Tân Nhạc VN – Ca khúc Vượt Thời Gian – “Hận Đồ Bàn”, “Khúc Hát Ân Tình”, “Duyên Tình”, “Về Dưới Mái Nhà”, “Nhạt Nắng”, “Chờ Một Kiếp Mai”, “Mong Chờ”, “Trăng Khuya”

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn các ca khúc “Hận Đồ Bàn”, “Khúc Hát Ân Tình”, “Duyên Tình”, “Về Dưới Mái Nhà”, “Nhạt Nắng”, “Chờ Một Kiếp Mai”, “Mong Chờ”, “Trăng Khuya” của Nhạc sĩ Xuân TiênNhạc sĩ Xuân Lôi.

Nhạc sĩ Xuân Tiên là một trong những nhạc sĩ có nhiều đóng góp cho nền Tân Nhạc Việt Nam giai đoạn 1954-1975. Ngoài sáng tác nhiều bản nhạc có giá trị được nhiều người yêu thích như “Hận Đồ Bàn”, “Khúc Hát Ân Tình”, “Về Dưới Mái Nhà”, “Chờ Một Kiếp Mai”,… thì ông còn có khả năng sử dụng 25 loại nhạc cụ.

Ông sinh ngày 28 tháng 1 năm 1921 tại Hà Nội. Năm 6 tuổi, ông bắt đầu học nhạc Trung Hoa với cha ông và sau này học nhạc phương Tây với người anh cả. Năm lên 10, ông còn được cha ông thuê người dạy tuồng và nhạc cải lương. Thời gian ban đầu khi còn ở miền Bắc, ông chơi chủ yếu là các loại kèn sáo phương Tây.

Nhạc sĩ Xuân Tiên.
Nhạc sĩ Xuân Tiên.

xuantien_Hận Đồ Bàn

xuantien_Hận Đồ Bàn1

xuantien_Hận Đồ Bàn2

xuantien_Khúc hát Ân Tình1

xuantien_Khúc hát Ân Tình2

Cuối năm 1942, ông cùng anh trai là Nhạc sĩ Xuân Lôi theo gánh cải lương Tố Như vào miền Nam trình diễn ở Sài Gòn và lục tỉnh. Trong quá trình đi trình diễn nhạc và sinh sống ở nhiều miền, ông đã thu thập được kiến thức về các loại hình nhạc của các miền khác, chủ yếu là miền Trung. Ông còn tìm hiểu về nhạc của Lào và Campuchia.

Năm 1952, cả gia đình ông vào Sài Gòn sinh sống bằng nghề nhạc cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Giai đoạn 1944-1975, ông được mời điều khiển nhiều dàn nhạc nổi tiếng từ Bắc vào Nam: Hà Nội (1944-1946), Nam Định (1951-1952) và Sài Gòn (các Đài Phát Thanh gồm Pháp Á, Sài Gòn, Quê Hương, Mẹ Việt Nam; 1952-1975).

Năm 1986, ông được bảo lãnh sang Úc. Mười năm đầu ông sống tại Canberra, sau về ở Cabramatta, ngoại ô Sydney từ đó cho đến nay.

xuantien_Chờ Một Kiếp Mai1

xuantien_Chờ Một Kiếp Mai2

xuantien_Chờ Một Kiếp Mai3

xuantien_Nhạt Nắng1

xuantien_Nhạt Nắng2

xuantien_Nhạt Nắng3

Nhạc sĩ Xuân Tiên có khả năng sử dụng 25 loại nhạc cụ, cả phương Đông lẫn phương Tây. Ông còn có thể sử dụng hầu hết các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam, Thái Lan, Lào và Campuchia. Ông cùng người anh, NS Xuân Lôi, đã cải tiến và sáng tạo một số nhạc cụ mới. Ngoài ra ông còn sáng tác tập thơ “Trên Kiếp Hoa” được nhà xuất bản Ba Vì, Canada in năm 1997.

