Dân ca dân nhạc VN – Hát Xẩm

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Hát Xoan Phú Thọ”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn “Hát Xẩm”, một trong những thể loại dân ca cổ xưa của Việt Nam chúng ta.

Hát Xẩm là hình thức hát rong có địa bàn hoạt động khắp cả nước. Nhưng chỉ trong Hát Xẩm cổ vùng đồng bằng Bắc bộ mới có làn điệu riêng. Khi biểu diễn, người Hát Xẩm thường vừa hát vừa đánh đàn bầu (còn gọi là đàn Xẩm) hoặc kéo nhị, phối hợp với người đánh sênh, vỗ trống mảnh-đây là những nhạc cụ thường sử dụng trong dàn nhạc Xẩm. Đôi khi có thêm cả trống đế, mõ, hoặc một số nhạc cụ khác.

“Hát Xẩm là một loại hình nghệ thuật ca nhạc dân gian mang tính chuyên nghiệp có nguồn gốc từ những người khiếm thị miền Bắc Việt Nam. Tính chuyên nghiệp của hát xẩm dựa vào bốn yếu tố: văn học, làn điệu, nhạc cụ và môi trường diễn xướng. Theo tài liệu của thế giới về âm nhạc thì ca hát ra đời trước và sân khấu ra đời sau vì vậy sẽ không có chuyện hát xẩm lấy làn điệu chèo để làm giàu cho mình mà ngược lại nghệ thuật chèo đã vay mượn các làn điệu của nghệ thuật hát xẩm. Khi nghệ thuật ca trù rơi vào sự bế tắc đã lấy điệu xẩm Huê Tình vào để sử dụng, cũng xin được nói thêm điệu xẩm huê tình lúc bấy giờ rất phổ biến. Bộ môn nghệ thuật này đã đi vào quên lãng và có nguy cơ thất truyền.” (trích GS Trần Quang Hải”)

Hát Xẩm ở Hải Phòng thời Pháp thuộc
Hát Xẩm ở Hải Phòng thời Pháp thuộc

Dưới đây mình có bài “Hát Xẩm-bức tranh âm nhạc dân tộc” và bài “Nhạc cụ thường dùng trong nghệ thuật hát xẩm” sẽ dẫn giải giúp các bạn tham khảo thêm về bộ môn dân ca cổ truyền này. Cùng lúc, các bạn có thể đọc thêm bài “Xẩm Thập Ân – Hà Thị Cầu” của anh Nguyễn Chí Thuận ở đây.

Sau đó mình có 1 clip “Di Sản Một Nghiệp Ca – Giới thiệu nghệ thuật Hát Xẩm và nghệ nhân kho tàng sống Hát Xẩm duy nhất, cụ Hà Thị Cầu”, 1 clip “Những Bài Xẩm Hay Nhất Của Nghệ Nhân – NSƯT Hà Thị Cầu”, 1 clip “Xẩm Thập Ân” của cụ Hà thị Cầu, và 9 clips Hát Xẩm do các nghệ nhân biểu diễn để các bạn rộng đường tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

P.S. Cụ Hà Thị Cầu qua đời trưa ngày 3-3-2013, lúc 12g30 – hưởng thọ 89 tuổi (?). Bài này mình xin kính gửi lời tri ân đến cụ với tấm lòng kính mến nhất, cho một nghệ nhân đã gắn bó – gìn giữ – truyền bá kho tàng nghệ thuật cổ truyền Hát Xẩm của dân tộc suốt gần một thế kỷ. Chúng ta là những người thật may mắn đang được thừa hưởng kho tàng này hôm nay. Tấm ảnh dưới đây và ảnh đầu bài là ảnh của cụ Hà Thị Cầu.

Cụ Hà Thị Cầu
Cụ Hà Thị Cầu

Hát xẩm – bức tranh âm nhạc dân tộc

Nếu cây đàn Bầu được coi là tiếng đàn dân tộc, dung dị và gần gũi với đời sống người dân Việt thì Xẩm được coi là thể loại âm nhạc dân dã mang đậm bản sắc thôn quê đất Việt. Cuộc bình chọn này gần như có sự liên kết sâu chuỗi với nhau, bởi ca từ của Xẩm hòa cùng thanh âm của cây đàn Bầu đã tạo nên một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian độc đáo – hát Xẩm.

“Ai ơi thương kẻ dở dang
Miệng ca tay gẩy khúc đàn tương tư”

Ở nhiều vùng thuộc Miền Bắc Việt Nam như Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Phòng…từ xa xưa, người khiếm thị đã đưa Xẩm trở thành một nghề để kiếm sống; một loại hình nghệ thuật mang nhiều giá trị nhân văn, thể hiện mọi cung bậc tình cảm, đôi khi pha chút hài hước, ai oán, lạc quan gắn liền với thời cuộc xã hội đương thời.

xam4

Tìm hiểu chung về sự ra đời của Xẩm

Từ khi ra đời hát Xẩm được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như hát rong, hát dạo….và, những người biểu diễn được gọi với tên rất thân mật như bác Xẩm, anh Xẩm, chị Xẩm hay cô Xẩm. Theo các tài liệu nghiên cứu, cụ thể dựa trên tư liệu trong tác phẩm “Nghệ thuật hát xẩm” của tác giả Khương Văn Cường (2009), Xẩm xuất hiện dưới thời nhà Trần gắn liền với một truyền thuyết dân gian giàu ý nghĩa nhân văn.

