h_ĐB4 - Copy

Dân ca Dân nhạc VN – Dân ca Hoa

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Hà Nhì, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Hoa.

Dân tộc Hoa (Trung văn giản thể: 华; Trung văn phồn thể: 華) là những người gốc Trung Hoa định cư ở Việt Nam và đa số có quốc tịch Việt Nam. Các tên gọi khác: Khách Trú, người Hán, người Tàu, Ba Tàu. Nếu xếp theo phân loại của nước Trung Hoa hiện thời thì họ là dân tộc Hán. Đây là một trong các dân tộc tại Việt Nam có dân số giảm trong 10 năm (1999-2009) theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Hoa ở Việt Nam có dân số 823.071 người, có mặt tại tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Hoa cư trú tập trung tại: Sài Gòn (414.045 người, chiếm 50,3% tổng số người Hoa tại Việt Nam), Đồng Nai (95.162 người), Sóc Trăng (64.910 người), Kiên Giang (29.850 người), Bạc Liêu (20.082 người), Bình Dương (18.783 người), Bắc Giang (18.539 người).

Được xếp hạng thứ sáu, trong đó có khoảng 50% người Hoa sinh sống tại vùng Chợ Lớn của Sài Gòn. Họ tập trung đông nhất ở các khu thương mại trong Quận 5, 11 (khoảng 45% dân số mỗi quận), 6, 8, 10 với 5 nhóm ngôn ngữ chính: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và tiếng Khách Gia (Hakka, đôi khi còn gọi là tiếng Hẹ). Số người Hoa còn lại sinh sống ở các tỉnh toàn quốc, mà hầu hết là ở nhiều tỉnh miền Tây Việt Nam. Nhiều ngôi đền và nhà cửa của người Hoa ở khu Chợ Lớn và cảng thương mại Hội An từ thế kỷ 17 đã được khôi phục và xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia và quốc tế, giờ đây mỗi năm đón hàng triệu lượt khách du lịch. Kể từ năm 2007, chính quyền thành phố Sài Gòn đã cho tổ chức Lễ hội Văn hóa Người Hoa định kỳ hàng năm.

Hoàng Thị Kiều Anh, dân tộc Hoa, trong một cuộc thi Hoa Hậu Dân Tộc.
Hoàng Thị Kiều Anh, dân tộc Hoa, trong một cuộc thi Hoa Hậu Dân Tộc.

Tuy nhiên, đây là những ngoại lệ, hầu hết đời sống văn hóa Trung Hoa đã ăn sâu trong cộng đồng người Việt (Kinh). Đa số các cửa tiệm kinh doanh vàng ở miền Nam là người gốc Hoa đã bị đồng hóa. Con cái của những người này ít biết tiếng Quan thoại.

Người Hoa đã qua lại làm ăn, sinh sống và chung đụng với người Việt đã từ lâu đời, tùy theo từng thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh tiếp xúc hoặc nguyên nhân di cư mà người Hoa đã tự xưng về tên dân tộc của mình khác nhau, cũng như người Việt đã gọi họ theo các tên khác nhau. Thường người Hoa tự gọi mình là dân các triều đại mà họ cho rằng văn minh, tự hào hoặc cho rằng nó phổ biến và được người bản xứ biết rõ, hoặc đã biết từ lâu như “người Đường” (Thoòng dành), “người Thanh”, “người Bắc” (Quốc). Người Hoa còn tự gọi họ theo quê quán: “người Quảng” (Quảng Đông), “người Tiều” (Tiều Châu/Triều Châu), “người Hẹ”, “người Khách”, “người Hải Nam”… Người Việt còn có lệ gọi người Hoa là “người Ngô”. Lệ này bắt nguồn từ lịch sử thời Xuân Thu có “nước Ngô” và “nước Việt”. Điển hình là bản Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi vào thế kỷ 15 sau khi Bình Định Vương Lê Lợi đuổi được giặc nhà Minh.

Theo Gia Định báo, đăng trong số 5, năm thứ 6, phát hành ngày 16 tháng 2 năm 1870: phần tạp vụ (một bài thuộc vào loại phiếm luận ngày nay)

Người bên Tàu thường gọi là người Trung Hoa nghĩa là nước ở giữa vì thuở xưa bên ấy có 18 nước chư hầu; chỗ Kinh thành Hoàng đế ở lại vô ở giữa các nước chư hầu nên gọi là Trung Hoa. Người bên Tàu thường kêu mình là Đường nhơn hay Thanh nhơn, nghĩa là người nhà Đường nhà Thanh. An nam ta kêu là Tàu, người bên Tàu, là vì khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở đồ hàng hóa qua đây buôn bán; nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu v.v…

Từ Ba Tàu có cách giải thích như sau: Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống: vùng Cù Lao Phố (Đồng Nai), Sài Gòn Chợ Lớn, Hà Tiên, từ Tàu bắt nguồn từ phương tiện đi lại của người Hoa khi sang An Nam, nhưng dần từ Ba Tàu lại mang nghĩa miệt thị. Còn có cách giải thích khác: Người Việt thường xưng hô theo thứ tự như anh Hai (con cả) anh Ba (con thứ)… Vì lý do đó mà người Tàu thường lễ phép gọi thân mật người Việt đang làm ở các cơ quan Pháp thời đó là anh Hai (cậu Hai) và xem mình là em (anh Ba). Từ đó người Việt mới gọi anh Ba (Tàu) là vậy.

h2

Người Bắc thì kêu là Ngô, nghĩa là nước Ngô, có kẻ lại cắt nghĩa rằng vì bởi nó hay xưng mình là Ngộ nghĩa là tôi. Từ này không còn còn phổ biến nữa.

Kêu Các-chú là bởi người Minh hương mà ra; mẹ An nam cha Khách nên nhìn người Tàu là anh em, bằng không thì cũng là người đồng châu với cha mình, nên mới kêu là Các-chú nghĩa là anh em với cha mình. Sau lần lần người ta bắt chước mà kêu bậy theo làm vậy.

Còn kêu là Chệc là tại tiếng Triều Châu kêu tên Chệc nghĩa là chú. Người bên Tàu hay giữ phép, cũng như An nam ta, thấy người ta tuổi đáng cậu, cô, chú, bác thì kêu tâng là chú là cậu vân vân… Người An nam ta nghe vậy vịn theo mà kêu họ là Chệc… Từ này hiện nay cũng không còn phổ biến.

Nếu xếp theo phân loại của nước Trung Hoa thì họ là dân tộc Hán.

Người Hoa bắt đầu di cư vào Việt Nam kể từ thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên. Trong 2 thiên niên kỷ kể từ đó, nhiều làn sóng người Hoa, gồm lính, quan, dân, tội phạm… đã đến định cư tại Việt Nam. Nhiều thế hệ người Hoa định cư tại Việt Nam đã có quan hệ hợp hôn với người Việt bản xứ và con cháu họ trở thành người Việt Nam.

Vào thế kỷ 17 tại Trung Hoa, sự sụp đổ của nhà Minh dẫn đến làn sóng người Hoa trung thành với nhà Minh và không thần phục nhà Thanh bỏ quê hương di dân sang vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.

h_ĐB2

Năm 1671, Mạc Cửu và gia đình đến vùng đất Mang Khảm (nay là Hà Tiên), khi đó vẫn thuộc quyền kiểm soát của vương quốc Khmer. Mạc Cửu đã mở rộng quyền kiểm soát ra các vùng lân cận, và quy thuận chúa Nguyễn.

Năm Kỷ Mùi 1679, Tổng binh thành Long Môn tỉnh Quảng Tây tên là Dương Ngạn Địch, Phó tướng Huỳnh Tấn (Hoàng Tiến) và Tổng binh châu Cao, châu Lôi và châu Liêm tỉnh Quảng Đông là Trần Thượng Xuyên, Phó tướng Trần An Bình cử binh chống đánh nhà Thanh nhằm khôi phục nhà Minh (bị nhà Thanh tiêu diệt hoàn toàn vào năm 1766) không địch nổi, hai Tổng binh đem tướng sỹ xuống thuyền chạy sang hải phận nước Nam, ban đầu cầu cứu Chúa Trịnh, sau đó dẫn tuỳ tùng quân lính theo đường thuỷ đến Đà Nẵng đầu hàng Chúa Nguyễn và xin Chúa Nguyễn nhận làm dân Việt (đúng hơn là xin giúp Chúa Nguyễn khai hoang vùng đất phía Nam, vì thời đó dân số Việt Nam còn ít. Hơn nửa dãi đất phía nam cũng còn thuộc quản lý của người Khmer. Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần cho họ vào miền Nam khai khẩn đất hoang Dương Ngạn Địch và Huỳnh Tấn theo dòng sông Cửu Long cắm trại ở Định Tường (Mỹ Tho tỉnh Tiền Giang), Trần Thượng Xuyên vào cửaCần Giờ ngược dòng sông Đồng Nai cắm trại ở đất Ban Lân Cù Lao Phố (Biên Hòa), và Đông Phố (Gia Định) chuyên lo việc thương mãi và canh nông. Những cộng đồng người Hoa này được gọi là người Minh Hương. Chữ “hương” ban đầu dùng chữ 香 có nghĩa là “thơm” khi kết hợp với chữ Minh 明 có nghĩa là hương hỏa nhà Minh (明香), đến năm 1827 thì vua Minh Mạng cho đổi chữ Hương 明 sang chữ Hương 鄉 nghĩa là “làng” để tránh đụng chạm với nhà Thanh, từ đó Minh Hương (明鄉) có thể hiểu là “làng của người Minh” và cũng có thể hiểu là “làng sáng sủa”.

Năm 1698, ở vùng Phiên Trấn, Bến Nghé, Sài Gòn đã hình thành nên làng Minh Hương ở Gia Thạnh, Chợ Lớn cũ. Từng có câu ca dao nói về phong hóa làng Minh Hương:

Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng
Đố ai lịch sự bằng làng Minh Hương

Đến thế kỷ 19, người Pháp tạo điều kiện cho người Hoa vào định cư ở Sài Gòn, Chợ Lớn. Thời kỳ này người Hoa sang Việt Nam theo các đợt tuyển mộ phu đồn điền của người Pháp.

Đình Minh Hương Gia Thạnh, quận 5, Sài Gòn.
Đình Minh Hương Gia Thạnh, quận 5, Sài Gòn.

Năm 1949, một số người Hoa chạy sang Việt Nam khi Trung Hoa Quốc Dân Đảng thua ở lục địa.

Tuy thu lợi từ những người Hoa định cư tại Việt Nam, nhưng các vị vua chúa Việt Nam chưa bao giờ cảm thấy yên tâm về lòng trung thành của họ. Tại thời điểm xấu nhất của quan hệ giữa hai bên, 10 ngàn người Hoa vùng cù lao Phố đã bị quân Tây Sơn tàn sát vào thế kỷ 18. Những khi khác, người Hoa làm ăn rất có khiếu và hưởng tự do và sự giàu có. Nhưng họ luôn bị phân biệt bởi người Việt (Kinh) trong đối xử.

Sinh hoạt văn hoá truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như hát, múa, hài kịch… với nhiều loại nhạc cụ: tiêu, sáo, các loại đàn (tỳ bà, nhị, nguyệt…), chập choã… Hát “sơn ca” (sán cố) là hình thức được nhiều người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên. Tổ chức văn nghệ dân gian truyền thống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các “nhạc xã”.

Múa lân, sư tử, rồng… là những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng sâu rộng được trình diễn hàng năm, vào những ngày lễ lớn như ngày lễ Tết.

Dưới đây mình có các bài:

– Dân Tộc Hoa
– Những giọng ca người Việt gốc Hoa nổi tiếng
– Ngôn ngữ và văn nghệ dân gian của người Hoa ở Thái Nguyên
– Dân ca Việt Nam với ảnh hưởng của văn học chữ Hán
– Phong tục tập quán của người Hoa ở Nam bộ
– Lễ cưới – nét văn hóa đặc sắc của người Hoa ở Sóc Trăng
– Món ăn ngày tết Nguyên Đán của người Hoa

Cùng với 14 clips tổng thể văn hóa người Hoa để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

h_ĐB1

DÂN TỘC HOA

I. Đặc điểm chung:

Người Hoa hay còn gọi là người Hán, Khách, Tàu đã di cư đến Việt Nam vào những thời điểm khác nhau từ thế kỉ XVI và sau này vào cuối thời Minh, đầu thời Thanh, kéo dài cho đến nửa đầu thế kỉ XX. Người Hoa thuộc nhóm ngôn ngữ Hán, ngữ hệ (Hán – Tạng). người Hoa có khoảng trên 862 nghìn người,cư trú ở hầu hết các tỉnh và các vùng đồng bằng Bắc và Nam Bộ như: Quảng Ninh, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ, Bạc Liêu, Kiên Giang. Trong số đó có khoảng 50% dân số sống tại vùng chợ lớn của Sài Gòn. Họ tập trung đông nhất ở các khu thương mại trong quận 5, 11 (khoảng 45% dân số mỗi quận) 6, 8, 10 với 5 nhóm ngôn ngữ chính: Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hải Nam và tiếng Khách Gia.

II. Hoạt động kinh tế

1. Nông nghiệp:

Người Hoa ở nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp, họ là dân tộc vốn có truyền thống trồng lúa lâu đời, có tinh thần lao động cần cù và có nhiều kinh nghiệm sản xuất.

Công cụ lao động sản xuất tốt phù hợp với địa hình canh tác như:cày thon nhỏ phù hợp với sức kéo của trâu, bò, bừa, 2 trâu kéo cùng với cuốc,liềm… đã đem lại năng suất lao động cao.

2. Thủ công nghiệp:

Thủ công nghiệp khá phát triển.

Người Hoa ở các thành thị, họ làm nghề dịch vụ,buôn bán:như mở các cửa hàng ăn Trung Quốc truyền thống, thành lập các xí nghiệp vừa và nhỏ. Ví dụ: Công ty sản xuất hàng tiêu dùng Bình Tiên (Sài Gòn), công ty thực phẩm Đông Kinh, công ty thời trang Thái Tuấn (Sài Gòn).

Người Hoa còn nổi tiếng với nghề làm gốm đặc biệt phải kể đến các lò gốm ở Móng Cái, Sông Bé, Đồng Nai. Ở Móng Cái dựa trên những cơ sở cũ của đồng bào, nhà nước đã cải tạo, tổ chức những xưởng đồ gốm khá quy mô. Gốm Móng Cái đã trở thành 1 cơ sở sản xuất khá lớn trong nước, hàng năm tạo ra khoảng 25 triệu đơn sản phẩm, bao gồm nhiều mặt hàng trong đó bát ăn cơm18 triệu chiếc được tiêu thụ khắp nơi trong nước.

Nghề muối cũng đã có khá lâu như cơ sở muối ở Quất Đồng, Cô Tô, Cát Bà.

Một số bộ phận người Hoa chuyên sống bằng nghề đánh cá ở ven biển, hải đảo, các cửa sông, cửa lạch, nghề làm giây súc, làm nhang (Sài Gòn)

h_nhà1

III. Văn hóa vật chất

1. Nhà ở của người Hoa ở MB:

Người Hoa tiêu biểu với kiểu nhà hình “cái ấn” là kiểu nhà cổ truyền của người Hán Trung Quốc kiểu nhà hình “cái ấn” như ở thôn Sơn Hùng xã Đài Nguyên- Cảm Phả- Quảng Ninh mà chúng tôi tìm hiểu được thì nhà này có 2 hộ gồm 17 người. Đó là 1 tổ hợp gồm 4 nhà liên kết với nhau tạo thành 1 hình vuông ôm lấy 1 mảnh sân nhỏ ở giữa. Nhà được xây bằng gạch mộc, lợp ngói âm dương. Vì kèo tam giác gác trên đầu tường nên nhà không có cột. Đặc biệt làcũng không thấy các “con sơn” đỡ đầu kèo.

Nhà chính gồm 5 gian, gian giữa rộng hơn các gian bên, mặt trước thụt vào một chút (khoảng 40cm) có 1 cửa ra vào ở chính giữa. Trong gian này có 1 bàn vuông để tiếp khách. Giáp tường hậu có 1 giường hành trên có bàn thờ tổ tiên. Sát tường bên trái kê 1 giường đôi dành cho khách.

Gian bên phải của gian chính giữa này cũng chỉ có 1 cửa ra vào ở phía trước, cạnh cửa ở góc bên phải có 1 tủ nhỏ. Cùng bên lui về phía sau có 2 giường đôi kê sát nhau. Gian này không có cửa sổ. Kề bên là gian hồi phải có gác xép lui về phía sau, gian nà có 1 cửa ra vào ở phía trước nhưng hơi lệch về bên trái. Tường đầu hồi có 2 cửa sổ nhỏ. Góc nhà phía trước về bên phải có 1 đống tro để người ta di tiểu tiện vào ban đêm, gian này có 1 tủ nhỏ kê gần 1 giường đôi. Từ gian này xuống nhà phụ phải qua 1 hành lang hẹp. Đầu hành lang có 1 cửa ra vào để thông ra ngoài nhà, trong hành lang chỉ có 1 cối giã gạo theo kiểu cối đạp.

Trong nhà phụ, giáp nhà chính có 1 bàn dài dùng làm bàn ăn, bên cạnh có các vò lớn nhỏ và các ang đựng rau cải muối. Ở giữa sát tường hậu có bếp, sát tường hồi bên phải lại thêm 1 bàn dài, 1 đống củi và 1 số vò nhỏ. Nhà phụ có gác xép chiếm cả bề mặt nền nhà. Mặt trước có cửa ra vào, mở lệch về bên trái. Tường hồi bên phải và bên hậu có 2 cửa sổ nhỏ. 2 gian nhà chính và 2 gian nhà phụ này dành cho sinh hoạt của vợ chồng con trai chủ nhà.

Gian bên trái của gian chính giữa, mặt trước có 1 cửa sổ, gian này có cửa lớn và 1 cửa nữa thông với gian hồi bên trái. Bên trong gian này có 1 tủ nhỏ và 2 iường đôi. Còn gian hồi trái chỉ là nơi để phân tro gian này có cửa thông với hành lang phiá trước và có 1 cửa sổ nhỏ ở tường hồi.

h_nhà2

Đầu hành lang giáp tường hồi trái là 1 hố tiểu, trong hành lang này có 1 quạt hòm.

