Tân Nhạc Việt Nam – Nhạc Dân Tộc và “Sáo Thần” Nguyễn Đình Nghĩa

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Thi Ca ‘Hồ Trường’ – Trần Lãng Minh và Nga Mi” mình giới thiệu đến các bạn “Nhạc Dân Tộc và ‘Sáo Thần’ Nguyễn Đình Nghĩa” trong Tân Nhạc Việt Nam hôm nay.

“Sáo Thần” Nguyễn Đình Nghĩa sinh ngày 5 tháng 10 năm 1940. Thuở nhỏ ông học trường Tây Lycée Yersin, môn đồ Thiếu Lâm, lò Ông Tư Cụng, lực sĩ điền kinh Á Châu thập niên 60 về môn nhảy cao, nhảy sào và đánh võ đài. Mặc dù được học trường Tây, ông yêu nhạc Việt Nam từ nhỏ, biết đến sáo từ một nghệ nhân người Tàu. Năm 1958-1960 đã nổi tiếng và mệnh danh là Tiếng Sáo Thần. Ông chuyên sử dụng Động Tiêu, Sáo Trúc, Đàn Bầu, Đàn Tranh, Đàn T’rưng.

"Sáo Thần" Nguyễn Đình Nghĩa.
“Sáo Thần” Nguyễn Đình Nghĩa.

Nguyễn Đình Nghĩa và tác phẩm:

• Sáng tác 2 bài độc tấu sáo Phụng Vũ và Thần Triều.
• Thời trẻ sáng tác ca khúc cùng vợ là nhà văn Trịnh Thị Diệu Tân: Sương Khuya, Giọt Lệ Tình, Nỗi Buồn Thiếu Phụ…
• Bài Phụng Vũ đoạt giải âm nhạc của Đại Hội Âm Nhạc của các đảo Á Châu năm 1963
• Dạy trường Quốc Gia Âm Nhạc và môn Quốc Nhạc trường Đại Học Vạn Hạnh
• Hoạt động trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương và phụ trách nhiều chương trình thơ nhạc của các đài phát thanh
• Đại diện phái đoàn âm nhạc Việt Nam trình diễn tại các nước Á Châu và Âu Châu
• Singapore năm 1964, International Folk Music Asian Festival
• Thailand năm 1966, được Hoàng Gia Thái với lời mời của Hoàng Hậu Sarakit, trình diễn Palais Royal
• 1966, trình diễn tại Kulalam (Malaysia)
• 1969 tại Paris và trình diễn vòng quanh Pháp: Toulouse, Nice, Marseille, Bordeau, Pesencon, Lille, và Sweaden (Suisse)
• 1972 tại Phillipines – National House of the President Marcos
• 1972 đại diện Quốc Gia trình diễn tại Cambodia
• 1973 được Quốc Vương Lào mời trình diễn tại That Luong
• Sản xuất sáo trúc và sáo gỗ
• Sản xuất băng nhạc, băng sáo, cải lương
• Viết sách Tự Học Thổi Sáo, tái bản nhiều lần, dịch sách Tự Học Harmonica
• Đóng kịch phim: “Đời Võ Sĩ”, “Đời Phóng Viên”
• Mở lớp dạy nhạc, đào tạo nhiều môn sinh
• Hợp tác với bác sĩ Đào Duy Anh thành lập ban nhạc Bách Việt
• Sau năm 1975 vì là thành phần miền Nam, Ông không được trình diễn, Ông chuyển sang nghiên cứu, lên vùng Cao tìm tòi các nhạc cụ dân tộc
• Cải tiến đàn T’rưng một cột hơi ra hai cột hơi, mở rộng từ 1 bát độ nguyên thủy thành 4 bát độ, đàn T’rưng bass, mở 3 âm vực, 3 bát độ
• Cải tiến sáo trúc từ 6 lỗ bấm ra 11 lỗ, 16 lỗ, có thể trình tấu nhạc cổ điển, note thăng giáng, đồng thời vẫn thổi được nhạc ngũ cung mà không mất âm sắc của cây sáo nguyên thủy
• Viết nhạc phim “Học Làm Tổ”
• Viết “Ngày Hội Lập Buông” cho cây đàn T’rưng cải tiến

Ông cùng gia đình sang Mỹ tháng 7 năm 1984, giới truyền thông đã giới thiệu ông trên NBC News, CBS News. Ký giả Mỹ Stella Dawsoncủa Northern Virginia Sun ví ông như Jean-Pierre Rampal (Nghệ Sĩ Độc Tấu Sáo người Pháp) của âm nhạc Việt Nam.

Ông cùng gia đình biểu diễn và giảng dạy nhiều niên khoá học của Visual Arts Program thuộc Arlington County và Fairfax County, bang Virginia, USA. Gia đình ông trình diễn nhiều show trên đài số 26, 33, 50, 54.

Ông nhận 4 giải thưởng của bang Maryland State Council dành riêng cho Nghệ Sĩ Cá Nhân Xuất Sắc năm 1994, 1998, 2000, 2002.

Sáo Thần Nguyễn Đình Nghĩa và hiền thê Trịnh Thị Diệu Tân.
Sáo Thần Nguyễn Đình Nghĩa và hiền thê Trịnh Thị Diệu Tân.
ST Nguyễn Đình Nghĩa và các con.
ST Nguyễn Đình Nghĩa và các con.

Ông lập gia đình với nhà văn Trịnh Thị Diệu Tân và có 5 người con:

• Nguyễn Diệu Đoan Trang: sử dụng Sáo, Đàn T’rưng, Đàn Tam Thập Lục, Trống
• Nguyễn Diệu Nam Phương: sử dụng Đàn Bầu, Đàn Tranh
• Nguyễn Đình Nghị: Sáo, Guitar, Bass
• Cặp sinh đôi Nguyễn Đình Chiến: Trống, Guitar
• Nguyễn Đình Hòa: Bass, Guitar, Đàn T’rưng, Cello

Ông cùng gia đình trình diễn tại hàng trăm hý viện trên nhiều tiểu bang ở Mỹ và Canada như: Wolf Trap, Kenedy Center, Carnegie Hall, New York, Liberty of Congress tại Washington DC, International Folk Festival tại Glen Echo Park…

Về sau ông chuyển qua sáng tác nhạc Thiền: “Cầu Vòng Ngũ Sắc”, “Hành Vân”, “Lời Của Một Giòng Sông” (bài thiền của vua Lý Thái Tôn), “Tiếng Kệ Bên Trời”, “Lời Hát Kệ”.

Ông đang nghiên cứu để làm lại đàn đá, đàn lửa đã thất truyền của người Vân Kiều. Đồng thời ông chuyển hướng với nhạc Thiền, dự định làm CD Thiền và những bài nhạc Tiền Chiến, “Mozzart on Bamboo”, “Christmas on Bamboo”, Thánh Ca qua nhạc cụ Dân Tộc…

…Rất tiếc Ông bị đột quị ngay trên sân khấu American History of Nature Museum tại New York ngày 11 tháng 5 năm 2003. Ông qua đời ngày 22 tháng 12 năm 2005. (Theo nguyendinhnghia.net)

Các bài dân ca dân tộc do ông ký âm:

CHIỀU VỀ (Dân ca Bahnar/Ba Na )

Ơ đồi ơi
Nắng chiều đã xuống rồi
Ơ đồi ơi!
Chiều xuống dần núi đồi
Ơ đồi ơi!
Đàn chim về tổ rồi.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

BẠN ƠI LẮNG NGHE (Dân ca Bahnar/Ba Na )

Hỡi bạn ơi cùng nhau lắng nghe
Tiếng dòng suối ngoài xa thì thào
Tiếng đàn cá vui đùa đáy cát
Tiếng làn sóng trôi, suối ào ào.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

BÓNG EM (Dân Ca Champa)

Kìa xa thấp thoáng ai trên đường lại đây
Bóng áo xanh đeo cườm lấp lánh đến nơi này
Hình như dáng em yêu đang đi nhịp nhàng
Kìa như dáng em yêu đang đi nhịp nhàng

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

DẬY ĐI! HLIM (Dân ca Jrai)

Dậy đi! Hlim dậy đi!
Hlim em ơi , dậy đi dậy nào
Kìa mặt trăng tàn ,kìa mặt trăng tàn rồi
Hlim dậy thôi dậy dĩa lúc
Dậy đi em Hlim ơi
dĩa lúc đi nào
Kìa mặt trăng tàn rồi
trăng nghiêng nghiêng tàn rồi
Hlim ơi!

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

MÙA HẠ (Dân ca Jrai)

Ơi, ơ rừng nắng chiếu khắp nơi nơi
Lá biếc xanh bao đẹp tươi
Suối cá bơi vui từng đàn
Chim trời dập dìu về từng đàn
Người rộn ràng cùng theo nhau
đến suối mát trong cùng vui đùa
Người rộn ràng mừng hè về
Người rộn ràng mừng hè về.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

LÊN RỪNG (Dân ca Jrai)

Chúng ta đi lên rừng.
Dắt theo dao bên mình.
Ôi đẹp sao núi rừng Tây Nguyên quê hương mình
Hãy lắng nghe vi vu
Tiếng núi rừng âm vang
Chúng ta đi lên rừng
Bên tai tiếng con chim ca mừng,
Xa xa suối reo,nghe tưng bừng
Tây Nguyên quê hương mình
Nơi đã sống bao đời
Chúng ta yêu cây rừng
Nước suối xanh trong lành
Nơi đã nuôi ta bao đời
Mùa đông tới giá lạnh,
tìm cành khô trong rừng
Ngồi quanh bếp lửa hồng
Lòng ta vui dạt dào.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

HÁI HOA BÊN RỪNG (Dân ca Jrai)

Ta đi hái hoa bên rừng
Nghe tiếng suối reo không ngừng
Hoa thắm đang đợi chờ
Bao mơ ước đang đợi chờ
Ta đi hái trái ngon trong rừng
Nghe náo nức tiếng chim trên cành
Con chim trắng bay lượn vòng
Nghe chim hót vui trong lòng.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

BUỔI SÁNG (Dân ca Jrai)

Nắng lên rồi , dòng suối nước trong
Đàn ong đi tìm hoa thơm nơi nơi
Nắng lên rồi, gọi ta lên rừng
Cùng hái rau về
Nào đi nhanh chân
Ta lên rừng cùng nhau hái măng
Cùng bắt cá trong giòng suôi trong xanh

Nấu bát canh phần anh lên nương
Làm rẫy sớm chiều
Lòng em thương anh
Sáng sớm nay lên nương xa
Mà lòng em thương anh.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

ĐÊM TRĂNG (Dân ca Jrai)

Trăng sáng soi trên lưng núi
Trăng sáng soi in hình trong suối êm
Trăng tràn ngập làng buông hiền hòa
Đây Tây Nguyên bao la khúc ca
Tiếng sáo réo rắt hát mừng
Rừng rì rào cùng suối reo
Quê hương thân yêu,
nương rẫy được mùa vui sao
Trong ánh trăng buông làng yên vui
Tiếng T’rưng ngân vang rộn ràng ngày đêm
Đây Tây Nguyên khi trăng lên.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

ANH YÊU THƯƠNG (Dân ca Jrai)

Tiếng hót chim rông
Lòng em càng rộn ràng
Đàn chim đẹp sao cùng hót
Hòa tiếng ngàn vang
Ngày Tháng anh bên em
Anh yêu thương ơi
mối tình nồng nàn
Dạt dào tim em từng ngày đêm
Nhớ anh
Nào có thấu chăng
Anh ơi!

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

SOI BÓNG BÊN HỒ (Dân ca Giáy – aka “Dẳng” – aka “Nhắng”)

Hạt mưa lắng giữa rừng xanh xanh
Mặt nước lung linh trong hồ… in hình chim…
Chim líu lo hót cùng… nước hồ trong xanh…
Rộn tiếng chim về cạnh sàn…
Rồi bay về người yêu phương xa…
Bay về chim lấy cho ta lá thư mong chờ.

giay_SoiBongBenHo

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

Mưa Rơi (Dân ca Khơ Mú [Xá Cẩu])

Mưa rơi cho cây cối tốt tươi
Búp chen lá trên cành
Rừng đẹp trăm hoa rung rinh theo gió
Bướm tung cách bay vờn
Bên nương bao tiếng cười trai gái đang nô đùa
Đầu sàn có đôi chim cu đua nhau gáy
Thách đôi én cùng múa vui
Mưa rơi chim ướt cánh bay
Nó sa bẫy trong rừng
Dập dìu ai đi đơm cá bên suối
Nước xô nước ven bờ
Trên nương hương thơm nếp vàng
măng vàng cười hé vươn lên cùng
Ngọt ngào hương thơm
bay bay bay theo gió
Những chim nướng cùng nếp thơm
Nhìn mà no.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

DỪNG CHÂN (Dân Ca Mèo)

Xa vời rừng ban xinh tươi,
nở trắng ngàn đỉnh đồi,
Nắng chiều vàng non khơi, xa vời
Bên lửa hồng ai ngóng chờ người năm xưa,
Nàng hẹn mong anh nói nên lời, nàng yêu
Anh không rời
Bên lửa hồng ai đón chờ người năm xưa
Nàng còn đây bao tháng năm chờ
Nàng còn đây không mờ
Mưa chiều, dừng chân anh ơi
Kià mưa tràn đỉnh đồi
Hoa buồn vì mưa rơi, không cười
Bên lửa hồng nay đón chờ người năm xưa,
Nàng hẹn mong anh nói nên lời,
nàng yêu anh không rời
Bên lửa hồng nay đón người về dừng chân
Nàng đợi qua bao tháng năm chờ,
Nàng còn đây không mờ.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

HÁT RU CON (KHỔNG MÍ NHỦA – Dân ca Mèo)

Ơ ! Em ơi ngủ ! Em chị ngủ ngon
Em chị chóng ngoan đừng khóc
Mẹ mua nhiều quà
A ru hỡi mẹ mua thật nhiều xôi.

Nữ nhạc sĩ Đoan Trang (ái nữ của NS Nguyễn Đình Nghĩa) ký âm.
Nữ nhạc sĩ Đoan Trang (ái nữ của NS Nguyễn Đình Nghĩa) ký âm.

