thường chia 3 phần hơi khá rõ: từ tầm trung đến thấp nhất, từ tầm cao đến tầm trung, tầm thấp nhất đến tầm cao… nối với nhau chặt chẽ. Đặc trưng nhất đó là hò tâm tình, là tự sự của con người về tình duyên, về số phận, những buồn vui cuộc đời. Cũng có khi có bài hò để… phê phán, lên án những cái ác, cái xấu. Phản ánh mọi mặt của đời sống nên nội dung của Hò Đồng Tháp vô cùng phong phú.
Hò Đồng Tháp có 3 thể loại: Hò cấy, Hò huê tình, Hò khoan. Từ một đứa trẻ lên 5 cho đến một cụ già 70 – 80 tuổi đều có thể hát lý, hò… Cái hay của nó là gắn với công việc hàng ngày của người dân, họ có thể vừa đi cấy, đi cày vừa hát, hay những đêm trăng, trẻ em vui chơi ở sân đình làng cũng đem điệu lý ra hát với nhau. Đồng Tháp là vùng đất sen hồng thơ mộng và lãng tử. Đất và người Đồng Tháp chân chất, mạnh mẽ, khẳng khái nhưng thuần khiết như hồn sen. Với điều kiện tự nhiên là một miền quê sông nước và bề dày lịch sử văn hóa rất đỗi nhân văn. Nơi đây đã sản sinh ra hàng trăm điệu lý câu hò sâu lắng, mênh mang thấm đậm tình đất, tình người. Đặc biệt giá trị văn hóa phi vật thể trong vùng đó là điệu Hò Đồng Tháp nổi tiếng vang bóng một thời trên diễn đàn nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
Hò Đồng Tháp đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân, góp phần làm cho phong trào văn nghệ quần chúng trong tỉnh phát triển mạnh mẽ và đều khắp, phục vụ có hiệu quả nhu cầu hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hóa- văn nghệ của nhân dân. Hò Đồng Tháp vẫn khẳng định giá trị là loại hình di sản văn hóa phi vật thể có ảnh hưởng sâu sắc đến sinh hoạt văn hóa của người dân Nam bộ nói chung, Đồng Tháp nói riêng.
(Nguyễn Văn Trí/TTXVN)
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Hò Đối. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Hò chèo ghe Bạc Liêu là một làn điệu dân ca mang hình thức diễn xướng của cư dân Bạc Liêu hình thành trong môi trường chèo xuồng, ghe trên sông nước có từ thời khẩn hoang nhằm gửi gắm tình cảm, bày tỏ nỗi lòng của mình cho con người và thiên nhiên.
Trong dân ca Bạc Liêu thì hò Bạc Liêu (chủ yếu là hò chèo ghe) chiếm vị trí rất quan trọng trong kho tàng văn học dân gian của vùng đất trẻ này. Tiếp xúc với những nghệ nhân cao tuổi hoặc tham khảo nhiều tư liệu về hò, sẽ thấy rằng giọng hò Bạc Liêu xuất hiện gần như cùng lúc với giọng hò Đồng Tháp, Bến Tre, Trà Vinh, hò sông Hậu… vì có xuất xứ cùng gắn liền với quá trình phiêu bạt ngược xuôi trong hệ thống sông ngòi chằng chịt vùng Đồng bằng sông nước Cửu Long. Trong cuộc Nam tiến, nhiều dòng người từ các nơi đã đến vùng đất mới này sinh cơ lập nghiệp, trên bước đường chinh phục hoang vu, từ những chiếc ghe bầu, ghe chài, tam bản, xuồng ba lá…, hành trang mang theo của những cư dân mới có cả những câu hò, điệu lý… làm chỗ dựa tinh thần trên bước đường xa xứ. Trên bước đường bôn ba, lênh đênh sông nước, những hành trang tinh thần này được các tiền nhân sáng tác, phổ biến, cách tân cho phù hợp với hoàn cảnh của mình. Thậm chí vùng đất Bạc Liêu thực tế đã lưu hành nhiều loại hò của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long như hò sông Hậu, hò Bến Tre, hò Trà Vinh, hò Vĩnh Long, nhưng mỗi loại hò khi được sử dụng đều có pha trộn, giao thoa tiết tấu hay giai điệu để phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế.
Hò chèo ghe Bạc Liêu có 2 loại là hò đơn lẻ và hò đôi.