Trong nhà phụ ,giáp nhà chính có 1 bàn dài dùng làm bàn ăn,bên cạnh có các vò lớn nhỏ và các ang đựng rau cải muối. Ở giữa sát tường hậu có bếp,sát tường hồi bên phải lại thêm 1 bàn dài ,1 đống củi và 1 số vò nhỏ. Nhà phụ có gác xép chiếm cả bề mặt nền nhà . Mặt trước có cửa ra vào ,mở lệch về bên trái . Tường hồi bên phải và bên hậu có 2 cửa sổ nhỏ.2 gian nhà chính và 2 gian nhà phụ này dành cho sinh hoạt của vợ chồng con trai chủ nhà.

Nhà phụ bên trái có 1 cửa sổ và 1 cửa ra vào, nửa nhà phía trái có gác xép. Trong nhà có bàn ăn, bếp, một số vò, ang đựng rau muối, 2 gian nhà chính và nhà phụ này là của vợ chồng chủ nhà. Còn nhà phụ trước nhà chính nối giữa 2 nhà phụ 2 bên, mặt trước có 1 cửa lớn để thông ra ngoài nhà. Nhà của người Hoa dần dần có sự chuyển biến như kiểu nhà: T’lám phùng lường sấn sâu người ta tháo gỡ cái vòng đóng kín của kiểu nhà cổ truyền (nhà hình cái ấn) bằng cách xén bớt nhà phụ trước mặt nhà chính để tạo thành kiểu nhà: T’lám phùng lường sấn sâu.

Kiểu nhà: T’lám phùng lưởng xả: người ta xén bớt 2 nhà phụ 2 bên

Kiểu nhà: T’lám phùng dặt ải: kéo 2 nhà phụ ở 2 bên ra song hành với nhà chính.

Kiểu nhà: T’lám phùng lưởng ải lưởng xả: là sự kết hợp giữa kiểu nhà T’lám phùng l ưởng ải với kiểu nhà T’lám phùng lưởng xả.

Một bộ phận người Hoa cư trú ở vùng đảo Cô Tô, Tân Hải (Quảng Ninh), Cát Bà, Bạch Long vĩ (Hải phòng) chuyên nghề đánh cá biển chủ yểu sống trên thuyền.

h_nha3

Nhà Người Hoa ở miền nam (đồng bằng sông cửu long) ngoài nhà đất họ còn có nhà sàn.

Nhà đất:

Phân loại nhà theo kết cấu kỹ thuật:

A. Nhà xuyên trính “vì không kèo” (vì chồng trính).

Đây là kiểu vì truyền thống của người Hán ở phương nam. Kiểu vì này chỉ gồm các cây cột ngắn cũng chống đỡ các cây trính, trên đầu cột ngắn tiếp giáp với đầu trính đều có đòn tay, có bao nhiêu cây cột ngắn có bấy nhiêu đòn tay, cao trên hết là đòn dông, mộng được ráp nơi đầu trính. Các cột đỡ trính ngắn khoảng 70-80cm. Đây là loại vì có kết cấu chịu lực, cứng cáp, chắc chắn. Kết cấu vì không kèo truyền thống của người Hoa thường có 2 hàng cột cái (khác với nhà người Việt).

B. Nhà xuyên trính “vì có kèo”

Người ta vẫn giữ hình thức cột giữa (trụ ngắn) đỡ cây đòn dông cùng các cây cột ngắn đỡ trính (các cột này cao hơn so với kích thước bộ vì truyền thống) nhưng đặc biệt lại có thêm 2 cây kèo – giao tiếp văn hóa Việt.

Đặc thù về kỹ thuật nhà người Hoa là hệ thống các loại cửa. Trước kia họ thường làm loại cửa song ngang bằng cây gỗ vuông nguyên cả bức vách phía trước. Loại cửa song gỗ này có “lưỡi gà” để cài chốt cửa ở trên. Nếu đẩy chốt lên sẽ lấy được song cửa ra.

Đặc biệt nhất là loại cửa 2 tấm gỗ lớn, phía bên trong cửa có bộ phận chốt cửa cài cây ngang rất kiên cố, chắc chắn. Cửa liên kết với bộ khung viền cử, ngạch cửa và toàn bộ bức vách phía trước thành 1 điểm tựa kiên cố, vững chắc. Cốt cửa là 2 súc gỗ tròn, chắc chắn đầu dưới gắn với ngạch cửa (nếu không có ngạch cửa thì sẽ chôn sâu dưới đất), đầu trên gắn vào cây đà ngang của bộ khung cửa. Bộ phận chốt cửa được người Hoa Quảng Đông gọi ‘mù xá”, người Triều Châu gọi “mứng khuấn”.

Hệ thống chốt cửa này được phân bố, cấu tạo theo quan niệm triết lí Đông Phương: tả thanh long, hữu bạch hổ, gồm: 2 cây dọc gắn chặt ở giữa mỗi cánh cửa lầm điểm tựa vững chắc cho 2 cây thanh ngang. Hai cây then ngang cài cửa có mấu ở đầu, khi cài thì di chuyển ngược chiều nhau để cây thên bên trái cài qua cánh cửa bên phải, cây then bên phải cài qua cánh cửa bên trái,nhưng phải chốt cửa lại theo dạng “cọp thè lưỡi cho rồng ngậm” (thên cửa bên phải chòng lên then cửa ben trái), họ kiêng cài kiểu ngược lại vì họ sợ sẽ gặp điều không may. Loại cửa này hiện chỉ còn ở chùa Hoa, một số nhà giàu xây dựng theo kiểu xưa.

Hiện nay, nhà theo kiểu dãy phố của người Hoa ở ĐBSCL làm cửa ra vào theo lối 8 cánh hoặc 6 cánh xếp, không cần cửa sổ. Lối cửa này tiện lợi có thể mở rộng vách trước của nhà theo số cánh được mở. Người ra nhà người Hoa hiện nay phổ biế nhất vẫn là cửa sắt kéo, vừa tiện lợi vừa an toàn.

h_nha4

Phân loại nhà theo vật liệu xây dựng:

Nhà bán kiên cố:

Ở nông thôn nhà của người Hoa (nhất là người Triều Châu chuyên làm lương rẫy) rất hiếm khi xây dựng hoàn toàn bằng vật liệu thô sơ như nhà người Việt hay Khơme, mà phần lớn nhà của họ kết hợp giữa vật liệu thô sơ với bán kiên cố.

VD: nhà vách lá, mái lợp tole; nhà vách gỗ mái lơp ngói; nhà tường gạch mái lợp lá cũng như các dân tộc khác ở ĐBSCL, nhà người Hoa dùng lá dừa nước lợp mái hay dựng vách, trái với tập quán lợp nhà bằng rơm hay tranh như ở vùng nông thôn Trung Quốc.

Những nhà khá giả lợp ngói âm dương theo kiểu “lợp lót” (mặt dưới của ngói được sơn bằng vôi trắng), nền nhà thường lót gạch tàu băng đất nung màu đỏ sậm.

Nhà kiên cố:

Thường được xây dựng ở thị xã,thị trấn với các dạng nhà trệt hoặc nhà lầu đúc bê tông cốt sắt ,thép một hoặc nhiều tầng. Với các vật liệu hiên đại: đá rửa, đá mài, đá ốp lát, cửa kín, cửa sắt cuốn….

Người Hoa cũng có nhà sàn:

Ở những vùng ngập nước (định kỳ hoặc thường xuyên như: Châu Phú-An Giang, Hồng Ngự-Đồng Tháp) người Hoa cũng cư trú trên nhà sàn như các dân tộc khác trong vùng. Nhà sàn cũng giống như nhà sàn người Việt trong vùng ở chỗ kết cấu nhà kết hợp cột liền và cột ngắn đỡ sàn. Cửa chính cũng trổ ở cạnh dài của nhà ,cầu thang cũng bắc nơi goc trái hoặc goc phải của mặt tiền nhà chứ không khi nào bắc vào giữa nhà. Cầu thang thường dẫn lên hành hiên trước có bao lơn gỗ…

Phân bố mặt bằng sinh hoạt:

Phòng khách đặt bộ bàn ghế, ván và hệ thống tủ thờ, phía trong là buồng của cha mẹ và các thành viên trong gia đình. Có khi người ta làm thêm cái trái bên hiên để tăng diện tích phòng riêng cho con cái và làm nhà bếp.

h_bàn thờ

Tín ngưỡng về nhà:

Nhà của người Hoa vừa là nơi để ở, thờ cúng, thờ thần, buôn bán, sản xuất… trong quá trình xây dựng nhà người Hoa rất quan tâm tới việc “động thổ” họ cúng thổ thần để cầu chúc phúc cho nhà ở.

Mọi kích thước liên quan đến viêc xây dựng nhà đều được cân nhắc, tính toán bởi thước lỗ ban. Người Hoa quan niệm phía bên phải từ trong nhà nhìn ra quan trọng hơn bên trái vì vạy mà cửa chính được mở ở bên phải, cửa sổ mở bên trái. Trên khung cửa chính của người Hoa có gắn 2 mắt cửa tròn hoặc vuông bằng gỗ chạm với ý nghĩa “thần cửa bảo vệ nhà” và theo tín ngưỡng âm dương đó là biểu tượng của “nhật nguyệt”. Quan niệm của người Hoa cho rằng nhà phải có ngạch cửa vì nhà không có ngạch như nhà không có nề nếp,ý chỉ sự tôn ti trật tự biết tôn trọng phép tắc, lễ nghi. Theo tín ngưỡng xưa khi cô dâu về nhà chồng rất kiêng việc dẫm lên ngạch cửa vì coi đó là sự không tôn trọng phép tắc nhà chồng.

Người Hoa thờ đa thần, tín ngưỡng thể hiện từ ngoài sân đến trong bếp. Ngoài sân thờ “Thiên Quan”- vị thần giữ cửa xua đuổi tà ma, đem lại sự thanh bình cho gia đình. Hoặc họ treo bùa bát quái bằng gỗ hay giấy hoặc tấm kính vẽ hình bát quái họ ti nó sẽ giúp ngăn chặn những ảnh hưởng xấu, không tốt vào nhà cửa. Bàn thờ tổ tiên được đặt ở vị trí thấp hơn bàn thờ thánh.

Bàn thờ tổ tiên đặt những bài vị có ghi rõ tên dòng họ, quê quán của gia đình. Khi gia đình có tang bố mẹ chưa mãn tang thì lập bàn thờ riêng khi nào mãn tang đặt cùng bàn thờ tổ tiên. Con trai khi co gia đình ra ở riêng thi phải lập bàn thờ tổ tiên ở nhà mình.

Người Hoa ở Triều Châu, Phúc Kiến còn thờ “Môn Quan’-thần, “Huệ Quan” – thần lửa có thể nhìn thấy và xua đuổi tà ma. Một số gia đình ở Triều Châu, Phước Kiến còn thờ “bà mẹ sanh”- tượng trưng cho lòng nhân hậu, đem lại điềm lành cho phụ nữ và trẻ em. Bàn thờ thổ thần được đặt ở kệ gỗ dưới bàn thờ tổ tiên, kệ thờ thần tài đặt ở dưới đất 1 góc nhà. Có khi người ta cũng thờ thần tài với thổ thần chung 1 kệ – mong đem lại tiền tài, phúc đức cho gia đình. Trong bếp nơi cửa bếp khô ráo thờ phật táo và thổ táo.

Vào dịp tết nhà người Hoa rực lên màu giấy đỏ dán từ trước cửa tới trong bếp ở các hũ gạo, lu nước, tủ đựng quần áo… nhiều câu đối ý nghĩa: vạn sự như ý, lão niên bình a, nghinh xuân tiếp phước…

Chùa Bà thiên Hậu (Chợ Lớn).
Chùa Bà thiên Hậu (Chợ Lớn).

Kiến trúc chùa, miếu của người Hoa ở nam bộ:

1. Chùa: Thường đặt ở nơi đông dân cư, Chùa được sơn màu đỏ,nhiều lớp mái chồng lên nhau theo kiểu thức “trùng thiềm điệp ốc”,những hàng ngói ống màu xanh gọi là “thanh lưu ly” hay màu vàng gọi là “ hoàng lưu ly” che phủ mái chùa,với những đầu đao cao vút tạo nên nét thanh thoát cho ngôi chùa.

Trên đỉnh mái chùa Hoa là một ngọn tháp nhỏ. Quần thể kiến trúc được xếp theo chiều ngang: cấu trúc mặt bằng xây dựng theo hình cái ấn,bốn bề bao bọc khuân viên bên trong. Kiến trúc hình chữ tam với tòa tiền điện,trung điện,chính điện ngăn cách với nhau bởi thiên tỉnh để lấy ánh sáng. Chùa có mái ống màu vàng hoặc xanh kết hợp với hàng cột tròn màu đỏ,tường đỏ những viên gạch xây tường nguyên bản,không tô hồ.

Các cổng tam quan có mái che. Trang thờ: tượng thờ đặt trong khánh ,có mái che mang nét độc đáo khác chùa việt. Tháp cao hình lục giác hoặc vuông.

2. Miếu: Lấy tòa nhà chính cao trội bật hơn là trung tâm,hai phần phụ ở hai bên thấp hơn chút ít. Hai gian phụ hai bên làm trường học,công sở,hội quán. Ví dụ: Miếu Hoa Quảng Đông – đầu đao vuông bằng sắc cạnh;miếu Hoa Phúc Kiến có mái hình thuyền hai đầu đao cao vút, của sổ và cửa cái có hình tròn như 2 mắt cọp – con vật tượng trưng cho cộng đồng.

Chạm khắc gỗ trên đầu củng: Miếu của người Phúc Kiến,Hà Chương cột chống đỡ miếu là những trụ đá sa thạch,chạm nổi hình rồng quấn còn được gọi là long trụ. Đặt lân đá hoặc hai chiếc bảo cổ thạch trước cửa vào miếu chỉ có ở miếu Hoa. Ngạch cửa vào miếu làm bằng đá sa thạch,hai cánh cửa bằng gỗ sơn đỏ,mặt cửa dngj mặt hổ phù ngậm vòng ,chốt cài cửa là 1 thanh gỗ kéo ngang. Thuyền bát nhã bằng gỗ treo trên mi cửa chỉ có ở chùa Hoa để tưởng nhớ ngững người vượt bển sang sống ở Việt Nam.

Két hợp 2 cửa vào trước gian tiền điện và trước khi vào sân thiên tỉnh để qua phần trung điện. Hoa văn trang trí hình nhân gốm, những tuồng tích.Trung Quốc, cây trái Nam bộ.

Ở Hội An các ngôi miếu Hoa chú ý đến trang trí trên các vì kèo đặc biệt là đầu kèo, đầu cột với hoa văn hình đóa sen bằng gỗ chạm úp ngược xuống nở nhiều lớp cánh. Miếu thiên hậu lập vào giữa thế kỉ XIX mái ngói ống, diềm mái màu ngọc thạch và 2 con ròng được trang trí trên đỉnh mái,cổng vào miếu sơn đỏ. Bàn thờ thiên phụ địa mẫu đặt trước cửa vào với 2 con rồng chầu 2 bên ,hình chữ tam hai bên cửa có ban thờ Môn quan và thổ thần.

h_trang phục

TRANG PHỤC:

Kiểu tóc đặc trưng của người phụ nữ bình dân là cắt tóc ngắn, để thẳng chấm tới vai,phía trước vén đường ngôi giữa và vén sau tai,cũng có khi họ búi sau gáy và cài trâm,ép xuống sát da đầu.

Y phục nữ: phụ nữ Hoa mặc áo 5 thân, áo cổ viền cao, xẻ vạt 2 bên hông, dài quá mông không có túi, cài khuy tết bằng nút vải ở nách bên phải, hoặc 1 chiếc áo “sườn sám” may dài ôm ngang hông xẻ tà dưới phần đùi. Họ còn mặc áo cộc tay cắt như áo 5 thân nhưng lại có 2 túi ghép thêm 1 miếng vải màu. Phụ nữ mặc quần, di cùng bộ trang phuc thường có chiếc khăn tay dùng để lau mồ hôi hay lau tay.

Màu sắc trang phục (các thiếu nữ thích màu hồng hoặc đỏ) cùng với các màu đậm. Đi cùng có 1 chiếc khăn nhỏ trắng cài ở hò áo dùng để lau tay,lau mặt. Phụ nữ hoa mặc quần đồ lót nữ giới xưa thường được thiết kế rất vừa vặn với cơ thể người dùng. Dù mang dáng vuông, hình thoi, tam giác bán nguyệt, thì đồ lót với những hình dáng khác nhau đều là kết quả của những cái nhìn, sự ấn tượng mà người dùng muốn thể hiện. Nó cũng không kém phần sáng tạo.

Từ thiết kế tổng thể tới các chi tiết trang trí, đồ lót nữ cũng phản ánh xu thế và đức tin thời cổ, và mang dáng dấp lịch sử. Theo phong cách và kết cấu có hai mẫu đồ lót chính: đồ hai mảnh che cả phần ngực và lưng, đồ một mảnh chỉ che phần ngực. Về thiết kế có thể phân biệt từ vị trí dây buộc đồ lót: ở vai, nách tay hay sau cổ. Một số loại còn không có dây buộc.

Việc bố trí màu sắc trên loại trang phục đặc biệt này cũng góp phần tạo ra khác biệt giữa người sử dụng. Một số màu sáng được phối hợp tạo ra sự tương phản, ví dụ xanh với đỏ, vàng với xanh dương, hay viền đen, vàng và bạc tạo ra hiệu ứng mạnh với thị giác. Một số màu trầm hơn cũng được ưa chuộng như đồng tông hay thứ tự phối màu giảm dần từ sáng đến tối tạo ra hiệu ứng hài hòa.

Như một hình thái khác của nghệ thuật truyền thống, phụ nữ phong kiến Trung Quốc thường trang trí đồ lót của họ với mọi chủ đề mà họ có thể tưởng tượng ra, như phong cảnh, chim hoa tuyết nguyệt, mấy gió, những chuyện thần thoại, các nhân vật thơ văn. Thông thường, các thiết kế đều thể hiện một ý tưởng rõ ràng. Ví dụ, trang trí hình chim đậu trên cành mận nở hoa thể hiện sự hạnh phúc, hình thêu cách điệu từ dơi mang mong muốn số phận tốt đẹp, hoa sen với cá thể hiện sự giàu sang.

Nghệ thuật tinh xảo: Trông bề ngoài khá đơn giản, nhưng đồ lót của phụ nữ xưa ở Trung Quốc đều làm bằng tay, với những nét thêu thùa dệt may phức tạp. Nó là sự đan cài của hàng chục kỹ thuật như thêu, may, đan gài, cuộn, đính… Đường kim mũi chỉ không quá phóng túng cũng không quá chặt chẽ. Những nếp gấp hay nét rạn là không bao giờ chấp nhận được.