Hát Ru Con (Dân ca Mèo Vạt – Hà Giang)

Chim về ngàn yêu thương,
Con Ơi ngoan con ngũ hỡi con
Ơi con ngũ ngàn lời yêu thương với đời con
Chập chùng ngoài xa đêm đêm nghe tiềng rừng vọng nơi đây
Ru hỡi ơi, ru hởi ru ơi.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

Nhắn Gửi (Dân ca H’Mông)

Nhắn Gửi đôi lời cùng anh
Hỏi núi gọi suối bao giờ
Mừng đón anh về
Nhắn gửi đôi lời cùng em
Trông vời lưng núi
Hẹn em chờ đến ngày anh trồng lúa
Trồng xong nương sắn mùa
Em đợi chờ đón anh về
Nhắn gửi đôi lời cùng em
Xa người yêu dấu anh còn đi
Anh dặn em đừng lo
Dù mưa nắng bao ngày anh về cùng em
Xa anh thì nhớ
Đừng xa lòng em
Đừng thương nhớ
Nào ai ngoài
Ngày trông tháng chờ
Một sáng anh về Vui sống cùng anh.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

Cô Nói Sao (Dân ca H’Mông)

Có bao giờ tôi thấy như vậy đâu!
Có ai ngờ bố mẹ cô đã nói vờ!
Nói cô đã đi suối
Mà sao thấy mời những người anh em đã về đây.
Có ai ngờ bố mẹ cô đã nói vờ!
Nói cô lấy củi trong rừng,
sao tôi thấy mời những người thông gia hai họ khắp nơi kéo về

Cô Nói Sao (âm ngữ H’Mông)

(Cha tang tu tang dua nê gày xinh!
Cha co lềnh nả lềnh chí dúa u trù!
Háy tua dùa mông chí đề ê dúa mông
Hu lùa dơê kế dề ho.
Cha cao lềnh nả lềnh chí dúa u trù
Hay tua dúa mồng chi tơ na Say dúa mồng
Hu lua dở ua kê trù kê lùa i tùa dua ca da)

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

NHỚ EM YÊU (Dân ca H’Mông)

A Chiều, lòng anh nhớ gọi em. Mái !
Chiều, kìa tiếng sáo gọi em lưng đồi.
Vầng trăng lên sáng rồi, bừng lên núi
Nhớ người yêu, lòng anh buồn
Buồn ăn chẳng no lòng
Kìa tiếng sáo gọi em ơi Mái !

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

RU CON (Dân ca Tày)

Hỡi ru à hời!
Ngủ yên giấc con nhé!
Chờ khi tối mẹ về,
mẹ vào ruộng hái dưa
Bố vào ruộng lấy cá
Vun nương rẫy trồng cà
bắt cào cào ăn lúa
Con mẹ vui đùa
Quạ kêu đỉnh núi,
Mẹ hát ru à hời.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

NGỦ ĐI EM (Dân ca Thái)

Bé yêu ơi
Ngủ đi em
Đắp mền ấm chăn êm
Ngủ đi em
Ngủ đi em
Lớn mau theo mẹ đi nương
Bé ơi ngủ cho ngoan
Nào bé yêu
Ngủ đi em
Ru hời ru hời

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

XOÈ HOA (Dân ca Thái)

Bùng bong bính bong
Ngân nga tiếng cồng vang vang
Nghe tiếng chiêng reo vui rộn ràng
Theo tiếng Khèn, tiếng Sáo vang lừng
Tay nắm tay, ta cùng xoè hoa

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

INH LẢ ƠI (Dân ca Thái)

Inh lả ơi
Sao noọng ời
Khắp núi rừng Tây Bắc sáng ngời
Mùa xuân đến ngàn hoa hé cười
Inh Lả Ơi
Sao noọng ơi!

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

Ru Em (Dân ca Xê Đăng/Xơ Đăng)

Em ơi , em ngũ cho ngoan
để Mẹ đi chặt cây chuối nơi xa
Em nằm ngũ cho ngoan
Ngoài rừng xa , cha đang đi kiếm măng non
Nín đi ơi , em ơi
Em ngũ đừng khóc
Ngoài rừng xa đang đi hái măng non
Ngũ ngoan ơi, em ơi
Nơi xa Mẹ tìm được nhiều ngọn rau non
Đừng khóc nữa ơi, em ơi.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

Bài Hát Thương Nhau (Dân ca S’Tiêng)

(Phỏng dịch: Điểu Kvrăng)

Con lươn nằm yên ở đầu nguồn
Tình đôi ta sẽ không hề thay đổi
Từ lúc tôi đến bên nàng
Tất cả buôn làng đều đồng ý
Núi rừng đã biết đièu thầm kín
Rể cây đa quấn quít thân cây
Làm sao đôi ta thương nhau
Mà giấu tất cà mọi người

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

Cuộc Tình Chia Tay (Dân ca S’Tiêng)

NS Nguyễn Đình Nghĩa Ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa Ký âm.

 

Dưới đây mình có các bài:

-“Sáo Thần” Nguyễn Ðình Nghĩa
– Nguyễn Đình Nghĩa Đoạt Giải Nhạc Sĩ Xuất Sắc 1994.
– Bài phỏng vấn chị Trịnh Diệu Tân – phu nhân của ‘Sáo Thần’ Nguyễn Đình Nghĩa – Báo Lẻ Phải, Virginia.
– Các loại Sáo, Tiêu Tre Trúc trên thế giới
– Sáo trúc – Chi (Di) và Hu
– Tập Thổi Ra Tiếng Sáo
– Chiếc Ðàn T’rưng Việt Nam

Cùng với 11 clips tổng hợp “Nhạc Dân Tộc – ‘Sáo Thần’ Nguyễn Đình Nghĩa” tiêu biểu để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

Sáo thần Nguyễn Đình Nghĩa và Đàn T'rưng.
“Sáo Thần” Nguyễn Đình Nghĩa và Đàn T’rưng của ông.

“Sáo Thần” Nguyễn Ðình Nghĩa

(Du Tử Lê)

Trong sinh hoạt cổ nhạc Việt Nam, nếu chúng ta có một Giáo Sư Nguyễn Hữu Ba, khi mới vừa 18 tuổi đã áp dụng hệ thống ký âm pháp Tây phương vào cổ nhạc Việt; sau đấy, ông cũng là người lập Viện Tỳ Bà nhằm phục hưng nền quốc nhạc (1); hoặc chúng ta có một nhà đồ cổ học nổi tiếng, Vương Hồng Sển, với trên 800 cổ vật ông sưu tập được, mà độc đáo nhất là đồ gốm men xanh, trắng thuộc các thế kỷ 17, 18 và 19 (2); hay chúng ta có một Trần Quang Hải, một đời đắm chìm trong nỗ lực sưu tầm, tìm hiểu công dụng, cách sử dụng các nhạc cụ cổ xưa để giới thiệu với thế giới; thì, chúng ta cũng có một Nguyễn Ðình Nghĩa, bậc thầy của các loại sáo trúc và đàn T’Rưng.

Khác hơn những người vừa kể, nơi Nguyễn Ðình Nghĩa là một phối hợp tuyệt vời giữa hai con người. Con người nghệ sĩ trình diễn, trung tâm của những ánh đèn nhiều nghìn watts, nơi những tiền trường sân khấu đông, tây: và con người nghiên cứu, sáng tác.

Ðược biết, họ Nguyễn đã mang tiếng sáo của ông tới những quảng trường đua tranh quốc tế ngay tự khi ông còn rất trẻ.

Nguyễn Ðình Nghĩa đã khiến những tên tuổi lừng lẫy, những chọn lọc cử tọa ở những quảng diễn tại Paris, Bangkok, Manila, Singapore, Cambodia, Laos, phải đứng dậy khi anh trình tấu “Phụng Vũ,” một tổ khúc cổ của triều đình Việt Nam, soạn cho tiêu sáo, bị thất truyền từ hàng trăm năm trước. Ông và những đứa con âm nhạc ưu tú, mang dòng họ Nguyễn của ông, cũng đã khiến cho những cử tọa chọn lọc của những trình diễn quốc tế ở New York, ở Maryland, phải nghiêng mình khi ông độc tấu sáo Mèo, Sáo Tiểu, độc tấu đàn T’Rưng và sáo Ensen cùng với sự phụ họa của những thành viên trong gia đình của mình.

Phải nói nghệ thuật Việt Nam, được thế giới biết đến như một thứ nghệ thuật của một dân tộc có chiều dầy lịch sử gần năm nghìn năm, một phần nhờ nơi tài năng và trí tuệ Nguyễn Ðình Nghĩa.
Chúng ta sẽ không thể thuyết phục được một ai, nếu chúng ta mang vác niềm tự hào gần năm nghìn năm lập quốc mà, không có một trưng dẫn cụ thể.

Chúng ta sẽ không thể khiến một ai lắng nghe, tin tưởng nơi độ dầy lớn lao của truyền thống văn hóa lạc Việt một khi chúng ta không thể trưng dẫn, trình diễn trước thế giới, những nhạc cụ cổ truyền vốn đã ăn ở, đã nuôi nấng tinh thần tổ tiên chúng ta, từ bao nghìn năm trước.

May mắn thay, vinh dự thay cho chúng ta, khi chúng ta có được một Nguyễn Ðình Nghĩa và, những đứa con của ông. Chính Nguyễn Ðình Nghĩa, với cây sáo cổ truyền của Việt Nam, đã mang lại niềm hãnh diện cho cộng đồng Việt tỵ nạn, khi họ Nguyễn được trao giải thưởng cao quý: Giải “The Indivisual Artist Award,” từ tay thống đốc tiểu bang Maryland, năm 1994, trong một cuộc thi quy tụ hầu hết những nhạc sĩ nổi tiếng nhất của tiểu bang này. Ðó là cuộc thi “The Best Musician of the Musical Instruments Performance.”

Bên cạnh con người nhạc sĩ trình diễn chói lòa tại các sảnh đường nghệ thuật thế giới, Nguyễn Ðình Nghĩa còn là một nhạc sĩ có công tái tạo và cải biến những nhạc khí cổ truyền của đất nước Việt Nam nữa.

Ðiển hình, trong thời gian chờ đợi giấy tờ đi định cư Hoa Kỳ, Nguyễn Ðình Nghĩa đã bỏ ra 9 năm sống với đồng bào Việt gốc Bahar và Rader ở cao nguyên trung phần để nghiên cứu âm nhạc cổ, các loại nhạc khí cổ mà đồng bào Việt gốc Bahar còn lưu truyền.

Kết quả họ Nguyễn đã tìm lại được chiếc đàn T’Rưng và, năm 1981, ông đã thành công trong nỗ lực cải tiến chiếc đàn này. Ông nâng tổng số ống chia âm độ của cây đàn T’Rưng lên tới con số 51 ống. Nhờ thế mà quãng cách khả dụng của chiếc đàn T’Rưng đã lên tới 4 bát độ. Trước đấy, ông cũng thành công trong nỗ lực cải tiến sáo trúc từ 6 lỗ bấm ra 11 lỗ, 16 lỗ, để có thể trình tấu các loại nhạc mà không ảnh hưởng đến đặc tính của cây sáo nguyên thủy.

Sáo thần Nguyễn Đình Nghĩa và Sáo.
“Sáo Thần” Nguyễn Đình Nghĩa.

Tháng 7 năm 1984, Nguyễn Ðình Nghĩa và gia đình tới Hoa Kỳ, cùng với cây đàn T’Rưng đã được ông nâng cấp.

Tôi không biết người nhạc sĩ tài hoa của chúng ta, “cây sáo thần” của Việt Nam trước khi từ trần đã mang theo ông về thế giới bên kia,bao nhiêu mơ ước, bao nhiêu sở nguyện chưa hoàn tất?

Nhưng, có một sở nguyện lớn của họ Nguyễn, được nhiều người biết là, sinh thời, ông nuôi tham vọng tìm được và, dựng lại toàn bộ chiếc đàn được coi là cổ xưa nhất của Việt Nam đó là chiếc “Ðàn Ðá Nước.” Trong chỗ riêng tư, đôi lần ông từng tâm sự rằng, theo kết quả dò hỏi của riêng mình, ông được biết, các quốc gia như Pháp, Mỹ và Việt Nam, mỗi nơi hiện lưu giữ được một ít mảnh.

Bên cạnh những thao thức khôi phục nền cổ nhạc của dân tộc, để chứng minh với thế giới, ít nhất trong lãnh vực âm nhạc, dân tộc Việt có một lịch sử đáng kể, nếu không muốn nói là đáng được ngưỡng mộ, họ Nguyễn thời còn ở trong nước, cũng như khi đã ra tới nước ngoài, dường như chưa có một thời gian nào, ông ngưng hoạt động, từ nghiên cứu, sưu tầm, tới những nỗ lực không ngừng làm mới ở lãnh vực trình diễn, cũng như thu âm.

Những người yêu quý tài năng và trí tuệ Nguyễn Ðình Nghĩa còn nhớ năm 1996, họ Nguyễn đã cho ra đời đĩa nhạc “The Magic Flute, Nguyễn Ðình Nghĩa & Family in Concert.”

Gần như ngay tức thì, dư luận báo chí, truyền thông Hoa Kỳ ở vùng Ðông Bắc Mỹ đã đánh giá đĩa nhạc đó của Nguyễn Ðình Nghĩa và các con, là một tác phẩm có giá trị rất lớn về phương diện trình tấu nhạc cụ cổ truyền Việt Nam. Có tờ báo không ngần ngại cho rằng nhờ đĩa nhạc “The Magic Flute, Nguyễn Ðình Nghĩa & Family in Concert” mà những người Mỹ quan tâm tới lịch sử nền nhạc cổ truyền Việt Nam, hiểu độ sâu và mức cao của dòng nhạc dòng phong phú, lãng mạn này.

Nguyễn Ðình Nghĩa nổi tiếng sớm, nhưng đa số chúng ta không biết nhiều về tiểu sử của ông. Mãi khi ông từ trần ngày 22 tháng 12 năm 2005, tại tiểu bang Maryland, thì những chi tiết về tiểu sử của “tiếng sáo thần Nguyễn Ðình Nghĩa” mới được những người có lòng, bỏ công sưu tầm, biên soạn.

