binhdinh5_đầu bài - Copy

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Bình Định

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Để tiếp theo chuổi bài “Dân ca Miền Trung”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn “Dân ca Bình Định”.

Bình Định xưa nay vẫn luôn được coi là trung tâm của nghệ thuật Hát Bội (Tuồng). Nói tới Tuồng là người ta sẽ nhớ đến Bình Định, và nếu như muốn được xem những vở tuồng nguyên thủy của Đào Tấn, Nguyễn Văn Diêu… thì phải đến Qui Nhơn.

Bình Định còn là nơi sinh ra nhóm anh hùng áo vải Tây Sơn Tam Kiệt với bộ môn võ thuật cổ truyền Tây Sơn cùng với một hệ thống âm nhạc võ thuật độc đáo mang tên “Nhạc Võ Tây Sơn”.

Nhạc Võ Tây Sơn là nét văn hóa đặc thù của đất Bình Định xuất phát từ phong trào Tây Sơn cuối thế kỷ 18. Đây là loại võ nhạc nhằm kích thích sĩ khí của ba quân trong lúc luyện tập cũng như lúc lâm trận chiến đấu.

Tục truyền rằng, âm thanh võ nhạc Tây Sơn là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên các cuộc hành quân thần tốc bách chiến bách thắng oanh liệt của vua Quang Trung trong cuộc chiến chống ngoại xâm.

Nhạc võ Tây Sơn gồm một bộ 12 cái trống để tượng trưng cho 12 con giáp. Bộ trống được dựng thành dàn, theo thứ tự ba hàng từ lớn đến nhỏ. Người cử trống đánh cả 2 tay và cùi chỏ, cùng hai dùi trống (gọi là roi), dài khoảng 30 cm, đánh cả 2 đầu. Đưa hai tay lên múa là có thể đánh cả 4 mặt trống hay tang trống cùng một lúc.

Vào một bài trống gồm 3 hồi:

Xuất quân
Xung trận hãm thành
Ca khúc khải hoàn

Nghệ nhân đánh trống có thể khiến người nghe cảm thấy cảnh mưa rào thác đổ, khi nhặt khi khoan, khi dồn dập bức tim, khi hào hùng phấn chấn. Và đặc biệt người đánh trống vừa đánh vừa di chuyển chứ không ngồi một chỗ như nhạc công tấu nhạc.

Dưới đây mình có các bài:

– Tản Mạn Về Hát Bội Bình Định
– Nhạc Võ Tây Sơn

Cùng với 7 clips tổng hợp Dân Ca, Hát Bội, Bài Chòi Cổ Dân Gian, Nhạc Võ Tây Sơn, Trống Trận Tây Sơn, Võ Tây Sơn để các bạn cùng tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

binhdinh15

Tản Mạn Về Hát Bội Bình Định

(Võ Ngọc Uyển)

Nói về quê hương Bình Định, người ta thường nghĩ ngay đến các anh hùng liệt sĩ đã làm vang danh rạng rỡ trong lịch sử Việt nam: Quang Trung Nguyễn Huệ, Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng, Bùi thị Xuân, Ngô tùng Châu, Mai Xuân Thưởng, Tăng Bạt Hổ v.v… Nơi đó cũng là cái nôi của Võ thuật miền Trung được diễn tả đấy đủ trong câu ca dao:

Ai về Bình định mà coi
Con gái Bình định cầm roi đi quyền

Và cũng là nơi phổ biến thịnh hành tuồng Hát bội.

1. Trước tiên, danh từ Hát bội và nghệ thuật Tuồng có từ thời nhà Trần nước ta (1226-1399).

Khi quân Nguyên Mông sang xâm lược với ba trận đánh khốc liệt, Hưng Ðạo vương Trần Quốc Tuấn bắt được ông Lý Nguyên Cát người Trung hoa, ông này có tài về hát tuồng diễn kịch, giao cho tướng Trần Nhật Duật tổ chức các đội hát tuồng để ủy lạo, giúp vui cho tướng sĩ. Danh từ Hát bội có từ đó, vì cách tổ chức trình diễn theo lối bát điệu (tám mặt), hình thức tám cái sân khấu đâu lưng nhau, quay mặt ra tám hướng theo hình bát quái: Tây Bắc, chánh Bắc, Ðông bắc, chánh Ðông, Ðông Nam, chánh Nam, Tây Nam, chánh Tây. (Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Ðoài).

binhdinh1

Một đội tuồng gồm tám đoàn nhỏ, rất đông đào kép, nghệ sĩ. Tám sân khấu đều hát chung một tuồng, cùng một lúc. Hướng Tây Bắc dành cho vua, gia đình của vua và các quan đại thần thưởng lãm vì hướng này thuộc Càn tượng trưng cho Trời (Thiên tử: vua là con của Trời), các cửa sân khấu khác dành cho các hạng tùy theo thứ bậc, phẩm hàm, của các quan trong triều kể cả gia đình thứ dân, do vậy người nào cũng được xem ở bất cứ hướng nào, nên người ta gọi là hát bội. Bội là gấp lên, nhân lên, như một tấm gương phản chiếu hình ảnh khắp mọi nơi. Ví dụ: hát tuồng Cổ thành (Quan Công phò nhị tẩu) thì khi đến lớp tuồng Trương Liên lên giáo đầu (khổ đầu) thì cả tám sân khấu đều có nhân vật Trương Liêu cùng vẽ đúng một khuôn mặt, quần áo, mũ hia đều giống nhau.

Mãi về sau này, vì hoàn cảnh xã hội, vì kinh tế, người ta giản lược đi, ở triều đình chỉ còn hát tứ diện (4 mặt sân khấu) và trong dân gian, các gia đình có thế lực hay cự phú, người ta tổ chức hát lưỡng diện (hai mặt sân khấu) mới đủ khả năng kêu gọi đào kép qui tụ và tiền bạc để nuôi ăn cho nghệ sĩ (con hát). Ví dụ: Năm 1930, ông chánh tổng Ky (cha của ông Nguyễn An Thạch, bà con của anh Nguyễn An Phong) tổ chức hát bôi lưỡng diện ở thôn Càn rang xã Cát thắng, Phù cát.
Năm 1932, cụ tuần Bửu Xuyên (tức cụ Ðào Phan Duân ở thôn Biểu chánh, xã Phước hưng, Tuy phước) cũng tổ chức hát bội có hai sân khấu.