Đồ lót được coi là nền tảng đánh giá sự khéo léo của chủ nhân, một phẩm chất luôn được coi trọng cao với phụ nữ phong kiến. Người Hoa đi dép (cao su,nhựa,cói) và mang guốc. Ngày nay phụ nữ Hoa đã mặc áo cánh và áo sơmi.

Đồ trang sức: vòng tay, (bằng đồng, bạc, đá, vàng, ngọc), bông tai, dây chuyền. Đội nón, mũ, trong ngày hội họ còn đội ô.

h_trang phục cưới

Y phục nam: Trang phục của nam giới người Hoa lớn tuổi họ mặc rất đơn giản. Trong nhà họ chỉ mặc quần đùi màu đen rất rộng và dài đến gối,lưng cột dây rút và cuốn vòng quanh bụng. Khi lao động họ mặc quần vải màu đen,áo cùng màu,áo “xá xẩu” cổ truyền,xẻ giữa từ cổ xuống vạt,cài nút thắt,lưng áo có đường nối.

Trang phục lễ cưới cổ truyền: Cô dâu mặc bộ áo cuới (xám khoành) màu đỏ bằng gấm thêu, dài chấm gối, chiếc áo ngắn bằng gấm ngũ sắc, cổ đứng, xẻ giữa, nút thắt to, tay áo dài và rộng để lộ chiếc áo trắng bên trong. Toàn bộ áo và xiêm được thêu nổi hình phụng “phùng xám” (áo phụng). Cô dâu còn đội thêm chiếc mũ cưới(mũ phụng, gồm hình chim phượng với các bông nhung đỏ đung đưa theo bước chân, phía trước mũ có chiếc rèm thưa bằng hạt châu để che mặt. Chân đi hài bọc gấm hoặc nhung thêu hoa.

Áo của chú rể thêu rồng gọi là “lùng xám” (áo rồng). Trang phục là bộ xiem và áo bằng gấm xanh, dệt chữ thọ hay chữ phúc. Áo kiểu thường dài, cổ áo cao, tay dài và rộng, cài cúc ở sườn phải hoặc ở giữa. Bên trong mặc áo trắng, trên đầu đội mũ quả bí hoặc mũ dưa hấu màu xanh sậm, chân di hài bọc gấm. Giữa ngực chú rể có đính 1 bông hoa vải to màu đỏ, các dải dây buộc chéo vào người. Cũng có khi chú rể không cài hoa mà khoác bên ngoài áo dài 1 chiếc áo ngắn không tay,xẻ giữa gọi là “mạ hoa”.

h_cơm

Ẩm thực: Lương thực chính của họ là gạo nhưng người Hoa còn bổ xung thêm nhiều nguồn lương thực chế biến từ bột mì như mì sợi, vằn thắn. Mì cũng có nhiều loại, mì Quảng Đông nấu với thịt nạc, thịt băm. Mì Phước Kiến nấu với cá vò viên, tàu hủ, ăn kèm với bánh tôm. Mì Triều Châu là loại mi mặn, sợi dài, trước khi ăn phải trần trog nước sôi để nhạt bớt.

Món cháo của người Hoa cũng có nhiều khác biệt: Cháo Quảng Đông nấu thật nhừ, ăn kèm với thịt, tôm, cua cá và nhiều lát gừng thái nhuyễn, còn có món cháo Quảng nấu nhừ cùng với trái bạch quả thơm ngon. Món cháo của Triều châu, Phúc Kiến ăn với cá khô, trứng vịt muối, dưa cải muối và cải tần ô.

Vào ngày tết họ còn còn có trữ sẵn lạp xưởng với nhiều loại: lạp xưởng thịt heo ướp ngũ vị hương, lạp xưởng ướp riệu mai quế lộ khiến thịt săn chắc, thơm phức, lạp xưởng vịt để nguyên con ướp gia vị màu sậm nâu gọi là vịt bắc thảo…

Vào những ngày đầu năm người Quảng Đông sẽ cúng tổ tiên và các vị thần bằng thịt gà mái, gà trống cúng vào mùng 2-3 tết. Họ ít ăn thịt vit vào đầu năm cho răng xui xẻo, lận đận. Nhưng người Hoa Triều Châu thích ăn thịt vịt đầu năm.

Họ ăn 3 bữa trong 1 ngày (sáng, trưa, tối), họ thường ăn cháo ít khi ăn cơm. Mùa giáp hạt, cháo được độn thêm ngô, khoai sắn… thức ăn chủ yếu là rau được chế biến bằng nhiều cách. Xu hào, bắp cải, củ cải đem muối chua phơi khô ăn quanh năm. Đỗ được chế biến thành madi, xì dầu, đậu phụ… Họ thích ăn các loại gia vị như hành tỏi, ớt, gừng, rau thơm.

h_nước lèo

Món “lục” (nước lèo) rất nổi tiếng của người Hoa ở ĐBSCL được chế biến từ xương heo thêm củ cải trắng có khi cả cải bắc thảo để ngọt nước. Cách chế biến thức ăn của mỗi địa phương có khác nhau: Người Quảng Đông thường cho nhiều dầu, mỡ là chất trung gian để nấu ăn. Người Triều Châu có khẩu vị ăn mặn, người Phúc Kiến lại thích ăn cay…

Đồng bào ít uống nước chè mà dùng nước cháo thay cho uống nước hàng ngày. Phụ nữ không ăn trầu. Đồ uống phổ biến trong mọi gia đình: các loại trà sâm,hoa cúc và trong dịp lễ tết, hôi hè nam giới cũng quen uống riệu. Biểu tượng văn hóa, tâm lý tộc người thể hiện qua ăn uống.

Vào dịp lễ hỏi người Hoa Triều Châu ở ĐBSCL trong số lễ vật của đàng trai có nguyên con heo quay đưa sang cho nhà gái. Lễ xong nhà gái rất ý nhị ‘lại quả’ cho nhà trai nguyên cái đầu, khúc giữa, đùi theo sau cả nguyên cái đuôi cùng bộ đồ lòng nhằm nói lên ý nghĩa.

Hai bên cùng ăn ở với nhau có đầu có đuôi, có trước có sau, có lòng có dạ. Trong lễ vật còn có 2 cây củ sen – loại cây tiết ra loại nhựa tơ kết dính nó tượng trưng cho tình cảm dôi dào, gắn bó giữa 2 họ và đôi vợ chồng trẻ. Người Quảng Đông thì đưa lễ hỏi là cặp vịt (tượng trưng cho đôi uyên ương) – tình vợ chồng gắn bó thủy chung.

Trong tiệc cưới, họ thường đãi món cá vò viên với ý nghĩa “hoa đẹp trăng tròn” hoăc với ý nghĩa “như ngư đắc thủy”- chỉ sự thuận lợi như ý.

h_bánh cưới

Các loại bánh trong lễ cưới cũng là những biểu tượng tốt đẹp: bánh long phụng giống bánh trung thu, trên mặt bánh in nổi hình rồng, phụng mong đôi vợ chông trẻ sống tâm đầu ý hợp, hạnh phúc gắn bó. Loại bánh “chil túi” có 2 loại:

1. Loại chiên phồng, to như quả dừa, dòn tan, vàng rộm, bên ngoài rắc mè thơm lấm tấm.

2. Có hình như qủa lựu bên trong nhân bắp rang nhào đường tượng trưng cho hạt lựu – bánh này có ý nghĩa chỉ sự sinh sôi, nảy nở cầu mong vợ chồng sẽ được “con đàn chấu đống”.

Trong dịp mừng thọ các cụ già thường dùng bánh đào tiên hoặc bánh trường thọ với hình trái đào vừa chín tới. Đào tiên biểu tượng cho sự trường thọ nên bánh có ý nghĩa chúc các cụ trường thọ an khang.

Món chè ỉ: nấu bằng bột nếp,vò viên tròn xoe,bên trong có viên đường tán bé xíu hình vuông (tượng trưng cho trời và đất) – chỉ sự viên mãn, tốt đẹp.

Trong tết nguyên Đán họ có bánh tổ tượng trưng cho “niên niên cao thăng” năm mới tốt hơn năm cũ. Hoặc bánh “bách sự cự cao”- trăm việc đều tốt, Món tôm lăn bột – biểu trưng sự vui vẻ, hạnh phúc quanh năm suốt tháng.

Món “gà ngậm hành” mong sang năm mới mọi việc được thông suốt, trôi chảy, tốt đẹp…

h_gà ngậm hành1

Ăn uống dưới góc độ dinh dưỡng chữa bệnh: Họ cho rằng bẹnh tật phát sinh do cơ thể chúng ta thiếu cân bằng âm dương trong cơ thể. Vì vậy vai trò của thức ăn cho mỗi người được lựa chọn kỹ nhằm cân bằng trạng thái âm dương. Theo y học truyền thống Trung Quốc, thể chất người chia làm các loại âm, dương, hư, hàn; còn thực phẩm nói chung mang 3 yếu tố nhiệt, hàn, ôn. Thể trạng con người thay đổi tương ứng với khí hậu vì vậy lựa chọn thức ăn cho phù hợp. Với khí hậu nóng quanh năm người Hoa thường sử dụng những loại thức ăn uống mang yếu tố hàn, giải nhiệt, dễ tiêu hóa, giúp lục phủ ngũ tạng loại trừ được cái nóng độc hại trong cơ thể. Họ thích ăn thịt vịt là món ăn hàn, bổ âm, cùng các thức ăn mát như: đậu xanh, tàu hủ, cà chua, giá, hẹ, cải bẹ xanh, bẹ trắng.

Họ sử dụng phương pháp lấy nguồn thức ăn sẵn có nơi họ sống để trị bệnh cung cấp dinh dưỡng.
Họ quan niệm thức ăn vừa để dinh dưỡng,vừa để chữa bệnh thì cơ thể cần 1 lượng thức ăn nhất định bởi các chất khác nhau dựa trên tuổi tác, thẻ chất, tập quán ăn uống, khí hậu, môi sinh.

Với người già, trẻ em thường chọn những thức ăn dễ tiêu hóa như: cháo, cá, sữa đậu lành, nước xương hầm (tốt cho sức khỏe). Người già tránh ăn những động vật 4 chân (heo, bò..) vì nhiều mỡ khó tiêu hóa, nên ăn những động vật 2 chân: gà, vịt, chim… và ở nơi khí hậu nóng bức có nhiều loại thức ăn phù hợp cho người già như: mướp giúp tiêu đờm, giải nhiệt, xơ mướp nấu nước uống giúp thông nhiệt, giãn gân cốt, còn ăn củ lăn giúp giải độc, dễ tiêu hóa, lợi tiểu.

Người Hoa phân biệt công dụng của thực phẩm rất rõ dù là những món ăn bình thường như món chao (đậu hũ lên men bằng vi sinh vật) giúp tăng lực, dễ tiêu hóa, món nấm giúp điều hòa huyết mạch, ít chất béo giàu protein, dễ tiêu hóa. Hạt sen giúp an thần, trợ tim, măng giúp giải nhiệt, tiêu đờm, điều hòa tỳ vị, cải cúc, cải xà lách non giúp bổ phổi, giải độc, hành giải cảm…

Người phụ nữ sau khi sinh cơ thể suy yếu người Hoa cho sản phụ ăn món gà mái hầm, cháo ăn với đường và mè, cùng các món ăn có gia thêm tiêu và gừng… để tái lập trạng thái thăng bằng trong cơ thể, tăng cường sinh khí, sức khỏe. Trong y hoc cổ truyền và dinh dưỡng Trung Quốc còn quan niệm ăn gì bổ nấy. Ví dụ: ăn gan bổ gan, ăn tim bổ tim… Trong bữa ăn các gia đình đều có rau cải: cải bẹ xanh, cải bắc thảo, cải cúc… với ý thức gìn giữ sức khỏe, phòng bệnh, dễ tiêu hóa.

Nghệ thuật ăn uống rất được coi trọng, dù nghèo cũng phải don cho gon gàng sao cho thấy thèm ăn, bắt mắt, họ có nhu cầu muốn ăn cùng với nhau. Họ quan niệm uống trà có thể 1 người nhưng uống rượu phải cùng uống với bạn hữu.

h_heo cúng

Ăn uống trong sinh hoạt tín ngưỡng: Lễ vật cúng thần, trong lễ hỏi, lễ cưới thường có con heo sữa quay vàng óng, bụng banh rộng, tứ chi bẹt ra, nằm chỗm chuệ giữa các vật cúng khác – để bày tỏ lòng thành kính. Thức cúng cho từng vị thần được quy định sẵn, hầu như đều phải có “tam sanh’, là 3 loại thú hiến tế toàn sinh:

Trâu (bò), lợn và dê dùng để tế vua chúa, thánh thần hoặc những người qua vãng thuộc tầng lớp trên. Còn thịt, trứng, tôm, là 3 loại hiến tế để biếu các vị thần (vì không toàn sinh) để tạ ơn hay cầu mong 1 điều gì. Cúng ‘bà mụ’ gồm cả thức mặn lẫn thức ngọt, cúng “tam sanh’ gồm có hoa quả, trà bánh… và luôn luôn có trứng gà nhuộm đỏ cùng miếng thịt heo quay.

Cúng đưa ông táo về trời có chè ỉ, chè trôi nước, ngoài ra cúng “tam sanh” với 1 cây mía còn nguyên lá lam phương tiện cho ông táo về trời, đêm 30 tết họ cúng đón ông táo mói bằng hoa quả, bánh mứt.

Thờ ông địa, thần tài, thần đất… người ta cúng “tam sanh” hoa quả, bánh bao. Bánh ú nhân mặn cúng ông khuất nguyên vào tết Đoan ngọ loại bánh gói dài như bánh tét, có loại nhỏ hình chóp gói bằng lá tre.

Cúng Ngọc Hoàng bằng thức ăn chay, cúng ông Trấn Vũ thì có thể dùng thức ăn mặn.

h_ăn tết

IV. TỔ CHỨC XÃ HỘI

Một trong những nét nổi bật của môi truờng di trú và định cư của nguời Hoa là sự xuất hiện và thịnh hành của tổ chức xã hội và nghiệp đoàn truyền thống. Thông thuờng khi đến Việt nam sinh sống, nguời Trung Hoa di cư thành từng nhóm theo quan hệ họ hàng, đồng huơng và đồng nghiệp. Từ đó sẽ hình thành nên những làng hay phố Trung Hoa thu nhỏ ở Việt Nam như “Phố Khách”, ở Hội An tk 17-18, “Làng Minh Huơng” ở Gia định cuối thế kỉ 17 đầu 18, “Làng Thanh Hà” ở Thừa Thiên Huế tk 18.

Từ những quần thể dân cư đó dần dần hình thành nên những tổ chức XH và sau đó là nghề nghiệp với chức năng chính là điều hoà các mối quan hệ XH, KT, VH bên trong cộng đồng của họ. Đó là hôi kín, Hội Thân tộc, hội nghề nghiệp hay các tổ chức nghiệp đoàn như Phòng thương mại và các tổ chức chuyên ngành….

Đến miền Nam VN định cư, những di dân người Trung Hoa đã trải qua một quá trình hội nhập để dần trở thành công dân VN. Trong quá trình sinh sống ở miền Nam, người Hoa đã hình thành nên tổ chức xã hội vừa theo những quy chế của chính quyền qua các thời kỳ ở miền Nam.

Tổ chức Xã hội đầu tiên, cũng vừa là tổ chức hành chính của người Hoa ở Sài Gòn xưa là “ làng Minh Hương” theo sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức thì xã Minh Hương ở Sài Gòn được thành lập vào khoảng thế kỷ 17.

Làng Minh Hương là một dạng tổ chức hành chính ở đàng trong được dành cho người Hoa đã trở thành công dân VN. Ngày nay thuộc quận 5 Sài Gòn.

Xe Hủ Tiếu đặc trưng của người Hoa.
Xe Hủ Tiếu đặc trưng của người Hoa.

Bang

Theo một số tài liệu ghi chép thì Bang của nguời Hoa ở Việt Nam đuợc thành lập vào 1787 ở vùng đất phuơng nam duới sự cai rị của chúa Nguyễn . Lúc đó mới chỉ có 4 Bang ra đời . đến 1814 duới thời vua Gia Long (1802-1819) tổ chức này chính thức đuợc hợp thức hoá về mặt pháp lí và số lựng Bang tăng lên thành 7 Bang: Bang Quảng Đông, B. Phúc Kiền, B. Triều Châu, B. Hải Nam, B. Hạ Môn, B. Phúc Châu, B. Hạ Phuơng, B. Quỳnh Châu .

Năm 1885 khi thực dân Pháp bắt đầu quy chế hoá về Bang và quốc tịch của nguời Hoa thì số bang đuợc cải tổ thành 5 Bang (Phúc Châu hợp vào Bang Hạ Môn thành B. Phúc Kiến, B.Quỳnh Châu hợp vào B. Hải Nam, B. Triều Châu, B. Quảng Đông, B. Hạ Phuơng) .

Theo luật lệ triều Nguyễn, kiều dân Trung Hoa dưới 60 tuổi có thể lực được quyền gia nhập Bang. Bang thành lập phải theo nguyên tắc đồng huơng, đồng ngữ. Mỗi Bang được phép bầu ra Bang truởng để trông coi các việc trong Bang và thay mặt Bang tiếp xúc với chính quyền bản địa.

Thông thường Bang trưởng đuợc bầu là nguời có uy tín và giàu có trong Bang, nhiệm kì là 4 năm, bầu theo chế độ tuyển chọn phổ thông đầu phiếu sau đó đuợc Vua phê chuẩn mới lên nắm quyền điều hành Bang. Những Bang lớn thì có thêm 1, 2 Bang phó. Thời Nguyễn Bang nguời Hoa chủ yếu đảm nhận chức năng XH như dàn hoà các tranh chấp, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, tuơng thân …

Trong mỗi Bang có riêng truờng học, bệnh viện, nhà xuất bản, báo chí, cơ sở tín dụng, câu lạc bộ… đầu thế kỉ 20 Bang của nguời Hoa phát riển mạnh cả về số luơng thành viên và đa dạng hoá các họt động đầu tư. Do những điều kiện chi phối của môi truờng cư trú các Bang của người Hoa không những khác về tiếng nói, số lượng thành viên mà còn khác về cơ cấu nghề nghiệp và một phần về lối sống văn hoá và địa vị XH.

h_ăn tết1

– Bang đông nhất ở VN là B. Quảng Đông: Tính đến giữa thế kỉ 20 (1950) số luợng: 337.500 người, chiếm 46,6%. Họ là những người cởi mở, hăng hái, nhưng nóng tính, thiếu kiên nhẫn, tập trung sinh sống ở Chợ Lớn, với sở truờng làm đồ gia dụng, đồ trang sức, sửa chữa… Trong lĩnh vực nông nghiệp nguời Quảng đông giỏi về chăn nuôi đặc biệt là chư nuôi gà, vịt, chim cút…

– Người Triều Châu: có số dân đứng thứ hai sau nguời Quảng Đông (225.000 nguời, chiếm 31%) quê cha đất tổ của họ thuộc vùng duyên hải Đông Bắc tỉnh Quảng Đông và vùng Đông Nam tỉnh Phúc Kiến ngày nay.