Trần Quốc Toán và Trần Quốc Đĩnh là hai hoàng tử của vua Trần Thánh Tông. Từ nhỏ, Trần Quốc Đĩnh đã nổi tiếng thông mình, hiếu nghĩa và đa tài nên được vua cha yêu mến. Trần Quốc Toán là anh cả sinh lòng ghen ghét, nhân cơ hội vua cha tổ chức cuộc thi kiếm ngọc quý trong rừng mà ra tay hãm hại Trần Quốc Đĩnh.

Giữa chốn rừng sâu, Trần Quốc Toán nhẫn tâm chọc mù hai mắt Trần Quốc Đĩnh, cướp công em trai rồi bỏ chạy về hoàng cung. Tỉnh dậy với hai mắt mù loà, Trần Quốc Đĩnh đau đớn, than khóc rồi ngất đi. Trong giấc mơ, Bụt đã hiện lên dạy Trần Quốc Đĩnh cách làm một cây đàn, cách chơi đàn. Và ông đã tìm được niềm tin để sống, Trần Quốc Đĩnh mò mẫm làm đàn, tiếng đàn lời ca vang lên như thể hiện nỗi lòng về số phận đắng cay của mình.

xam19

Thật kỳ lạ, chim muông bị thu hút bởi thanh âm ấy, chúng sà xuống nghe và mang hoa quả đến cho ông. Sau đó, những người đi rừng nghe tiếng đàn đã tìm thấy và đưa ông về thôn làng của họ. Trần Quốc Đĩnh dạy đàn cho những người khiếm thị, những người nghèo. Tiếng đồn về những khúc nhạc của ông lan đến hoàng cung, nhà vua mời ông vào hát để cùng vương tôn quý tộc thưởng thức và đã nhận ra người còn thất lạc của mình.

Trở lại cuộc sống vương giả nhưng Trần Quốc Đĩnh vẫn tiếp tục mang tiếng đàn, lời ca góp vui cho đời, dạy cho người dân để họ có nghề kiếm sống. Hát Xẩm đã ra đời từ đó và Trần Quốc Đĩnh được suy tôn là ông tổ nghề hát Xẩm. Để tỏ lòng biết ơn đến công lao của ông, người dân đã lấy ngày 22 tháng 2 và ngày 22 tháng 8 âm lịch làm ngày giỗ của ông và cũng là kỷ niệm ngày hội hát Xẩm của dân tộc Việt.

Mặc dù, nguồn gốc hát Xẩm không dựa trên chính sử, vua Trần Thánh Tông không có hoàng tử tên Đĩnh hay Toán, nhưng thánh tích này đã tạo nên một lịch sử ra đời đầy ưu ái mà nhân dân Việt dành cho loại hình nghệ thuật này.

Đã bảy trăm năm trôi qua, mặc dù chưa có văn bản nào viết chính xác nguồn gốc ra đời của hát Xẩm, nhưng người đời vẫn truyền nhau câu chuyện của vua con nhà Trần. Xuất thân cao quý của ông Tổ nghề Xẩm là một hoàng tử, trái ngược với cách thức biểu diễn của Xẩm.

xam20

Hành trình của loại hình nghệ thuật dân gian này, luôn gắn liền với một nhóm người, manh chiếu trải đất, cây đàn bầu cùng chiếc nón mê “rách cạnh”, nhưng không hề thấp kém, hơn nữa còn rất sâu sắc với lối kể tích khéo léo và hấp dẫn.

Với những bài hát Xẩm xưa, dẫu rằng từ thôn quê, gắn liền với kế sinh nhai khốn khổ của người khiếm thị, có bóng dáng những nhọc nhằn lam lũ của người nông dân, bình dị đấy nhưng cũng rất văn học. Tính hàn lâm trong ca từ và sự chặt chẽ trong luật thơ của các bài Xẩm xưa, vì thế không quá khó hiểu nhưng rất độc đáo.

Thời kỳ phong kiến, cuộc sống của những người hát Xẩm phụ thuộc hoàn toàn vào đời sống xã hội đương thời, giống như một nghề nghệ thuật, kế sinh nhai này kiếm chén cơm, bát gạo, vài hào tiền lẻ…tùy vào tâm và hoàn cảnh của người thưởng thức.