Hò đơn lẻ là loại hò suông. Trong thời kỳ đầu khẩn hoang đến đầu thế kỷ XX giọng hò chèo ghe Bạc Liêu thường xuất hiện trên các ghe, xuồng xuôi ngược trên các dòng sông như Gành Hào, Cái Tàu, Bảy Háp, sông Trẹm u Minh… hoặc thịnh hành ở các bến sông có nhiều con đò ngang, đò dọc. Giai đoạn này hò chèo ghe Bạc Liêu chủ yếu là hò đơn. Hò đơn có 2 giọng là hò chậm và hò nhanh. Câu hò của lối hò chậm thường chỉ là một câu ca dao lục bát hoặc lục bát biến thể ngắn. Nội dung hò đơn lẻ hầu hết mang tính tự sự, gửi gắm tâm trạng xa xôi với thiên nhiên .Giọng hò mênh mang, chậm rãi trải dài trên sông nước rồi lan toả, tan biến trong không gian vô tận…
Hò ơ… Bạc Liêu là xứ quê mùa – Dưới sông cá chốt (ơ ơ ơ) trên bờ Triều Châu (ơ ơ).
Nội dung giọng hò nhanh tuy vẫn mang tính tự sự nhưng có chủ ý, có đối tượng cụ thể để gửi gắm tâm trạng, thời gian hò nhiều hơn, một phần nhắn nhủ cho con người, một phần gửi vào thiên nhiên sông nước vô tận để san sẻ nỗi lòng. Câu hò gồm một hoặc nhiều câu song thất lục bát hay lục bát biến thể dài để có đủ dung lượng ngôn ngữ mà bày tỏ nỗi lòng. Lời kể đều có ngân hơi (ờ ờ). Hơi hò đầu cần cao giọng (ơ ớ ơ) và hơi hò sau ngang giọng một chút (ơ ơ ơ). Giai điệu và tiết tấu nhạc cũng như lời kể nhanh hơn phù hợp với điều kiện con nước chảy nhanh, ghe xuồng đi nhanh hơn.
Nghệ sĩ Linh Phượng và nghệ sĩ Xuân Thưởng trong tiết mục trình diễn Hò Đối. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Lối hò thứ hai là hò đôi. Sau cách mạng tháng Tám, cả nước bước vào cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp, vùng đất Bạc Liêu là căn cứ cách mạng vững chắc, giọng hò chèo ghe Bạc Liêu vẫn tiếp tục thịnh hành và phát triển, giọng hò lúc này không còn mang tính tự sự đơn giản nữa mà mang đậm nét trữ tình, giao lưu, trao đổi tình cảm, hình thức hò nhanh chóng trở thành sinh hoạt tập thể như đối đáp, huê tình và được nâng lên thành hình thức sinh hoạt văn hoá văn nghệ của cộng đồng. Hò đối đáp chậm:
Nam: Hò ơ ớ ơ… Gió năm non thổi lòn hang chuột – Tui thấy cô Ba chèo xuồng (ờ ờ) đứt ruột … đứt gan (ơ ơ)…
Nữ: Hò ơ ớ ơ… Gió năm non thổi lòn hang chuột – tui thấy anh chèo xuồng (ờ ờ) tui cũng đứt ruột … bầm gan (ơ ơ)…
Hò đối đáp nhanh:
Nữ: Hò ơ ớ ơ …Thấy anh hay chữ, em hỏi thử đôi lời – Sao trên trời mấy cái, nhái ngoài ruộng mấy con, đất Ba Xuyên một mẫu mấy sào (ơ ờ) – Hò ơ ớ ơ ơ… Anh mà đối đặng…, gái má đào thương anh (ơ ơ)…
Nam: Hò ơ ớ ơ … Thấy em đố tức, anh nói phức cho rồi – Sao trên trời sao vua chín cái, nhái ngoài ruộng bắt cặp hai con, đât Ba xuyên một mẫu mười sào (ơ ờ) – Hò ơ ớ ơ ơ… Anh đà đối đặng… gái má đào tính sao ? (ơ ơ)…
Hò chèo ghe Bạc Liêu có những nét tương đồng và giống với tiếng hò sông Hậu song phần lấy hơi hò (ơ ớ ơ ơ ơ) của Sông Hậu thường kéo dài hơn để phù hợp với điều kiện sông nước mênh mông trên dòng sông Hậu và không nhiều tiếng ngân hơi ờ ơ như hò Bạc Liêu.
Vào những năm 1960, phương tiện giao thông thuỷ từ chèo được thay bằng phương tiện cơ khí nên giọng hò chèo ghe Bạc Liêu từ từ thưa dần, ít xuất hiện trên các sông rạch. Tuy không còn thịnh hành trong thực tế nhưng nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ đã tìm cách đưa làn điệu hò chèo ghe lên bờ thành hò ru khi tiếng ru đã cạn hoặc bước vào lĩnh vực âm nhạc hoặc lên sân khấu tham gia vào nhiều loại hình nghệ thuật khác.