Do vậy mà ta có thể nói là hát bội chứ không phải hát bộ được. Việc tranh cãi về từ “Hát Bội” và “Hát Bộ” đã xảy ra nhiều lần, nhất là trước 1975. Có nhiều người không rõ nguyên do và lý luận
theo mỗi cách khác nhau đã biện hộ cho ý kiến của mình. Người chấp nhận chữ BỘI thì cho rằng vì các vở tuồng hát bội chỉ lấy nét chính của một tuồng tích mà dựng lớp. Một câu chuyện dài như Ngũ Hổ Bình Tây, Phản Ðường, mà chỉ lấy khoảng 10 lớp diễn là đủ cả câu chuyện nên gọi là xếp lại, gấp lại, nhân lên mà gọi là Bội. Có người còn cho rằng chữ Bội là bội bạc, các đào kép hát thường lãng mạn, có cuộc sống thiếu đạo đức hay bội phản về tình duyên, nên gọi là HÁT BỘI. Người cho chữ BỘ là đúng thì quan niệm rằng hát bộ là phải có bộ tịch, múa may, chỉ trỏ cho đúng với ý nghĩa của câu tuồng nên gọi là HÁT BỘ, hoặc cho rằng khi cụ Ðào Tấn còn làm quan, được vua cho lập bộ Ðình để trùng hưng lại môn hát bộ mà cho là Hát Bộ chứ không phải Bội. Cả hai trường hợp lý luận như vậy thì ta thấy trong nghệ thuật cải lương cũng có. Tuồng cải lương cũng diễn tả những câu chuyện Tàu, cũng lấy lớp ngắn lại và diễn xuất điệu bộ rất công phu, nhất là cải lương Hồ quảng, sao người ta không gọi là Hát Bội hay Hát Bộ?

binhdinh16

2. Nguyên nhân hát bội thịnh hành, phổ biến rộng rãi ở miền Trung và nhất là Bình Định.

Trước nhất là ông Ðào Duy Từ được gọi là ông tổ hát bội đầu tiên của Bình định. Ai cũng biết ông Ðào Duy Từ là một người có tài quân sự điều binh khiển tướng như Khổng Minh Gia Cát Lượng, ông đã tự ví mình như Gia Cát Võ Hầu nên sáng tác tập thơ “Ngọa Long Cương vãn”. Ông là người tài kiêm văn võ, rể của tể tướng Trần Ðức Hoà, cánh tay mặt của Chúa Hiền ở Ðàng Trong, Ông được phong chức Táng tương Quân vụ, người dân thường gọi ông là “Nội Táng hầu”, có câu ca dao:

Thương em, anh cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam giang
Phá Tam giang ngày nay đã cạn
Truông nhà Hồ Nội táng giới nghiêm…

Ông đã có công đắp lũy gọi là Lũy Thầy (chữ thầy là chỉ ông Ðào Duy Từ) để chống quân chúa Trịnh ở miền Bắc, nhưng ông cũng là người rất sành về ca nhạc, thi thơ, ông là con của một nữ đào hát nổi tiếng ở kinh thành Thăng long, học giỏi, tài cao nhưng không được đi thi vì là con của đào hát thuộc tầng lớp “xướng ca vô loại”, do vậy, ông đã bỏ vào Nam thi thố tài năng sở học của mình và được chúa Nguyễn trọng dụng. Ông Ðào DuyTừ đã đặt các tuồng hát bội và tổ chức những đoàn hát. Với các vở tuồng rất hay đến ngày nay vẫn còn lưu truyền: San Hậu (Ông Ðình, Ðổng Kim Lân, Khương Ninh Tá), Sơn Hà Xã Tắc, nội dung đều mang ý nghĩa phục thù, rửa hận: Nịnh thần soán đoạt ngôi vua, trung thần phò ấu chúa trốn chạy ra miền biên cương tìm căn cứ gầy dựng lại binh lực, chiêu hiền đãi sĩ để diệt chế độ do nịnh thần thống trị, cũng giống như trường hợp Nguyễn Hoàng vào Nam muốn diệt Trịnh phò Lê. Việc tổ chức hát tuồng, hát bội trở thành lợi khí chính trị vận động đồng bào miềnNam gia nhập quân đội chống lại miền Bắc, vừa giải trí giúp vui cho quân sĩ lúc xa nhà.

Ta sẽ thấy tài nghệ văn chương của ông Ðào Duy Từ ở đoạn văn hát Nam Ai sau đây của nhân vật Ðổng Kim Lân trong lúc trở về Sơn Hậu:

(Tán): Xếp ngọn ngũ lui khỏi Tạ Thành
(Chi nữa) Lên Cật Ký trông chừng San Hậu
Nam: San Hậu phản phản lối cũ
Ðoái Tạ thành (còn đọc là thiềng) lụy đổ dường mưa
Ngọn cờ, tiếng trống bơ thờ
(Mẹ, mẹ ơi, con biết liệu làm sao đây!)
Thảo thân, ngay chúa sững sờ hai vai
(Hò, họ)
Bước đường mai, phong ai chi sá
San Hậu thành đoái đã gần đây.

Tâm sự của một người tướng tài như Ðổng Kim Lân, bị Tạ Ôn Ðình bắt mẹ treo trên đầu thành, bảo Kim Lân phải đầu hàng, nỗi lòng buồn như thất trận của một vị tướng: “Ngọn cờ, tiếng trống bơ thờ” thật là não nề thê thiết. Nều đầu hàng địch là bất trung mà không đầu là bất hiếu: “Thảo thân, ngay chúa, sững sờ hai vai”. Chữ “sững sờ” thật là đắc địa không còn chữ nào thế được!