Gánh Xẩm phiêu diêu nay đây mai đó, đối với họ gia đình là dân chúng, mái nhà là đình làng, bến nước, góc chợ quê; nơi đây lắng nghe tiếng đàn lời ca của họ, là sân khấu biểu diễn chứng kiến những thành quả lao động họ gặt hái được.

Khác với các loại hình nghệ thuật khác, nghệ sĩ biểu diễn trong rạp hát, khán phòng…, có bán vé vào xem, được thu lợi từ đồng tiền. Hát Xẩm cũng mong đợi được khán giả đáp lại, nhưng điều đó dựa trên sự tự nguyện, ngoài những đồng tiền xu, nghệ sĩ Xẩm còn được người dân san sẻ những món quà, bánh trái, khoai sắn, cơm gạo…Và đối với họ, chiếc chậu đồng thau, cái nón mê là công cụ không thể thiếu trên những nẻo đường bất tận. Khi nghe tiếng leng keng của đồng xu chạm mặt đáy chiếc thau đồng, nghệ nhân hát Xẩm biết được mình đã được quan tâm, đã được sẻ chia, được đồng cảm….họ có động lực để hứng khởi đàn ca tiếp. Như vậy, lịch sử dân tộc Việt đã có một nghề nghiệp độc đáo và rất thú vị!

Tiếp nối văn hóa dân tộc, nhằm tôn vinh, hỗ trợ các nghệ nhân, nghệ sĩ, nhà nghiên cứu, nhà báo có đóng góp cho âm nhạc truyền thống, Trung tâm Phát triển Nghệ thuật Âm nhạc Việt Nam thuộc Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã lập ra giải thưởng Trần Quốc Đĩnh với lần trao giải đầu tiên vào năm 2008. (Cái nì có vẻ chưa rõ lắm nhỉ. Giải thưởng này trao cho nghệ sĩ hát Xẩm hay người có công bảo tồn loại hình này. Có thể mở ngoặc sau Trần Quốc Đĩnh là ông tổ nghề hát xẩm cho rõ hơn chăng.)

xam2

Gánh Xẩm

Xẩm được coi là nghệ thuật cổ truyền, là hình thức hát rong phổ biến trong xã hội phong kiến trước đây. Xẩm không chỉ là phương tiện kiếm sống của người khiếm thị, mà còn là hoạt động giải trí của người nông dân lúc nông nhàn. Kế sinh nhai nghệ thuật này, vô hình dung đưa hát Xẩm trở thành “đặc sản âm nhạc” của người ăn xin có cốt cách, của người khuyết tật có nghị lực sống.

Họ đã dùng giọng ca, tiếng đàn, lời hát để lên án phản kháng những bất công cường quyền, áp bức, những thói hư tật xấu của xã hội, cất lên tiếng nói bênh vực những số phận bất hạnh nghèo khổ bị chà đạp. Tài ca đàn hát giống như món quà thiên phú bù đắp cho những khuyết tật cơ thể, tạo nên một món ăn tinh thần phong phú trong quần chúng lao động. Không chỉ phục vụ để kiếm sống hàng ngày, gánh Xẩm còn có mặt trong những dịp cưới xin, ma chay, giỗ chạp…có khi chỉ để sẻ chia những buồn vui tư gia.

Đề tài hát Xẩm đề cập đến nhiều khía cạnh trong cuộc sống, không chỉ thể hiện những bài ca dao tục ngữ cổ, mà người hát còn tự thảo các khúc ca riêng dành cho thể loại âm nhạc này, từ tình cảm gia đình, vợ chồng đến tình cảm trai gái.

Gánh Xẩm thông thường gồm một nhóm người, có mối quan hệ huyết thống hoặc thân thiết với nhau. Trong lúc kiếm sống hoặc trong những dịp hội làng, gánh Xẩm phối hợp nghệ thuật với nhau để biểu diễn. Quy mô hơn nữa, từng vùng sẽ có phường hội do nhiều nhóm Xẩm tạo thành, có tổ chức trên dưới, có trùm phường điều hành các nhóm làm ăn theo đúng trật tự.

xam8_mai tuyet hoa

Ngày nay, nhiều người nghĩ Xẩm là lối hát chỉ của người khiếm thị, người ăn xin, nhưng trên thực tế chính họ đã đưa Xẩm thành một nghề kiếm sống trong sáng bằng chính tài năng thiên bẩm của bản thân. Hơn nữa, nó còn là một thể loại diễn xướng dân gian được ưa chuộng xưa kia, không chỉ cho người nghèo, mà ngay cả phú hộ cũng ưa thích được thưởng thức những làn điệu Xẩm vui nhộn sau những vụ mùa bội thu. Do đó, tuy cuộc sống khó khăn, lại phụ thuộc vào hoàn cảnh sống xã hội, nhưng nghệ nhân Xẩm không chán ghét bi quan với cảnh đời, họ luôn có lòng tự trọng cao, yêu thích cũng như tôn quý nghề nghiệp của mình:

Cái nghiệp cầm ca có ích cho đời
Tay đàn miệng hát giúp đời mua vui

(Trích bài Xẩm “Đáng mặt anh hào chứ?” của Tản Đà)

Được coi là loại hình âm nhạc giàu tính nhân văn và tính cộng đồng cao, nên Xẩm không hoạt động đơn lẻ. Mặc dù chưa được công nhận là một môn nghệ thuật nhưng họ luôn có ý thức truyền nghề cho con em một cách bài bản, các nghệ sĩ dựa vào nhau, đùm bọc lẫn nhau trên hành trình sinh nhai “Lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Từ tên gọi, đến biểu diễn, nhóm Xẩm đều rất dân dã, gần gũi với đời sống người lao động. Điều đó đã nói lên phần nào cội nguồn sâu xa, ý nghĩa phồn thịnh của nền văn hóa cổ truyền Việt Nam, đưa âm nhạc dân tộc phát triển thành di sản đặc sắc chứa đựng linh hồn đất nước.

Xẩm lai ăn chay sình bụng
Ăn vụng rụng răng
Ăn măng rách lưỡi
Ăn bưởi the thẹ…
(Ca dao)

xam27_tàu điện

Sự ra đời của Xẩm tàu điện

Những năm đầu thế kỷ XX, giai đoạn thực dân nửa phong kiến, thời kỳ chiến tranh chống Pháp, những người hát Xẩm ở các vùng quê “đùm to, đùm nhỏ” cùng nhau lên chốn thị thành như Hà Nội để hành nghề kiếm sống. Mùa màng thất bát, thời chiến loạn lạc, gánh Xẩm ở thôn làng xưa buộc phải tìm môi trường mới để sống và hát. Những chuyến tàu điện hành trình ngắn, tiếng leng keng báo hiệu tàu đi tàu đến, đông đúc người qua lại và dễ dàng thu hút người xem đã là không gian diễn xướng lý tưởng cho loại hình nghệ thuật độc đáo này.

Bến xe điện Bờ Hồ nằm ngay đầu đại lộ Francis Garnier ngày ấy (ngày nay là phố Đinh Tiên Hoàng ), đều đều chở khách ngược xuôi quanh Hà Nội, đã trở thành địa chỉ quen thuộc đặc trưng văn hóa của người dân Hà Thành. Để rồi khúc ca Xẩm vang lên, làm cuộc sống ồn ào thị thành như có chốn dừng chân, đó chính là Xẩm Hà Nội hay còn gọi là Xẩm tàu điện. Mặc dù tàu điện không còn nữa nhưng hồn Xẩm xưa vẫn tồn tại cùng thời gian.

Khi bước chân từ chốn thôn quê ra Hà Nội, Xẩm chợ đã trở nên chuyên nghiệp hơn. Vẫn là lối hát đồng nội ấy, nhưng tiết tấu nhanh và bóng bẩy hơn, trang phục biểu diễn cầu kỳ hơn. Nhịp sống nơi đây vốn đã sôi động, nhiều người tri thức cao, vốn am hiểu sâu, nên nhu cầu thẩm mỹ trong ca từ Xẩm cũng được người nghệ sĩ khéo léo vận dụng.

xam16_trong manh

Những bài thơ mới của các thi sĩ nổi tiếng như Nguyễn Bính, Nguyễn Khuyến, Á Nam Trần Quang Khải…cũng được đưa vào làm phong phú thêm những câu hát trong các làn điệu Xẩm. Ngược xuôi 36 phố phường, tàu điện mang niềm vui ca hát cho phố hội Thăng Long, đưa Xẩm trở thành loại hình âm nhạc đường phố vô cùng độc đáo, gắn bó thân thiết với bước chân già trẻ gái trai nơi đây.

Việt Nam tự hào có Hà Nội mang bản sắc riêng với nghệ thuật dân gian đường phố sắc nét mà hiếm có địa danh nào trên thế giới có được. Được coi là loại hình nghệ thuật mở nhất trong kho tàng nghệ thuật truyền thống bởi Xẩm không quá kén chọn cũng như phân biệt đối tượng và không gian biểu diễn. Hà Nội cần tôn vinh và tạo nhiều điều kiện cho Xẩm đi vào cuộc sống hiện đại của người dân Việt, biến tấu khéo léo để Xẩm thích ứng, thu hút giới trẻ nhiều hơn.

Kết

Xẩm là một trong những loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian tiêu biểu của Việt Nam. Xét về mặt truyền thống văn hóa, những khúc ca Xẩm là sự thể hiện rõ nét đời sống, tư tưởng, tâm hồn của cha ông ta. Đó chính là hồn xưa Việt, là một phần của nguồn cội dân tộc cần được lưu giữ và phát triển trong cộng đồng.