+ có cơ sở kinh doanh rau quả, chè, chế biến hải sản, buôn bán thuốc bắc, làm đuờng mía, buôn bán lúa gạo… một bộ phận rất lớn nguời Triều Châu làm công nhân ở các nhà máy xay xát chế biến thực phẩm và công nghiệp dệt.
+ Họ có đức tính khiêm tốn, cần cù, nhuờng nhịn.
+ Sinh sống rất nhiều ë các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, dặc biệt là Cần Thơ , Sóc Trăng, trà Vinh, Rạch Giá ..

– Bang Phúc Kiến: tuy số luợng thành vên không lớn chỉ chiếm 8% tổng dân cư người Hoa ở VN (60.000 người) nhưng có địa vị kinh tế cao. Họ là những người có lòng kiên nhẫn, tính quyết đoán và đoàn kết rất cao. Họ hầu như nắm độc quyền về các hoạt động mua bán vật liệu kim loại, máy móc htiết bị, sắt vụn… người Phúc Kiến rất khéo trong quan hệ với các bang khác và chính quyền bản địa.

h_người Hoa

Nguời Hạ Phương (Hẹ): ở VN chiếm khoảng 10% (75.000 nguời). Họ là những nguời có gốc gác từ miền Bắc Trung Quốc di cư xuuống phía nam sau đó định cư tại QUẢNG ĐÔNG rồi di cư tiếp sang đông Nam Á.

+ Người Hạ Phương có tinh thần vượt khó và lòng độ luợng rất cao
+ Giỏi nghề bốc thuốc Bắc, kinh doanh bánh mì, thuộc da, dệt…
+ Sinh sống tại các khu Sài Gòn – Chợ Lớn.

– Bang Hải Nam: Chiếm 3% (30.000 nguời) có nguồn gốc từ đảo Hải Nam và bán đảo Lôi Châu. Do dân số ít ỏi và vật lực thấp nên họ tự nnguyện chuyên môn hoá trong nghành ă uống, làm các thức ăn kiểu phương Tây để cạnh tranh với các Bang lớn, đặc biệt là B.Quảng Đông về các mns ăn Trung Hoa. Họ có sở rường phục vụ ăn uống, giải khát, dịch vụ vui chơi giải trí…

Hội

1. Hội thân tộc (Tông thân tộc)

Hội này tập hợp người thân trên cơ sở cùng họ với nhau. Tiền thân của nó là Hội những nhuời ruột thịt cùng huyết thống và cùng nơi chôn rau cắt rốn. Quá trình khuếch tán làm cho số luợng thành viên của Gia tộc hay dòng họ tăng lên dần dần htành một họ lớn có nhiếu họ nhỏ theo hẹ thống mở, phân nhánh và đẳng cấp. Nhiều hội của họ Trần, họ Tăng, họ Dao, họ Lưu… là những hội thân tộc lớn ở Sài Gòn- Chợ Lớn trước đây.

Tổ chức hội mang tính chất tự nguyện. So vớí Bang thì tổ chức dòng họ mang tính biệt lập, khép kín và dẳng cấp nhiếu hơn và nó phân chia rõ ràng về hệ thống các chi nhánh của mỗi thân tộc.
Mỗi hội sẽ có từ đường làm nơi thờ tự ông tổ của dòng họ. Hàng năm sẽ có ngày họp mặt để làm lễ giỗ tổ . Sau đó là một bữa ăn chung ở nhà hàng đã đặt trước.

– Người đứng đầu hội thân tộc thường lá người có tuổi và ở vào vai vế thế thứ cao nhất của dòng họ. Ông ta sẽ chủ trì các lễ tưởng niệm tại từ đườn dòng họ vào dịp giỗ hoặc lễ tết trong năm. Thay mặt cộng đồng đứng ra hòa giải, thu xếp những tranh chấp giữa các thành viên trong dòng họ cũng như bảo vệ quyền lợi của các thành viên.

Ngoài ra người Hoa còn có những tổ chức thân tộc hẹp hơn giữa những người cùng họ trong cùng một địa phương, quận huyện, phủ như người họ Huỳnh ở Phúc châu, họ Lâm ở Kinh Châu.

– Kinh phí hoạt động của hội chủ yếu là sự tự đóng góp của các thành viên , các nhà giàu có trong hội. Từ xa xưa tổ chức dòng họ của nguời Hoa đã trở thành phương tiện bảo lưu những giá trị vă hoá truyền thống, là cơ sở khởi xướng và bảo trợ các hoạt động thương mại và giao tiếp với bên ngoài.

h_người Hoa1

1.2 Hội nghề nghiệp

Tập hợp những người Hoa có cùng hoạt đọng nghề nghiệp với nhau như hội Kim hoàn, Hội thuộc da, Hội làm đò mộc. Những thành viên trong hội có nghĩa vụ giúp đỡ lẫn nhau trên phương diện hoạt động nghề nghiệp, bảo vệ những bí quyết gia truyền, cũng như cạnh tranh trên thị trường

Hội trưởng do các thành viên trong hội bầu chọn , là người lớn tuổi có thâm niên nghề nghiệp, cũng như sự tinh thông và uy tín trong nghề. Hàng năm mỗi hội có một ngày giỗ vị tổ sư, người sáng lập ra nghề nghiệp. Các hoạt động của hội trước năm 1975 bị chi phối bởi hai tổ chức: Hội nghề ngiệp do phòng thương mại Trung Hoa ở Chợ Lớn điều khiển. Các tổ chức công đoàn do liên hiệp công đoàn điều hành đại diện cho toàn bộ lao đọng người Hoa ở nam Bộ .

1.3 Hội kín

– Được lập từ thế kỉ 13 ở bên Trung quốc nhằm mục đích chống lại sự cai trị của Đế quốc Nguyên Mông (1279- 1368). Ở miền Bắc Trung Quốc nguời ta thuờng gọi Hội kín là Chiao (nghĩa là giáo phái có chung tôn chỉ, mục đích) còn miền Hoa nam gọi là “hui”.

– Một trong những Hội kín của nguời Hoa hoạt động mạnh nhất ở VN là “Thiên Địa Hội”, các chi nhánh của nó có mặt ở các thị xã, thị trấn dọc biên giới Việt trung, ở các thành phố lớn như Sài Gòn – Chợ Lớn, Hải Phòng.

1.4 Các tổ chức hội đoàn khác

– Hội tương tế; Gồm những người cùng quê, thân thiết nhau, nhằm giúp đỡ nhau trong lúc khó khăn. Tổ chức của hôị là các ban bảo trợ nhằm giúp đỡ các thành viên và các tổ chức hoạt động từ thiện .

– Hội đoàn văn hóa thể thao: Tập hợp những người Hoa có nhiệt tình với văn hóa thể thao và những người đang hoạt động văn hóa thể thao. Vd. Hội tinh võ, Lệ Chi hoạt động thể thao, Hội ca múa nhạc tiếng Hoa, Hội lân-sư-rồng…

h_quan công

V- Văn hóa tinh thần

1. Tín ngưỡng

Ngoài việc thờ cúng trong gia đình, người Hoa còn có gần 200 cơ sở tín ngưỡng cộng đồng.

a. Thờ cúng trong gia đình

Trong gia đình người hoa có nhiều bàn thờ và thờ cúng nhiều vị thần , thánh , vong linh. Trước nhà là ban thờ tiên- nơi thờ trời. Trong trang thờ có bài vị 4 chữ ‘Thiên cung tứ phúc”, một lọ hoa và bát chân nhang. Hàng ngày người chủ gia đình buổi sáng sớm và chiều tối thắp hương vái tứ phương rồi cắm vào bát chân nhang cầu xin sự bảo hộ của trời.

– Thờ cúng tổ tiên: người Hoa địa phương không tạc tượng tổ tiên, bàn thờ được đặt nơi trang trọng nhất trong nhà thường ở phòng khách với bài vị của người đã khuất cùng các đố thờ tự nhu bát nhang, chân đèn.. bàn thờ được dán giấy đỏ hoặc sơn màu đỏ phía sau có chữ “thần”.

– Thờ Thần Tài và Ông Địa: Được đặt trong một trang nhỏ ngay dưới đất bên ngoài cửa. Ông Địa là vị thần cai quản mình đang ở, cần phải thờ cúng để nơi ở có sự yên bình, thịnh vượng. Thần Tài là vị thần giúp đỡ gia đình có thu nhập, tiền bạc cầu xin để mong may mắn, làm ăn phát đạt. Vào ngày mùng một Tết Nguyên đán và rằm tháng tám (âl) lễ cúng Ông Địa được tổ chức long trọng có cỗ “tam sên” (thịt, trứng, tôm tất cả đều luộc chín) bánh bao, hương đèn, có nhà còn làm heo (chưa luộc chín) .

– Thờ thần cửa “Môn thần”: Là người có trách nhiệm trông coi cưa ngõ cho ngôi nhà, không để ma quỷ vào nhà quấy phá. Vị thần thường không có bàn thờ, buổi tối người Hoa thắp một cây nhang cắm ở bệ cửa dưới, coi đó như là cúng thần cửa. Có nhà trên cửa ra vào còn treo một gương bát quáy cũng nhằm ngăn ngừa tà ma xâm nhập. Để mong sự an lành người Hoa còn dán các câu chữ Hán “Xuất nhập bình an”, “Ngũ phúc lâm môn”…

– Thờ cúng tổ tiên: Đặt ở nơi trang trọng nhất trong nhà thường ở phòng khách với các bài vị của người đã khuất cùng các đồ thờ tự như: bát nhang, đèn thờ, lọ hoa… Bàn thờ được dán giấy đỏ hoặc sơn màu đỏ phía sau có chữ “Thần” mong cha mẹ phù trợ cho con cái, tỏ lòng biết ơn. Ngày giỗ ông bà cha mẹ thường tổ chức tại nhà con trai trưởng và mọi người trong gia đình sẽ cùng về tham dự.

h_táo công

– Thờ thần bếp “Táo Quân”: Táo quân – vị thần trông coi, quản lí những công việc gia đình, nhà bếp còn được gọi là “Đông trù tư mệnh táo phủ thần quân”. Được thờ trong trang nhỏ với bài vị “Táo quân” mỗi năm sẽ thay bài vị vào 23 tháng chạp. Đó là ngày vị thần về trời để tâu trình những thành tựu của gia chủ trong năm. Đến 30 tháng chạp gia chủ rước Táo trở về và dán một hình thần bếp.

b. Thờ cúng dòng họ

Từ đường là nơi thờ cúng vị tổ đã sáng lập nên dòng họ của người Hoa. Thường được lập ở một nơi riêng biệt dành cho những ngày giỗ tổ (hoặc đặt nơi gia đình của người có vị trí cao trong dòng họ. Hàng năm giỗ vị tổ sáng lập dòng họ, mọi người sẽ tập trung đông đủ để tiền hành các nghi thức cúng lễ, và kết thúc bằng bữa chung của mọi người.

c. Thờ cúng cộng đồng

Thờ Quan Công: Đây là nhân vật lịch sử cổ đại của trung Hoa, được người Hoa sùng kính với tư cách một vị thánh “ Quan thánh Đế Quân”. Ông là chuẩn mực đạo đức của người Hoa nhân – nghĩa – trí – tín. Tượng thờ Quan Công là một viên quan, mặt đỏ, râu 5 chòm, trong chiến bào xanh. Bên Ông là tượng Quan Bình và Châu Xương đứng hầu. Miếu thờ Ông thường gọi là “chùa Ông”.

Thờ bà Thiên Hậu: Nữ thần cứu giúp họ lúc hoạn nạn, nhất là trong các cuộc di cư phải vượt biển hết sức ngủ hiểm. Người Hoa gọi bà là là “ Thiên Hậu Thánh Mẫu”. Nơi thờ bà gọi là “Chùa Bà”.

Thờ Ngọc Hoàng: Ngoài việc thờ trời ở những bàn thờ thiên, nguời Hoa ở Sài Gòn còn có 1 miếu thờ Trời khá lớn đó là miếu Ngọc Hoàng ở quận 1. Trời được xem là 1 vị thần tối cao ngự trị nơi thiên đường, có trách nhiệm cai quản cả trần gian. Người Hoa thờ ông để mong sự giúp đỡ che chở bằng quyền uy của ông.

h_quan âm

Thờ Phật Bà Quan Âm: Vị thần cứu khổ cứu nạn.

– Thờ cúng tổ sư các làng nghề
– Thờ thành hoàng
– Thờ Khổng Tử, Lão Tử, phò mã Phổ Quang….

2. Tôn giáo

– Phật giáo: Rất nhiều nguời Hoa có bàn thờ Phật, thờ Quan âm và những ngày lễ Phật họ đến chùa (cả chùa người Hoa và người Việt) nhưng chưa chắc họ là tín đồ Phật Giáo.

Phật giáo nguời Hoa ở Sài Gòn có nhiều tông phái:

Phái thiền Tông: Tập trung vào 2 phái Lâm Tế và Tào Động và 2 ngôi chùa Thảo Đường và Từ Ân.

– Thiên Chúa giáo
– Đạo tin lành
– Khổng giáo

3. Lễ Hội

Tết nguyên đán: Giống người Việt. Tuy nhiên cũng có nét riêng như dán nhiều câu chúc mừng sự may mắn của năm mới ở trong nhà và các đền miếu… Thường người Hoa trước đây ăn tết Nguyên đán kéo dài từ nhiều ngày.

Tết nguyên tiêu: tổ chức vào 15 (rằm) tháng giêng âm lịch. Kéo dài nhiều ngày và có khi ăn tết lớn hơn têt Nguyên Đán. Ở chùa người Hoa đi lễ rất đông, nhiều người mang đến cúng các vật phẩm như vịt, heo quay nguyên con…

Thanh minh: Thường được tổ chức vào khoảng thời gian từ giữa đến cuối tháng 3 (âm lịch) hàng năm. Để tưởng niệm tổ tiên và người đã khuất, vào dịp này bà con người Hoa, cả gia đình kéo nhau ra nghĩa trang để dọn dẹp , sửa sang lại mồ mả của tổ tiên sơn vẽ các dòng chữ trên bia, nhổ cỏ… Sau đó bằng một số món ăn thường là thịt ngỗng hay thịt dê để lên mộ và cúng vái người đã khuất.

h_đoan ngọ

Đoan ngọ: Tổ chức vào ngày 5/5(al). Người Hoa còn gọi là tết trừ sâu bọ. Một số người đi hái các loại cây nấu nước uống với lòng tin sẽ trừ tà ma, độc hại hoặc treo một bó lá cây trước nhà ngăn cản tà ma xâm hại. Đây là ngày giỗ của Khuất Nguyên – một nhà thơ Trung Hoa được kính trọng.

Trung nguyên: Tổ chức vào rằm tháng 7 âm lịch, với mục đích là cúng cô hồn- đó là những người chết vô gia cư, vô thừa nhận, chết bất đắc kì tử. Người Hoa nhân ngày này để cúng cầu siêu, độ cho các linh hồn lang thang khỏi đói khát và được chuyển kiếp.

Lễ cúng được bày ngay vỉa hè trước nhà, vật cúng đơn giản gồm các loại trái cây, đậu, mía cháo và vàng mã. Cúng xong lễ vật được chia cho trẻ em và người lang thang.

Trung thu: Chủ yếu dành cho trẻ em nhưng người lớn cũng tham gia cúng trăng và vui chơi.
Người Hoa tổ chức múa lân, rước đèn lồng. Vào dịp này họ tặng bánh trung thu cho người thân bày tỏ lòng quý mến.

Trùng Cửu: Tổ chức ngày 9 tháng 9 âm lịch.

Đông Chí: Tổ chức vào giữa tháng 12 âm lịch.

Lễ vía các vị thần: Người Hoa mở lễ hội vào dịp này nhằm mục đích hồi tưởng công lao các vị thần.

Ngày 13 – 1 (âl): vía Quan công
Ngày 23 – 3 (âl): vía Bà Thiên hậu
Ngày 15 – 1 (âl): vía Ông Bổn
Ngày 9 – 1 (âl): vía Ngọc Hoàng

h_ĐB4

Múa lân – sư – rồng

Người Triều Châu lại thích múa sư tử: Họ quan niệm sư tử không những tượng trưng cho sức mạnh phi thường mà con là biểu tượng cho sự linh hoặt khôn ngoan.

Người Vân Nam–Phúc Kiến thích múa rồng: Họ cho rằng rồng là con vật thiêng, đem lại mưa thuận gió hòa cho người lao động.

Hội múa lân xuất phát từ truyền thuyết dân gian xa xưa. Ngày ấy dịch tả hoành hành làm nhiều người chết . Phật Di Lặc đã lên đỉnh núi cao, nơi con kỳ lân hung dữ giữ cỏ linh chi. Bằng nụ cười của mình Phật Di Lặc đã lấy được cỏ về chữa bệnh cho dân và thuyết phục con lân xuống giúp đỡ dân chúng.

Trong đám rước lân bao giờ cũng có ông Địa đi trước con lân. Ông Địa tay cầm quạt đi trước biểu hiện cho sự no đủ, phồn thịnh đi sau là đội nhạc công, trống chiêng rộn rã. Các điệu lân hòa cùng tiếng trống, tiếng chiêng tạo nên không khí sôi động, vui tươi đặc trưng trong lễ tết người Hoa.

Từ lâu múa lân đã trở thành môn nghệ thuật dân gian không thể thiếu trong lễ tết, hội hè của người Hoa.