Hiện nay tại Bình định, họ Trần và họ Ðào còn dòng dõi rải rác ở các huyện Phù Cát, An Nhơn, Tuy phước.

binhdinh18

Và giữa triều Nguyễn, Bình định lại sản sinh được một kịch tác gia về tuồng hát bội là cụ Ðào Tấn ở làng Vinh thạnh xã Phước lộc, huyện Tuy phước. Ông sinh năm 1845, đậu cử nhân khoa Ðinh Mão (1867) tại trường thi Bình định. Năm 1871 được gọi ra Huế làm Hiệu thư. Thời kỳ “bốn tháng ba vua” ông bỏ về nhà tu ở chùa Linh Phong (chùa Ông Núi). Tu được ba năm thì được gọi ra làm quan, sau thăng dần làm Tổng đốc Quảng nam, Tổng đốc Nghệ an, sau cùng là Thượng thư bộ Công, thụ Hàm Vinh Quang Tử, một trong tứ trụ đại thần, Cơ mật viện, Ðông các điện Ðại học sĩ. Ông cũng là một nhà nghệ sĩ tài hoa, rất sành về kỹ thuật hát bội, đam mê nó đến nỗi khi làm Tổng đốc Nghệ an, đem theo người bạn trong làng, một nghệ sĩ hát bội, là ông đội Hiệp, thành lập một đoàn hát vừa là lính hầu, lính lệ, vừa là nghệ sĩ của đoàn hát, các người đó cũng có phẩm trật như ông Bát Phàn người làng Phú phong, sau này về hưu, lập đoàn hát bội tại Phú phong rất nổi tiếng. Ông Bát Phàn (bát phẩm) là thầy ông Cửu Vỵ ở Bình nghi, ông Bầu Ba ở Nhơn hoà. Vì vậy ở Bình định mãi về sau này từ năm 1920 đến năm 1945 nổi lên nhiều gánh hát bội rất hay, có nhiều người được phong làm Chánh ca ở tỉnh và ở huyện như: Chánh ca Ðông, chánh ca Ghình, chánh ca Ðựng…

Các tuồng do cụ Ðào Tấn sáng tác gồm có: Tân Dã Ðồn (tác phẩm đầu tay viết năm 1867), Hậu Sanh Ðàn, Trầm Hương Các, Cổ Thành, Ngũ Hổ Bình Tây (sửa lại khúc sau do cụ Tú Nguyễn Diên là thầy cụ Ðào sáng tác). Muốn sửa bổn tuồng Ngũ Hổ này, cụ Ðào Tấn phải đem lễ vật đến cúng trước bàn thờ của thầy và xin phép sửa đoạn từ công chúa Thoại Ba đưa Ðịch Thanh lên đường.

Nội dung của mỗi bổn tuồng đều hàm chưa những tâm sự, ý hướng gởi gắm của tác giả. Ông có ý hướng đả phá bọn nịnh thần Việt gian thời đó là Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải, theo Pháp để vinh thân phì gia, làm chuyện gian ác giết hại nòi giống, đồng bào không có chút lương tri. Tuồng Hộ Sanh (đỡ đẻ), nhân vật Tiết Cương là tượng trưng cho phong trào kháng Pháp như: Phan Ðình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Mai Xuân Thưởng, Trương Công Ðịnh. Nhân vật Tiết Nghĩa như những tên: Nguyễn Thân, Hoàng Cao Khải… Tuồng Trầm Hương Các (nói về Hoàng Phi Hổ đầu Châu), có ý đả phá một triều đình thối nát không còn ra thể thống quyền lực gì cả… Về mặt văn chương, những tác phẩm của cụ Ðào Tấn phải nói là trác tuyệt, mỗi câu hát Khách là những câu đối nên thơ, những câu sắp nam là những bài thơ ngắn, những lời nói lối cũng là những câu thơ nói lên nhiều tâm sự, ngọn bút sắc sảo tài tình, do vậy các vị nho sĩ, cử, tú trước kia đều ưa thích, tán thưởng. Nghệ thuật tuồng lại càng điêu luyện hơn, cách xây dựng lớp và nhân vật. Chỉ cần 5, 7 nhân vật cũng đủ làm nên một tuồng, chỉ cần 5, 7 lớp cũng đủ diễn tả một câu chuyện, ví dụ như tuồng Tân Dã Ðồn, Cổ Thành, Hộ Sanh…

Cụ Ðào Tấn mất năm 1907 (Thành Thái năm thứ 19) để lại sự nuối tiếc cho giới khoa cử bạn bè của cụ lúc đó.

binhdinh17

3. Bộ môn hát bội đến nay gần như mai một vì không được nhân dân hiện thời hưởng ứng vì nhiều lý do

Trước tiên nó không đáp ứng được trào lưu tiến hóa theo thời đại của lớp trẻ. Ðiệu hát quá khác xa với các điệu ca nhạc tân thời du nhập từ Tây phương. Lối hát Nam xuân, Nam ai, Xuân nữ, Khách, Tẩu mã, Bạch, Xướng theo điệu kèn, trống, đờn cổ xưa đã trở nên lỗi thời lạc lõng với tầng lớp nhân dân hiện nay. Vì vậy ít người thưởng thức, nếu tổ chức, những đêm hát không bán vé được bao nhiêu, không đủ tiền để nuôi nổi đoàn tuồng.Hiện nay tại Bình định, chính quyền cộng sản tỉnh có thành lập một đoàn hát bội gọi là Ðoàn tuồng Bình định, nghệ sĩ ăn lương nhà nước, nhưng cũng không đạt được yêu cầu. Các huyện cũng có các đoàn nhưng nghệ sĩ không đủ sống phải bỏ đi làm các nghề khác.

Lối hành văn trong các tuồng hát bội thường theo thể biền ngẫu, mỗi câu mỗi chữ phải đối nhau, dùng nhiều từ Hán Việt và điển tích nên rất khó hiểu, nhất là những câu hát Khách toàn là chữ Nho nên không phổ biến được, lớp trẻ bây giờ lại ít hiểu, không hiểu thì không thể nào cảm mộ ưa thích được. Ví dụ như những câu hát Khách trong tuồng Hộ Sanh Ðàn, đoạn Võ Tam Tư đề binh đi tìm bắt Tiết Cương:

Thiết mã thiên quần phi tộ tuyết
Hùng binh vạn đội bó như tinh
Lôi đình Giang Hán quân thinh chấn
Tiết thị hưu tư vọng thoát sanh

Tạm dịch:

Ngựa sắt ngàn bầy chạy như tuyết bay
Binh hùng mạnh vạn đội bày bố đông như sao
Bên bờ sông Hán thủy tiếng quân reo vang dội như sấm
Họ Tiết chớ khá nuôi ý đào tẩu.

Hay những câu nói lối của Tiết Cương:

Kinh địa từ tế tảo song linh
Triều binh phút công vi vạn đội.

Tạm dịch:

Từ khi đến đất Kinh đô tế mồ mả cha mẹ
Nay bị binh của triều đình bầy bao vây trùng điệp.