(Oanh Phương)

xam7_nhạc cụ xam

Nhạc cụ thường dùng trong nghệ thuật hát xẩm

Nói đến hát Xẩm, người ta thường nghĩ ngay đến hình ảnh một người khiếm thị với cây đàn nhị trên tay, đưa đẩy những tiếng đàn làm nao lòng người nghe. Nhị là một nhạc cụ quan trọng, đóng vai trò chủ đạo không thể thiếu trong nghệ thuật hát Xẩm. Ngay như nghệ nhân Hà Thị Cầu khi kể chuyện đời hát Xẩm của mình cũng không bao giờ quên nhắc về cây nhị. Nhưng bên cạnh nhị còn có nhiều nhạc cụ khác nữa mà chúng ta hiếm khi được nhìn thấy một cách đầy đủ. Một nhóm hát Xẩm đông người mới hay dùng thêm những nhạc cụ khác, còn về cơ bản, bộ nhạc cụ đơn giản nhất để hát Xẩm chỉ gồm đàn nhị và sênh.

xam11_dàn nhị

Đàn nhị

Là nhạc cụ thuộc bộ dây có cung vĩ, do đàn có 2 dây nên gọi là đàn nhị (二). Đàn xuất hiện ở Việt Nam khoảng thế kỷ 10. Ngoài người Kinh, nhiều người dân tộc thiểu số Việt Nam cũng sử dụng rộng rãi nhạc cụ này (Tày, Nùng, Mường, Dao…).

Bát nhị (còn gọi là ống nhị): là bộ phận tăng âm (bầu vang) rỗng ruột, hình hoa muống, làm bằng gỗ cứng. Bát nhị có 2 đầu, đầu này bịt da rắn hay kỳ đà, còn đầu kia xòe ra không bịt gì cả. Ngựa đàn nằm ở khoảng giữa mặt da.

Dọc nhị (còn gọi là cần nhị, cán nhị): dáng thẳng đứng, đầu hơi ngả về phía sau, gốc cắm xuyên qua lưng bát nhị, gần phía mặt da.

Trục dây: trục trên và trục dưới đều gắn xuyên qua đầu dọc nhị nằm cùng hướng với bát nhị.
Dây nhị: Trước đây dây đàn được làm bằng sợi tơ se, ngày nay làm bằng nilon hoặc kim loại. Dây kim loại cho âm thanh chuẩn hơn nhưng không ngọt ngào bằng dây tơ hay dây nilon. Dây đàn chỉnh theo quãng 4 đúng, quãng 5 đúng, quãng 7 thứ… nhưng phổ biến nhất là quãng 5 đúng.

xam18

Cử nhị (hay khuyết nhị): là một sợi dây tơ se neo 2 dây đàn vào gần sát dọc nhị, nơi dưới hai trục dây. Có khi cử nhị là một khung áo buộc gần sát dọc nhị, hai dây đàn xỏ qua hai lỗ khung này. Cử nhị là bộ phận để điều chỉnh cao độ âm thanh. Nếu bạn kéo cử nhị xuống, 2 dây đàn sẽ ngắt quãng hơn, tạo ra âm thanh cao hơn. nếu bạn đẩy cử nhị lên khi đàn 2 dây sẽ phát ra âm thanh trầm hơn vì quãng dây dài hơn. Tuy nhiên để lên dây đàn người ta còn vặn trục dây nữa.

Cung vĩ: làm bằng cành tre, cành lớp hay gỗ có mắc lông đuôi ngựa. Những lông đuôi ngựa nằm giữa hai dây đàn để kéo đẩy, cọ xát vào dây đàn tạo ra âm thanh. Do những lông đuôi ngựa kẹt hai dây đàn nên ta không thể tách rời cung vĩ khỏi thân đàn.

Đàn nhị có âm vực rộng hơn 2 quãng tám, âm thanh trong sáng, rõ ràng, mềm mại gần với giọng hát cao (giọng kim). Muốn thay đổi âm sắc hoặc giảm độ vang người ta dùng đầu gối trái bịt một phần miệng loa xòe của bát nhị (khi ngồi trên ghế kéo đàn) hay dùng ngón chân cái chạm vào da của bát nhị (khi ngồi trên phản kéo đàn, trên chiếu). Nhờ những cách này âm thanh sẽ xa vẳng, mơ hồ, tối tăm và lạnh lẽo diễn tả tâm trạng thầm kín, buồn phiền…

xam13_sênh

xam13_sênh sứa

Sênh

Có hai loại là: Sênh sứa hoặc Sênh tiền.

Sênh tiền: là một cặp phách hai lá bằng gỗ cứng. Lá phách thứ nhất gọi là “lá phách kép“, lá phách thứ hai gọi là “lá phách đơn“. Lá phách kép gồm hai thanh gỗ một dài (25 cm), một ngắn (11 cm) được gắn úp vào nhau bằng một miếng da hay một bản lề. Phía đầu thanh dài có gắn các cọc tiền chinh. Lá phách đơn dài 25 cm có các đường rǎng cưa ở cạnh và ở mặt lá phách.