Dưới đây là một vài nét chính về tiểu sử của nhạc sĩ Nguyễn Ðình Nghĩa được ghi lại trên một số trang nhà, do trang mạng Bách khoa Toàn thư mở Wikpedia phổ biến:

Theo giấy tờ thì nhạc sĩ Nguyễn Ðình Nghĩa sinh 1943, nhưng sự thực ông sinh năm 1940, ngày 5 tháng 10. Thuở nhỏ ông được gia đình cho theo học chương trình Pháp, rất sớm ông đã cho có cảm ứng mãnh liệt với nhạc Việt. Cũng ngay khi còn tấm bé ông được trau dồi nghệ thuật thổi sáo, từ một nhạc sĩ người Trung Hoa. Từ bước khởi đầu này, không lâu sau, Nguyễn Ðình Nghĩa được nhiều người biết đến qua tài nghệ sử dụng tiêu, sáo, đàn tranh, đàn bầu. Cuối thập niên (19)60, ông mở lớp, và xuất bản sách sử dụng tiêu, sáo.

Không ít học viên theo học ông, cũng đã trở thành những nhạc sĩ trình diễn có hạng, sau này. Tính đến trước tháng 4, 1975, ông cũng là giáo sư thỉnh giảng về nhạc cổ Việt Nam tại các trường Quốc Gia Âm Nhạc và Ðại Học Vạn Hạnh. Trước đó, ông cũng thành công trong nỗ lực cải tiến sáo trúc từ 6 lỗ bấm ra 11 lỗ, 16 lỗ, để có thể trình tấu các loại nhạc mà, không làm đặc tính của cây sáo nguyên thủy.

Trong các năm 1994, 1998, 2000, 2002, nhạc sĩ Nguyễn Ðình Nghĩa đã được trao tặng giải thưởng “Nghệ Sĩ Xuất Sắc” của Hội Ðồng xét định Maryland State Council, tiểu bang Maryland.
Tưởng cũng nên lập lại rằng, ông cùng gia đình trình diễn tại hàng trăm hý viện nổi tiếng ở Hoa Kỳ cũng như Canada. Ðó là các hý viện như Wolf Trap, Kennedy Center, Carnegie Hall, New York, Liberty of Congress tại Washington DC, International Folk Festival, v.v…

Một người con của nhạc sĩ Nguyễn Ðình Nghĩa cho biết, trước khi gặp biến cố tai biến mạch máu não, (ngay trên sân khấu American History of Nature Museum” New York, ngày 11 tháng 5 năm 2003,) ông đã chuyển hóa tâm để vào cõi giới Thiền, với những ca khúc như “Cầu vồng ngũ sắc,” “Hành vân,” Lời một dòng sông,” vốn là một bài kệ của vua Lý Thái Tôn.

Nếu thỉnh thoảng chúng ta được nghe hay, đọc được ở đâu đó cụm từ “…là một mất mát không gì thay thế được,” thì ghi nhận này, ứng hợp hoàn toàn với tài năng và trí tuệ Nguyễn Ðình Nghĩa vậy.

(Du Tử Lê – Tháng 2, 2012)

Chú thích:

(1) Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba sinh năm 1914 tại Triệu Phong, Quảng Trị. Ông mất năm 1997 tại Sài Gòn.
(2) Học giả Vương Hồng Sển sinh năm 1902 tại Sóc Trăng. Ông mất năm 1996 tại Sài Gòn.

"Sáo Thần" Nguyễn Đình Nghĩa.
“Sáo Thần” Nguyễn Đình Nghĩa.

Nguyễn Đình Nghĩa Đoạt Giải Nhạc Sĩ Xuất Sắc 1994

(Vinh Hoàng Hạnh – Tháng 07-1994)

Dù không nhiều thì ít, trong chúng ta ai cũng biết đến hoặc nghe đến tên một nhạc sĩ nỗi danh có một không hai từ mấy chục năm qua. Khi nói đến tiếng sáo thần sầu trong các chương trình của Mặc Thu, chương trình cổ kim hòa điệu của Châu Kỳ và chương trình Tao Đàn do Đinh Hùng phụ trách hàng đêm tai quê nhà,chúng ta đều liên tưởng ngay đến Nguyễn Đình Nghĩa và ngược lại ,khi bạn bè nhắc đến Nguyễn Đình Nghĩa là chúng ta đã hình dung ngay đến tiếng sáo trầm bỗng của anh đang vang vọng đâu đây.

Nhưng từ khi di tản ra hải ngoại, chúng ta đã không thấy anh xuất hiện mấy trước cộng đồng người Việt, cũng như những chương trình thơ văn khác, mặc dầu anh và gia đình đã định cư tại Hòa Kỳ trong 10 năm nay. Phải chăng vì sinh kế ? Hoặc khung cảnh không gian, cũng như thời gian không còn phù hợp với tiếng sáo của anh? Cũng vì những suy tư đó mà người viết bài nầy đã tò mò tìm đến anh và được anh tâm sự.

Đối với anh sinh kế chỉ là một phần nhỏ ảnh hưởng đến người nghệ sĩ nhưng cái không khí ở hải ngoại mới là điều đáng nói, vì thơ văn không mấy phù hợp với xã hội mà mọi người trong chúng ta ai cũng phải chạy đua với thời gian để lo sinh kế cho gia đình. Để thích ứng với hoàn cảnh mới nơi xứ người, ngay từ năm 1981 anh đã nghiên cứu một loại nhạc cụ mà dân miền Thượng du đã có từ lâu tên là đàn T’rưng. Anh tìm cách hoàn chỉnh cũng như cải tiến để loại nhạc cụ nầy có khả năng tấu lên những bản nhạc tây phương. Chính vì lối trình diễn đặc thù này mà phần đông các nhạc sĩ hải ngoại đã chú ý đến anh và thường xuyên mời anh cũng như gia đình tham gia vào các buổi trình diễn đặc biệt trên đất Mỹ.

Lần trình diễn gần đây nhất mà toàn gia đình anh đã được mời trình diễn ở Newyork tại thính đường Carnegie Hall nhân ngày lễ ra trường cho các sinh viên Đại Học Kỷ Thuật Newyork. Điều đáng lưu ý là thính đường Carnegie Hall là thính đường nổi tiếng và sang trọng đứng hàng đầu ở Newyork. Những văn nghệ sĩ được mời trình diễn ở tại đây đều được chọn lọc rất kỹ, một điểm đáng khích lệ khác cho gia đình anh Nghĩa là số khán giả hôm đó đã lên đến trên 2.000 người, hội trường không còn một chỗ trống.

Nhưng gần đây nhất, điều đáng làm cho chúng ta hãnh diện là ngày 12 tháng 6 vừa qua, anh đã được mời tới nhà hát lớn Center Stage ở Baltimore để nhận giải thưởng nhạc sĩ xuất sắc cá nhân 1994 về lối độc tấu nhạc cụ do Thống Đốc William Donald Schaefer trao tặng kèm phần hiện kim $3.000 đã được gửi đến tận nhà trước mấy tháng.

Sau đây chúng tôi xin nói sơ qua về thể thức dự thi về độc tấu nhạc cụ căn cứ trên nghệ thuật trình diễn của tác phẩm cũng như cách thức tuyển chọn. Mỗi thí sinh phải gửi 4 cuốn tape do chính thí sinh tự trình diễn, và phần trình diễn không được đệm nhạc hay phụ họa các khí cụ khác, sau đó gửi đến hội đồng chấm giải, hội đồng nầy được tuyển chọn rất kỹ và phải ở ngoài tiểu bang Maryland. Những cuốn băng do thí sinh gửi đến đã được dấu tên và mỗi cuốn băng có một ám số riêng, để việc tuyển chọn được hoàn toàn vô tư. Giải thưởng này đã do Thống Đốc Maryland đứng ra tổ chức 2 năm một lần và năm nay là năm đầu tiên tổ chức dành riêng cho cá nhân nghệ sĩ biểu diễn. Người viết bài này đã tháp tùng anh Nghĩa và gia đình đến Baltimore để nhận giải và chụp hình lưu niệm. Nhận thấy việc làm của anh đáng khích lệ và là điều hãnh diện chung cho cộng đồng chúng ta và gia đình anh Nguyễn Đình Nghĩa nói riêng. Thành thật chia vui cùng anh Nghĩa và gia đình, thân chúc anh gặt hái nhiều thành quả trên đường phụng sự nghệ thuật.

(Vinh Hoàng Hạnh – Tháng 7-1994)

Sáo Thần Nguyễn Đình Nghĩa và hiền thê Trịnh Thị Diệu Tân.
Sáo Thần Nguyễn Đình Nghĩa và hiền thê Trịnh Thị Diệu Tân.

Bài phỏng vấn chị Trịnh Diệu Tân – phu nhân của ‘Sáo Thần’ Nguyễn Đình Nghĩa – Báo Lẻ Phải, Virginia

(Tương Nghi thực hiện)

LỜI TÒA SOẠN: Nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa, Tiếng Sáo Thần Nguyễn Đình Nghĩa đã đột quỵ rồi hôn mê suốt bảy tháng qua…Hiện nay, ông đã có những lúc tỉnh táo, tuy chưa nói năng nhưng đã nhận được người thân. Tri kỷ của ông, người bạn đời của ông, bà Trịnh Diệu Tân và những người con của đôi vợ chồng nghệ sĩ: Đoan Trang, Nam Phương, Đình Nghị, Đình Chiến, Đình Hòa đã tất bật suốt bảy tháng qua để lo lắng cho ông! Xin mời quý độc giả theo dõi buổi trò chuyện của Tương Nghi và bà Trịnh Diệu Tân, để biết thêm về người nghệ sĩ tài danh Nguyễn Đình Nghĩa…

***

Tương Nghi: Tương Nghi xin chào chị Diệu Tân!

Trịnh Diệu Tân: Xin kính chào quý độc giả. Thân chào Tương Nghi.

Tương Nghi: Mùa hè vừa qua khi Tương Nghi vào thăm chị và nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa ở bệnh viện, lúc ấy trông chị thật là tiều tụy, hôm nay nhìn chị có thần sắc và cứng rắn hơn mấy tháng trước nhiều lắm!

Trịnh Diệu Tân: Anh Nghĩa ngã xuống tại New York, trên sân khấu của American History Museum vào tháng 5, ảnh được đưa vào bệnh viện Lenoxhill. Trong suốt 9 tuần lễ, ở một nơi mà đời sống xô bồ và xa lạ, không có bạn, không có thân nhân, nhìn ảnh nằm lúc mê lúc tỉnh, tôi cũng như nửa mê nửa tỉnh. Mỗi giờ phút nắm bàn tay còn hơi ấm của ảnh để biết chính mình còn đang sống. Thật sự cả thể xác hình như đã tê dại lại, chỉ còn một sinh vật nhỏ bé còn thở, còn quằn quại, đó là trái tim tội nghiệp của mình. Khi xe ambulance đưa Nghĩa trở về bệnh viện Maryland, tôi mới tỉnh hồn tỉnh vía vì biết anh đã vượt qua được những giờ phút nguy hiểm nhất. Giữa đám chăn nệm trắng xóa, Nghĩa mở mắt nhìn tôi, tôi chợt hiểu sâu xa rằng tôi phải đứng rất vững, rất khỏe mạnh để nâng đỡ anh trở lại.

Tương Nghi: Lần cuối cùng Tương Nghi gặp nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa thì ông vẫn còn hôn mê, xin chị cho Tương Nghi và các độc giả được biết hiện giờ tình trạng của nhạc sĩ như thế nào? Có khả quan hơn mấy tháng trước đây không?

Trịnh Diệu Tân: Rất nhiều lần bệnh viện đã đưa ảnh về rehab nursing home, nhưng bệnh tiểu đường của ảnh lâu năm đã làm ảnh suy nhược quá, kháng sinh cơ thể yếu nên hay bị sốt thường xuyên và lại phải đưa vào emergency. Nhưng bây giờ tính ra đã được 7 tháng, thần sắc anh đã tỉnh táo hơn nhiều, nhận được hết bạn bè vào thăm, xem ti-vi nhớ được nhiều tài tử, cơ mặt đã hoạt động lại khi anh khóc, và khóe mắt đã có những giọt nước mắt. Anh có thể cử động được chút đỉnh các ngón chân và ngón tay phía bên mặt.

Tương Nghi: Ngoài bộ đàn T’rưng, sáo và những tấu khúc như “Phụng Vũ” tài danh của ông, xin chị cho biết thêm một số sinh hoạt, hoặc những công trình khác mà nhạc sĩ đã và đang dự định hoàn tất trước đây.

Trịnh Diệu Tân: Trước 75, Nghĩa hoạt động rất nhiều lãnh vực. Anh đã từng là lực sĩ điền kinh, nhảy cao, nhảy sào. Là môn sinh của phái Thiếu Lâm, xuất thân từ lò Tư Cụng. Năm 20 tuổi, chúng tôi đã thành hôn. Lúc đó, ảnh cho tôi vào đại học luật khoa và ảnh đã dấn thân vào âm nhạc. Lúc đầu, anh Phạm Duy giới thiệu Nghĩa đi làm ở phòng trà Anh Vũ. Sau đó làm rất nhiều cho đài phát thanh trong các chương trình thi ca như Tao Đàn của anh Đinh Hùng, chương trình Mây Tần của anh Kiên Giang, thi nhạc giao duyên của anh Duy Khánh, Vĩnh Phan, Hồ Điệp, Bửu Lộc, Ngô Nhật Thanh v..v.. Sau đó anh vào Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương và bắt đầu đi trình diễn khắp bốn vùng chiến thuật. Anh cũng đã được đưa đi trình diễn ở ngoại quốc trong các nhóm nghệ sĩ đại diện quốc gia như Thái Lan, Mã Lai, Phi Luật Tân, Pháp v..v.. Anh rất thành công ở hải ngoại với hai bài sáo do anh sáng tác là bản Phụng Vũ và Thần Triều. Nhưng khúc nhạc sáo mà anh sáng tác mà tôi hài lòng nhất là bản Đoạn Trường. Nghe khúc nhạc này, thật sự đứt cả ruột gan, đến trăng cũng vỡ và hoa tươi cũng tàn rũ. Tiếng sáo của Nghĩa thật sự lúc dữ dội như sự cuồng nộ của biển cả, lúc dịu dàng tha thướt như những lọn mây trời.