Những câu Xướng, Bạch cũng thế toàn là chữ Nho và điển tích, như Lan Anh nhớ Tiết Cương:

Khéo lôi thôi dương liễu mạch đầu
Càng thánh thót hoàng oanh chi thượng

Mỗi câu là một bài thơ Ðường, thất ngôn tứ tuyệt:

Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu
Xuân nhật ngưng trang thượng thúy lâu
Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
Hối giao phu tướng mạch phong hầu
***Khéo lôi thôi dương liễu mạch đầu

và bài:

Ðả khởi hoàng oanh nhi
Mạc giao chi thượng đề
Ðề thời kinh thiếp mộng
Bất đắc đáo Liêu Tề
*** Càng thánh thót hoàng oanh chi thượng.

Nhiều và còn nhiều lắm những trường hợp như vậy, do đó người bình dân chỉ cảm theo giọng hát và bộ tịch chứ khó thấu đáo được lời tuồng, nên sự đam mê thích thú cũng giảm đi rất nhiều. Lối hát ứ ư, ứ ự cũng đã quá lỗi thời không còn thích hợp với giới trẻ, giới thanh niên nữa.

4. Hát bội là môn nghệ thuật đi sâu vào lòng dân Bình định nói riêng và cho cả miền Trung nói chung từ Quảng trị đến Phan rang vào những năm 1975 trở về trước. Hát bội ở miền Nam cũng có nhưng thể điệu rất ngơi chậm và kéo dài, có lẽ ảnh hưởng của người Hoa.

Ở Bình định thường có câu ca dao nói rõ sự đam mê của người dân về môn hát bội:

Hát bội hành tội người ta
Ðàn ông bỏ vợ, đàn bà bỏ con

binhdinh19

Ưa thích mê xem hát bội đến nỗi đàn ông mới cưới vợ nghe có đám hát cũng để vợ ở nhà một mình, đàn bà có con nhỏ không ở nhà ru con ngủ. Mỗi lần ở làng xã có chuyện cúng tế đình miếu thần hoàng đều phải mời đoàn hát bội đến hát lễ cúng thần linh, thường chọn bổn tuồng có nhân vật Quan Công tức ông Quan Vũ – Quan Vân Trường trong truyện Tam Quốc, vì quan niệm cho rằng ông đã hiển thánh sau khi tử trận, gương trung liệt nghĩa khí của ông đã sáng ngời với ba đức tính: “Bần tiện bất năng di, Phú quí bất năng dâm, Uy vũ bất năng khuất”, mặc dù Tào Tháo trăm phương ngàn kế dụ dỗ, uy hiếp. Vì vậy các tuồng thường được trình diễn như: “Cổ Thành”: Quan công phò nhị tẩu quá ngũ quan trảm lục tướng (qua 5 ải chém 6 tướng) đoàn tụ với Trương Phi ở Cổ thành; “Hoa Dung Ðạo”: Quan Công tha Tào Tháo ở Hoa dung; hoặc “Tam Anh Chiến Lữ Bố” (Lưu, Quan, Trương đánh nhau với Lữ Bố), hoặc “Quan Công phó hội với Châu Du”. Lấy hát bội để tế lễ thần linh như một món lễ vật quí giá dâng cầu thần cho mưa thuận gió hoà, dân cư lạc nghiệp, may mắn thịnh vượng, người ta gọi là hát “thứ lễ”. Sau đó các chức sắc trong làng thường chọn các tuồng hát có tính cách tiểu thuyết, tình cảm như: Ngũ Hổ Bình Tây, Hộ Sanh, Tiết Giao đoạt ngọc, Mạnh Lệ Quân v.v…

Ở chùa chiền cũng có tổ chức hát bội, nhất là vào dịp rằm tháng bảy lễ Vu lan, trong dân gian thường có câu: “Trong chay ngoài bội” trong chùa làm lễ cúng chẩn, bên ngoài hát bội, thường hát các tuồng có điển tích liên quan đến đạo Phật như: Mục Liên Thanh Ðề, Quan Âm Thị Kính, Phạm Công Cúc Hoa v.v…

Mỗi lần có đám hát bội là mỗi lần trai gái trong làng có dịp gặp gỡ để tâm sự, trò chuyện, tán tỉnh, có cơ hội để trao đổi tình cảm. Do vậy mà dân chúng già trẻ đều ưa thích hát bội. Người nào hiểu được kỹ thuật, điệu nghệ, các thể loại của hát bội đều đam mê về tiếng kèn, nhịp trống, điệu đàn cò (còn gọi là đàn nhị), bởi nó diễn tả tình cảm: vui, giận, buồn, sợ, thương, ghét, ưa muốn (hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục) của mỗi nhân vật trong truyện tuồng mỗi vẻ khác nhau, theo tình tiết khác nhau, rất tế nhị. Lúc hùng tráng thì hát theo thể: Bạch, xướng, tẩu mã, giao ban, nói lối; lúc vui vẻ, sung sướng thì hát theo điệu: Nam xuân, nói lối, hát bài nhịp một, nhịp ba; lúc đau buồn thì hát theo điệu: Khách, nói lối. Mỗi thể loại điệu kèn, đờn, nhịp trống ăn khớp với giọng hát, câu ca, dễ làm cho người xem phải cảm động say mê. Mỗi lần có đám hát nghe tiếng trống kèn thúc giục, nhất là tiếng trống chầu đổ liên hồi làm náo nức rộn rã lòng người mà không đi được, chỉ tiếc là đến nay nó không còn thích hợp với tầng lớp trẻ nữa. Tân nhạc, phim ảnh đã thay thế làm môn giải trí thịnh hành hiện đại, nó dễ hiểu và dễ làm rung cảm lòng người, nên lần hồi môn hát bội bị thất truyền mai một. Hát bội giờ đã như một hình bóng cổ xưa, quê mùa đối với thanh thiếu niên Việt nam ngày nay, ngay cả Cải lương cũng thế.

binhdinh26

Nhạc Võ Tây Sơn:

(Thái Tẩu)

Tỉnh Bình định là nơi còn giữ được nhiều bộ môn văn hóa đặc thù như: hát bội, bài chòi, võ thuật và Nhạc võ Tây Sơn. Trong phạm vi bài này, người viết xin lạm bàn đến môn Nhạc Võ Tây Sơn.

TỪ VĂN MINH TRỐNG ÐỒNG

Bộ môn văn hóa này, theo dân thoại Bình Ðịnh gọi là “Nhạc Võ Tây Sơn” và theo nhạc pháp gọi là “Song Thủ Ðả Thập Nhị Cổ”. Ai cũng biết, sắc thái đặc biệt trong nền văn hóa cổ xưa của người Việt nổi bật hơn cả là việc dùng trống. Những cuộc khai quật đã đem đến cho các nhà khảo cổ cái trống đồng mà đặc trưng hơn cả là “trống đồng Ngọc Lũ” là chứng cớ đặc biệt của nền văn minh Việt.