Ngày nay trong điều kiện phát triển của xã hội hiện đại, hò chèo ghe hầu như không còn tồn tại trong thực tế, môi trường hò đã bị thu hẹp, điều kiện sông nước thuận lợi cho các sinh hoạt chèo ghe, xuồng hầu như không còn. Từ đó làn điệu hò cũng mai một dần, hầu như chỉ tồn tại trong ký ức của con người mà chủ yếu là ký ức của những người lớn tuổi. Để tiếp tục tồn tại và phát triển, hò chèo ghe Bạc Liêu đã thâm nhập vào nhiều bộ môn nghệ thuật khác, hò chèo ghe thâm nhập vào vọng cổ, tân nhạc, điện ảnh… thể hiện trên các đĩa CD,VCD, hoặc tham gia vào hoạt động sân khấu hoá, quảng cáo… trên sóng phát truyền hình …Sự tồn tại và biến đổi phù hợp theo hoàn cảnh xã hội này của hò chèo ghe đều mang tính dân gian, tự phát. Với những nét gần gũi, trữ tình và với chủ trương bảo tồn phát, huy giá trị văn hoá truyền thống, hy vọng rằng hò chèo ghe Bạc Liêu sẽ được bảo tồn, phát huy và thích ứng với cơ chế thị trường, phục vụ cho yêu cầu phát triển của đất nước./.
(Theo baclieu.gov.vn)
oOo
Ký Ức Miền Tây – Nhớ Câu Hò Đồng Tháp – Giới Thiệu:
Câu Hò Bạc Liêu – Giới Thiệu:
Hò Cấy Lúa: Clip dưới đây là bản nhạc tên Hò Lơ của Phạm Duy do Thái Thanh hát; đoạn xướng “Hò lơ hó lơ…” đầu bài hát này là một đoạn đầu của Hò Cấy Lúa, trước khi cô Thái Thanh hát:
Hò Đồng Tháp – Giáo sư Trần Văn Khê & Thùy Dương:
Hò Đồng Tháp – Thiên Kiều
Hò Đối – Nghệ sĩ Linh Phượng & Nghệ sĩ Xuân Thưởng: (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Dân Tộc Việt – USA)
Hò Nam Bộ
Hò Cần Thơ – Đinh Thanh Huyền: Đoạn mở đầu của bài hát
Hò Đố Trái Cây – Nghệ sĩ Linh Phượng & Nghệ sĩ Nga Mi (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Tuyền Thống Dân Tộc Việt – USA):
Chuỗi bài này được thực hiện trước hết dành cho mình và các bạn cơ hội ôn lại những kỷ niệm âm nhạc thời xa xưa thân ái đó, đồng thời lưu giữ những tài liệu về kỹ thuật và lịch sử âm nhạc Việt Nam cho chúng ta và các con cháu sau này.
Các bạn click vào các đề mục có gạch dưới để đọc bài.
Mời các bạn cùng thưởng thức và khảo nghiệm.
Trần Lê Túy Phượng
(Hi all,
This series was created foremost for me and you to relive the memories of those old days, but most importantly it is to preserve the historical and technical information about Vietnamese music for posterity.
Năm cũ và năm mới bắt tay vào lúc đồng hồ điểm 12 tiếng nửa đêm, với 12 điều ước cho năm mới. Mình vừa làm file PPS “12 Điều ước đầu năm” để chia sẻ với các bạn. Mình và anh Hoành chuyển ngữ các điều ước. Hình ảnh trong file này là ảnh mình vừa chụp từ Holidays Light Show của Gaylord Resort & Conference Center, một khách sạn và trung tâm hội họp lớn ở Washington DC. Nhạc nền là bản Besos de Jesos của Satana.
Chúc các bạn năm mới có cây đèn thần giúp toại nguyện 12 điều ước.
Mình và anh Hoành vừa làm file PPS mới “Love – Tình yêu”, nội dung chính là đoạn văn 1 Conrinthians 3 nổi tiếng của Saint Paul, mà anh Hoành đã dịch trước đây.
Đây là đoạn văn nổi tiếng số một về tình yêu trong thế giới Âu Mỹ, và thường được đọc trong các lễ cưới hay các dịp tương tự.
Hôm nay Ngày Giáng Sinh, chúng ta hãy nói đến tình yêu.
Mình và anh Hoành vừa hoàn thành một PPS lớn, song ngữ Anh Việt, nói về câu truyện chúa Giêsu ra đời, hoàn toàn dựa vào Tin Mừng của Luca và Tin Mừng của Mátthêu.
Các ý tưởng chính khi làm PPS này là:
– Đối với các bạn Kitô giáo (Công giáo, Tin lành, Chính thống giáo, và Anh giáo), đây là dịp để ôn lại Thánh kinh về Giáng sinh, nắm vững câu chuyện Giáng sinh và những ý nghĩa tâm linh sâu sắc — Chúa Giêsu ra đời có ý nghĩa gì một cách cá nhân đối với chính ta và một cách tập thể đối với thế giới — và truyền thống văn hóa Kitô – như nguồn gốc của các thánh ca Ave Maria, Magnifiat, Benedictus, Gloria, Nunc dimittis. Continue reading Câu truyện Giáng Sinh – The Christmas Story→