Nghĩa sáng tác rất sớm. Năm 20 tuổi đã viết rất nhiều bản nhạc như Sương Khuya, Nỗi Buồn Thiếu Phụ, Giọt Lệ Tình, Đôi Bờ v..v..; anh còn in tập dạy sáo bán rất chạy và hầu như tái bản cả chục lần. Anh còn dịch 2 quyển Tự Học Harmonica của Pháp ra tiếng Việt. Năm gần 30 tuổi anh nỗi tiếng khi báo chí nói rất nhiều về anh qua hai cuốn phim Đời Võ Sĩ và Đời Phóng Viên, đóng chung với Tâm Phan và Bích Thủy. Quá 30 tuổi, Nghĩa bắt đầu sản xuất băng nhạc. Đã ra mắt được 4 cuốn tân nhạc tựa đề “22 giờ đêm” và hai cuốn cải lương với tựa đề Đại Hội Huy Chương Vàng. Đồng thời ảnh cũng ra cuốn băng độc tấu sáo với những bản nhạc tiền chiến. Anh còn sản xuất sáo trúc và tung ra bán cho cả nước. Đầu thập niên 70, Nghĩa còn đi dạy Quốc Nhạc ở đại học Vạn Hạnh.

Sau biến cố 75, Nghĩa ít có cơ hội trình diễn ngoài những lần đi hát chui với Duy Khánh trong đoàn Ngọc Giao. Lúc này, anh có nhiều thời gian để nghiên cứu về nhạc cụ. Cũng như Phan Nhật Nam đã nói, cả khu nhà nhỏ bé của chúng tôi mọc lên cả một rừng tre trúc. Nghĩa đã bỏ tâm huyết 10 năm để tạo ra những nhạc cụ cải tiến. Đó là sáo trúc 11 lỗ bấm, tấu được tất cả nhạc thế giới. Và chiếc đàn T’rưng thô sơ đã biến dạng với chiếc đàn đồ sộ 52 ống. Bây giờ điều ảnh đang làm dỡ dang là chiếc đàn Cộng Hưởng, đàn đá. Và âm ỉ trong lòng anh là thực hiện cho được chiếc đàn lửa.

Tương Nghi: Thưa chị, Tương Nghi đã vài lần được xem Nguyễn Đình Nghĩa và gia đình trình diễn ở một vài nơi, những lần đó có Đoan Trang, Nam Phương, Nguyễn Đình Nghị, Nguyễn Đình Hòa, Nguyễn Đình Chiến, lần trình diễn nào cũng để lại trong lòng Tương Nghi nói riêng và khán giả nói chung nhiều hảnh diện và cảm phục. Đoan Trang ngoài hấp thụ của cha được cái hồn của tiếng sáo, Đoan Trang còn rất điêu luyện với những nhạc cụ khác như trống, đàn T’rưng, và nhất là Tam Thập Lục. Nam Phương thì chuyên về đàn tranh, và có ngón đàn bầu rất ngọt mà Tương Nghi gọi là tiếng đàn “Câu Hồn Khách”. Nguyễn Đình Nghị thì xử dụng sáo mèo, ngọt ngào, truyền cảm. Hai anh em sinh đôi Nguyễn Đình Hòa, Nguyễn Đình Chiến thì giỏi guitar, trống và đã từng xuất bản CD. Để đào tạo 5 người nghệ sĩ tài hoa như thế kia trong một gia đình, nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa phải là một người làm việc năng động, là một người thầy, một người cha có một kỷ luật nghiêm túc và nhất là phải say mê nghệ thuật ghê lắm phải không thưa chị?

Trịnh Diệu Tân: Tất cả cuộc đời Nghĩa đã thật sự hiến dâng cho âm nhạc. Anh đã lao vào với tất cả sức sống, say mê và nâng niu nhạc cụ, chìm đắm trong cái thế giới huyền hoặc của âm thanh. Về sau này anh nghiên cứu về sáng tác nhạc Thiền, anh sắp sửa hoàn tất một CD Thiền thứ hai, nhưng đáng tiếc anh đã bỏ dỡ.

Các con tôi, Đoan Trang, Nam Phương, Nghị, Chiến, Hòa đã được sự dạy dỗ, trui rèn của cha nhưng hoàn cảnh và đời sống đã không đạt được hết chân truyền của ảnh. Nhưng ít ra, trong cõi nhân sinh chật hẹp này, âm nhạc đã làm cuộc đời cha con họ một chút thăng hoa.

Tương Nghi: Thưa chị, cơ duyên nào đã khiến nhạc sĩ bỏ công miệt mài nghiên cứu và chế tạo bộ đàn T’rưng? Chị có thể nói sơ qua cho độc giả biết sự cấu trúc của nó và thời gian hòan tất là bao lâu?

Trịnh Diệu Tân: Anh Nghĩa là người yêu âm nhạc, âm thanh huyền hoặc của tiếng đàn T’rưng đã lôi cuốn anh. Trong 10 năm nghiên cứu, từ chiếc đàn nguyên thủy một cột hơi, anh đã cải tiến ra thành 2 cột hơi giao thoa để có thể chơi được những nốt cao nhất và hoàn thành đàn T’rưng bass đồ sộ với những nốt trầm, có thể trình tấu được nhạc cổ điển tây phương. Cũng như cải tiến cây sáo 6 lỗ thành 11, 16 lỗ; cây sáo có khả năng tấu được nhạc cổ điển tây phương đồng thời vẫn trình tấu được nhạc Việt Nam với các nốt láy luyến mà không mất âm sắc của cây sáo nguyên thủy. Cây sáo 11 lỗ cải tiến là một bước dài trong quá trình cải tiến nhạc cụ Việt Nam, với khả năng chơi được những nốt thăng giáng mà người nghệ sĩ khi trình tấu trong dàn nhạc không cần phải thay đổi sáo. Ngoài ra anh Nghĩa cũng sáng tạo cây đàn T’rưng cộng hưởng với nguyên lý vật lý âm thanh, cộng hưởng cách không tức khi một dây đàn cùng một tầng số âm thanh gõ vào thì dây đàn khác cùng ngân lên, áp dụng vào đàn T’rưng, cho tiếng đàn có độ rung ngân dài và vang.

Tương Nghi: Thưa chị, có vài lần Tương Nghi được nghe những bài hòa âm mà Đoan Trang phổ từ thơ của một vài thi sĩ, những bản hòa âm này chưa hề trình diễn trước công chúng, trong số những bài hòa âm đó là bài “Thủy Bạc Ca” mà nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa ưng ý nhất. Tương Nghi còn nhớ nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa đã từng bảo nhỏ với Tương Nghi rằng bản hòa âm này của Đoan Trang đã đạt tới mức thượng thừa và có thể dựng thành một nhạc cảnh qui mô, hùng tráng; xin chị cho biết, để có một vốn liếng về nhạc lý như vậy, Đoan Trang phải bắt đầu học nhạc từ năm bao nhiêu tuổi? Trong những ngày đầu theo cha vào con đường âm nhạc, Đoan Trang có một kỷ niệm nào khiến cho chị phải nhớ mãi không?

Trịnh Diệu Tân: Trong số các con tôi, Đoan Trang và Hòa là hai đứa mê nhạc nhất. Đoan Trang đã học hòa âm với cha Tiến Dũng lúc trẻ và có một vốn liếng âm nhạc khá vững. Nhưng giữa hai thế hệ, Nghĩa và Đoan Trang lúc nào bàn thảo về âm nhạc cũng có những tư tưởng đối chọi nhau. Nghĩa vẫn than phiền với tôi là Đoan Trang không dùng “Tâm” mà chỉ dùng “Trí” trong âm nhạc. Nên khi Đoan Trang hòa âm bài “Thủy Bạc Ca” của nhà thơ Trần Nghi Hoàng, Nghĩa vẫn còn nhiều nghi vấn. “Thủy Bạc Ca” của anh Trần Nghi Hoàng là một đỉnh cao của thi ca, làm sao có thể diễn đạt hết những chất ngất hào khí của những đấng anh hùng mã thượng. Nhưng thực sự Đoan Trang đã đạt được thành công tốt đẹp trong một lối hòa âm thượng thừa để dựng nên một nhạc cảnh qui mô, lối diễn đạt hào tráng của một bãi chiến trường với tiếng vó ngựa, tiếng trống thúc quân, tiếng sát phạt của binh khí và sau đó là sự êm dịu hòa hoãn nhưng cũng đượm nét thê lương của chiến trường.

Nghĩa nghe xong bản nhạc, tôi nhìn thấy nét nghiêm trọng rất lâu của anh, và sau đó là nụ cười rạng rỡ; anh nói với tôi: “Trang đã đạt được nét thiền của âm nhạc, đó là ngộ của sáng tạo và thoát của âm thanh.”

Tương Nghi: Thưa chị, trong quá trình dài trên con đường phục vụ âm nhạc và với những thành tựu mà nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa đã đạt được, chắc chắn ông đã trải qua rất nhiều hy sinh và thử thách và chị là người đã từng chia sẽ những nỗi vui buồn của ông hơn ai hết, qua những kinh nghiệm đó, và nhất là bây giờ, chị có kỳ vọng những người con tài hoa của chị như Đoan Trang (vừa xuất hiện trong một buổi trình diễn rất thành công cùng với em trai là Nguyễn Đình Hòa ở Nam, Cali), hay Nam Phương tiếp tục đoạn đường mà nhạc sĩ đang bỏ dỡ?

Trịnh Diệu Tân: Âm nhạc là nghệ thuật hàng đầu, chắc chắn các con tôi sẽ không bỏ dỡ con đường của ba chúng đang đi. Đó không những là lý tưởng, là ước nguyện, là nỗi sống, là nỗi chết, còn là tim óc là máu đang lưu chuyển trong cơ thể của mỗi đứa. Tôi vẫn nói với Nghĩa: “Em cám ơn anh đã cho em tiếng sáo làm hồng đời em, và cám ơn anh đã cho em những đứa con tài hoa.”

Tương Nghi: Thưa chị, ngoài vai trò một người vợ hiền lúc nào cũng khuyến khích, chia sẽ với người chồng tài hoa của mình, chị cũng đã từng là một nhà văn có tác phẩm trước năm 75, viết lời cho vài nhạc phẩm mà nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa đã phổ, đã sát cánh bên người nhạc sĩ này suốt bao năm nay từ những buổi trình diễn trong cũng như ngoài nước, trong tương lai… chị có dự định viết, sáng tác nữa không? Chẳng hạn như viết tiếp về “Câu Chuyện Một Đêm Trăng” rất đẹp mà nhà văn Phan Nhật Nam đã từng kể?

Trịnh Diệu Tân: Lúc còn đi học, tôi vẫn viết truyện ngắn. Năm 1968 tôi đã xuất bản đầu tay quyển “Mảnh Vụn”. Sau định ra mắt tiếp quyển “Một Đời Lang Thang” nhưng đã không thành. Bây giờ vẫn viết lai rai nhưng không nhiệt tình lắm. Có thể đời sống đã làm tâm hồn mình cằn cỗi đi. Nhưng đôi lúc vẫn thấy rung động vì một luống cỏ hay một làn khói mỏng manh như có một hôm nào đó trong bệnh viện nhìn Nghĩa nằm giữa đám chăn nệm trắng xóa, trong cái im lặng vô cùng của trời đất, tôi nhìn qua khung cửa kính thấy một đóm lửa nhỏ hiu hắt trong một căn nhà nào đó ở rất xa. Tôi rớt nước mắt thèm một bửa cơm gia đình có Nghĩa và các con tôi. Và tôi muốn cầm bút viết vô cùng…

Tương Nghi: Nếu có được một điều ước duy nhất, chị sẽ ước gì?

Trịnh Diệu Tân: Tương Nghi đã hỏi một điều mà tôi đã tự hỏi tôi rất nhiều lần. Tôi không biết phải trả lời như thế nào. Nhưng tự trong thâm tâm, trong sâu thẩm của tiềm thức, tôi khao khát được nghe lại tiếng sáo của những ngày tháng cũ. Tiếng sáo của mấy chục năm về trước. Tiếng sáo nhọn hoắt lướt thướt qua những tàng cây sầu đông, làm lao chao ánh trăng, làm bàng hoàng nỗi nhớ…

Điều mơ ước cuối đời, xin được nghe tiếng sáo dưới những tàng cây sầu đông.

Tương Nghi: Xin cám ơn chị về buổi trò chuyện hôm nay. Nếu Tương Nghi cũng có một điều ước, Tương Nghi xin ước cho điều mơ ước của chị sẽ trở thành sự thật trong một ngày không lâu.

Sáo 8 lổ bấm của Ấn Độ.
Sáo Bansuri 8 lổ bấm của Ấn Độ.
Sáo Bansuri của Ấn Độ.
Sáo Bansuri của Ấn Độ.

Các loại Sáo, Tiêu Tre Trúc trên thế giới

(NS Nguyễn Đình Nghĩa)

Sáo ở Ấn Độ

Sáo trúc là nhạc cụ quan trọng trong âm nhạc cổ điển Ấn Độ, phát triển độc lập so với sáo phương Tây. Hindu thần Krishna là truyền thống được coi là một bậc thầy của Bansuri. Sáo Ấn Độ là rất đơn giản so sáo Tây, sáo được làm bằng tre.

Pannalal Ghosh, một huyền thoại của nghệ sĩ bộ môn Sáo của Ấn Độ. Ông là người đầu tiên để biến đổi một nhạc cụ dân gian nhỏ, một sáo tre (dài 32 inches với bảy lỗ ngón tay) thích hợp cho việc chơi truyền thống âm nhạc cổ điển Ấn Độ, và cũng để mang cây sáo có tầm cỡ so với nhạc cụ cổ điển khác. Khoét thêm các lỗ để có thể chơi được madhyam, trong đó tạo điều kiện cho các meends (như MN, AM và MD) trong một vài ragas truyền thống.

Các buổi hòa nhạc cho Sáo Ấn Độ có cao độ tiêu chuẩn. Trong âm nhạc Carnatic, các nốt được gọi bằng số như (giả sử C là chủ âm) 1 (C), 1-1/2 (C #), 2 (D), 2-1/2 (D #), 3 ( E), 4 (F), 4-1/2 (F #), 5 (G), 5-1/2 (G #), 6 (A), 6-1/2 (A #) và 7 (B). Tuy nhiên, cao độ của tác phẩm là chính nó không cố định và do đó bất kỳ sáo có thể được sử dụng cho các buổi hòa nhạc (miễn là có nhạc cụ đệm kèm theo) và phần lớn là sở thích cá nhân của nghệ sĩ.