“Tiếng trống từ xưa đến nay đối với dân tộc Việt Nam vẫn là hiệu lệnh để thi hành công việc tập đoàn, để báo hiệu một công việc có quan hệ chung, trống ra quân, trống ngũ liên, trống thu không, trống cầm canh… thường ở đình làng nào cũng có cái trống lớn để báo hiệu, trước khi là một công việc nghệ thuật từ trống chầu đến cầm chầu cho con hát. Vậy dụng ý của trống đồng là đại biểu uy lực của thủ lãnh quần chúng, ban hành mệnh lệnh để rồi trở nên huy hiệu của mệnh lệnh và trở nên thiêng liêng, cho đến thời quốc gia độc lập mới có đền thờ “Ðồng Cổ” như là quốc giáo” (1).

Vì vậy, ta có thể nói rằng việc chế tạo và sử dụng trống là sở trường của Văn Hoá Việt Nam, và không có chi là lạ khi ta biết rằng trong thời Tây Sơn (1788-1802) sắc thái đặc biệt nọ của văn hóa dân tộc được anh em Nguyễn Nhạc khai thác đến triệt để, thì nghệ thuật chơi trống cũng đưa đến tuyệt đỉnh

binhdinh4

ÐẾN NHẠC VÕ TÂY SƠN

Nhạc khí căn bản của nhạc võ Tây Sơn là một dàn trống do quân Tây Sơn dùng khi thao diễn quân sĩ tại võ trường, khi xuất quân cho khí thế thêm mạnh mẽ, khi thúc quân lướt tới trận mạc cho mau lẹ, khi cần hành quân tiến thối nhịp nhàng, khi hãm thành cho uy thế thêm mãnh liệt, hoặc là khi khải hoàn mà reo mừng thắng trận.

Bộ trống đúng theo kinh điển gồm 12 cái, mỗi cái mang tên một con giáp của thập nhị chi: tí, sửu, dần, mẹo, thìn… và khi học nhạc thì tên các con giáp này cũng là tên các cung bậc do tiếng trống phát ra. Ðường kính mỗi trống lớn, nhỏ khác nhau, da bịt trống thì căng chùng, thẳng cũng khác nhau nên tiếng trống cao thấp khác nhau.

NGHỆ THUẬT ÐÁNH TRỐNG

Khi đánh trống thì nghệ sĩ dùng roi trống (dùi trống), có khi bỏ cả roi trống mà chỉ dùng những ngón tay, dùng bàn tay, dùng nắm tay, dùng cùi chỏ… nghĩa là dùng đủ cả bộ phận của hai tay. Trường hợp dùng roi trống thì cứ mỗi nhịp điệu cử động của ta là ta có thể nghe được bốn âm thanh phát ra: nơi đầu roi trống (1), kéo sang đuôi roi trống (2), hạ cùi chỏ xuống (3), và bật ngửa nắm tay vào mặt trống (4). Cứ như thế mà hai tay của nghệ sĩ nhảy múa trên 12 cái trống khi lơi lả nhẹ nhàng, khi dồn dập gấp rút, khi phấn khởi khoan thai. Chỉ có hai cái tay mà đánh cả một dàn trống 12 cái nên nhạc pháp gọi là “Song Thủ Ðả Thập Nhị Cổ”.

Tuy nhiên, trong trường hợp mà nghệ sĩ vượt khỏi tầm kinh điển đến bậc siêu thặng thì ngoài 12 cái trống đặt ngay trước mặt để cho hai tay sử dụng theo đúng nhạc pháp Song Thủ Ðả Thập Nhị Cổ, hãy còn đặt thêm 5 cái trống khác ở phía sau: một cái đặt ngang nơi đầu để đầu ngả ngửa húc vào, hai cái đặt ngay hai bên hông cho hai cùi chỏ thúc vào và còn hai cái nữa thì đặt cho vừa tầm hai gót chân để đá hậu vào, vị chi là 17 cái trống. Nghệ sĩ “chơi” nổi 17 cái trống (ông Tám Ngang) thì không còn nữa, mà trước đây chỉ còn có nghệ sĩ chơi được 12 trống mà thôi. Tuy nhiên, khi nghe xem thì vẫn thấy là siêu việt.

Trước khi chơi, nghệ sĩ đi một đường quyền, bái tổ rồi mới bắt đầu đánh trống và các bản nhạc lần lượt nổi lên. Nghệ sĩ, điệu bộ hùng dũng, công lực dồn lên nét mặt, trổ ra hai tay dồn dập bên 12 cái trống xem như một nghệ sĩ đang múa đường quyền bên 12 cái trống kiểu lăng ba vi bộ nên mới gọi là nhạc võ. Nghệ sĩ chơi bộ môn này cần phải biết võ thuật và khiếu thẩm âm để sự biệu diễn tăng thêm phần ngoạn mục.

binhdinh27

NGHỆ THUẬT BỊ MAI MỘT

Những năm trước đây, không nghe ai nhắc đến “Nhạc Võ Tây Sơn” là vì một lẽ dễ hiểu. Thói đời thắng được thì là vua mà thua là giặc. Khi nhà Tây Sơn thất bại, nhà Nguyễn Gia Long chiến thắng, nhà Tây Sơn bị nhà Nguyễn tru di đến nỗi mộ phần của các Ngài cũng bị quật lên, nghiền xương tán nhỏ làm thuốc súng bắn xuống biển, các tôi trung nhà Tây Sơn đều phải mai danh ẩn tích. Thậm chí đến những cái hay của nhà Tây Sơn cũng phải dấu đi kẻo để lộ cho người khác biết được đi báo thì sẽ bị tù đày. Do đó mà di tích nhà Tây Sơn đều bị phá bỏ hết. Ðồng bào Bình Khê thương nhớ ba Ngài lén lập đền thờ mà bề ngoài cũng phải ngụy trang là miếu thờ thần. Ai có thương nhớ giữ được cái gì hay của Ba Ngài thì để bụng chẳng dám phô trương vì sợ chính quyền nhà Nguyễn mà hay được thì không tránh khỏi hậu quả khốc hại. Nhạc võ Tây Sơn cũng cùng chung cái số phận này.