Khi đánh phách, tay trái cầm lá phách kép, tay phải cầm lá phách đơn vừa đập, vừa ung, vừa quẹt tạo ra các tiết tấu nghe rất rộn ràng. Sênh tiền chủ yếu dùng đệm nhịp điệu ở các dàn nhạc tế, lễ, dàn đại nhạc cung đình và nhạc múa cổ truyền.

Sênh sứa: là loại phách gồm hai miếng tre giống như hình chiếc lá, chiều dài khoảng 14cm, chiều ngang đoạn giữa khoảng 5cm, bề cật tre là lưng, bề ruột tre là mặt. Cặp Kè tiếng trong, dòn, vui tươi, có những tiếng rung rất độc đáo.

Khi biểu diễn Sênh Sứa, người chơi cầm đôi Cặp Kè trong lòng bàn tay, hai mặt lưng ấp vào nhau, cặp kè thường sử dụng hai đôi, cầm ở hai tay, với bàn tay điêu luyện, lúc mở lúc nắm vào, lúc rung các ngón tay, lúc tay này nắm tay kia mở, lưng cặp kè gõ vào nhau, tạo nên tiết tấu và hiệu quả âm thanh hấp dẫn.

Sênh Sứa thường được sử dụng trong Ban nhạc Xẩm, đi cùng với Mõ tre nghe rất bình dị, hài hòa.

Phách.
Phách.

Phách

Phách là nhạc cụ gõ, xuất hiện trong nhiều thể loại ca, múa nhạc ở Việt Nam từ lâu đời. Phách có nhiều loại và tên gọi khác nhau. Trong hát xẩm phách gọi là cặp kè; trong cải lương và dàn nhạc tài tử phách là song lang; trong ca Huế phách là sênh, còn trong dàn nhạc tuồng, đám ma, múa tôn giáo và múa dân gian người ta mới gọi là phách…
Nhiệm vụ của phách là giữ nhịp cho dàn nhạc, người hát hoặc múa. Nhịp của phách đơn giản trong cải lương, nhưng phức tạp và biến tấu trong những dàn nhạc sân khấu.

Đàn Bầu
Đàn Bầu

Đàn bầu

Có tài liệu cho rằng đàn bầu khởi thuỷ là nhạc cụ đặc trưng của hát xẩm, sau do đàn nhị dễ chơi hơn và có âm lượng tốt hơn (phù hợp với chỗ đông người) nên thường được sử dụng. Đàn bầu là loại đàn một dây của người Việt, thanh âm phát ra nhờ sử dụng que hay miếng gảy vào dây. Dựa theo cấu tạo của hộp cộng hưởng, đàn bầu chia hai loại là đàn thân tre và đàn hộp gỗ, trong trường hợp này, chúng ta chỉ tìm hiểu về đàn Bầu thân tre là loại phổ biến dùng cho người hát xẩm hoặc những nơi khó khăn không có điều kiện chế tác như đàn Bầu nguyên bản.

Đàn thân tre có thân đàn làm bằng một đoạn tre hoặc ống bương dài khoảng 120 cm, đường kính 12 cm. Mặt đàn là chỗ đã được lóc đi một phần cật thích hợp trên đoạn tre hoặc bương. Cần đàn xuyên qua nửa đoạn trẻ hoặc ống bương và cắm vào một lỗ trên mặt đầu nhỏ của vỏ đàn. Một đầu dây đàn buộc cố định vào cần đàn khoảng giữa bầu đàn. Que gảy đàn thường được vót bằng tre, giang, thân dừa, gỗ mềm… Người ta hay làm bông hoặc tưa đầu nhọn một chút để làm mềm âm thanh khi gảy. Ngày xưa hay dùng que dài khoảng 10cm, ngày nay với nhiều kỹ thuật diễn tấu nhanh nên người ta hay dùng que ngắn chừng 4-4,5 cm.

Trống Mảnh
Trống Mảnh

Trống mảnh

Trống mảnh còn gọi là Bồng bộc, thuộc nhạc cụ màng rung, chi gõ của dân tộc Việt. Tang trống bằng gỗ, cao khoảng 6 cm. Trống chỉ có một mặt, bịt bằng da, đường kính 10 cm. Đáy rộng hơn, đường kính 15 cm không bịt da. Dùi trống làm bằng gỗ cứng dài 20 cm. Khi diễn tấu trống mảnh được gõ bằng một dùi. Âm thanh trống mảnh đục, không vang. Trống mảnh thường tham gia hòa tấu trong dàn tiểu nhạc, đặc biệt thường dùng trong hát xẩm

Đàn Gáo
Đàn Gáo

Đàn gáo

Để thay cho đàn nhị truyền thống, có thể dùng đàn gáo (còn được gọi là đàn Hồ). Đây là loại đàn được phát triển từ đàn nhị nhưng to và dài hơn, thích hợp khi đệm cho giọng trầm.