Các kiểu múa lân: độc chiếm ngao đầu, song hỉ: hai con lân cùng biểu diễn, tam tinh: 3 con lân hợp múa với 3 màu đỏ – vàng- đen: mong 3 điều tốt lành: phúc – lộc – thọ.

h_dragon

Múa rồng: cần nhiều người, ít nhất 6 người:

rồng tơ
rồng tròn
rồng cứng

Múa sư tử: người múa núp kín trong sư tử giả

4. Văn hóa dân gian

– Hát sơn ca (Sán cố): thể hiện tình cảm chân thành, trong trắng của lứa đôi, tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đấu tranh chống lại sự bóc lột, áp bức của cường hào.

– Tuồng: Tuồng cổ. Tuồng của người Hoa Triều Châu, Hải Nam, Quảng Đông…

– Múa rối: gồm rối bóng và rối tàu ( rối bằng gỗ, khá lớn đôi khi to bằng người thật, được đẽo, sơn, chạm, khắc tinh vi, trang trí lộng lẫy bằng các loại lụa nhiều màu.

h_đám cưới

V. Phong tục tập quán

Người Hoa rất hiếu khách, tính cộng đồng cũng là một nét đặc trưng trong nếp sống của nguời Hoa. Cộng đồng là sức mạnh giúp họ vượt qua khó khăn, thử thách, người Hoa rất coi trọng quan hệ đồng hương, đồng tộc.

– Sinh đẻ: trong thời gian mang thai người mẹ kiêng những tác động mạnh, kiêng nhìn những tranh ảnh rùng rợn, những thứ làm nguời mẹ ghê tởm… Khi sinh đứa trẻ ra gia đình mời ông thầy tướng số đến xem số tử vi cho con mình. Trong thời kì niên thiếu đứa trẻ deo một loại bùa để bảo vệ khỏi ma quỷ…

1. Hôn lễ

Khá cầu kì , nhiều nghi lễ , nghi thức liên quan đến tín nguỡng dân gian. Việc chọn râu, rể chủ yếu do cha mẹ quyết định rồi chọn ngày tốt để tiến hành nghi lễ. Truớc đây hôn lễ phải qua 6 buớc:

Lễ dạm hỏi: Còn gọi là lễ “lạp thái” nhà trai nhờ mai mối đến nhà gái thăm dò, tìm hiểu về cô dâu và gia đình cô ấy.

Lễ vấn danh: thông qua mai mối để xem xét tên, họ, tuổi tác cô dâu, chú rể có tương hợp, có sống với nhau được hạnh phúc, bền lâu.

Lễ Nạp cát: lúc này hai gia đình đã bằng lòng. Phía nhà trai sẽ đem lễ vật sang nhà gái như: vải lụa may đồ cưới, các loại trang sức…

Lễ nạp tế: Các mai mối bàn về việc tiền hành lễ cưới, các khoản hồi môn, quyết định ngày cưới.

Lễ cưới: “Lễ thân nghinh” nhà trai tổ chức lễ rước dâu, làm tiệc đãi hai họ, mừng cho cô dâu chú rể hạnh phúc. Ngày nay người ta bỏ lễ Nạp thái, Vấn danh, Nạp cát, trai gài tự tìm hiểu, chọn bạn đời. Trong đám cưới người Hoa kiêng:

– kị tuổi
– trinh tiết cô dâu
– chỉ quan hệ tình dục sau hôn nhân
– kiêng ngày xấu như có bão nhật thực…

Japan Worlds Oldest Person

2. Lễ mừng thọ

Thường người Hoa song đến 60 tuổi: thọ, đền 70 tuổi: thượng thọ, con cháu sẽ tổ chức lễ mừng ông bà, cha mẹ. Người thọ hoặc thượng thọ sẽ ngồi trước bàn thờ tổ tiên, mặc ào dài xường xám hoặc gấm đỏ kiểu truyền thống đầu đội mũ trùm để con cháu đến quỳ lạy chúc thọ, cầu mong ông bà cha mẹ sồng lâu, mạnh khỏe.

Trong dịp này người Hoa sẽ làm một bánh hình trái đào tiên dâng tặng người thọ hoặc thượng thọ. Ngày nay nhiều người mừng thọ bằng kim khánh – là một tấm bảng gấm đỏ có hình ông Thọ mạ vàng hoặc vàng thật.

Khi nhận lời chúc mừng và quà tặng ông bà sẽ “lì xì” lại cho con cháu để lấy hên và chia sẻ may mắn.

3. Lễ tang

Những con cháu và thân bằng cố hữu của người quá cố sẽ được báo tin và tập hợp về tham dự lễ tang. Lễ tang có thể tổ chức ở nhà hoặc nơi công quán, các nhà lễ tang của các bệnh viện (Tang nhi quán).

Hấp hối: khi ông bà cha mẹ sắp chết con cháu phải đem ông bà cha mẹ đến nơi chính tẩm (nơi trang trọng nhất) đặt ngay ngắn, hỏi xem nguời đó có trăn trối gì không sau đó dùng nước sạch lau cơ thể người sắp qua đời, mặc quần áo mới, khi người chết trút hơi thở đặt ngay ngắn giữa nhà, tránh nơi thờ tự..

Người Phúc Kiến: không đậy mặt cho người chết tẩm liệm.
Người Hải Nam: dùng một chiếc khăn vuông màu đỏ để đậy mặt.
Người Triều Châu: không dùng gối để gối đầu cho người chét mà dùng hai thỏi giấy tiền vàng một đầu vàng một đầu bạc.
Người Hẹ: khi gia đình có người chết người ta thường chặt đôi chiếc đòn gánh, một đoạn ngắn bỏ vào quan tài lúc tẩm liệm, một đoạn dài dành cho người còn sống gác lên quan tài: ý nghĩa sự chia lìa

Tùy theo các nhóm địa phương mà lễ tang với các nghi thức khác nhau. Lễ tang của người Hoa được tiến hành qua nhiều bước như báo tang, phát tang , khâm liệm.., tổ chức khá ồn ào và rình rang, trước kia phải đợi cho đủ mặt con cháu người quá cố và phải chọn ngày giờ tốt mới làm lễ an táng. Thường kéo dài 5 đến 7 ngày. Các dàn nhạc thay nhau diễn tấu, thân nhân túc trực suốt bên linh cữu, người đến phúng viếng mang theo nhiều “liễn trướng” có chữ Hán tỏ lòng nhớ thương. Một số gia đình còn mời nhà sư đến tụng niệm, cầu siêu cho người quá cố. Khi động quan đưa linh cữu được chuyển đi chậm rãi thì con cháu, anh em nắm tay vào quan tài mà khóc, theo sau là bạn bè.

Người Triều Châu: Khi đám tang đi trên đường người ta rắc những thỏi vàng mã bằng giấy, tiền giấy trên đường để cản ma quỷ bu quanh người chế “nghi lễ qua cầu”; làm một chiếc cầu giấy, một con sông tượng trưng bằng một thau nước, một rương đựng quần¸ áo. Sau đó con cháu lần lượt sếp hàng theo thứ tự: con trai cầm lư hương làm động tác đi trước, lúc qua cầu người ta rắc tiền xuống cầu và sông – rửa tội cho người chết.

h_tang

Hạ huyệt: Trước khi hạ huyệt làm lễ tế thần thổ địa, trước giờ hạ huyệt người ta rắc¸ các loại đậu, khoai môn xuống huyệt .

Mở cửa mả: vào ngày thứ 3 sau khi chôn, sau khi an táng ngày nào cũng phải cúng cơm cho người chết đến 100 ngày thì thôi

Thời gian để tang: 3 năm đối với nam và 2 năm đối với nữ. Riêng người Phúc Kiến con kiêng không được cạo râu, hớt tóc, gia đình không được có tiệc vui trong thời gian để tang.

Mộ của người Hoa thường được đắp nấm hình tròn và khá cao. Phía đầu có bia đá ghi tên, họ, ngày sinh, ngày mất và người lập mộ.

Nghi lễ đáng chú ý nhất trong lễ đoạn tang của người Hoa ở Nam bộ: Lễ xả tang.

Nghi lễ này thường được tiến hành sau ngày mất một năm, là nghi lễ mang đầy chất nhân văn, thể hiện tình cảm của người sống dành cho người chết – một lễ thức vừa mang yếu tố phật giáo vừa chứa đựng yếu tố đời thường.

Nghi lễ diễn ra vào đúng 12h đêm ngay trước sân nhà của tang chủ. Chủ trì buổi lễ là một nhà sư, sau 3 tuần hương thì cúng hương, trà, rượu, nhà sư làm lễ xả tang cho tang chủ. Trước tiên làm lễ xả tang cho con trai trưởng, lần lượt tới con thứ và các cháu chắt…

Nhà sư vừa cúng vừa nhúng lược vào chậu nước, chải ngược lên đàu tang chủ vừa chải vừa khấn “qua hết rối ren, qua đi buồn đau, hãy sống xứng đáng với người chết”.

Khác với người Ê Đê, Gia Rai sau lễ bỏ mả ngưới sống không còn thờ cúng, giõ tết cho người chết nữa, nhưng với người Hoa sau lễ Xả tang họ vẫn tiếp tục thờ cúng hương khói cho người chết, nhất là dịp thanh minh thì cọn cháu dù ở xa mấy cũng phải về, nhất là con trai trưởng để thờ cúng tổ tiên và dọn mồ cho tổ tiên, cha mẹ.

Ca sĩ Lam Trường
Ca sĩ Lam Trường

Những giọng ca người Việt gốc Hoa nổi tiếng

(Theo NLĐ-‘Việt Báo-Theo 24h’)

Thị trường nhạc Việt thêm phong phú khi ngày càng xuất hiện nhiều giọng ca người Việt gốc Hoa theo đuổi nghề ca hát chuyên nghiệp. Khá nhiều giọng ca trong số họ tạo được ít nhiều ấn tượng với khán giả yêu nhạc như Sỹ Ben, Nguyễn Đức, Tú Linh, Ưng Đại Vệ (thành viên nhóm GMC), Liêu Anh Tuấn,…

Đặc biệt có những ca sĩ đã vượt lên trở thành ngôi sao, được nhiều khán giả yêu mến như Lam Trường, Lương Chí Cường, Lương Bích Hữu… Ca sĩ Lam Trường: Cung hỉ… cung hỉ.. Có nguồn gốc người Hoa Triều Châu (Trung Quốc) nên ca sĩ họ Tiêu này không khó khi thể hiện thành công những ca khúc nhạc Hoa. Những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20, phong trào hát ca khúc nhạc Hoa nở rộ chính là thời cơ để ca sĩ Lam Trường từng bước chinh phục khán giả và bước lên vị trí ngôi sao của thị trường nhạc trẻ. Anh được fan ưu ái gọi tên thân thiện là anh Hai. Cho đến nay, sau hơn 10 năm đi hát, Lam Trường vẫn giữ vững vị trí của mình là ca sĩ hàng đầu của dòng nhạc nhẹ. Hiện anh đang ráo riết chuẩn bị cho live show với chủ đề “Chuyện hôm qua”, kỷ niệm 10 năm theo đuổi nghiệp hát của mình. Anh tâm sự: Cung hỉ, cung hỉ là câu nói mà tôi thích nhất vì đem lại niềm vui cho mọi người và bản thân mình cũng vui.

Ca sĩ Lương Chí Cường
Ca sĩ Lương Chí Cường

Ca sĩ Lương Chí Cường: Gương mặt của sân khấu Tết, lễ hội 17 tuổi, Lương Chí Cường mới biết hát tiếng Việt. Ấy thế mà chàng trai 100% gốc Hoa này đã tạo nên một cú bứt phá ngoạn mục với giải nhất cuộc thi Tiếng hát Truyền hình 1996. Ca khúc Người mẹ VN tay không đánh giặc của nhạc sĩ Thuận Yến đã đưa Lương Chí Cường bước vào con đường ca hát chuyên nghiệp. Lương Chí Cường tâm sự: Gia đình tôi chẳng ai theo nghệ thuật cả nhưng không hiểu sao tôi mê ca hát đến vậy. Thấy ca sĩ Cẩm Vân, Hồng Nhung trên truyền hình hát sao hay thế và tôi bắt chước hát theo chứ cũng không hiểu hết ý nghĩa của ca khúc. Tôi quyết tâm học tiếng Việt để hát ca khúc nhạc Việt. Hát rồi thích và quyết tâm trở thành ca sĩ. Cuối cùng giấc mơ của tôi cũng trở thành sự thật”. Đúng 10 năm theo nghiệp hát chuyên nghiệp nhưng chưa bao giờ Lương Chí Cường phát hành riêng cho mình một album. Dẫu vậy, mọi người đều thừa nhận anh là một gương mặt đắt sô hiện nay. Đặc biệt là trong các dịp Tết bởi anh có nhiều tiết mục nhạc xuân được dàn dựng hoành tráng, phù hợp không khí vui xuân. Anh cho biết: Tôi thích thể hiện những ca khúc mang tính sử thi hoành tráng nên những ca khúc mà tôi chọn khá hùng hồn, sôi nổi và mạnh mẽ. Bên cạnh đó, tôi thích cả múa. Chính vì vậy, những tiết mục ca nhạc của tôi bao giờ cũng được đầu tư dàn dựng thật hoành tráng. Có lẽ đó là lý do tôi thường được mời trong các dịp lễ hội, tết. Hiện đang công tác tại Đoàn Nghệ thuật Quân khu 7 nên những chuyến biểu diễn của Lương Chí Cường thường ở tỉnh xa. cũng như nhiều ca sĩ khác, anh ao ước mình có album, live show cho riêng mình, dù cả hai chỉ dừng lại ở con số 1. Anh tâm sự: Tôi đang cố hoàn tất album đầu tay của mình sau 10 năm ca hát. Có thể 2 hoặc 3 năm nữa tôi sẽ tổ chức một live show, tôi sẽ lấy chủ đề chương trình là Việt Nam – Trung Hoa. Chương trình gồm tất cả ca khúc mang phong cách dân ca của cả 2 nước. Chủ đề này cũng chính là tình yêu của tôi đối với 2 quê hương của mình.

Ca sĩ Lương Bích Hữu
Ca sĩ Lương Bích Hữu

Ca sĩ Lương Bích Hữu: Thần tượng tuổi teen Một hình tượng tuổi teen điển hình mà Công ty Nguyễn Production quyết tâm xây dựng trên thị trường nhạc Việt là ca sĩ Lương Bích Hữu. Giọng hát tuy chưa thật nổi bật nhưng cô gái Trung Hoa Lương Bích Hữu ngày càng hớp hồn khán giả trẻ như có ma lực. Những ca khúc Cô gái Trung Hoa, Dằm trong tim, Trễ hẹn nữa rồi, Gọi tên tôi bạn thân hỡi,.. không thật đặc sắc, chủ yếu mô tả một tình cảm vu vơ tuổi mới lớn nhưng được đông đảo khán giả tuổi teen đón nhận nồng nhiệt. Live show Cô gái Trung Hoa của Lương Bích Hữu diễn ra tại sân khấu Maximark Cộng Hòa (Sài Gòn) vừa qua, đông nghẹt khán giả là một minh chứng. Sinh trưởng trong gia đình có gốc Quảng Đông (Trung Quốc), xung quanh xóm giềng cũng đông người Hoa nên đến nay, dù đã đi học tiếng Việt, hát tiếng Việt nhưng cô vẫn không thể hiểu hết nghĩa những câu nói phức tạp. Hễ rảnh rỗi, cô lại líu lo chuyện trò hết người này đến người khác. Cô cho biết đó là cách hữu hiệu để cô học thêm về tiếng Việt.

h_mua1

Ngôn ngữ và văn nghệ dân gian của người Hoa ở Thái Nguyên

(TNĐT-g/t)

Ở Thái Nguyên, những người Hoa đầu tiên đến sinh sống từ khoảng trên dưới 150 năm nay. Họ là lưu dân có nguồn gốc từ các tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc).

Họ cư trú khá phân tán trong một số huyện, thành, thị của tỉnh, đông nhất là ở Định Hóa, tiếp đến là Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Bình. Họ đến từ nhiều địa phương khác nhau và vì vậy, tiếng nói của những người trong cùng tộc người với nhau ở đây cũng có khác biệt. Bộ phận người Hoa ở Định Hóa, Đại Từ, Đồng Hỷ đôi khi nói không hiểu được nhau. Tuy nhiên, theo các nhà ngôn ngữ học, đó đều là những thổ ngữ của tiếng Quảng Đông, một phương thức của tiếng Hán và thường được gọi là tiếng Quan hỏa. Ngôn ngữ này cũng thuộc loại đơn âm, chỉ có 4 thanh điệu, nhiều âm tắc, âm sát lưỡi và âm bật hơi. Trong quá trình giao tiếp với các dân tộc anh em, ngôn ngữ của người Hoa ở Thái Nguyên đã có sự biến đổi đáng kể.

Tại nhiều địa phương, tiếng Hoa đã có sự pha trộn với tiếng Tày, nhất là ở lớp trẻ hiện nay. Mặt khác, mặc dù là dân tộc đã có chữ viết (chữ Hán) từ lâu đời, nhưng trong bộ phận người Hoa ở Thái Nguyên cũng không có nhiều người biết chữ này. Phần đông những người đọc được chứ Hán hiện nay là những người già, những người hành nghề tôn giáo học theo kiểu cha truyền con nối. Nhiều mẫu tự trong các sách cúng đã trở thành cổ tự, ít được dùng trong các văn bản hiện đại hoặc được dùng nhưng với ý nghĩa hoàn toàn khác. Một số người trẻ tuổi hiện đã và đang học chữ Hán thì chỉ học tiếng phổ thông Trung Quốc (âm Bắc Kinh) hoặc tiếng Đài Loan.

Cũng như người Hoa ở các nơi khác, người Hoa ở Thái Nguyên có một nền văn hóa dân gian khá phong phú, trong đó đáng chú ý là các làn điệu dân ca. Một hình thức sinh hoạt nghệ thuật được nhiều người ưa chuộng, nhất là đối với nam nữ thanh niên thường hát sơn ca (sán cố). Đây không chỉ gồm các bài hát ghẹo, hát ví thể hiện tình yêu nam, nữ, tình yêu quê hương, mà còn đề cao tinh thần đấu tranh chống cường quyền, chống tôn ti trật tự, lề thói lạc hậu của xã hội cũ và đấu tranh với thiên nhiên của người dân lao động. Lời hát được ghi chép thành sách hay truyền miệng lưu từ đời nọ đến đời kia, hoặc có khi được ứng khẩu tại chỗ trong những lúc lao động mệt nhọc để động viên nhau. Hát sơn ca nhiều nhất vào dịp hội mùa xuân, đám cưới, những buổi hát giao duyên kéo dài thâu đêm suốt sáng giữa gái làng này với trai làng khác hoặc ngược lại. Ngoài làn điệu sơn ca, người Hoa còn loại ca kịch, với nội dung và tính kịch phong phú, thu hút nhiều người.