Tôi cũng xin phép mở một cái dấu ngoặc tại đây để nêu lên một lý do thứ hai (Thi sĩ Quách Tấn cho biết: Ngày xưa, môn võ thuật Bình Ðịnh chia làm 4 bộ môn: côn, quyền, kiếm, cổ (trống) chứ không phải kích.

Về môn Cổ thì võ sinh thường treo lủng lẳng ngay hàng, hàng năm, muời cái trống (loại trống chầu hát bội) để tập võ. Võ sinh sẽ đánh, đá vào cá cái trống ấy. Trống bị sức mạnh đánh, đá sẽ văng ra xa và nhờ dây treo thối ngược lại. Lối tập võ bằng trống này, một là để tạo những cú đánh (đấm), đá mạnh, nặng cân hơn; hai là để tập sự nhanh nhẹn chống đỡ, tránh né. Nếu ai không tinh mắt lẹ tay thì chắc chắn sẽ bị trống thối ngược lại đập cho vỡ mặt, gãy xương.

Lần về sau, dường như con người mỗi ngày một yếu dần nên không còn ai dám tập võ bằng trống nữa mà tập bằng những bao đựng cát hoặc bằng bưởi, bòng… Từ đó, danh từ tập võ bằng trống không còn ai dám nhắc tới vì nhắc tới cũng thêm hổ thẹn với người xưa, dần dà rồi mai một.

Có người bảo Nhạc Võ Tây Sơn là biến thể của lối tập võ bằng trống này. Ðiều đó không lấy gì làm chắc. Nhưng nếu quả vậy thì nhà Tây Sơn thật là kỳ tài đã khéo khai thác từ bộ môn võ thuật chuyển sang bộ môn âm nhạc, rồi lại dùng âm nhạc mà giáo dục võ thuật, gây không khí hào hứng trong quần chúng, kích động lòng hăng say chiến đấu của các chiến sĩ bằng tiếng trống.

Ngày nay, tại Kampuchia, người ta cũng dùng trống để tập võ. Trên võ đài Miên mà thiếu tiếng trống thì võ sinh không tài nào biểu diễn được). Xin khép ngoặc lại.

binhdinh3

NHƯNG CÓ NGƯỜI CÒN GIỮ ÐƯỢC CHÂN TRUYỀN

Nhưng may thay, vận nước đổi dời, khi thực dân bị lật đổ, nhà Nguyễn cũng nhào theo thì chỉ có hai người, một ở Bình Khê (nay là Tây Sơn) và một ở Tuy Phước, tỉnh Bình Ðịnh, còn giữ được cái chân truyền ấy và xem như quốc bảo. Người ở Bình Khê là ông Tám Ngang, ông là người sử dụng được 17 cái trống, ông đem dạy lại cho ba người: hai đứa con trai ông và một người học trò. Ðứa con trai đầu chết, đứa thứ hai thì năm 1954 ở trong đoàn văn công của Việt cộng tập kết ra Bắc, còn lại người học trò kia là nghệ sĩ Tân Phong (tức Nguyễn Phong). Người ở Tuy Phước tên là ông Bầu Thơm (tức Võ Ðôn) là một ông bầu hát bội và cũng là một nhạc sư về loại nhạc hát bội, ông dạy lại một người học trò đó là nghệ sĩ Mười Thông (tức Hoàng Thông) là một nghệ sĩ hát bội và một roi trống hát bội có hạng.

Hai ông thầy vì tuổi già đã qui tiên còn lại hai người học trò trên kia, tuy không phải bậc siêu đẳng đánh nổi 17 trống, song cũng học được đúng truyền thống của nhạc pháp “Song Thủ Ðả Thập Nhị Cổ”. Trước năm 1975, ở Phù cát có anh Nguyễn Việt cũng tập đánh được 12 trống và ở Bình Khê có hai em bé gái (một em 7 tuồi, và một em 12 tuổi) do đoàn Ca Võ Nhạc Tây Sơn đào tạo cũng tập đánh được 5 trống (ngũ âm) xem rất ngộ.

Riêng Tân Phong, anh là một nghệ sĩ chơi thạo các môn như vẽ vời, ca hát, đờn địch, đắp tượng, chạm trổ, điêu khắc, viết tuồng, đóng kịch… Cái gì anh cũng thảy làm được. Nghe đâu anh cũng đã thất lộc cách đây vài năm. Xin thắp cho anh một nén hương lòng thương tiếc một người bạn tài hoa.

GIÓNG TRỐNG KHẮP NƠI

Trước năm 1975, anh Tân Phong vì mang nặng một tinh thần dân tộc nên anh sẵn sàng muốn truyền lại cho đoàn hậu bối cái quốc túy của văn hóa dân tộc, anh cũng đã thuận lời mời đi trình diễn Nhạc Võ Tây Sơn này nhiều nơi. Tôi còn nhớ:

– Ngày 8-11-1967, Hội Văn Hoá Bình Dân Sài Gòn mời anh trình diễn tại trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ tại Sải Gòn nhân có buổi lễ của cơ quan UNESCO tổ chức tại trường này.

– Ngày 11 và 12-1-1968, trình diễn tại rạp Thống Nhất Sài Gòn và sân Tinh Võ Chợ Lớn do ban Quản Trị Ðiện Tây Sơn Bình Khê tổ chức dưới sự giúp đỡ của Hội Ðức Trí Thể Dục SAMIPIC (Société pour l’Amélioration Moral Intellectuelle et Physique des Indochinois de Cochinchine) và đoàn thể Vovinam.

– Ngày 16-8-1969, trình diễn tại Trung Tâm Văn Hoá Bình Ðịnh tại Qui Nhơn nhân ngày khánh thành Trung Tâm này có sự chứng kiến của ông Quốc Vụ Khanh Mai Thọ Truyền, đặc trách Văn Hoá, ông Ðại sứ Ðại Hàn Dân Quốc và rất đông quan khách Việt Hàn Mỹ tham dự.

– Ngày 15-3-1970, được phái đoàn điện ảnh Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị thu hình và đã trình chiếu trên màn ảnh truyền hình Việt Nam vào đêm 25-4-1970 tại Sài Gòn và tại Cần Thơ, Qui Nhơn, Huế vào các đêm kế tiếp.

– Ngày 18-6-1970, được phái đoàn Ðiện ảnh Bộ Thông Tin thu hình làm phim tài liệu và sẽ trình chiếu trên các màn ảnh ciné và truyền hình.