Hai loại chính của sáo, Ấn Độ hiện đang được sử dụng

Loại Sáo thứ nhất: Sáo Bansuri này, có sáu lỗ bấm và lỗ thổi, được sử dụng chủ yếu trong thể nhạc Hindustani của Bắc Ấn Độ.

Loại Sáo thứ hai: Venu hoặc Pullanguzhal, có tám lỗ bấm, và được chơi chủ yếu trong âm nhạc Carnatic của Nam Ấn Độ.

Hiện nay, sáo ngang tám lỗ bấm được phổ biến với nghệ sĩ Sáo Carnatic. Kỹ thuật này đã được giới thiệu bởi TR Mahalingam vào giữa thế kỷ 20. Sau đó nó được phát triển bởi các BN Suresh và Tiến sĩ N Ramani. Trước đó, miền Nam Ấn Độ sáo chỉ có bảy lỗ , với các tiêu chuẩn bỏ ngón phát triển bởi Sharaba Shastri, của trường Palladam, vào đầu thế kỷ 20. Năm 1998, dựa trên các nghiên cứu về Bharata Natya Shastra’s Sarana Chatushtai, Avinash Balkrishna Patwardhan phát triển một phương pháp để sản xuất sáo hoàn chỉnh cho mười thatas hiện đang hiện diện trong âm nhạc cổ điển Ấn Độ.

Chất lượng âm thanh của sáo phần nào phụ thuộc vào tre cụ thể được sử dụng để làm cho nó, và nó thường được đồng ý rằng tre phát triển tốt nhất trong khu vực Nagercoil ở Nam Ấn Độ.

1. Sáo Bansuri

Còn có tên gọi khác Murali, Bansi, Baashi. Người Ấn Độ và Pakistan thổi sáo Bansuri 6 lỗ chơi được 2.5 octave, 7 lỗ chơi được 3 octave.

sáo24

sáo25

Sáo Bansuri (Tiếng Hindi: बांसुरी); (Vietnamese: বাঁসুরী) là một sáo alto ngang của Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh và Nepal, đã có chiều dài của 1 ống tre với sáu hoặc bảy lỗ. Một loại nhạc cụ cổ gắn liền với truyền thống chăn bò và các chăn cừu, nó gắn liền với những câu chuyện tình yêu sâu sắc của Krishna và Radha, và được mô tả trong bức tranhPhật giáo từ khoảng 100 AD.

Đó là những lời thơ được khắc trên sáo với giai điệu trữ tình với Lila Rasa Krishna’s; những giai điệu trên sáo thơ của ông đã làm phụ nữ ở Braj điên đảo. Các bansuri Bắc Ấn Độ, thông thường khoảng 14 inches dài, theo truyền thống được sử dụng như một công cụ chủ yếu cho soprano đi kèm trong tác phẩm âm nhạc nhẹ bao gồm cả nhạc phim. Có nhiều kích cỡ của bansuri từ 14 đến 30.

Các bansuri bắt nguồn từ trong tiếng Phạn là trúc, tre + swar (note nhạc). Có hai loại giống của bansuri: các ngang, và fipple này. Sự đa dạng fipple được gắn bởi 1 cái còi thường chơi trong âm nhạc truyền thống dân gian . Bởi vì sự dễ dàng , sự đa dạng ngang nên được ưa thích trong âm nhạc cổ điển.

Pandit Pannalal Ghosh (1911-1960) là nhà làm sáo và chơi sáo Bansuri nổi tiếng, ông đã cải tiến cây Sáo từ một nhạc cụ dân gian vào trong âm nhạc cổ điển. Ông cải tiến chiều dài và số lỗ và ngay cả độ dày của vòng chung quanh lỗ và mỗi lỗ hơn nghiêng 90 độ từ khoảng cách đường thẳng trong sáu lỗ khác. Bansuris cải tiến tạo nên một octaves thấp hơn.

Bansuris khác nhau về độ dài. Chúng dao động từ khoảng 12 inch lên đến khoảng 40 inch. Bansuris dài 20 inches là phổ biến. Một sáo, Ấn Độ và phổ biến tương tự như chơi ở Nam Ấn Độ là Venu. Ngón trỏ, giữa, và ngón tay áp út của cả hai tay thường được sử dụng để chơi các Bansuri sáu lỗ. Đối với các bansuri lỗ bảy, các ngón tay út của bàn tay phải thường được sử dụng.

Những âm thanh từ Bansuri một đến từ cộng hưởng trong cột hơi bên trong nó. Chiều dài của cột này có thể khác nhau bằng cách đóng hoặc mở các lỗ. Đồng thời, bấm nửa lỗ mở, sẽ cho ra note thăng . Các ‘sa’ (trên thang âm sargam, Ấn Độ, tương đương với note Đô) của 1 octave bằng cách bấm gồm ba lỗ đầu từ miệng lỗ. Khi thổi các octaves cao hơn và thấp hơn là chơi bằng cách mím môi để điều chĩnh làn hơi. Để bấm các lỗ dễ dàng bấm được nữa-lỗ, người chơi sáo phải bấm ngón tay phần thịt thay vì đầu ngón tay. Trong khi chơi, các tư thế ngồi cũng rất quan trọng để phần không bị căng thẳng khi ngồi nhiều giờ. Bansuris các kích cỡ khác nhau được sử. Bansuris các kích cỡ khác nhau được sử dụng để chơi cao độ khác nhau. Các bansuris với độ dày,ống lớn và dài thường cho octave thấp , và những ống mỏng cho octaves cao hơn.

Nhạc sĩ nổi tiếng của bansuri bao gồm Pannalal Ghosh, Vijay Raghav Rao, Hariprasad Chaurasia, Nityanand Haldipur, Raghunath Seth, và Devendra Murdeshwar.

Để chơi được thang âm Diatonic bansuri, điều quan trọng là tìm lối bấm. Như note E và G, bansuri Sa bằng cách đóng ba lỗ đầu tiên, tương đương với D, là note chủ âm, bạn có thể coi bài nhạc viết ký âm bằng cách tạo ngón tương ứng với cách viết. Một nghệ sĩ bansuri có thể đạt được sự phức tạp của thể nhạc Raga bằng nhiều kỷ thuật, và lối vuốt nhanh bởi sự thay đổi hơi thở, chạy ngón nhanh khi chơi cả hai, nửa lỗ và nguyên lỗ, và bao gồm các lỗ dần dần.

Những nhà khảo cổ học tìm ra những khúc sáo 43 đến 67.000 năm tuổi.

sáo26

Sáo Bansuri khoét 7 hay 8 lỗ. Ngài Krishna thường sử dụng loại sáo nầy, nên được gọi Venu-Gopala, và âm nhạc từ sáo của ông được gọi là Venu Naadham.

sáo27

Bansuri của miền Bắc Ấn Độ, như đã nóí do nhà phát minh trong thế kỷ Pannalal Ghosh, làm bằng tre mỏng và chỉ có một đốt và được điều chỉnh với qui mô chromatic thồi được phạm vi khoảng 3 octaves. Những ống Bansuri tốt được làm bằng tre hiếm Sunderbans và được làm bằng tay. Sáo Bansuri là đặc trưng của Ấn Độ, gần với sáo Bass của Tây Phương, hương vị thân gỗ của nhạc cụ là thực sự tuyệt vời của thế giới âm thanh.

Bansuri đơn giản và phong phú, ban đầu từ một nhạc cụ dân gian, đã phát triển vào âm nhạc cổ điển, nhạc jazz đương đại và âm nhạc thế giới.

sáo28

Trong âm nhạc Ấn Độ hệ thống Sargam tương ứng với tên các note (Solfege) hệ thống của Âu Châu. Đây là một biểu đồ trong đó cho thấy tên của các ‘Bilawal “That” (thang âm parent) trong Sargam và tương ứng với tên của hệ thống trưởng Solfege:

1. Sadhjya viết tắt là Sa tương ứng với Đô

2. Reshab viết tắt là Re tương ứng với Re

3. Gandhar viết tắt là Ga tương ứng với Mi

4. Madhyam viết tắt là Ma tương ứng với Fa

5. Pancham viết tắt là Pa tương ứng với Sol

6. Dhaivat viết tắt là Dha tương ứng với La

7. Nishad viết tắt là Ni tương ứng với Ti

Những giòng kẻ dưới một note làm giảm bằng một nửa – bước. Được gọi là Swar Komal:

RE, GA, Dha,..

Đường thẳng đứng ở trên mỗi chữ note là tăng một nữa – bước. Được gọi là Tivra Ma.

Dấu chấm ở dưới note chữ có nghiã là âm dưới chính giữa của Sa.

Dấu chấm ở trên note chữ có nghĩa là âm trên chính giữa của Sa.

Biểu đồ trên đây cho thấy fingerings (ngón) cơ bản cho các bansuri. Điều này cho Kalyan ‘That’, mà tương ứng với các chế độ Lydian trong âm nhạc Châu Âu. (A quy mô lớn với mức độ thứ tư lớn lên bằng một nửa – bước)

Sa (Do) là chơi bằng ba lỗ ngón tay đầu tiên.

Sáo Bansuri với 7 lỗ bấm, Tivra Ma Ma ở chính giữa của octave cao, với cách đóng các lỗ ngón hoặc mở hết các lỗ ngón bấm (cho octave cao thì ngón đầu tiên phaỉ mở lỗ).

Shuddh (lit. = tinh khiết) Ma (unraised mức độ thứ tư) và tất cả những note giảm (komal Re, komal Ga, komal DHA và komal Ni) các ngón được mở theo sự cần thiết của cách bấm.

SÁO VENU

Sáo Venu (tiếng Phạn: वेणु; Venu) là một sáo ngang được sử dụng trong âm nhạc Carnatic của miền Nam Ấn Độ. Mặc dù nó thường được gọi là Sáo Carnatic hay đơn giản là Sáo bằng tiếng Anh, Venu là tên tiếng Phạn cổ của nhạc cụ. Nó cũng được gọi bằng tên khác nhau trong các ngôn ngữ của Nam Ấn Độ, bao gồm Pullankuzhal (புல்லாங்குழல்) trong Tamil và cũng trong Malayalam, và ಕೊಳಲು (KoLalu) trong Kannada. Nó được biết đến như là Venu trong Telugu (Andhra Pradesh).

Là một trong những nhạc cụ cổ nhất của Ấn Độ, loại sáo ngang làm bằng tre. Các ngón tay của cả hai tay được sử dụng để đóng và mở các lỗ. Sáo có 1 huyệt khẩu, và tám lỗ có nhiều các kích cỡ khác nhau.

Trong truyền thuyết Thần Thoại, sáo Venu được các thần Hindu Krishna tấu chung. Loại sáo chủ yếu được sử dụng ở Nam Ấn Độ.

Sáo Venu có khả năng tấu được 2 octave rưỡi với làn hơi và lối bỏ ngón riêng biệt. Âm thanh tiếng sáo giống như giọng nói của người ,là chỗ âm thanh monophonous .Những lối vuốt nữa ngón hay ,1/3 ngón … cho phép một mức độ quan trọng trong việc thực hiện âm nhạc.

Sáo Venu trong miền Bắc Ấn Độ gọi là Subari.

Venu là tên biệt hiệu của Thần Hindu Krishna, vị thần nầy thường tấu Venuvu, do đó Venu củng thành tên của ông.

Sáo trúc – Chi (Di) và Hu.
Sáo trúc – Chi (Di) và Hu.

Sáo trúc – Chi (Di) và Hu

(NS Nguyễn Đình Nghĩa)

Hai ống sáo trúc sáu lỗ bấm Transversal đã được khai quật từ năm 1978 Thời kỳ Chiến Quốc (475-221 BC) lăng mộ của Marquis Yi, hoàng đế của nước Zeng, người đã mất năm 433BC.

Cả hai loại sáo đều có năm lỗ sáo giai điệu và một lỗ huyệt khẩu đặt ở góc 90 độ, cộng thêm một lỗ thông hơi. Sáo có thể chơi năm cung với một cung chromatic.

Cuối đuôi ống sáo là 30.2cm dài với đường kính 1.7cm. Đầu ống gần miệng lỗ thổi là bị nút chặn trong khi đầu kia là còn mở. Kiểu này được gọi là sáo Chí trong thời cổ đại, và Di ở Trung Quốc hiện đại.

Sáo khác trên đầu trang là 29.3cm dài, với đường kính 1.9cm. Được biết đến lịch sử tên gọi là Hồ (Hu), kiểu này sáo có cả hai đầu bị nút chặn. Marquis Yi’s Hồ là sáo duy nhất của loại hình này ngày trước khi nhà Tần (Qin) (221-206 BC), khi triều đại thống nhất của Trung Quốc. Nhạc cụ Sáo Hu khám phá ra trong lăng mộ Marquis Yi’s, Hồ (Hu) đã chỉ được biết đến trong các tài liệu lịch sử.

Chủ sở hữu của hai sáo là vua một nước nhỏ gọi là Tăng (zeng), bị xâm chiếm bởi hàng xóm hùng vĩ, Vua nhà Chu, và đã được cống triều đến một nước cấp dưới trong thời kỳ Chiến Quốc. Như cai trị trong thời gian, dài Marquis Yi đánh giá cao âm nhạc. Ông rõ ràng duy trì một dàn nhạc tòa án rất lớn trong cuộc sống của mình. Lăng mộ của ông là một nhà kho tàng âm nhạc tuyệt vời. Hai loại sáo đã được khai quật cùng với nhiều nhạc cụ khác, bao gồm một bộ 62 mãnh Chuông nối tiếp.

Việc phát hiện ra các loại sáo Jiahu và sáo xương Hemudu, cũng như sáo trong lăng mộ Marquis Yi’, giả thuyết trước đó cho rằng sáo, có nguồn gốc từ Trung Á.

Các tài liệu đầu tiên của Trung Quốc là sáo Chí, xuất hiện thời nhà Chu (1122-221 TCN) trong sách biên niên sử của nhà Lữ. Tương tự, sáo Hồ (Hu) lần đầu tiên xuất hiện trong thơ nhà Chu. Hệ thống phân loại của nhà Chu, sáo trúc được xem như nhạc cụ làm bằng gỗ. Tre đã trở thành vật chất của sự lựa chọn cho sáo trên vật liệu khác như đồng, do sự phong phú và dễ làm để làm. Sáo có trong thời Chiến Quốc, loại sáo Transversal làm bằng đồng với bảy lỗ giai điệu trong bộ sưu tập tư nhân Trung Quốc tại Mỹ.