Trong các ngày lễ tết, ngày hội, người Hoa thường hay tổ chức múa sư tử, múa quyền thuật và các trò chơi như vật, đánh cờ, đu… Nhạc của người Hoa cũng khá phong phú như sáo, kèn, tiêu, nhị, đàn tỳ bà, đàn tam thập lục, trống, thanh la, não bạt…

Văn học nghệ thuật dân gian truyền thống quý giá đó hiện đang ngày càng bị mai một. Tầng lớp thanh niên hiện nay ít ai biết hát sán cố, các trò múa lân, sư tử cũng ít được tổ chức, các nhạc cụ truyền thống hiện cũng đang rất khó tìm thấy trong cộng đồng người Hoa ở đây. Trong quá trình cộng cư lâu dài với các dân tộc khác, người Hoa ở Thái Nguyên đã sớm có truyền thống đoàn kết, cùng các dân tộc anh em xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.

h_hán nôm

Dân ca Việt Nam với ảnh hưởng của văn học chữ Hán

(GS. Nguyễn Xuân Kính – Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Văn Hoá)
(Nguồn: Viện Nghiên Cứu Văn Hóa-ncvanhoa.org.vn)

1. Vài nét về văn học của người Việt với ảnh hưởng của văn học chữ Hán.

Văn học Việt Nam là nền văn học của nhiều dân tộc, trong đó văn học của người Việt (Kinh) đóng vai trò rất quan trọng. Văn học của người Việt có hai bộ phận: văn học dân gian và văn học cao nhã (tức văn học viết). Văn học dân gian ra đời sớm hơn, dồi dào về số lượng, đa dạng về thể loại. Văn học cao nhã chính thức được xây dựng từ thế kỷ X trở đi. Từ thế kỷ X đến đầu thế kỷ XX, trong bộ phận văn học cao nhã, xét về mặt văn tự, có hai loại tác phẩm: một loại viết bằng chữ Hán, một loại viết bằng chữ Nôm. Các tác giả nổi tiếng như Nguyễn Trãi (1380 – 1442), Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), Nguyễn Du (1765 – 1820), Hồ Xuân Hương (thế kỷ XVIII – XIX), Cao Bá Quát (1808 – 1855), Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) đều sử dụng cả chữ Hán và chữ Nôm khi sáng tác. Cả văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm của người Việt đều chịu ảnh hưởng của văn học dân gian. Có thể dẫn ra tập truyện viết bằng chữ Hán Truyền kì mạn lục được sáng tác vào thế kỷ XVI của Nguyễn Dữ và bài thơ chữ Nôm Thác lời trai phường nón của Nguyễn Du làm minh chứng cho nhận xét này.

Văn học chữ Hán và chữ Nôm của người Việt đều chịu ảnh hưởng đậm nét của văn học Trung Quốc: từ tư liệu, điển cố văn chương, thể thơ, thể văn đến cả lối khắc bản gỗ để in sách.

Văn học dân gian của người Việt cũng chịu ảnh hưởng của văn học chữ Hán Trung Quốc, văn học chữ Hán của người Việt và văn học chữ Nôm. Trong khuôn khổ của chủ đề hội thảo, ở báo cáo này, chúng tôi chỉ bàn về ảnh hưởng của văn học chữ Hán Trung Quốc đối với thơ ca dân gian người Việt.

2. Hai dạng ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp của văn học Trung Quốc đối với thơ ca dân gian người Việt

2.1. Ảnh hưởng trực tiếp

Thơ ca dân gian người Việt (còn gọi là ca dao) được sáng tác từ rất sớm, song việc ghi chép lại mới chỉ được tiến hành từ cuối thế kỷ XVIII trở lại đây. Căn cứ vào những tài liệu đã sưu tầm được, hiện có khoảng 13.000 bài ca dao. Ca dao người Việt có khi chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc một cách trực tiếp. Thí dụ, đây là lời của một chàng trai ở Nam Bộ:

Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền
Ai hỏi đón chi đó giống in tiếng con bạn hiền
Đây anh lo phản mại kiếm tiền nuôi thân.
(1)

Hai dòng đầu của bài ca dao là hai câu thơ trong bài Phong Kiều dạ bạc (Đêm đỗ thuyền ở Phong Kiều) của Trương Kế (đời Đường), có nghĩa là: Ngoài thành Cô Tô có ngôi chùa Hàn Sơn, nửa đêm tiếng chuông vẳng đến thuyền khách. Hai dòng này gợi lên tính chất khuya khoắt về mặt trời gian và chỉ liên hệ với hai dòng sau của bài ca dao về mặt vần (thuyền vần với hiền). Có thể nói đây là trường hợp vận dụng văn học chữ Hán không thật nhuần nhuyễn, bởi vì xét cho kĩ nội dung giữa hai dòng đầu với hai dòng sau không có mối liên hệ hữu cơ. Nhiều nhà nghiên cứu đã nhận xét rằng, trong các cuộc hát đối đáp ngày trước, nhiều câu mở đầu chỉ có tính chất bắt vần đưa đẩy để cho cuộc hát không bị gián đoạn.

Ban Chiêu 班昭 (45-116)
Ban Chiêu 班昭 (45-116)

Một thí dụ khác, ở bài ca dao sau, tác giả dân gian đã sử dụng các điển tích Trung Hoa rất thành công trong việc thể hiện nội dung bài ca:

Chẳng thà em chịu đói chịu rách
Học theo cách bà Mạnh, bà Khương
Không thèm như chị Võ Hậu đời Đường
Làm cho bại hoại cang thường hư danh.
(2)

Bài ca dao đã nhắc đến nhiều điển tích văn học Trung Quốc:

Bà Mạnh: Mạnh mẫu, là thân mẫu Mạnh Tử (372 – 289 trước Công nguyên). Bà Mạnh là người hiền đức.

Bà Khương: Khương Hậu, vợ hiền của Chu Tuyên Vương. Tuyên Vương thường ngủ muộn, Khương Hậu muốn can ngăn liền bỏ trâm cài đầu, ngọc đeo tai rồi tự giam mình trong cung để chịu tội (ý nói lỗi của Tuyên Vương là do mình). Tuyên Vương cảm động, từ bỏ thói xấu, chuyên cần công việc.

Võ Hậu: Võ Tắc Thiên sinh năm 662, vợ Đường Cao Tông. Khi Cao Tông chết, bà lập và phế hai vua rồi sau tự làm vua.

Võ Tắc Thiên đại đế 武則天 (624 – 705)
Võ Tắc Thiên đại đế 武則天 (624 – 705)

2.2. Ảnh hưởng gián tiếp

Ca dao người Việt còn chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc một cách gián tiếp. Quá trình này diễn ra như sau: Lúc đầu những điển tích, tên đất, tên người của tác phẩm văn học Trung Quốc đi vào những tác phẩm lớn của văn học viết của người Việt, sau đó các tác giả thơ ca dân gian người Việt đã tiếp thu những điển tích này. Thí dụ, Kim Vân Kiều truyện là tác phẩm của Thanh Tâm Tài Nhân (đời Thanh, Trung Quốc). Tác phẩm này đã vào Việt Nam khoảng những năm 60, 70 của thế kỷ XVIII.(3) Dựa theo nó, Nguyễn Du đã viết Truyện Kiều với 3.254 câu thơ lục bát. Ca dao người Việt đã tiếp thu văn học Trung Quốc quaTruyện Kiều. Đây là bài ca dao, là lời chàng trai dặn dò người yêu hãy gìn giữ mối tình chung thuỷ:

Đất Liêu Dương anh về tang chú
Mối tình chung lặn lội lao đao
Dặn Kiều dù sóng gió ba đào
Cũng giữ lời thề non hẹn biển, chớ lúc nào lãng quên.
(4)

Còn đây là cuộc hát đối đáp thử tài văn học giữa nam và nữ:

Đồn em hay truyện Thuý Kiều
Lại đây mà giảng mấy điều cho minh
Vì đâu Kiều gặp Kim Sinh?
Vì đâu Kiều phải bán mình chuộc cha?
Vì đâu Kiều phải đi xa?
Vì đâu Kiều phải vào nhà lầu xanh?
Hoa trôi bèo dạt đã đành
Vì đâu mắc phải Sở Khanh nói lừa?
Vì đâu kết tóc xe tơ?
Vì đâu Kiều phải lên chùa làm sư?
Vì đâu Kiều gặp họ Từ?
Báo ân báo oán trả thù sạch không?
Vì đâu Kiều bị mất chồng?
Vì đâu Kiều phải xuống sông Tiền Đường
Bao nhiêu nghĩa thảm tình thương
Em ơi giảng hết mọi đường anh nghe!
– Em đây thông truyện Thuý Kiều
Em xin giảng hết mọi điều mọi tinh
Chơi xuân Kiều gặp Kim Sinh
Vì thằng hàng tấm, Kiều phải bán mình chuộc cha
Vì ba trăm lạng Kiều phải đi xa
Vì mụ Tú Bà, Kiều mắc lầu xanh
Hoa trôi bèo dạt đã đành
Sơ mưu mắc phải Sở Khanh nói lừa
Vì chàng Thúc kết tóc xe tơ
Vì Hoạn Thư, Kiều phải lên chùa làm sư
Ba năm Kiều gặp họ Từ
Báo ân báo oán trả thù đã xong
Vì lời nói, Kiều phải mất chồng
Vì Hồ Tôn Hiến, Kiều phải xuống sông Tiền Đường
Bao nhiêu nghĩa thảm tình thương
Em đã giảng hết mọi đường anh nghe.
(5)

Ban tiệp dư 班婕妤.
Ban tiệp dư 班婕妤.

Chúng tôi vừa trình bày hai dạng thức ảnh hưởng trực tiếp và ảnh hưởng gián tiếp của văn học Trung Quốc đối với ca dao người Việt. Trong thực tế có khi rất khó xác định đâu là ảnh hưởng trực tiếp, đâu là ảnh hưởng gián tiếp. Thí dụ, ca dao xứ Nghệ có bài:

Đồn đây là chốn Đào Nguyên
Trăng thanh gió mát cầm thuyền dạo chơi.
(6)

Đào Nguyên là tên ngọn núi ở phía tây nam huyện Đào Nguyên, tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc. Dưới núi có động Đào Nguyên. Về động này, trong bài Đào hoa nguyên ký, Đào Tiềm (365 – 427) có kể rằng: “Một người đánh cá ở Vũ Lăng bơi thuyền ngược dòng suối, hai bên bờ suối trồng đầy hoa đào. Đi mãi, người ấy đến một nơi có dân cư ăn mặc theo y phục đời Tần. Người ấy hỏi thăm mới biết họ tránh chế độ hà khắc của Tần Thuỷ Hoàng đến đó ở đã nhiều đời rồi và sống ở đó rất sung sướng, hạnh phúc. Người đánh cá về thuật chuyện lại với mọi người, về sau mấy lần muốn vào lại Đào Nguyên nhưng không tìm được lối vào cửa động”. Văn học cổ dùng Đào Nguyên để chỉ nơi có cảnh đẹp, người đẹp ở, để chỉ cuộc sống hạnh phúc, sung sướng, hoặc cõi tiên.(7)

Trong Truyện Kiều có điển tích này:

Chào mừng đón hỏi dò la
Đào Nguyên lạc lối đâu mà đến đây.

Tuy vậy, khó mà nói rằng nhờ có Truyện Kiều của Nguyễn Du mà các tác giả dân gian mới biết được điển tích Đào Nguyên, bởi không ít nhà nho xứ Nghệ am hiểu văn học Trung Quốc. Mặt khác, cũng không loại trừ khả năng người sáng tác lời ca dao vừa dẫn đã tiếp thu điển tích Đào Nguyên từ Truyện Kiều.

3. Kiểu tiếp thu nguyên vẹn và kiểu tiếp thu có biến cải trong ca dao người Việt

3.1. Tiếp thu nguyên vẹn

Nhiều khi ca dao người Việt chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc trong việc sử dụng các điển tích đúng như người Trung Quốc quan niệm; chẳng hạn bà Mạnh, bà Khương dùng để chỉ những người phụ nữ đức hạnh; Đào Nguyên dùng để chỉ nơi có cảnh đẹp, người đẹp ở, chỉ cõi tiên; hình ảnh cây trúc biểu trưng cho người quân tử. (Chúng tôi sẽ còn phân tích cách tiếp thu nguyên vẹn này ở tiểu mục 4 dưới đây).

3.2. Tiếp thu có biến cải

Bế Nguyệt Điêu Thuyền 貂蟬.
Bế Nguyệt Điêu Thuyền 貂蟬.

Trong những trường hợp dưới đây, ý nghĩa của các hình ảnh trong ca dao người Việt lại khác với ý nghĩa của các hình ảnh cùng tên trong văn học Trung Quốc và văn học chữ Hán Việt Nam. Trong văn học chữ Hán, rồng tượng trưng cho nhà vua, tùng, trúc, mai tượng trưng cho những người quân tử có phẩm cách cao cả. Ngược lại, trong ca dao người Việt, rồng, mây, tùng, trúc, mai là những đôi bạn tình, tượng trưng cho nam nữ bình dân người Việt:

Bây giờ rồng mới gặp mây
Sao rồng chẳng thở với mây vài lời
Đêm qua vật đổi sao dời
Tiếc công gắn bó nhớ lời giao đoan.
(8)

Đợi chờ trúc ở với mai
Đợi chờ anh ở với ai chưa chồng.
(9)

Mận chào tùng, cúc, liễu, mai
Mận chào đằm thắm một vài ba câu.
(10)

Theo thần thoại Trung Quốc, chim quạ (ô) và chim khách (thước) khuân đá lấp sông Ngân Hà tạo nên cầu Ô Thước để Chức Nữ qua gặp Ngưu Lang vào đêm mồng bảy tháng bảy âm lịch. Trong văn học, cầu Ô Thước trở thành biểu tượng tình yêu. Có khi tác giả dân gian có ý thức dùng đúng tên gọi của điển tích này:

Cầu Ô Thước trăm năm giữ vẹn
Sông Ngân Hà giữ trọn đừng phai
Sợ em ham chốn tiền tài
Dứt đường nhân ngãi lâu dài bỏ anh.
(11)

Chu Thục Chân 朱淑真.
Chu Thục Chân 朱淑真.

Cũng là thể hiện tình yêu, nhưng có khi khác, người bình dân lại dân gian hoá điển tích này:

Cầu Ô chín thước vật thường
Tìm nơi kiếm chốn, tìm đường giả ơn
Mưa sầu gió thảm từng cơn
Lấy ai chắc phận thờn bơn một bề.
(12)

Thế là với “cầu Ô chín thước” thì không còn cái ý nghĩa tên chim quạ (ô) và tên chim khách (thước) hợp lại thành tên cầu Ô Thước nữa.

Như vậy, khi chịu ảnh hưởng của văn học chữ Hán, có khi tác giả dân gian người Việt đã tiếp thu khá nguyên vẹn, có khi họ tiếp thu bằng cách biến cải. ở đây, vai trò của các trí thức bình dân người Việt là rất quan trọng.

4. Một “nghịch lý” của hiện tượng chịu ảnh hưởng văn học chữ Hán

“Nghịch lý” này thể hiện ở các vùng văn hoá với các truyền thống Nho học khác nhau. Trong tập sách của nhiều tác giả Các vùng văn hoá Việt Nam do GS. Đinh Gia Khánh và nhà thơ Cù Huy Cận đồng chủ biên, các tác giả phân Việt Nam thành chín vùng văn hoá lớn. Đó là: vùng văn hoá đồng bằng miền Bắc, vùng văn hoá Việt Bắc, vùng văn hoá Tây Bắc, vùng văn hoá Nghệ Tĩnh, vùng văn hoá Thuận Hoá – Phú Xuân (hay là xứ Huế), vùng văn hoá Nam Trung Bộ, vùng văn hoá Tây Nguyên, vùng văn hoá đồng bằng miền Nam. Thăng Long – Hà Nội có vai trò đặc biệt trong lịch sử văn hoá Việt Nam nên được xếp thành một vùng văn hoá lớn. (13)

Dương Quý Phi 楊貴妃 (719 – 756)
Dương Quý Phi 楊貴妃 (719 – 756)

Nhìn một cách khác, văn hoá của người Việt có thể chia thành ba vùng lớn hơn: Bắc (trung tâm là văn hoá đồng bằng miền Bắc), Trung (với các vùng Nghệ Tĩnh ‘còn gọi là xứ Nghệ’, xứ Huế, xứ Quảng), Nam (tức Nam Bộ).

So với các vùng khác, vùng Thăng Long – Hà Nội nói riêng và cả vùng văn hoá đồng bằng miền Bắc nói chung tiếp thu ảnh hưởng của Nho học và văn học Trung Quốc sớm nhất. Sự phát triển của nền văn hoá bác học gắn liền với sự phát triển của giáo dục. ở đây, từ năm 1070 đã có Văn Miếu và năm 1076 đã có Quốc Tử Giám, việc giáo dục Nho học có từ lâu đời và phát triển hơn các vùng khác. “Trong thời kỳ Đại Việt, số người đi học, thi đỗ ở vùng đồng bằng miền Bắc tính theo tỉ lệ dân số, thì cao hơn rất nhiều so với các nơi khác. Trong lịch sử 854 năm (1065 – 1915) khoa cử dưới các triều vua, cả nước có 56 trạng nguyên thì 52 người là ở vùng đồng bằng miền Bắc”.(14)

Vùng Nghệ Tĩnh có sự phát triển giáo dục đến mức người ta gọi đây là “đất học”. Từ đời Lý đến hết đời Lê, Nghệ Tĩnh có 1/16 số tiến sĩ toàn quốc. Từ thế kỷ XVIII, việc học hành ở nơi đây đã đuổi kịp vùng đồng bằng miền Bắc. Từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, tức là dưới triều Nguyễn, khi kinh đô được đặt ở Huế, số người đỗ tiến sĩ ở Nghệ Tĩnh chiếm hơn 1/6 tổng số tiến sĩ của cả nước.(15)

Nam Bộ là vùng đất mới, do các thế hệ lưu dân Việt trải qua vô vàn gian khổ, hy sinh cùng với người Hoa, người Khơ Me chung sức khai phá và xây dựng nên. Về giáo dục Nho học, từ giữa thế kỷ XVIII ở đây có những trường tư thục. Đầu thế kỷ XIX, nhà Nguyễn đã mở các trường công học gọi là nhà tỉnh học, nhà phủ học. Khoa thi hương đầu tiên mở vào năm 1813; khoa thi hương cuối cùng tổ chức vào năm 1862, sau đó cả Nam Bộ bị thực dân Pháp thôn tính. Trong vòng 50 năm (1813 – 1862) cả Nam Bộ có 22 khoa thi hương, tuyển chọn được 296 cử nhân; trong số cử nhân này có một số ra kinh đô Huế thi hội, trong số ra thi này có năm người đỗ tiến sĩ.(16) Như thế, Nho học ở Nam Bộ bắt đầu muộn và kết thúc sớm hơn so với Nho học ở miền Bắc và miền Trung.