Nghe đâu, sau năm 1975, hai em bé ở Bình Khê mà đoàn Ca Nhạc Võ Tây Sơn đào tạo năm nào nay cũng đã mang trống Tây Sơn đi đánh xứ người, được nhân dân nhiều nước tán thưởng.

Ngoài ra, hàng năm vào ngày mồng 5 Tết tại điện Tây Sơn Bình Khê, tiếng trống kích cảm của môn Nhạc võ Tây Sơn đã vang lên mở đầu cho chương trình tế lễ vua Quang Trung và lễ hội Tết đống Ða, kỷ niệm trận chiến thắng quân Thanh oanh liệt nhất trong lịch sử của vua Quang Trung Nguyễn Huệ vào mùa xuân năm Kỷ Dậu 1979.

binhdinh8

Ai có dự xem trên phim ảnh các lối đánh trống ở nước ngoài đều phải công nhận rằng nghệ thuật đánh trống của Tây Sơn thật là kỳ ảo.

Trước năm 1975, ban Phổ biến Nhạc Võ Tây Sơn lại còn biểu diễn phối hợp giữa Nhạc võ Tây Sơn và Võ thuật Bình Ðịnh bằng cách khi nhạc võ nổi lên thì các võ sinh nam nữ ở bên ngoài đi những đường quyền, những đường côn, siêu, đao… múa, đá, tọa, nhảy nhịp nhàng theo tiếng trống và đờn, kèn, xụp xõa, mõ phụ họa xem chẳng khác chi những corps de ballet của Tây phương.

BÀI BẢN NHẠC VÕ

Vì mang danh là nhạc võ nên bài bản phần nhiều cũng mang tính chất quân sự như bài: Khai Trường, Xuất Quân, Hành Quân, Hãm Thành, Khải Hoàn.

Nhạc võ Tây Sơn, muốn biểu diễn đúng theo truyền thống và xem cho đẹp mắt thì trước hết, đi đầu là bộ phận của chiêng, trống, có quân hầu, lọng che; theo sau là hai toán quân (mặc áo cạp nẹp, chân quấn vòng ve, đầu đội nón dấu, tay cầm đao, kiếm, côn…) rồi đến giàn Nhạc Võ đặt trên một chiếc xe đẩy (Nhạc trưởng đứng giữa, hai bên là bốn nhạc công: đờn, kèn, xụp xõa, mõ phụ họa); sau rốt là vị tướng chỉ huy lẫm liệt trên mình voi hoặc ngựa.

Bắt đầu biểu diễn, vị tướng kêu gọi:

Ngoài biên thùy quân thù xâm lấn
Trong nội tình đất nước lâm nguy
Phận làm trai sinh tử nẹ chi
Quyết một dạ lên đường cứu quốc!

Nhạc trưởng tiếp theo

Anh em ơi!

(Toàn thể nhạc công) “Dạ”

Lệnh trên đà ban xuống
Phận dưới phải thi hành
Dùng kế mưu kích cổ đa thanh
Ðịch lầm tưởng hùng binh vạn đội

Ðằng trước khởi chinh cổ, giàn nhạc võ nổi lên và lần lượt theo các bài bản do vị tướng chỉ huy.

1. Bài Khai Trường

Bài Khai Trường chỉ dùng để luyện tập quân sĩ hay chào mừng các vị tướng chỉ huy khi cần đến diễn võ trường. Ðiệu nhạc khoan thai, hùng dũng. Thuở xưa, mỗi dịp có vị Hoàng đế hay vị Nguyên soái đến diễn võ trường để mở một cuộc diễn võ, tập võ hay là chọn tướng sĩ thì khi vị ấy bước vào võ trường, mỗi xứ có một điệu nhạc riêng để chào mừng nhà lãnh đạo. Riêng đối với quân Tây Sơn, điệu nhạc đó là ba hồi trống khai trường. Nhưng mà nhạc hát bội thường chỉ có hai cái trống căn bản gọi là “trống âm”“trống dương” hay “trống quân”“trống chiến”. Nếu người ta biết rằng hát bội ngày nay là do cụ Ðào Tấn ở Bình Ðịnh lập thành qui chế, thì phép đánh trống của hát bội cũng đánh nhái theo điệu Khai Trường của Nhạc Võ Tây Sơn.

Trống Khai Trường của hát bội phải đánh đúng ba sách, mỗi sách tám phách. Khi đánh đúng 24 phách, nhạc sĩ mở ra thành trống chiến và chờ cho trống quân gióng giáp ba hồi lại 9 tiếng thì người trống chiến phải thét theo. Khi thét xong, nghĩa là khai trường xong thì nhạc sĩ mở trống ra cho nghệ sĩ ra sân khấu. Lúc đó thì người hát hát thứ gì, nam, khách hay xuân… thì người đánh trống phải đánh theo thứ ấy. Nhưng thường người đánh trống chỉ được quyền đánh khi người nghệ sĩ trên sân khấu đã “thủ”“vĩ”. Nếu người đánh trống tự ý đánh theo, gọi là đánh nhái.

Nói về bài bản của nhạc hát bội thì có 8 bài kể từ bài nhịp một đến nhịp tám còn âm thanh hay hoặc dở tùy theo người nhạc sĩ bắt già hay non mà thôi.

binhdinh11

2. Bài Xuất Quân

Xuất quân có nghĩa là đem quân đội ra chiến trường, nó có nghĩa là khởi hành và bao giờ khởi hành thì điệu nhạc phải làm sao cho tinh thần chiến sĩ phấn khởi lên, hăng hái lên và cũng phải gây cho được trong lòng mọi người một niềm tin chiến thắng. Do đó, nhạc xuất quân của Nhạc Võ Tây Sơn theo điệu này là một điệu nhạc hùng, nhịp của nó càng nhặt làm cho tim mọi người đập càng lúc càng mau, nghe hăng hái, phấn khởi.

3. Bài Hành Quân

Ta tưởng tượng một đạo quân hùng hậu đã xuất quân trong tình thần tối cao nhưng mà sau một khúc đường dài chắc hẳn cũng đã thấy mệt mỏi. Trong lúc ấy vị tướng chỉ huy chỉ kêu gọi nầng cao tinh thần suông, chúng ta có cảm tưởng rằng lời kêu gọi ấy không được đáp ứng. Trái lại, nếu lời khuyến khích là một lời êm ái, dịu dàng, có vẻ vui vẻ, có vẻ đùa cợt … thay vì đem lời hùng hồn thì đem lời an ủi êm ái, chắc có lẽ kết quả sẽ hay hơn.