Đàn gáo thuộc bộ dây, sử dụng cung mã vĩ (lông đuôi ngựa) kéo trượt vào dây để tạo âm. Vì cùng có hai dây nên đàn gáo có cấu tạo giống như đàn nhị nhưng kích thước bầu cộng hưởng lớn hơn, âm thanh trầm hơn đàn nhị. Đàn gáo thường có trong biên chế của dàn nhạc dân tộc cổ truyền. Người ta dùng nó để đệm cho các giọng nam trung, nam trầm, nữ trung (còn gọi là giọng thổ), diễn tả những âm điệu suy tư, trầm mặc hoặc những giai điệu buồn. Đàn gáo cũng được dùng phổ biến trong nghệ thuật hát xẩm.

Đàn Đáy
Đàn Đáy

Đàn đáy

Đàn đáy là một nhạc cụ do dân tộc Việt Nam sáng tạo ra. Không rõ đàn đáy xuất hiện lần đầu vào năm nào nhưng nó được nhắc đến gần 200 năm qua. Đàn đáy có tên gốc là “đàn không đáy” tức “vô đề cầm“, vì nó không có đáy (hậu đàn). Do đó người ta gọi tắt là đàn đáy lâu ngày thành tên chính thức như hiện nay. Một giả thuyết khác cho rằng nhạc cụ này có dây đeo bằng vải, dây này trong chữ Hán là “đái” (đai) nên mới gọi là “đàn đái”, đọc chệch lâu ngày thành “đàn đáy”. Đàn đáy có 4 bộ phận chính: Bầu đàn, Cần đàn, Đầu đàn,Dây đàn.

Bầu đàn: còn gọi là thùng đàn: bằng gỗ, hình thang cân. Đáy lớn nằm phía trên, rộng khoảng 23-30 cm, đáy nhỏ nằm phía dưới rộng khoảng 18-20 cm. Cạnh 2 bên khoảng 31-40 cm. Thành đàn vang bằng gỗ cứng, dày khoảng 8-10 cm. Mặt đàn bằng gỗ ngô đồng, có một bộ phận để móc dây đàn (cái thú). Có khi mặt đàn khoét một lỗ hình chữ nhật. Đáy đàn thủng hình chữ nhật.

Cần đàn: dài 1,10-1,30 m gắn phía trên từ 10 đến 12 phím đàn bằng tre nhưng đàn đáy cổ có 16 phím. Các phím này dày và cao, phần đỉnh dài hơn phần chân phím. Tính từ đầu đàn trở xuống, phím đầu tiên không gắn sát vào sơn khâu như nhiều nhạc cụ khác mà lại nằm ở quãng giữa cần đàn.

Đầu đàn: hình lá đề, hốc luồn dây có 3 trục chỉnh dây.

Dây đàn: 3 dây bằng tơ se, dài, mềm và dễ nhấn mang tên dây Hàng, dây Trung và dây Liễu.

Ngày nay, những dây này có thể bằng nilon với kích cỡ to nhỏ khác nhau, mỗi dây cách nhau 1 quãng bốn đúng. Dây đàn được chia làm năn cung: cung Nam, cung Bắc, cung Nao, cung Huỳnh và cung Pha.

Đàn đáy có âm sắc ấm áp dịu ngọt và có thể diễn tả tình cảm sâu sắc.

xam19_trống cơm

Trống cơm

Từ thế kỷ 10, trống cơm đã xuất hiện ở Việt Nam (đời nhà Lý). Đây là nhạc cụ gõ, định âm, còn có tên gọi khác là phạn cổ (phạn là cơm, cổ là trống). Trong các ban nhạc tuồng, chèo và ban nhạc tang lễ ngày xưa có loại trống này. Nhiều ban nhạc ngày nay cũng sử dụng trống cơm.
Trước khi đánh trống người ta thường lấy cơm nghiền nát, trét vào giữa mặt trống để định âm, do đó trống này gọi là “trống cơm”.

Trống cơm có 2 mặt trống hình tròn bằng nhau, đường kính khoảng 15cm. Mặt trống bịt da, đường viền buộc bằng sợi mây hay da (dây xạ) kéo từ đầu trống này sang đầu trống kia để chỉnh độ căng giữa 2 mặt trống. Tang trống bằng gỗ hình ống tròn, hai đầu hơi khum lại, đường kính ở tang trống đoạn giữa lớn hơn đường kính mặt trống. Tang trống để mộc hoặc sơn đỏ.

Có loại trống cơm đường viền đóng bằng đinh tre vào tang trống. Người ta trét cơm (thường là cơm nóng) vào giữa để định âm. Nếu trét nhiều cơm thì âm thanh phát ra trầm, ít cơm thì âm thanh sẽ cao hơn. Hai mặt trống cách nhau một quãng năm đúng.