Trong quá trình văn hoá Việt tiếp xúc, giao lưu với văn hoá Hán, dần dần văn hoá Việt đồng văn với văn hoá Hán, nhiều từ ngữ Hán đi vào tiếng Việt, được gọi là từ ngữ Hán Việt. Xét theo nguồn gốc, các nhà ngôn ngữ học Việt Nam phân từ tiếng Việt thành hai loại: từ thuần Việt và từ ngoại nhập ; trong bộ phận từ ngoại nhập, từ Hán Việt chiếm một số lượng rất lớn. Nếu được sử dụng đúng lúc, đúng chỗ thì từ Hán Việt sẽ “góp phần làm cho tiếng Việt trở thành phong phú hơn, với những khả năng phân biệt tế nhị hơn”.(17) Ngược lại, nếu ai lạm dụng từ Hán Việt thì người đó sẽ không thành công.

Hoa Nhị phu nhân 花蕊夫人.
Hoa Nhị phu nhân 花蕊夫人.

Trong ca dao vùng đồng bằng miền Bắc, sự có mặt của điển tích Trung Hoa là điều dễ hiểu:

Đôi bên thung cỗi huyên già
Xin người định liệu tôi đà được trông…
(18)

“Thung huyên” tức “xuân huyên”. Xuân là một thứ cây thời thượng cổ, cứ 8.000 năm mới là một mùa xuân của nó, 8.000 năm nữa mới là mùa thu của nó. Người đời sau dùng từ “xuân” để chỉ người cha, với ý mong cho cha sống lâu như cây xuân, chữ xuân hơi giống chữ thung,một thứ cây cổ thụ, rồi từ chỗ viết nhầm chữ xuân ra chữ thung, nên thung cũng dùng để chỉ người cha trong gia đình. Huyên là một giống cây cỏ, cũng gọi là vong ưu thảo, người ta cho rằng ăn nó thì giải được phiền. Theo tục Trung Quốc xưa, huyên tượng trưng cho người mẹ, người ta trồng nó ở chỗ mẹ ở. Thung huyên là cha mẹ.(19)

Như trên đã nói, Thăng Long – Hà Nội nói riêng và vùng đồng bằng miền Bắc nói chung là nơi tập trung nho sĩ, có truyền thống Nho học lâu đời và phát triển hơn các vùng khác. Vậy mà trong ca dao nơi đây ít điển cố Hán học, rất hiếm có bài mà ở đó có từ một đến nhiều dòng toàn từ Hán Việt. Trong khi đó, ca dao xứ Nghệ, ca dao xứ Huế, ca dao Nam Bộ có nhiều điển tích, nhiều từ Hán Việt hơn.

Đây là bài ca dao xứ Nghệ:

Kì sơn, kì thuỷ, kì phùng
Lạ non, lạ nước, lạ lùng gặp nhau
Tri nhân, tri diện, tri tâm
Kháp người, kháp mặt, kháp tri âm với nường.
(20)

Dòng thứ nhất (đã được dòng thứ hai dịch nghĩa) và dòng thứ ba (nghĩa là: Biết người, biết mặt, biết lòng) dùng toàn từ Hán Việt. Còn “kháp” (ở dòng thứ tư) là tiếng địa phương, có nghĩa là “gặp”.

Bài ca dao xứ Huế dưới đây sử dụng hai điển tích Lam Kiều (cầu Lam), Đào Nguyên của văn học Trung Quốc:

Đất Lam Kiều ngỡ ngàng khó bước
Động Đào Nguyên lạch nước quanh co
Trách mình không đắn nỏ đo
Rã rời duyên nợ oan chưa, hỡi trời!
(21)

Điển tích Đào Nguyên đã nhắc đến ở trên. Còn Lam Kiều là một chiếc cầu thuộc huyện Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc. Bùi Hàng là người đời Đường, gặp nàng Vân Kiều và được nàng tặng bài thơ. Bài thơ nhắc đến một người đẹp tên là Vân Anh. Về sau, Bùi Hàng đi đến Lam Kiều, nhân khát nước, ghé vào một ngôi nhà lá cạnh đường để xin nước uống. Bà lão chủ nhà gọi to một người tên là Vân Anh đem nước ra mời Bùi Hàng. Vì cảm sắc đẹp của Vân Anh, chàng Bùi lấy cớ bị mệt, xin trọ lại. Bà lão bằng lòng. Tối đến, chàng đem chuyện bài thơ ra hỏi bà lão, và ngỏ ý muốn hỏi Vân Anh làm vợ. Bà lão bảo: “Trước đây thần tiên có cho ta một thìa linh dược, cần có chày cối bằng ngọc để giã thì mới dùng được. Bao giờ người đem đủ các thứ đó lại đây, ta sẽ gả Vân Anh cho”. Bùi Hàng ra về, quyết tâm tìm mua bằng được chày cối ngọc. Khi mua được rồi, Bùi Hàng liền mang đến Lam Kiều. Thuốc tiên giã trong một trăm ngày thì xong. Bùi Hàng được cưới Vân Anh làm vợ. Hôm làm lễ cưới, chàng mới biết rằng, người tặng mình bài thơ trước đây chính là Vân Kiều, chị ruột Vân Anh. Về sau cả hai vợ chồng cùng lên cõi tiên. Lam Kiều là điển tích dùng để chỉ nơi người đẹp ở, hoặc để nói việc nhân duyên, việc trai gái gặp gỡ mà sau nên vợ nên chồng.(22)

Hoài Hoàng hậu (懷皇后).
Hoài Hoàng hậu (懷皇后).

Những dòng dưới đây giễu anh chàng hút thuốc phiện (trích từ một bài ca dao Nam Bộ), nhắc đến nhiều nhân vật trong các tác phẩm văn học của Trung Quốc (Tây du ký, Tam quốc diễn nghĩa, Đông Chu liệt quốc):

Anh ví vậy còn sai
Em thấy hoài thật quả
Hễ khi hút đã
Như Hành Giả loạn thiên
Gặp buổi hết tiền
Như Lưu Huyền chạy giặc
Em có nói một hai lời làm mặt Trương Phi
Hươi “hoả tim thương”
Dường Na Tra xuất trận
Nằm chình chòng như Tôn Tẫn xem thơ
Mắt lim dim như ông Khổng nghiệm binh cơ
Phà hơi khói như Kinh Kha oán khí
Vui thú yên hà toại chí phong lưu.
(23)

Bài ca dao xứ Huế dưới đây có hai dòng mở đầu dùng toàn từ Hán Việt:

Nhất ngôn ký xuất
Tứ mã nan truy
Người đời ai có dại chi
Khúc sông eo hẹp phải tuỳ khúc sông.

Hai dòng chữ Hán có nghĩa là: Một lời đã nói ra, cỗ xe bốn ngựa cũng không đuổi kịp. Đúng như Ưng Luận đã nhận xét, chúng “chỉ dùng để đưa vần cho hai câu dưới chứ không có liên hệ gì với ý nghĩa cả”. (24)

Bài ca dao Nam Bộ sau đây chỉ có hai dòng thôi mà đã có một dòng toàn là từ Hán Việt:

Đại mộc lưu giang bất đắc hồi cố dã
Ruộng đất mãi rồi chuộc lại ai cho.
(25)

Dòng đầu có nghĩa là: Cây gỗ lớn đang trôi trên dòng sông không thể quay lại được. Chúng tôi thấy không cần phải dẫn thêm những bài ca dao Trung Bộ, Nam Bộ khác mà ở mỗi bài đó có nhiều dòng toàn dùng từ Hán Việt (26). Trong khi đó, phần ca dao trong cuốn Ca dao ngạn ngữ Hà Nội do Hội Văn nghệ Hà Nội công bố, không có một dòng nào dùng toàn từ Hán Việt. (27)

Lạc nhạn Vương Chiêu Quân 王昭君.
Lạc nhạn Vương Chiêu Quân 王昭君.

Đó chính là “nghịch lý”: Ca dao ở vùng có truyền thống tiếp thu Nho học và văn học Trung Quốc lâu hơn, sớm hơn lại không lạm dụng từ Hán Việt, ít dùng điển tích văn học Trung Quốc hơn.

Một cộng đồng cũng như một cá nhân, nếu có bản lĩnh văn hoá cao hơn những cộng đồng và cá nhân khác trong việc tiếp thu những yếu tố văn hoá ngoại nhập thì họ sẽ sử dụng những yếu tố ấy nhuần nhuyễn hơn, thành công hơn, không sùng ngoại, không sính nói chữ. Xin nêu một thí dụ, nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện (1913 – 1997) là người xứ Nghệ. Sau khi đỗ tú tài ở Hà Nội, ông sống ở Pháp 27 năm, giỏi tiếng Pháp đến mức “Tây cũng nể”. Ông còn trau dồi và am hiểu Hán học. Thế nhưng ông không sính dùng tiếng Tây và chữ Hán. Cách dùng từ của ông là chính xác. Những từ đó, cách diễn đạt đó thường quen thuộc với người Việt. Vì vậy, những bài viết của ông vừa dễ hiểu vừa sâu sắc. (28) (*)

Chú thích:

(1) Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật đồng chủ biên (2001), Kho tàng ca dao người Việt, Nxb Văn hoá – Thông tin tái bản, Hà Nội, tập I, tr. 698
(2) Kho tàng ca dao người Việt, tập I, sách đã dẫn, tr. 468
(3) Lê Thành Lân (2006), “Truyện Kiều được viết vào cuối thời Lê – đầu thời Tây Sơn”, Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, Huế, số 4, tr. 90
(4) Kho tàng ca dao người Việt, tập I, sách đã dẫn, tr. 816
(5) Kho tàng ca dao người Việt, tập I, sách đã dẫn, tr. 964 – 965
(6) Kho tàng ca dao người Việt, tập I, sách đã dẫn, tr. 908
(7) Đinh Gia Khánh chủ biên (1977), Điển cố văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 125 – 126
(8) Kho tàng ca dao người Việt, tập I, sách đã dẫn, tr. 279
(9) Kho tàng ca dao người Việt, tập I, sách đã dẫn, tr. 989
(10) Kho tàng ca dao người Việt, tập I, sách đã dẫn, tr. 1445
(11) Kho tàng ca dao người Việt, tập I, sách đã dẫn, tr. 409
(12) Kho tàng ca dao người Việt, tập I, sách đã dẫn, tr. 409
(13) Đinh Gia Khánh, Cù Huy Cận đồng chủ biên (1995), Các vùng văn hoá Việt Nam, Nxb Văn học, Hà Nội, tr. 6
(14) Các vùng văn hoá Việt Nam, sách đã dẫn, tr. 67
(15) Các vùng văn hoá Việt Nam, sách đã dẫn, tr. 140
(16) Các vùng văn hoá Việt Nam, sách đã dẫn, tr. 195 – 196
(17) Nguyễn Tài Cẩn (2001), “Văn hoá chữ Hán và ngôn ngữ Việt Nam: vai trò của các yếu tố gốc Hán trong tiếng Việt hiện đại”, trong cuốn sách của cùng tác giả Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 431
(18) Kho tàng ca dao người Việt, tập I, sách đã dẫn, tr. 939. Bài ca dao này lưu truyền ở vùng Bắc Ninh.
(19) Điển cố văn học, sách đã dẫn, tr. 436 – 437
(20) Kho tàng ca dao người Việt, tập I, sách đã dẫn, tr. 1318
(21) Kho tàng ca dao người Việt, tập I, sách đã dẫn, tr. 815
(22) Điển cố văn học, sách đã dẫn, tr. 68
(23) Kho tàng ca dao người Việt, tập I, sách đã dẫn, tr. 981 – 982. Hành Giả (tức Tề Thiên Đại Thánh), Na Tra là nhân vật trong Tây du ký; Lưu Huyền (tức Lưu Bị), Trương Phi, ông Khổng (tức Gia Cát Lượng) là nhân vật trongTam quốc diễn nghĩa; Tôn Tẫn, Kinh Kha là nhân vật trong Đông Chu liệt quốc.
(24) Ưng Luận (1999), Ca dao xứ Huế bình giải toàn tập,Sở Văn hoá – Thông tin Thừa Thiên Huế xuất bản, tr. 163.
(25) Bảo Định Giang, Nguyễn Tấn Phát, Trần Tấn Vĩnh, Bùi Mạnh Nhị (1984), Ca dao dân ca Nam Bộ, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 487
(26) Xin xem thêm những bài ca dao đó, trong : Nguyễn Xuân Kính (2000), “Hai nét riêng của ca dao Hà Nội”, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Hà Nội, số 9, tr. 22
(27) Chu Hà, Tảo Trang, Triêu Dương, Phạm Hoà (1972), Ca dao ngạn ngữ Hà Nội, Hội Văn nghệ Hà Nội tái bản. Sách này in lần đầu năm 1971.
(28) Nhiều tác giả (1997), Tưởng nhớ nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện, Nxb Thuận Hoá, Huế.
(*) Bài viết tham gia Hội thảo Văn học chữ Hán và văn hoá dân gian châu Á do Trường Đại học Thành Công (Đài Loan) tổ chức năm 2007.

Cháu mừng tuổi ông bà sáng mồng Một ở gia đình người Hoa.
Cháu mừng tuổi ông bà sáng mồng Một ở gia đình người Hoa.

Phong tục tập quán của người Hoa ở Nam bộ

(Âu Hiền Đạt)

Trong quá trình quan hệ giao lưu giữa các dân tộc ở vùng đất Nam bộ, mặc dù, một số phong tục, tập quán văn hóa của người Hoa có sự giao thoa, gắn bó với phong tục, tập quán văn hóa của các dân tộc anh em trong cộng đồng. Nhưng ở một số nơi, người Hoa ngày nay vẫn còn lưu giữ lại một vài nét riêng của mình. Người Hoa rất chú trọng đến những điều kiêng kỵ khi cất nhà, mở cửa tiệm, cở sở buôn bán, dựng vợ gả chồng cho con cái…

Đặc biệt là việc cất nhà được bà con xem xét rất chu đáo, kỹ lưỡng. Đối với những dân tộc Á Đông, căn nhà là nơi trú ngụ quan trọng nhất của đời người, liên quan đến vận mệnh của những thành viên trong gia đình cùng việc thành bại của công ăn việc làm, buôn bán, đau yếu, bệnh hoạn – thì người Hoa càng cẩn trọng trong việc cất nhà- đến từng chi tiết nhỏ.

Khi chuẩn bị cất nhà, người Hoa xem kỹ về sách vở, phong tục tập quán, mời những người hiểu biết về thuật phong thủy xem ngày giờ khởi công. Ngôi nhà nhằm hướng tới sự trường tồn, trường thọ, phát huy dòng họ, thành đạt trong buôn bán kinh doanh… Người Hoa cho rằng không nên cất nhà trên đường nước chảy, như cống, rãnh… vì sợ gia cảnh sẽ nghèo khó, làm ăn lụn bại hoặc nếu kinh doanh phát đạt thì cũng không giữ được tiền vì tiền sẽ theo nguồn nước chảy đi… Còn có kiêng kỵ nhà phía trước lớn rồi nhỏ dần về sau – mọi thứ của cải tiền bạc sẽ bay ra hết. Nhà phải “đầu nhỏ đuôi lớn” thì mới tốt theo kiểu con heo bỏ ống để đựng tiền. Miệng nhỏ nhưng bụng to, tiền vào nhà thì dễ nhưng ra thì khó. Cửa cái nhà không được trùng khít với cửa nhà đối diện, vì nếu nhà kia làm ăn phát đạt, giàu có thì nhà mình sẽ thất bại, nghèo khó và ngược lại. Nếu vì một lý do nào đó mà họ không thể làm khác được thì treo một tấm bùa bát quái ở trước cửa nhà để khắc phục, cũng nhằm ngăn ngừa tà ma, bệnh tật và những điều xui xẻo. Nhà của người Hoa dù là mấy gian thì cũng không bao giờ thiết kế suông tuột từ nhà trước đến nhà sau, ngoài đường nhìn vào thấy tận nhà bếp, mà luôn phải có vách ngăn, trổ cửa sang bên, tránh trùng với cửa cái.

Bên cạnh xem ngày, giờ, chọn thế đất, hướng xây nhà, kết hợp cả những quan niệm lưu truyền trong dân gian, còn phải cúng thổ địa để hướng đến một ước vọng an lành, thịnh vượng, trường thọ và phát tài.

Chùa Ông Bổn (Q. 5)
Chùa Ông Bổn (Q. 5)

Người Hoa có tinh thần đoàn kết cao, tương thân tương ái trong cuộc sống cộng đồng. Họ sẵn sàng giúp đỡ cho những người có hoàn cảnh khó khăn hay bất cứ việc gì nếu có thể. Tuy nhiên, khi đang ăn cơm thì tuyệt nhiên không bao giờ bố thí cho những người hành khất. Bởi bữa cơm là trọng đại, là lúc đang hưởng thành quả lao động của mình nên không thể ban bố cho ai cả. Trong bữa cơm mà họ bố thí cho người khác, cũng đồng nghĩa với việc đem chén cơm manh áo của mình cho người khác. Trong bữa cơm, khi bới cơm người Hoa không bao giờ bới một vá cho đầy chén, bởi bới một vá chỉ dùng để cúng tổ tiên, ông bà. Nếu một vá đầu mà lỡ bới đầy chén thì họ vẫn phải giả vờ bới thêm một vài vá không nữa.

Người Hoa có những nét văn hóa, phong tục tập quán khá giống với người Việt Nam, tuy nhiên khi giao tiếp với người Hoa ta cũng nên chú ý một số điểm: không nên bắt tay quá chặt, khi chào hỏi nên chào người có chức quyền cao nhất trước, không dùng ngón tay trỏ chỉ về phía người mình muốn giới thiệu. Có thể hỏi về những vấn đề khá riêng tư khi bắt đầu làm quen, và bạn cũng không nên lẩn tránh trả lời những câu hỏi này, nhưng đừng đề cập các vấn đề chính trị, không nên có những lời phê phán.