Trong thời nhà Hán (206 TCN-220 AC), âm nhạc cho sáo ngang được nhập từ Trung Á. Khi âm nhạc Trung Á được chấp nhận rộng ở vùng trung tâm của Trung Quốc, các Hengdi hay sáo ngang cũng đạt được phổ biến nhiều hơn nữa.

Hai ống nhạc cụ Hengdi thời nhà Hán được khai quật tại Mawangdui, Trường Sa (Changsa), tại tỉnh Hồ Nam (Hunan) có sáu lỗ ngón tay và có thể chơi bảy note cộng với hai tông chromatic. Không lâu sau khi nhà Hán, để mở rộng thêm tính linh hoạt của sáo đã dẫn đến việc sản xuất mười lỗ sáo có khả năng chơi chromatic. Trong nhà Đường (618-907) sự phát triển quan trọng nhất trong lịch sử của Di là màng của tế bào (màng lụa), mặc dù nó đã không đạt được phổ biến ngay bấy giờ.

sáo1

Tập Thổi Ra Tiếng Sáo

(NS Nguyễn Đình Nghĩa)

I. Tập cho cách thổi ra tiếng sáo

Lời nhắn nhũ cho người mới bắt đầu đặt ống sáo lên môi để tập, với tâm niệm, là đừng để cho tiếng sáo nghe phì phò. Tất nhiên không dễ dàng, để có tiếng sáo tròn, đầy đặn, đẹp, cho người mới bắt đầu, một âm thanh không đúng tiêu chuẩn thổi ra, cũng được người thầy chấp nhận, vì miễn sao người mới học đã biết thổi sao cho kêu được tiếng. Nhưng tôi tin rằng, với sự luyện tập, và sự chỉ dẫn, trong tương lai, tiếng sáo của một nốt nhạc đầu tiên được thổi ra, đó là một âm thanh đẹp

Làm sao thổi được tiếng đầu tiên

Khi bắt đâu tập mím môi để phát ra âm thanh, đừng để tạp niệm trong lòng, ví dụ như làm sao tôi thổi được nguyên bài nhạc, làm sao tôi cầm ống sáo nầy một cách dễ dàng, tôi….. Hãy tập trung với bài tập của mình ngày hôm nay.

Ngay từ đầu, đầu tiên người tập phải thử trên huyệt khẩu của ống sáo với môi của mình, úp lỗ thổi trên môi, rà rà từ từ lăn ra đến dưới môi, tìm khoảng môi, và lỗ thổi mà mình cảm thấy dể chịu, nên nhớ là không phải đẩy mạnh ống sáo trên môi, mà giữ thật nhẹ nhàng. Mỗi người có cảm giác khác nhau về lối mím môi, Nhớ rằng giữ lỗ thổi dưới môi dưới., Có thể mất một thời gian, và khó để tập cho quen lối mím trên ống sáo, Nhưng với sự kiên nhẫn, và luyện tập, người tập sẽ thành tựu.

sáo3

Cách tập mím môi: mím môi cho thẳng song song (như đang cười mím) với nhau, để hở 1 lổ nhỏ trên môi, thổi nhẹ hơi thở ra.

sáo4

Môi với lối mím thổi mạnh ra nhiều hơi hơn,

Cả hai môi trên và môi dưới phải điều hành lỗ thổi, song môi trên có phần quyết định tạo ra âm thanh. Có thể tập bằng cách mím môi chặt, chỉ để một lổ nhỏ trên môi vùa đủ cho luồng hơi thổi trên bàn tay của mình, để thấy cột hơi thổi ra, thành một đường hơi nhỏ gọn, hay luồng hơi phà tỏa ra . Bạn không thể nào tạo ra một âm thanh nếu không tập mình điều khiển luồng hơi thổi ra gọn. Và trên huyệt khẩu của ống sáo, tập cho kêu tiếng, từ từ thấp lên cao, nhưng chắc chắn phải cho tiếng sáo “khoẻ mạnh”.

sáo5

Làn hơi thu gọn

sáo6

Thổi làn hơi bị phà, tỏa ra

Thông thường nốt dể kêu tiếng để thổi là nốt thấp của giữa octave, nhưng người mới tập chọn bất cứ nốt nào cho dể để có tiếng phát âm ra là tiếng tròn, đẹp, Ta thử tập nốt Si:

sáo7

Khi thổi cho ra tiếng, đếm 5, ngưng lại để thở, rồi lập lại. Tập vài lần như vậy, khi đã nhuần, bước kế tiếp thổi nốt nhạc đó, và thổi cho tiếng dài hơn, nên nhớ là đừng tống hơi ra ngoài quá nhiều, để tiếng kêu có tiếng hơi, tiếng sáo phải trong, tập giữ cho tiếng nói và cổ họng thoải mái đừng để tiếng nói phát âm cùng lúc với tiếng sáo. Nào, ta có thề lấy sáo ra khỏi môi và khõang một phút im lặng, cơ giản bắp thịt vùng miệng, bằng cách làm động tác ngáp mở rộng cả cổ họng (trong tư thế thẳng lưng), và cả lồng ngực. Với động tác thở mạnh cả lồng ngực, và cổ họng giúp cho cả cơ thể thoải mái. Khi đã tạo được tiếng sáo đầu tiên người tập chuyển qua nốt thứ hai, là 1 nốt thấp hoặc cao hơn, nốt A hoặc nốt C.

Sau khi đã tập qua những nốt căn bản, người mới tập sẽ qua giai đọan tập thở lấy hơi, cùng với những ngón tay, cùng với lối mím môi và kỷ thuật, cùng với sự luyện tập để tạo ra tiếng sáo trong, rõ ràng.

Có một số người cho rằng môi không được chuyển động khi đang thổi .Mọi sự điều chĩnh có thể được, nhưng thật là vướng bận khi nghĩ tới một điều với cảm giác như phải lượm một vật gì ngay ở dưới chân mà không không phài cúi xuống.Môi chúng ta có cãm giác tinh tế để điều chĩnh mà tạo ra âm thanh trên ống sáo

II. Và Phương cách thứ 2 để thổi ra tiếng

Để tập dễ cho ra tiếng, bạn không cần phải bấm các ngón trên lỗ sáo đặt vào môi dưới của bạn trên mép (của) lỗ thổi, và thổi nó như thổi ống chai. Chắc chắn để miệng lỗ thổi nâng sát vào môi và giữ cho đầu ở tư thế thẳng. Môi dưới của bạn phải được thả lõng, không cong môi, không chu môi ,hoặc tì nó xuống ống sáo. Tuy nhiên, nếu bạn thực tập trên sáo gỗ, thì khi mím môi, môi dưới bạn hơi tì xuống một chút vào miệng lỗ sáo.Nén đôi môi (của) bạn cùng nhau tại góc, để lại khoảng hẹp mở, trung tâm ở chính giữa trên lỗ thổi.Môi đầu của bạn nên hơi nhô ra càng thấp, và khoảng một phần ba của một inch trên lỗ thổi. Thồi 1 luồng hơi nhỏ, rắn chắc, trực tiếp vào góc cạnh của lỗ thổi, tránh không được nâng môi dưới khi bạn đang thổi.

sáo8

Nếu không có âm thanh, kiểm tra môi dưới của bạn để chắc chắn rằng bạn không phải vô thức kéo nó lên, sau đó xoay sáo để thay đổi góc mà tại đó hơi thở của bạn thổi vào. Bạn thử lăn môi ở góc độ , và rà làn môi – thử lại có phải áp lực của hơi ra quá mạnh.

Nhìn vào gương khi tập, giúp cho bạn thấy rõ môi mím. Nếu môi cảm thấy mỏi, thì tốt nhất nên nghĩ. Đừng lo lắng khi bạn cảm thầy chóng mặt, do bạn thở hơi thở sâu, và thổi ra lượng hơi nhiều. Tập thổi trên lòng bàn tay để cảm thấy luồng hơi bạn thổi ra có phải là luồng hơi gọn và thẳng.

III. Hơi Thở

Chính của chơi sáo là học tập để quản lý luồng hơi thở của bạn vào trong ống sáo. Hầu hết sự diễn cảm âm nhạc sẽ đạt đến từ sự điều khiển và tính linh hoạt trong làn hơi của bạn.

Thổi sáo, hơi thở được thực hiện chủ yếu từ cơ hoành, một cơ mà trải dài theo chiều ngang qua phía dưới ngực và ép đối với phần dưới của phổi.

Để tìm cơ hoành của bạn, khi bạn hít đầy không khí ép xuống bao tử, sau đó ép bụng như là cách bạn thở ra. Các cơ bắp đó là cơ hoành, vì nó cho phép luồng hơi di chuyển qua phổi xuống bụng trên, sau đó ép không khí ra khỏi chúng từ bụng.

Bạn có thể tập thở để cung cấp cho bạn cảm thấy có làn hơi thích hợp khi thổi vào sáo: đứng thẳng đứng, giữ khuỷu tay của bạn ra khỏi thân mình. Thở mạnh đẩy cơ hoành của bạn thẳng xuống, cơ bắp ở ngực cảm giác căng. Nên nhớ lúc đó toàn bộ thân trên của bạn đó được căng đầy, đồng đều và tất cả cùng một lúc, cần có một mở rộng nhẹ trong dạ dày để lượng không khí xuống, và cơ bắp ở ngang hông. Bạn sẽ cảm thấy vai của bạn có một chút nhẹ nâng cao, nhưng điều này chỉ nên đến như là kết quả của việc mở rộng ngực, mà không có bất kỳ chuyển động của các bắp thịt vai mình.

Hít đầy phổi một cách thoải mái. Khi bạn có cảm giác của hơi thở, và khi thổi vào sáo lưu ý sau đó tập theo hướng dẫn ở trên.

Mặc dù phương pháp hít, thở, thực sự là một sự việc rất tự nhiên của hơi thở, nhưng nhiều người thường không thở hoàn toàn đầy, và họ có thể gặp rắc rối với lần đầu tiên tập.

Bạn tập cơ hoành trong một khoảng thời gian. Vì lượng oxygen vào thêm trong cơ thể, bạn có thể bị chóng mặt, có thể cảm thấy ngứa ngáy ở tay chân và nhất là cảm thấy tê rần ở bàn tay
Trạng thái này được gọi hyperventilation (quá nhiều không khí trong phổi trong một thời gian ngắn). Những người bắt đầu mới tập chơi thường cố gắng thổi đã đẩy một lượng không khí quá nhiều hơn là cần thiết để tạo ra âm thanh. Hyperventilation sẽ ngưng khi bạn quen với lượng không khí thêm trong phổi và khi đó sự tập luyện hiệu quả hơn.

sáo9

Cơ hoành khi thở ra

Ngoài ra bạn cũng có thể tập theo phương pháp khác:

Lúc nào cũng thổi hơi thở ra từ bụng (phiá bao tử), mỗi một note nhạc hoặc từ một dãy note với nhau,bắt đầu note nhạc với đánh lưỡi nhẹ chữ “t”. Thực tập mỗi một note bạn thổi ra cho dài và đều. Khi âm phát ra đã vững và chắc.

IV. Tư Thế và Cách cầm sáo

Vị trí bàn tay có thể thay đổi trên một số ống sáo, theo sự xếp đặt những lỗ. Bạn hãy thử cầm cho những ngón tay đóng trên các lỗ sáo.

Giữ sáo chỉ về hướng bên phải. Chú ý rằng tay trái cầm tư thế một góc tam giác, không thẳng.

Trên sáo 6 lỗ, các ngón tay ba đầu tiên (trỏ, giữa, và nhẫn) của bàn tay bịt các lỗ. Đôi khi lỗ cuối cùng sẽ được thoải mái hơn bởi những ngón tay út được thả lỏng.

Nhưng trên sáo 10 và 11 lỗ, bạn sẽ phải xử dụng cả ngón tay cái và ngón út

Tư thế cách bấm ngón của sáo 11 lỗ.
Tư thế cách bấm ngón của sáo 11 lỗ.
Tư thế đứng cầm sáo.
Tư thế đứng cầm sáo.

Nói chung, sáo được hỗ trợ ở ba điểm sau đây:

1. Ở cạnh của ngón trái, mà phần cong tựa vào sáo là điểm giữ sáo

sáo10

2. Cách cầm sáo tay trái

sáo11

3. Thế cầm sáo của tay trái và tay mặt

Ngón tay cái bên phải, được định vị ngay bên ngón tay trỏ phải, giữ thăng bằng cho ống sáo – Nếu như không phải dùng ngón tay cái của bàn tay phải làm điểm tựa, thì những ngón bên tay trái vẫn giữ thăng bằng cho cả ống sáo, không bao giờ tì ống sáo vào môi dưới để giữ vị trí sáo thăng bằng.

Các thế ngón tay trên sáo hoàn toàn giữ ổn định vị trí – thậm chí khi các ngón tay rời khỏi các lỗ bấm và bạn có thể chơi với tốc độ nhanh của các ngón.

Giữ cơ thể thẳng, với khuỷu và vai của bạn giữ xuống. Nghiêng ống sáo hơi xuống và chuyển đầu của bạn hơi nhích nghiêng sang bên trái – không bao giờ ngã thân người về phía trước. Giữ sao cho tư thế cơ thể vuông góc với tư thế cầm sáo – tư thế này đòi hỏi ít phải dùng nhiều nỗ lực cơ bắp, trong khi đó cho phép bạn kiểm soát tối đa hơi thở của mình.

V. Cách Bấm Ngón

Để bắt đầu chơi những note nhạc, bạn có thể mở những ngón bấm trên các lỗ (trong tư thế cầm sáo), ngón bấm, mở là ngón đầu tiên tay trái cho note Si, La. Khi bấm trên phần ngón tay có thịt nhiều, không bấm trên những đầu móng tay, các lỗ bấm đóng hoàn toàn, không bị hở, đừng gồng các ngón tay, mà cũng không bấm đè mạnh trên các lỗ bấm.