Ðọc truyện Tàu, chúng ta còn nhớ lúc Quản Di Ngô ngồi trong cũi để được đưa về nước Tề thì thấy các quân khiêng cũi hơi mệt mỏi nên Quản Di Ngô bèn đặt ra những bài ca, bài hát để cho quân sĩ đi theo nhịp bài ca mà quên mệt mỏi. Còn trong dã sử của Tây Sơn, người Bình Khê thường thuật lại rằng: Khi quân Tây Sơn đi ra Thăng Long ngày đêm không nghỉ phải hai người võng một người thì tránh sao khỏi cái việc khiêng liên tiếp mười mấy ngày, quân Tây Sơn cũng có thể mệt mỏi, và huyền thoại truyền rằng vua Quang Trung mới bày ra chuyện thi đua kể chuyện tiếu lâm để cho quân sĩ hào hứng quên sự mệt mỏi và, chúng tôi cũng tin rằng không biết chừng dàn trống của Nhạc Võ Tây Sơn lúc ấy lại trổi khúc hành quân nhằm mục đích giống như mục tiêu của việc thi đua kể chuyện tiếu lâm trên kia.

Khúc nhạc này của Nhạc Võ Tây Sơn cũng diễn tả được cái ý nghĩ đó. Khúc nhạc này có đoạn nhạc sĩ chỉ đánh thuần bằng tay không, bằng những ngón tay, bàn tay, nắm tay và cùi chỏ nghe rất vui tai và xem đẹp mắt.

binhdinh14

4. Bài Hãm Thành

Bây giờ chúng ta lại tưởng tượng tiếp như đoàn quân Tây Sơn đã đến dưới chân thành và vị tướng chỉ huy đã ra lệnh hãm thành thì phận sự của nhạc sĩ sử dụng giàn trống là phải gây cho chiến sĩ một tinh thần nỗ lực tối đa để công phá thành trì hầu cướp được cho mau lẹ. Ðiệu nhạc này nghe thật là sôi nổi, dồn dập, kích động tối đa lòng dũng cảm của mọi người.

5. Bài Khải Hoàn

Và sau cùng là bài Khải Hoàn. Ðiệu nhạc này dĩ nhiên âm thanh phải diễn đạt cho được sự vui mừng, phấn khởi, hò reo của kẻ chiến thắng.

Ai đã có nghe xem Nhạc Võ Tây Sơn sẽ nhận rõ điều đó. Tôi nói nghe và xem vì Nhạc Võ Tây Sơn xem đã đẹp mắt mà nghe cũng vui tai. Ðiệu bộ và âm thanh hòa nhịp khi khoan, khi nhặt, khi bổng, khi trầm, khi lơi lả, lúc dồn dập thật là khó tả.

binhdinh9

TÂM TÌNH NGƯỜI VIẾT

Người viết bài này hân hạnh trước đây đã có mặt trong tất cả các buổi trình diễn Nhạc Võ Tây Sơn, nhưng không có lần nào mãn nguyện. Bởi lẽ, theo người viết, bộ môn văn hóa này cần phải được chấn hưng và trình diễn theo đúng truyền thống. Thế nhưng từ trước đến giờ, về mặt chính quyền thì ít để ý đến, mặc dù trên thực tế đã công nhận nó là hay và siêu việt nhưng không đật thành kế hoạch để chấn hưng. Còn nghệ sĩ thì vì thiếu sự để ý, đề cao của chính quyền, nên mặc cảm bị bỏ rơi, phần thì bận rộn sinh kế làm ăn nên cũng không công đâu tập luyện. Cho nên trong tất cả những lần trình diễn, người nghệ sĩ đều ở trong tình trạng bị “bắt cóc”, chẳng khác nào bắc nước sôi rồi mới đuổi gà nên không tránh khỏi sự lụp chụp vì thiếu chuẩn bị, thiếu tập dợt; nghệ sĩ nhớ được ngón nào học được của ngày trước thì trổ ra ngón ấy chứ không có thì giờ xét duyệt lại, tập tành thêm cho hay, cho hoàn mỹ và thường chỉ trình diễn thuần việc đánh trống, thiếu phần phụ họa.

Người viết xin mạn phép ước mơ mà đề nghị với nhà hữu trách Việt Nam sau này, nặng tình với Văn Hoá Dân Tộc, nếu xét thấy bộ môn Nhạc Võ Tây Sơn là một quốc túy và có một giá trị lịch sử huy hoàng thì cần phải đật kế hoạch cụ thể để bảo tồn và phát huy. Tìm kiếm những nghệ sĩ nào còn giữ được chân truyền bộ môn này, truyền lại cho đoàn hậu tấn.

Ngày xưa, “Người Việt đã nghe tiếng gọi của Trưng Trắc, Trưng Nhị mà chống lại Tô Ðịnh muốn lấy luật pháp mà trói buộc; đã mười năm gian khổ theo Lê Lợi để khỏi phải bím tóc và kết đuôi sam giống người Minh; đã cùng Nguyễn Huệ đánh trống tiến quân vào Thăng Long để đuổi đám tướng binh nhà Thanh nhiễu loạn cuộc sống của dân chúng. Và chắc chắn mãi mãi về sau này, dân tộc Việt Nam còn thì văn hóa dân tộc Việt Nam cũng vẫn có, và vẫn còn cái tinh thần bất khuất để bảo vệ nền văn hóa của dân tộc” (2). Bởi vì tiếng trống Lạc Việt luôn luôn mang nặng tình tự dân tộc và văn hóa Việt Nam không bao giờ thiếu vắng tiếng trống đặc trưng đó.

Chú thích:

(1) Lịch Sử Tư Tưởng Việt Nam của Nguyễn Ðăng Thục, Tủ sách Viện Khảo Cổ, Bộ VH xuất bản 1967
(2) Văn Hóa Dân Tộc trước những Nhu Cầu của Ðất Nước của GS Trần Ngọc Ninh. Lạc Việt xuất bản 1969

oOo

Khúc ca Bình Định (tổng hợp các thể loại truyền thống):

 

Hát Bội Bình Định:

 

Hát Bội Bình Định:

 

Bài Chòi Cổ Dân Gian Bình Định:

 

Giới thiệu Nhạc Võ Tây Sơn Bình Định:

 

Trống trận Tây Sơn:

Võ Tây Sơn – Bình Định – Những thế võ bí truyền:

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s