Trống cơm có âm thanh vang nhưng mờ đục, diễn tả tốt tình cảm buồn, sâu sắc. Tiếng trống cơm nghe gần giống tiếng đàn hồ lớn bật dây nên đôi lúc người ta sử dụng nó thay âm thanh đàn hồ lớn trong những âm trầm nhất định nào đó. Tùy theo chất cơm trét mặt trống âm thanh phát ra sẽ có chất lượng tốt hay xấu tương ứng. Để diễn trống này người ta đeo trống bằng 1 dây da quàng qua cổ, đặt trống ngang trước bụng rồi dùng 2 tay vỗ vào 2 mặt trống. Tay trái vỗ vào mặt thổ phát ra âm trầm, tay phải vỗ vào mặt kim phát ra âm cao.

Sáo
Sáo

Sáo

Ở Việt Nam sáo ngang rất thông dụng và có nhiều loại. Sáo ngang ngày xưa có 6 lỗ bấm cách đều nhau nhưng không còn được sử dụng. Loại sáo ngang ngày nay có các lỗ bấm theo hệ thống thất cung với tên gọi khác nhau căn cứ vào âm trầm nhất, thí dụ như sáo đô, sáo rê, sáo mi giáng và sáo sol …Mỗi loại sáo có giọng riêng nên người diễn thường chọn loại sáo làm sao để phù hợp với bài bản.

Sáo ngang thường làm bằng ống trúc, ống nứa hoặc ống rùng. Về cơ bản, sáo ngang có 1 lỗ thổi nằm cùng hàng với 6 lỗ bấm. Ngoài ra còn 1 lỗ dán màng (sáo Trung Quốc), lỗ âm cơ bản và những lỗ để buộc dây treo hay tua trang trí.

Sáo Ngang
Sáo Ngang

Sáo ngang

Lỗ âm cơ bản là lỗ khoét cuối ống, quyết định âm trầm nhất khi ta bịt kín tất cả những lỗ bấm. Âm trầm này dùng để xác định tên gọi của loại sáo. Tuy nhiên, có những cây sáo không có lỗ âm cơ bản nếu chúng bị cắt cụt ngay chỗ đó. Để xác định tên gọi người ta căn cứ vào đầu lỗ của ống sáo và cho đó là lỗ âm cơ bản.

Lỗ dán màng nằm giữa lỗ thổi và những lỗ bấm. Lỗ này dán 1 màng mỏng bằng ruột cây tre hoặc bằng giấy bóng mỏng, tuy nhiên một số cây sáo không có lỗ này.

Thông thường sáo ngang có âm vực rộng 2 quãng tám. Dù sáo âm thấp hay cao đều có âm sắc trong sáng, tươi tắn, gợi nhớ khung cảnh đồng quê. Tuy nhiên người ta có thể sử dụng chúng để diễn tả những giai điệu buồn man mác.

Thanh La
Thanh La

Thanh la

Thanh la là tên gọi một nhạc cụ thuộc họ tự thân vang, chi gõ của dân tộc Việt. ở miền Nam gọi là Đẩu, miền Trung gọi là Tang. Được làm bằng đồng kim hợp thiếc có pha chì, hình tròn. Thanh la có nhiều cỡ to, nhỏ khác nhau, đường kính 15 – 25 cm, mặt hơi phồng, xung quoanh có thành cao 4 cm, ở cạnh thanh la người ta dùi hai lỗ thủng để xỏ một sợi dây quai. Khi diễn tấu nhạc công cầm dây quai dơ lên, còn một tay cầm dùi gõ vào mặt thau tạo ra tiếng vang, trong trẻo.

Thanh la được sử dụng trong dàn đại nhạc, dàn nhạc lễ miền nam, trong ban nhạc chèo, chầu vǎn và dàn nhạc dân tộc tổng hợp.

(Vân Anh)

oOo

Di Sản Một Nghiệp Ca – Giới thiệu nghệ thuật Hát Xẩm và nghệ nhân kho tàng sống Hát Xẩm duy nhất, cụ Hà Thị Cầu:

 

Những bài Xẩm hay nhất của NNƯT Hà Thị Cầu:

 

Xẩm Thập Ân – NNƯT Hà Thị Cầu:

 

Xẩm Chợ Đồng Xuân – NSND Xuân Hoạch – NSƯT Thanh Ngoan:

 

Xẩm Cô Hàng Nước – NSƯT Thanh Ngoan – Tuyết Hoa:

 

Xẩm Hà Thành 36 Phố Phường – NSƯT Đoàn Thanh Bình:

Xẩm Nhị Tình – NSƯT Thanh Ngoan:

 

Phồn Huê – NSND Xuân Hoạch:

 

Hát Xẩm Tàu Điện – Lỡ Bước Sang Ngang:

 

Quyết Chí Tu Thân – NSND Xuân Hoạch:

 

Thưởng Hoa – NSƯT Văn Tỵ:

 

Xẩm Chợ – NSƯT Văn Tỵ:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s