Khi đã thổi được nốt nhạc với ngón bấm đầu tiên, giữ ngón tay trong thế bấm như vậy và đóng lỗ tiếp theo, theo cùng cách (nếu là sáo 10 và 11 lỗ, bạn đừng quên ngón tay cái, ngón nầy sẽ bị hở, và khi thổi đến nốt Fa, sẽ bị hở ngón cái và ngón út của nốt F# ). Mỗi khi thổi những nốt thấp đi xuống, đầu môi trên sẽ chút về phía trước và xuống, như vậy cửa môi sẽ trở nên lớn hơn, thoải mái hơn dễ thổi các nốt thấp.

Nếu bạn thổi bị mất tiếng, thì bạn bắt đầu lại từ nốt nhạc Si đầu tiên, chắn chắn cho mỗi lỗ được bịt kín. Bạn tập như vậy đều đặn đến khi thổi ra những âm thanh tròn. Những dãy nốt đầu tiên từ Si đến Đô thấp nhất, đó là bát độ thứ nhất của sáo.

Một khi bạn có thổi được octaves đầu tiên, bạn có thể sẵn sàng cho octave thứ 2. Bấm hết các lỗ, môi mím chắc, làn hơi thổi ra nhỏ, bạn sẽ thổi octave 2 dễ hơn. Tập từ Đô của bát độ thứ 2, mỗi nốt càng lên cao, môi của bạn mím chặt hơn, để tạo một áp lực hơi ra khỏi sáo.

Với sáo lỗ, những nốt thăng giáng, bạn phải bấm nữa lỗ, nhưng sáo 10 và 11 lỗ.

Phần bài tập của cách bỏ ngón

Bài tập đầu tiên phát âm ra note La (A), tập thổi cho đến khi nghe ra tiếng thật rõ ràng, note A là âm trung bình của octave, hơi thổi ra dễ dàng, không cao, không thấp, không rung hơi, không để tạp âm, tiếng nói phát ra cùng lúc với tiếng sáo âm thanh càng dài, càng tốt, nhưng đừng để bị kiệt hơi.

Lượng hơi thổi đừng tống ra mạnh quá, hơi thoát ra nhiều dễ bị chóng mặt. Tiếng sáo đừng để bị lép, tiếng nghe xì xì, các ngón tay không được giơ cao quá khi mở ngón. Tránh khi thổi đầu gục xuống, giữ cho tư thế lưng thẳng.

sáo12

Dấu lấy hơi

Thổi ra âm La – Sol – Fa – Mi

sáo13

Thổi ra âm note Rê

sáo14

sáo15

Thổi ra âm note Đô

sáo16

Thổi ra âm note Si

sáo17

Note Sib ta bấm các lỗ 2-3-4-5-8. Đôi khi trong những bài nhạc, câu oán, câu rao hò, nốt Bb thấp hơn, bạn phải bấm thêm bấm thêm lỗ số 6 hoặc thêm lỗ thứ 7 (đây là cách tính số đếm từ huyệt khẩu xuống lỗ bấm đầu tiên – song có một số sách dạy sáo tính cách đếm từ lỗ định âm, do đó ngón số 1 là ngón trỏ tay trái.

Sau đây là những bài tập cho các bạn mới bước đầu tập sáo, tập cách bỏ ngón. Những bài tập cho bạn mới bước đầu tập sáo. Chủ yếu là tập trường độ và cao độ, tập cho làn hơi thổi được kéo dài, khi thổi được những note nhạc cao, làn hơi thổi không bị rớt xuống một quãng 8. Thí dụ khi thổi note Fa bát độ 2, không giữ làn hơi thổi xuống Fa bát độ 1.

Những bài tập với thang âm Tây Phương giúp bạn giữ cao độ và trường độ, vì âm nhạc Tây Phương với hình thức “tịnh”, cao độ rõ ràng, giúp các bạn mới tập thổi chuẩn và đúng note nhạc. Sau khi đã quen và nhuần nhuyễn các note trên sáo, và làn hơi, bạn mới tập qua những bài dân ca với những kỷ thuật ngón.

(Note nhạc trắng gồm 4 nhịp đập trong ô nhịp của nhịp 4/4. Mũi tên chỉ nhịp đập và nhấc của 1 phách, do đó 4 nhịp đập và nhấc chân cho 4 nhịp)

Bài Tập 1

Đếm 1-2-3-4 cho note nhạc trắng, đánh lưỡi nhẹ đầu các note với chữ “ Tu “ hay “Thu”

sáo18

Đếm 1-2-3-4 cho dấu nhạc trắng và dấu nghĩ 2 nhịp

sáo19

Bài Tập 4 – Nhịp ¾

'Sáo thần Nguyễn Đình Nghĩa'.
“Sáo thần” Nguyễn Đình Nghĩa.

Chiếc Ðàn T’rưng Việt Nam

(NS “Sáo thần” Nguyễn Ðình Nghĩa)

Nói đến đàn T’rưng, chúng ta liên nghĩ ngay đến những cây như Xylophone, Vibraphone của châu Âu hoặc cây đàn Thuyền của Thái Lan, Lào, Cambodia còn gọi là cây Lanat. Chung chung đây là một bộ gõ (percussion) có cao độ (có nghĩa là có định âm), nốt nhạc cao thấp được sắp xếp tùy theo hệ âm thanh của mỗi nước, mỗi xứ, mỗi miền mà người làm nhạc cụ thực hiện. Chẳng hạn người châu Âu họ xếp theo “dorian scale” (Dô Rê Mi), châu á thường theo “pentatonic scale” Ngũ cung và Ngũ cung còn tùy theo xứ, vùng, miền. Nói tóm lại đây cây đàn gồm nhiều nốt nhạc được cấu tạo thành bởi mỗi thanh (“mảng”) hoặc ống là mỗi nốt của cây đàn. Thành thử khi trình tấu, người nhạc công có thể gõ một lúc nhiều que gõ để tạo nhiều âm thanh phát âm cùng một lúc để có thể tạo ra “đa âm” như hợp âm (chord) chẳng hạn, hoặc có thể là giai điệu vừa đệm phần bè phụ.

Trở lại cây đàn T’rưng Việt Nam, sở dĩ tôi giới thiệu đến các bạn trẻ và giới mộ điệu chiếc đàn này là vì cái độc đáo của nó cũng như chỗ đứng trong tương lai, để gốp phần tạo một vị thế tốt đẹp cho gia tài nhạc cụ Việt Nam và thế giới.

Ðàn T’rưng là tên gọi của đồng bào Kinh Việt Nam chúng ta, chứ người Thượng (đồng bào Cao Nguyên Trung phần, sắc tộc Bana hoặc Rađê họ gọi là Tokro hoặc Khinh Khung. Chiếc đàn T’rưng nguyên thủy được cấu tạo thường là năm ống trúc (hoặc lồ ô con, nứa, hóp v.v…). Ðược cột lại với nhau bằng hai đầu dây. Mỗi đầu do một người vịn và một người gõ để tạo âm thanh. Thường người Thượng họ dùng như một hình thức gõ để báo giờ nghỉ ngơi, cơm nước, tập họp trên nương rẫy, hoặc lễ hội buông làng. Người Bana sử dụng nhạc cụ này thường xuyên và rộng rãi, riêng người Rađê họ rất kỵ dùng trong nhà!

Cái thú vị của giới trẻ ngày hôm nay là cây đàn T’rưng sau khi được cải tiến mở rộng “âm vực”, chẳng những tạo giai điệu trên chiếc đàn mà còn tạo được bè và hợp âm để nâng trình độ “thẩm âm”, không khác gì khi nghe một tấu khúc trên cây đàn dương cầm (piano). Tôi xin trình bày điểm đặc biệt của đàn T’rưng nếu đem so sánh với các cây như Xylophone và Vibraphone nổi tiếng của thế giới thì quả là ta có cái độc đáo mà họ không có được.

Khi so sánh với cây Xylophone và cây Vibraphone bên châu Âu: gõ vào thanh nhạc, có nghĩa là một thanh gỗ hoặc kim loại. Lúc thanh đó phát âm họ phải dùng thêm một ống rỗng (air column) có bầu cộng hưởng, cùng chung một tần số giao động với âm thanh mảng đó để mà khuyết đại âm thanh và làm tăng độ rền đến tai người nghe. Riêng người anh em lân cận chúng ta là Thailand, Cambodia, Lào có một nền âm nhạc lâu đời và được thế giới biết đến nhiều; cũng có chiếc đàn họ hàng với đàn T’rưng, đó là cây đàn Thuyền và còn gọi là cây Lanat (có lẻ là tên gọi của người Lào) có hình dáng như chiếc thuyền gồm nhiều thanh tre “mạnh tông” được cắt gọt thành từng “thanh” (tức là mỗi thanh là một nốt nhạc có hình dáng hình chữ nhật và được cột nối lại với nhau như một chiếc võng. “Bầu cộng hưởng” (thùng đàn) hình dáng giống như một chiếc thuyền. Khi nhạc công tấu (gõ), âm thanh của thanh tre “mạnh tông” (nốt nhạc) sẽ tiệp với tần số giao động của bầu cộng hưởng và “thùng cộng hưởng” với nhau mà khuyết đại độ vang cũng như độ rền đến tai người nghe.

Tôi sơ lược để các bạn nhận thức được, có khái niệm tổng quát là khi muốn tạo nhạc cụ trên người làm nhạc cụ gồm có hai bộ phần phải thực hiện là:

1. âm thanh (nốt nhạc) từ thanh tre còn gọi là mảng hoặc ống, phát ra một cao độ nào đó.

2. bầu cộng hưởng tức là ống hơi có độ giao động cùng chung một tần số với độ rung của mảng thì khi khởi động nốt nhạc, âm thanh đó mới phát âm thực sự là âm thanh của âm nhạc bằng không thì âm thanh sẽ thành một loại ồn ào, tiếng động hổn tạp hoặc là âm thanh câm.

Riêng âm thanh phát âm nốt nhạc của chiếc đàn T’rưng là cái độc đáo mà nhạc cụ thế giới không có ở chỗ cấu tạo của đàn T’rưng, là sự kết hợp chung cùng một thanh. ống trúc cộng với bầu cộng hưởng cùng có chung một tầng số giao động, cùng dính liền chung trên một mảng khi gỏ vào ống trúc. Ví dụ ống đó cho ta tần số giao động là 420 hoặc 440 Hz, tức chiều dài của ống được cùng cắt xén và phù hợp với cột hơi của ống (bầu cộng hưởng), là cùng chung một tần số giao động của mảng. Cho nên khi gõ vào ống đàn T’rưng, chúng ta sẽ có được một âm thanh “âm nhạc thực sự” mà không cần phải dùng đến bầu cộng hưởng (thùng đàn) phụ nào khác.

Lúc tôi giới thiệu trên Diễn Ðàn Sân Khấu Thế Giới, tôi tạm gọi cấu trúc này là “Resonance box was built in” ở chỗ độc đáo là tự nó cấu tạo thành từ trong ống lồ ô của nó. Chúng ta chỉ có, gọt cắt và định hình, cũng như định âm nó qua phương pháp là vừa thổi vừa nghe cột hơi để mà điều chỉnh cùng một lúc với chiều dài của ống.

Ðây là kỹ thuật để cho hai tần số giao động giữa mảng ống và cột hơi của ống cho có phù hợp chung một tần số giao động. Một khám phá độc đáo của người xưa khi đo cột hơi mà không cần đến một thứ máy móc gì cả!

Nói đến đàn T’rưng thật là nhiều nhiều khẽ. Từ độ dầy của ống, động nặng, đóng, mỡ mắt tre, hình dáng phỏng đoán để làm ở nốt nào cho thích hợp với âm thanh đó. Hiện nay chưa có một tài liệu nào chính xác xuất bản, chỉ có qua kinh nghiệm từng cá nhân và góp nhặt chung chung để làm kiến thức cơ bản. Phải thú thật qua kinh nghiệm cũng giống như ông Stradivari khi xưa làm cây vĩ cầm (violin) qua kinh nghiệm mà lúc ông dùng mảnh chai bể hoặc mảnh sành mà bào mặt thùng đàn violin vừa gõ vừa nghe âm vang của độ dầy mỏng mà định hình để tạo “resonance box” (thùng cộng hưởng) cho cây đàn. Như vậy lúc tôi gọt cây đàn T’rưng chẳng khác nào như thế. Khi cầm lên một ống trúc hoặc lồ ô con, tôi có cảm giác ngay là phải làm ở một nốt nào và phải gọt ra sao để thích hợp với nốt đó. Xuyên qua quá trình gọt đẽo và tính về cộng hưởng (accoustic), tôi đã gọt không những tính trên số lượng hàng trăm mà phải nói hàng ngàn ống, thành thử kinh nghiệm tích lũy mà tôi sẽ ghi lại để các bạn trẻ sau này không phải mất thời gian tìm tòi như tôi ở trên (sẽ chỉ dẫn ở một bài khác).

Khi đặt chân đến Mỹ, tôi đã chinh phục được cảm tình khán thính giả ở đất nước này và để họ yêu thích chiếc đàn T’rưng Việt Nam. Ðể hấp dẫn hơn cho người nghe, tôi đã giới thiệu, trình bày thêm một bước tiến nữa đó là cải tiến âm thanh của ống T’rưng từ màu âm đẹp hơn (color of the sound) đến độ vang to hơn cũng như độ ngân lâu hơn (duration) nốt nhạc có thể vang rền lâu như một nốt nhạc của cây piano. Tôi tạm gọi là “stimulate the cell of the bamboo for the duration”, có nghĩa là kích thích tế bào tre nứa để có độ rung, ngân rền lâu dài ở những nốt có giao động tần số chậm và trung. Tôi đã thành công ở những biên độ giao động này và nới rộng khoảng hai “bát độ”. Trong tương lai nếu có điều kiện thuận lợi, tôi sẽ mở rộng thêm hai bát độ nữa ở khóa Fa Trầm cho cây đàn T’rưng Bass. Còn ở biên độ giao động cao tôi đã thực hiện thành công khi tạo ra những ống T’rưng thật ngắn nhỏ ở những nốt thật cao, có nghĩa là đã tạo được nốt nhạc thật sự ở những mảng ống thật ngắn và tạo được “cột hơi” bằng cách mở rỗng hai đầu ống (nếu quí vị nào có nghiên cứu về tác động luồng không khí chuyển động trong ống sáo – turbulance, thì sẽ hiểu dụng ý khi tôi mở rộng hai đầu cột hơi. Tôi sẽ có một bài viết tường tận về phần này khi trình bày về cây sáo cải tiến mười một lỗ bấm của tôi.