Rồng – Loài thú huyền thoại

Là con vật đứng đầu trong tứ linh truyền thuyết, rồng là thần vật được sung bái nhất trong văn hóa tín ngưỡng của người Hoa. Khi nghiên cứu về văn hóa Trung Quốc, ta có thể bắt gặp được hình tượng con rồng ở khắp nơi: rồng trong truyện thần thoại, truyền thuyết, rồng trong các tác phẩm nghệ thuật, gốm sứ… Đối với người Hoa, những gì vĩ đại nhất, lớn lao nhất thường được gắn với rồng, nó là biểu tượng của thần quyền, đế quyền, vương quyền.

h_múa rồng

Những ngày Lễ Tết

Trong những ngày giáp Tết, người Hoa thường hay dùng lá bưởi ngâm vào thau nước dùng để tẩy rửa những vật dùng buôn bán, dùng nước này để lau bàn thờ, rửa những thứ quan trọng… Bà con quan niệm lá bưởi giúp tẩy trần những điều xui xẻo, không may mắn, đem lại phước lộc tiền tài, giúp gia đình an khang thịnh vượng. Thật ra, hiện nay ít ai giải thích được tại sao phải chọn lá bưởi mà không chọn lá khác. Chỉ biết đó là thói quen, là phong tục do ông bà truyền lại phải theo.

Giống như người Việt, người Hoa cũng cử quét nhà trong ba ngày Tết, nhưng không tuyệt đối hóa vấn đề này. Nếu nhà cửa quá dơ thì họ cũng sẵn sàng quét. Nhưng trước khi quét, người ta để dưới đất một bao lì-xì, một trái quýt rồi mới quét, quét xong lại lượm lên. Vì tiền lì-xì là tiền hên, còn trái quýt thì do đọc theo âm Quảng Đông là “cách”, đồng âm với từ “kiết” là tượng trưng cho sự cát tường, nên xem quét nhà ngày Tết như là quét tiền tài, quét những điều tốt lành vào nhà mình mà thôi.

Đêm giao thừa, hầu hết các Hội quán của người Hoa ở các địa phương đều đông đúc người. Người ta hành hương về Hội quán là để lạy tạ đất trời, thánh thần đã cho họ một năm an lành, làm ăn phát đạt để xin lộc, để cầu nguyện cho năm mới được an khang thịnh vượng. Những ngày giáp Tết, người người trong Ban trị sự Hội quán mua sẵn rất nhiều chậu bông vạn thọ để sẵn trong Hội quán, vừa để cúng kiếng, vừa để mọi người đến hái lộc, cầu may. Đặc biệt, các đội lân ở địa phương phải đến Hội quán múa để lạy tạ thánh thần trước khi đi múa phục vụ trong Tết. Người ta tin rằng nếu đoàn lân không múa ra mắt thánh thần để được điểm nhãn thì khi đi hoạt động sẽ gặp sự cố…

Tết được người Hoa chuẩn bị rất chu đáo. Họ trang hoàng nhà cửa, sắm sửa mọi thứ để đón xuân. Đặc biệt là về tiền nong trong giao dịch, buôn bán được giải quyết dứt điểm trong ngày ba mươi. Ngày Tết còn có sự họp mặt của bà con dòng họ, bạn bè thân thích,… mọi thức ăn, đồ uống đã được chuẩn bị sẵn để tiếp đãi thân bằng quyến thuộc.

Giao thừa là thời khắc thiêng liêng, được xem như là sự chuyển giao từ năm cũ sang năm mới, với hy vọng năm mới sẽ tốt đẹp hơn năm cũ. Gia đình người Hoa ít đi ngủ sớm mà thường thức để tận hưởng cái không khí ấm nồng trong cái thời khắc quan trọng này. Ba mươi Tết, người Hoa cúng thần tài, tổ tiên, ông bà và các vị thần bằng thịt gà mái. Gà trống thì cúng vào mùng hai hoặc mùng ba Tết. Khi cúng giao thừa xong, cả nhà thường quây quần bên bàn trà, bày bánh trái và trà ra, trong đó người nhỏ tuổi nhất phải rót trà ra mời cha mẹ và anh chị nhằm giáo dục con em họ phải biết kính trên nhường dưới, anh em yêu thương nhau, giúp đỡ nhau mọi chuyện. Cuộc họp mặt nói chuyện vui, bàn chuyện làm ăn – nhất là những người ở xa về… sau đó dọn dẹp đi ngủ, chuẩn bị cho buổi sáng.

h_liểng

Người lớn tuổi ngủ ít. Họ loay hoay làm lụng lặt vặt hoặc chợp mắt một chút và dậy rất sớm để chuẩn bị cúng ngày mùng Một. Khi con cháu thức đến chúc tụng để được người lớn lì-xì một phong bì đỏ, có một ít tiền tượng trưng bởi tiền tiêu Tết đã được cho vào tối ba mươi.

Người Hoa cho rằng màu đỏ là màu tốt lành, thể hiện sự may mắn. Vào ngày Tết nhà của người Hoa thường rực lên màu giấy kim hoa, hồng điều được dán từ trước cửa cho tới trong bếp. Tất cả các lu nước, hũ gạo, tủ đựng đồ, tủ quần áo, máy móc để sản xuất, dụng cụ buôn bán… đều được dán giấy hồng điều để cầu may mắn, phát tài, no ấm… Nhiều câu đối nhỏ viết bằng chữ Hán với mực đen trên giấy đỏ được dán trong nhà nội dung: Trước cửa nhà thường dán câu: “Xuất nhập bình an” hay “Ngũ phúc lâm môn”; nơi thờ thần tài, thổ địa: “Kim ngọc mãn đường”; bàn thờ ông táo: “Định phước táo quân”. Những nơi khác cũng có một số chữ như: Hũ gạo thì họ dán chữ: “Mãn”, với mong muốn gạo lúc nào cũng đầy; tủ quần áo, tủ tiền,… cũng có một vài câu chúc tụng, có khi họ dùng chữ: “Đại kiết” dán ở nơi ấy và dán lên đồ cúng như: Dưa hấu, quýt,…

Trong ngày Tết, người Hoa hay dùng nước ngọt, trà sâm, trà thanh nhiệt, trà hoa cúc hoặc những thức uống bổ dưỡng chứ ít dùng rượu bia. Lạp xưởng thịt heo ướp ngũ vị hương, loại thượng hạng là lạp xưởng ướp rượu Mai quế lộ khiến thịt săn chắc, thơm ngon. Bà con còn làm vịt lạp sấy khô, vịt bắc thảo hay giò heo hun khói bắc thảo và trứng vịt bắc thảo. Họ không bao giờ ăn khổ qua hay bí đao vào ngày Tết vì sợ năm mới lận đận, ốm đau, chuyện xui xẻo đến với họ.

Ngày Tết được người Hoa xem như là ngày hoàn hảo nhất trong năm, cho nên mọi thứ không tốt sẽ không xuất hiện trong ngày này, như: búp bê sứt tay chân, chổi cùn…, cấm trẻ em không được cãi vã nhau, không được nói tục và không được nói những điều không hên…

Quan niệm dân gian của người Hoa ở Nam bộ một số nơi vẫn có một vài điểm dị biệt, nhưng tựu trung vẫn là những quan niệm, tập quán cơ bản. Trong sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc Việt, Hoa, Khmer ở vùng đất Nam bộ, bà con người Hoa đã lưu giữ được khá nhiều nét riêng của mình giúp giữ được bản sắc văn hóa, góp phần làm giàu đẹp và phong phú thêm cho kho tàng văn hóa Việt Nam.

Trang phục đám cưới của người Hoa.
Trang phục đám cưới của người Hoa.

Lễ cưới – nét văn hóa đặc sắc của người Hoa ở Sóc Trăng

(TH-Cinet-DTV)

Cộng đồng người Hoa có những nét văn hóa đặc sắc đã góp phần làm phong phú nét văn hóa chung của công đồng dân tộc tỉnh Sóc Trăng. Một trong những biểu hiện đó là các nghi thức trong lễ cưới của người Hoa.

Người Hoa ở Sóc Trăng hiện nay có gần 80 ngàn người, sinh sống chủ yếu ở thị xã Sóc Trăng và huyện Vĩnh Châu. Cũng như các dân tộc khác, người Hoa quan niệm hôn nhân là một việc hệ trọng, có tính quyết định cả cuộc đời con người nên các nghi thức của lễ cưới được thực hiện một cách nghiêm ngặt theo truyền thống để lại. Do chịu ảnh hưởng lâu đời của phong kiến Trung Hoa và Khổng giáo nên hôn lễ của người Hoa còn được ràng buộc bởi nhiều nghi thức. Người Hoa rất trọng lễ nghĩa và trong mỗi cuộc hôn nhân truyền thống nhất thiết phải “môn đăng hộ đối” và thực hiện đủ “tam thư, lục lễ”.

Nếu được nhà gái thuận tình, nhà trai sẽ chọn ngày lành, tháng tốt sang nhà gái với một lá thư ngõ ý muốn tìm hiểu và tính chuyện trăm năm cho đôi trẻ, đem trình họ nhà gái, đây được gọi là lễ Lễ nạp thái (hay Lễ dạm ngõ). Nếu được chấp thuận, nhà trai mang các lễ vật, trà, thèo lèo…. sang nhà gái với bức hồng điều thứ hai có nội dung xin biết tuổi của người nữ muốn cưới về làm dâu, đây được gọi là Lễ vấn danh. Lễ nạp cát được tổ chức với ngụ ý báo với ông bà, tổ tiên về tuổi tác của đôi trai gái đã hợp nhau và có thể tiến hành hôn lễ. Tiếp đến là lễ hỏi chính thức được gọi là Lễ nạp tệ (nạp trưng hay nạp tài), trong lễ này, gồm những mâm lễ vật cùng nữ trang và một số tiền trình họ nhà gái cho cô dâu.

Biểu tượng chữ “Song hỷ” và Long Phụng trong đám cưới của người Hoa.
Biểu tượng chữ “Song hỷ” và Long Phụng trong đám cưới của người Hoa.

Sau đó, họ nhà trai xin họ nhà gái ngày, giờ rước dâu, nội dung được thể hiện rõ trong tấm hồng điều dự kiến ngày, giờ rước dâu (thông thường dự kiến 3 ngày để họ nhà gái tiện việc chọn ngày). Lễ thỉnh kỳ được tổ chức với lễ vật trà, rượu, bánh,… nhà trai xin họ nhà gái, ngày giờ rước cô dâu trong tấm hồng điều thứ ba. Sau khi thống nhất ngày lành, tháng tốt, hai gia đình sẽ tổ chức Lễ thân nghinh (lễ vu quy, tân hôn) cho đôi trẻ nên nghĩa vợ chồng.

Ngày nay, đám cưới của người Hoa ở được tổ chức giản tiện hơn nhưng không kém phần trọng thể. Việc cử hành hôn lễ được tổ chức phù hợp với kinh tế gia đình, không câu nệ về hình thức nhưng vẫn đảm bảo được các nghi thức trọng yếu và vẫn giữ được bản sắc văn hóa Hoa trong sự giao thoa văn hóa với các dân tộc anh em. Để đi đến hôn nhân trai gái người Hoa vẫn phải trải qua các bước chính như: lễ ăn hỏi, báo cưới và lễ cưới…

Việc chọn tuổi tác của đôi trai gái và chọn ngày, giờ tốt để tổ chức hôn lễ được người Hoa rất được chú trọng, đôi liễn đỏ dán cửa nhà cô dâu là vật không thể thiếu trong các lễ cưới của người Hoa, là những lời chúc phúc tốt lành cho sự bền chặt suốt đời cho họ nhà gái và cô dâu, chú rễ. Theo phong tục, tất cả mâm quả sẽ gồm các lễ vật: trầu cau, thèo lèo cưới, trà rượu, hai đôi đèn cầy đỏ (có hình long, phụng), đầu heo trước và cổ heo, đùi heo sau…. cùng nữ trang và một số tiền cho cô dâu tương lai…. Tất cả các loại lễ vật phải là số chẵn mới tốt. Phần mâm quả được nhà trai chuẩn bị rất chu đáo và được sắp xếp cầu kỳ, tất cả đều được che tấm vải đỏ có thêu chữ “song hỷ” bên trên. Khi đến nhà trai, cô dâu và chú rể phải thực hiện ba lễ bắt buộc: lạy trời đất, lạy tổ tiên và hai vợ chồng bái lạy nhau (bái thiên địa, bái cao đường, phu thê giao bái), rồi quay ra tiếp khách.

Đặc biệt, trong hôn lễ người Hoa còn mua một cặp gà trống, mái thật già, một cặp dừa khô để trong nhà, hay cúng một con gà luộc trong miệng ngậm cọng hành sống, chữ song hỷ màu đỏ xuất hiện rất nhiều trong những ngày cưới từ thiệp cưới, mâm quả, lễ vật và chữ song hỷ cũng được dán trong nhà, trong phòng tân hôn… Tất cả đều hướng tới một cuộc sống bình an, hạnh phúc, với hi vọng đôi trẻ sẽ sống với nhau đến răng long đầu bạc và luôn thông suốt trong tư tưởng.

Một món bánh không thể thiếu trên mâm cúng tổ tiên của người Hoa chính là bánh tổ.
Một món bánh không thể thiếu trên mâm cúng tổ tiên của người Hoa chính là bánh tổ.

Món ăn ngày tết Nguyên Đán của người Hoa

(TQ-DTV)

Tết Nguyên Đán là ngày tết quan trọng nhất và là một dịp trọng đại của người Hoa, để cầu mong có một năm mới tươi vui, làm ăn phát đạt, khỏe mạnh, gặp mọi sự tốt lành, suôn sẻ.

Người Hoa đã gửi gắm khát vọng ấy qua các món ăn ngày tết, trên mâm cỗ ngày tết của người Hoa, mỗi món ăn luôn là một lời gửi gắm thể hiện mong muốn, khát vọng có một năm mới như ý, cát tường, phát tài phát lộc.

Một món bánh không thể thiếu trên mâm cúng tổ tiên của người Hoa chính là bánh tổ. Loại bánh này tượng trưng cho”niên niên cao thăng” (năm mới tốt hơn năm cũ) hoặc “bách sự sự cao” (trăm việc đều tốt đẹp)…

Được tính toán một cách rõ ràng và có ý thức, món ăn được chế biến bằng giò heo trước (tiếng Quảng Đông gọi là “chúy xẩu”: tay con heo) với đậu phộng mang một ý nghĩa đặc biệt. Người Hoa gọi là món “hoàng chòi chầu xẩu”. Nghĩa là tiền của hoạch tài chỉ giơ tay ra là nắm ngay được, do vậy món này nhằm mong cho năm mới việc làm ăn sẽ được phát tài, dễ dàng, thuận lợi.

Người Hoa Quảng Đông vẫn gọi con tôm là “há”. “Há” đồng âm với “hí há tài xị” (cười to ha hả) nên họ có thêm món “tôm lăn bột”. Món này tượng trưng cho niềm vui tươi, tiếng cười sẽ rộn ràng, vui vẻ, chan hòa trong nhà quanh năm suốt tháng. Trong ngày tết người Hoa còn có món mì xào nổi tiếng. Họ gọi ón ăn đó là “xầu mìn” (có nghĩa là trường thọ). Năm mới ăn món này sẽ được khỏe mạnh, phúc đức, sống lâu…

Món “gà ngậm hành” là linh hồn của mâm cổ tết. Món ăn được người Hoa chế biến và trình bày một cách khéo léo. Hai cánh và hai đùi gà được bẻ ngoặt dấu gọn vào mình gà tạo nên hình dáng con gà tròn quay, ngộ nghĩnh. Sau đó, người ta cho gà ngậm ngang mỏ một túm hành lá quấn đẹp như một nhành hoa. Sở dĩ dùng hành là vì theo tiếng Quảng Đông là “chung”, đồng âm với “chung” (thông suốt). Nên ý nghĩa của món ăn này nhằm bày tỏ ước mong sang năm mới tất cả mọi việc được thông suốt, trôi chảy, tốt đẹp.

Vào ngày Tết, để trong gia đình làm ăn phát tài, người nội trợ thường nấu những món bát trân, bao gồm các nguyên liệu có tên đồng âm với niềm mong ước trong năm. Ví dụ, nấm đông cô là “tung cua” (thành tựu tốt đẹp); Tàu hủ ky là “phù chút” (phồng nổi lên); Rong đen là “pha choi” (phát tài) hay salat là “xáng choi” (có tiền)…

Đặc biệt, cứ mỗi dịt tết đến xuân về, người Hoa đồng bằng sông Cửu Long lại biếu nhau loại quít màu cam đỏ ối, vị ngọt, vỏ dày và thơm. Họ có quan niệm này do quít phát âm là “kiết”. Mà đồng âm với từ “kiết” (cát) chỉ sự tốt lành, may mắn. Biếu quít chính là lời chúc nhau làm ăn phát tài, cửa nhà vui vẻ.

Mỗi món ăn ngày tết của người Hoa không chỉ thể hiện sự thành kính, tưởng nhớ tổ tiên mà trong đó còn chứa đưng những ước mơ, khao khát năm mới tốt lành.

oOo

Khám Phá Trung Hoa: Triều Hán – Thời Kỳ Vàng Son Đầu Tiên:

 

Nhà Tần – Vương triều đầu tiên của Trung Hoa:

 

Múa Thiên Thủ Quan Âm (Thousand Hand Guan Yin):

 

Múa Tiên Nữ Bay Trên Trời (Fairs fly in sky):

 

Những điệu múa truyền thống trong các phim ảnh Trung Hoa:

 

Múa Trung Hoa:

 

Nhạc cụ dân tộc Trung Hoa – Đàn cổ tranh:

 

Nhạc cụ dân tộc Trung Hoa – Hồ Lô Ti:

 

Nhạc cụ dân tộc Trung Hoa – Đàn Tỳ bà:

 

Hái cau – Dân ca Trung Hoa:

 

Điệu múa của dân tộc Hoa tại lễ hội Genki 2012:

 

Múa Trung Hoa:

 

Múa Lân – Sư – Rồng ở Việt Nam, Phần 1:

 

Múa Lân – Sư – Rồng ở Việt Nam, Phần 2:

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s