Giai đoạn đang xúc tiến nghiên cứu hiện nay là “cách sơn đã ngưu”, tôi tạm đặt tên như thế vì ở những nốt thật cao tuy đã cải tiến mà âm thật sự là âm thanh của âm nhạc nhưng phần ngân rền bị hạng chế. Vì thế tôi sẽ dùng vật thể cũng là tre nứa và được cấu tạo cộng hưởng với âm thanh có cùng chung biên độ giao động và tần số giao động này được hướng dẫn, danh từ khoa học tạm gọi là “velocity waves frequency” để khi gõ một ống T’rưng ở nốt thật cao, thì âm thanh của nốt này cách vật thể kia sẽ truyền qua không gian có hướng dẫn (velocity waves) làm kích động đến nốt ở vật thể giao động kia và cho ta một âm thanh có màu âm đẹp và độ ngân rền vừa phải, đáp ứng được sự đòi hỏi và thỏa mảng lỗ tai người nghe. Thành thử âm thanh nguyên thủy rất là cục mịch ngắn, đó là khuyết điểm của đàn T’rưng cho nên không chinh phục được người nghe cũng như giới mộ điệu để học chơi đàn này!

Với sự cải tiến của tôi, âm thanh được hoàn chỉnh trở nên tuyệt hảo, có những “nốt quí” bạn nghe vang như tiếng chuông đồng, không nghĩ rằng nó phát xuất từ một ống tre. Quả là kỳ diệu cho chiếc đàn T’rưng cải tiến Việt Nam chúng ta. Cộng thêm que gõ “dùi hai đầu” và độ cứng, mềm được bố trí thành bốn góc ở vị trí khác nhau, càng làm phong phú thêm cho màu âm khi trình tấu. Ðây là một loại nhạc cụ dùng luật cộng hưởng thiên nhiên (acoustics), không phải điện tử, để góp mặt trong gia tài nhạc cụ Việt Nam và trình làng với thế giới cái hay cái đẹp của nó. (Nếu bạn nào chưa nghe tiếng đàn T’rưng cải tiến, có thể liên lạc với chúng tôi). Trong một ngày gần đây quí bạn sẽ được nghe CD “Mozart in Bamboo” nhạc Mozart trong tre nứa, cũng như CD “Christmas in Bamboo” nhạc Giáng Sinh trong tre nứa do Nguyễn Ðình Nghĩa trình tấu và thực hiện.

Tóm lại trong tương lai, đàn T’rưng Việt Nam tôi tin sẽ có nhiều người chơi, chẳng những ở chỗ âm thanh đẹp, hấp dẫn của nó mà còn giúp cho người ít hoạt động chân tay khi tấu nhạc đàn T’rưng thường xuyên sẽ giúp cho họ như một hình thức tập thể dục. Cách tấu nhạc trên đàn T’rưng phải vận dụng đôi tay năng động và nhuần nhuyễn, rất có lợi cho sức khỏe.

Ðể bố trí vá sắp xếp các ống (nốt nhạc) đàn T’rưng thành một giàn hoặc hai giàn, tùy theo người sử dụng. Tôi xin giới thiệu sơ lược như sau:

1. Giàn một: sắp theo Ngũ cung Bana

dantrưng3

dantrưng4

Ở giàn một này, quí bạn có thể xếp hai cung này thành hai giàn riêng rẽ khi trình tấu dễ hơn khi ta chạy “arbege” xem như hình thức chữ A trên cây đàn Tranh Việt Nam. Tuy nhiên theo tôi thì quí bạn nên xếp chung thành một giàn sẽ có lợi hơn trong tương lai khi ta tấu những nhạc khúc theo “dorian scale” có thăng giáng. Khi xếp 2 cung này với nhau tôi gợi ý là như thế này:

dantrưng5

Khi cột những ống này, dính liền với nhau quí bạn có thể mở rộng thêm hai, ba hoặc bốn âm vực tùy ý.

2. Giàn hai:

dantrưng6

Khi giàn hai này được xếp gần bên giàn một, lúc trình tấu chúng ta có đủ nốt thăng giáng cho một âm giai “đồng chuyển” (chromatic scale) tức là chạy từ nửa cung nối tiếp nhau. Riêng giàn hai nếu chuyển qua khóa giảm thì chúng ta sẽ đọc như sau:

dantrưng7

Khi chạy Arbege những nốt này, tôi gợi ý quí bạn nên chạy từ cao xuống thấp.

Vì đây là âm giai có sự trùng hợp với âm giai của giai điệu Nhật Bản, họ gọi là “Insen” có nghĩa là âm giai “mềm” hay còn tượng trưng như một loại “gamme mineur” âm giai thứ của Nhật Bản (Ngũ cung). Nên biết trong âm giai insen của Nhật Bản khi chạy từ nốt thấp lên nốt cao hoặc ngược lại thì có một nốt phải thay đổi chứ không dùng chung từng đó nốt như quí bạn đã thấy ở các giai điệu khác trên thế giới. Ví dụ: từ thấp lên cao sẽ là:

dantrưng8

và từ cao xuống thấp sẽ là:

dantrưng9

Như vậy quí bạn thấy khi chạy từ trên cao xuống thấp, họ không dùng nốt Rê (D) nữa mà thay vào nốt Ðô (C) cũng vì lẽ đó tôi đề nghị khi bạn chạy arpeggio đàn T’rưng ở giàn hai nên chạy từ cao xuống thấp khi ta tấu giai điệu Nhật Bản mới thích hợp. Ghi nhớ đàn T’rưng của chúng ta khi xếp ống cho giàn hai khởi đầu từ nốt Fa, thành ra chúng ta có giai điệu Ngũ cung Nhật như sau:

dantrưng10

nốt thứ 5 là Mi giảm (Eb)

Trong giàn hai không có; nếu muốn tấu nốt nhạc này chúng ta phải mượn ở giàn một nốt Rê thăng (D#) tức là Mi giảm (Eb) và khi chạy từ trên cao xuống thì chúng ta có đủ nốt ở giàn hai.

dantrưng11

không dùng nốt (Eb) nữa mà thay thế bằng nốt Rê giảm (Db)

Ðể làm phong phú và hấp dẫn hơn khi trình diễn trên sân khấu ở đoạn “cadenza” tức đoạn “trổ ngón”, là đoạn cao điểm của người tấu nhạc cụ phô bài cái hay và độc đáo của ngón đàn. Tôi có sáng chế ra cây sáo chỉ sử dụng có “một tay”, tôi tạm đặt tên là “Insen Flute”. ở đoạn này người biểu diễn một tay sử dụng sáo trúc và tay khác thì tấu đàn T’rưng cùng một lúc, có nghĩa là một tay sử dụng nhạc cụ bộ hơi và tay kia sử dụng bộ gõ, xem như một tay vẽ hình tròn và tay kia vẽ hình vuông cùng một lúc. Với trổ ngón này gây được sự ngạc nhiên cho khán giả và hiệu quả rất thành công. Cây sáo này chỉ dùng âm điệu Nhật Bản trong bài “Sakura”. Ðây là cây sáo Insen độc đáo mà cả nước Nhật tôi nghĩ là cũng chưa có ngoài tôi ra!

Ðể gợi ý quí bạn đã từng làm đàn T’rưng, tôi tạm ghi lại một số quá trình cải tiến ống đàn T’rưng mà tôi đã thực hiện thành công và có cầu chứng (patent and trademark) tại Mỹ. Quí vị có thể áp dụng phương pháp này mà thực hiện cho mình một chiếc đàn theo ý muốn. Chỉ có điều kỹ thuật cải tiến này nếu được dùng để sản xuất thương mại thì xin các bạn chịu khó thương lượng trước để tránh phiền toái về sau theo luật Tác Quyền.Ðàn T’rưng cải tiến ở giai đoạn 3 là một công trình cải tiến của Nguyễn Ðình Nghĩa từ năm 1981, còn gọi là “kích thích tế bào tre nứa” có độ ngân dài hơn ống T’rưng bình thường và khi qua Mỹ tôi có thêm một vài sửa đổi nhỏ làm tăng khả năng phong phú hơn.

Khái niệm tổng quát và cải tiến về cấu trúc một thanh đàn T’rưng.

1. Ống T’rưng nguyên thủy:

dantrưng12

2. Cải tiến đợt I:

Cho những ống có nốt trầm chiều dài khoảng 0.5m đến 1m hoặc dài hơn.Tạo ống T’rưng có hai cột hơi cộng hưởng áp dụng cho những ống nốt trầm có giao động sóng âm chậm (âm vực trầm). Tiếng đàn T’rưng sẽ có độ rền và vang to hơn ống khoét theo nguyên thủy.

dantrưng13

3. Cải tiến đợt II:

Ống T’rưng cải tiến đợt hai cho những ống có nốt cao chiều dài khoảng một gang tay hoặc lớn nhỏ một chút, tạo cho màu âm của những nốt cao đẹp hơn và thực sự là âm nhạc. Cải tiến này áp dụng luật cộng hưởng giao động của cột hơi trong ống để tạo được những ống có âm vực cao.

dantrưng14

4. Cải tiến đợt III:

Tạo cho tiếng đàn T’rưng kéo dài – kích thích tế bào tre.Trên thực tế khi ta dùng dùi gõ vào mặt ống đàn T’rưng ở điểm A (A = antinode) tức là điểm có giao động chính và rộng của sóng âm thì toàn bộ thân ống sẽ bị chấn động tạo âm thanh; cộng thêm nhờ vào biên độ giao động của cột hơi có cùng chung một tần số với độ rung của mãng ống làm cho âm thanh lớn và tải đến tai người nghe. Tuy nhiên tế bào tre thuộc về thảo mộc, độ rung, đàn hồi bị giới hạn nên tiếng ngân rất ngắn, không đáp ứng được nhu cầu cần thiết tối thiểu cho câu nhạc. Ðể cải thiện phần này, chúng ta cần có độ ngân dài hơn.

Ðể đáp ứng cho nhu cầu này, trước tiên áp dụng cải tiến bước I để có âm thanh to lớn và chúng ta có toàn thân ống không bị gọt mất ở điểm N. (ống đàn T’rưng nguyên thủy người Bana miền thượng du Việt Nam, vì để tạo phần “Lam” của ống T’rưng nên đã gọt mất phần dưới thân làm mất đi điểm tựa).

dantrưng15

A: điểm bụng
E: dây đàn kim loại
N: điểm nút
D: cầu giao động
B: điểm mắc dây
F: khoảng điều chỉnh
C: điểm lên dây

Ðể biết thế nào là kích thích tế bào tre làm cho tiếng đàn T’rưng ngân dài. Trên nguyên tắc khi ta dùng dùi gõ vào ống đàn T’rưng ở điểm (A) của mặt ống, làm cho ống giao động ở một tần số nào đó và có cùng chung tần số của 2 cột hơi bên trong ống làm cho âm thanh được khuyếch đại và đưa đến tai người nghe. Tuy nhiên âm thanh rất ngắn vì độ rung của tre nứa bị giới hạn. Ðể cải tiến, ta gắn thêm 2 cầu (B) và (C) điểm mắc dây và lên dây; dây đàn kim loại – 2 dây đàn ta gọi là vị trí điểm (E). Giữa dây đàn và ống T’rưng ta đặt một khúc tre ngắn nhỏ tạm gọi là “cầu giao thông” (D). Khi ống đàn T’rưng chuyển động tạo âm thanh thì cầu giao động (D) cũng rung chuyển (vì được đặt ở vị trí giao động tạo của sóng âm trên thân ống) vì là dây kim loại nên độ rung kéo dài lâu hơn tre nứa. Khi ống T’rưng không còn khả năng rung nữa, nhưng nhờ dây đàn còn hoạt động nên chuyền qua cầu giao động trợ lực cho ống T’rưng tiếp tục rung nữa. Hiệu quả tạo cho tiếng đàn T’rưng kéo ngân dài hơn bình thường. Chẳng những âm thanh được kéo dài mà màu âm của ống T’rưng tựa hồ như phát ra từ tiếng chuông đồng.

Ðể kết thúc bài này, tôi hy vọng các bạn thực hiện cho mình một chiếc đàn như muốn. Có điểm nào thắc mắc, xin vui lòng liên lạc với chúng tôi, hoặc xem đây như tập tài liệu cho căn bản hiểu biết về cây đàn T’rưng Việt Nam. Tôi sẽ có bài đặc biệt kế tiếp cho sáo trúc Việt Nam với đợt cải tiến mười một (1 lỗ bấm, có khả năng tấu nhạc cổ điển Tây phương và những bài sáo lớn được soạn đặc biệt cho sáo trúc Việt Nam và Ðông Nam Á mà tôi đã ba lần đoạt giải trong những năm 1994, 1998, 2000. Giải được gọi là “The Individual Artist Award” do thống đốc tiểu bang Maryland trao phát. Ðây là giải dành cho cá nhân nhạc sĩ được tấu nhạc xuất sắc nhất cũng là một loại giải văn học nghệ thuật của tiểu bang Maryland. Hẹn gặp lại quí bạn trong số báo tới.

oOo

Phụng Vũ – Sáo thần Nguyễn Đình Nghĩa:

 

Tiếng sáo thần Nguyễn Đình Nghĩa (Phần 1):

 

Tiếng sáo thần Nguyễn Đình Nghĩa (Phần 2):

 

Tiếng sáo thần Nguyễn Đình Nghĩa (Phần 3):

 

Gia đình Tiếng Sáo Thần Nguyễn Đình Nghĩa (phần 6):

 

Gia đình Tiếng Sáo Thần Nguyễn Đình Nghĩa (phần 8):

 

Gia đình Tiếng Sáo Thần Nguyễn Đình Nghĩa (phần 9):

 

Gia đình Tiếng Sáo Thần Nguyễn Đình Nghĩa (phần cuối):

 

Tình ca – Sáo thần Nguyễn Đình Nghĩa:

 

Thần Triều – Sáo thần Nguyễn Đình Nghĩa:

 

Phụng Vũ – Nguyễn Diệu Đoan Trang:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s