Sáo trúc cổ điển thường chỉ có sáu lỗ. Ông cùng NS Xuân Lôi cải tiến loại nhạc cụ này thành hai loại 10 lỗ và 13 lỗ có khả năng chơi được nhiều âm giai khác nhau. Người chơi sáo 10 lỗ cần dùng 10 ngón tay và có thể chơi tất cả những bán cung, vì thế sáo không bị giới hạn trong bất cứ âm giai nào. Sáo 13 lỗ dùng để tạo ra những âm thanh thấp hơn khi cần. Hiện hai loại sáo này đang được trưng bày tại Musée de l’Homme, Paris, Pháp.

Ông có cây đàn bầu có thân là bằng trái bầu dài làm hộp khuếch âm. Đàn này đã nhiều lần được đem đi triển lãm ở Úc, thường được gọi là “Đàn Bầu Xuân Tiên”. Tuy nhiên, thực tế đàn bầu là nhạc cụ cổ truyền vốn có của Việt Nam, còn cây đàn mà ông tự chế được gọi là “Đàn Xuân Tiên”, được ông làm vào năm 1976 thời còn ở Việt Nam. Cần dùng cả hai tay để gảy cây đàn có 60 dây này, từ đó có thể chơi được tất cả mọi cung bậc. Tiếng đàn tương tự tiếng đàn tranh nhưng mạnh và chắc hơn.

xuantien_Về Dưới Mái Nhà1

xuantien_Về Dưới Mái Nhà

Nhạc sĩ Xuân Tiên sáng tác từ trước 1945, tức ông thuộc thế hệ các nhạc sĩ tiền chiến, với các ca khúc “Chờ Một Kiếp Mai” (chung với Ngọc Bích) và “Trên Kiếp Hoa” (1939-1942). Ông chủ trương đào sâu vào nhạc Việt, dùng kỹ thuật và nhịp điệu phương Tây nhằm cải tiến và làm giàu nền nhạc của mình. Ông chú trọng giai điệu và thể điệu của bài hát, yêu thích âm hưởng lạc quan yêu đời, ca ngợi quê hương dân tộc và nếu có buồn thì cũng chỉ là chớm buồn. Ông cho rằng quan trọng nhất là khi sáng tác phải “hoàn toàn không giống ai”.

Ông nhận xét đa số các ca khúc của mình mang âm hưởng miền Bắc và miền Trung, có một số ít là miền Nam (“Cùng Một Mái Nhà”, “Khúc Nhạc Đồng Xanh”, “Đất Việt”). Bài hát nổi tiếng nhất của ông là “Khúc Hát Ân Tình”, được sáng tác sau Hiệp định Genève 1954 trong bối cảnh nhiều người dân miền Bắc di cư vào Nam sinh sống. Bài hát kêu gọi mọi người dù là từ miền nào thì cũng hãy sống thân ái với nhau, đồng thời cũng ngợi ca tình yêu không phân biệt Bắc-Nam. “Hận Đồ Bàn” (ký chung với Lữ Liên) là bài hát mà tác giả đặt mình vào địa vị một người dân Champa, có nội dung ai oán về sự kiện kinh đô Đồ Bàn của nước Champa bị binh lực Đại Việt dưới trướng vua Lê Thánh Tông phá hủy vào năm 1471. Đầu thập niên 1970, bài này từng bị Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cấm biểu diễn công khai do ông tin rằng bài hát có “tác động siêu nhiên thâm hiểm có thể dẫn đến sự sụp đổ của nền cộng hòa”. Ca sĩ Chế Linh (người Champa) hát bài này nhân đó cũng bị cấm biểu diễn công khai.

Năm 2006, những đóng góp có giá trị của nhạc sĩ Xuân Tiên cùng với hai nhạc sĩ Thanh Sơn và Nguyễn Ánh 9 đối với nền Tân Nhạc Việt Nam được vinh danh trong chương trình Paris By Night 83: “Những Khúc Hát Ân Tình” của Trung Tâm Thúy Nga.

xuantien_Trăng Khuya

Về chuyện nhạc phẩm “Duyên Tình”

Trước đây từng có việc tranh cãi rằng ai là tác giả của bài hát “Duyên Tình”. Tuy bài này được ký tên chung là “Xuân Tiên & Y Vân” nhưng theo NS Xuân Tiên thì ông khẳng định toàn bộ nhạc và lời đều của ông. Việc ký tên chung là do ông nhờ Y Vân bán hộ bài này nhưng nhà xuất bản yêu cầu phải ký tên chung để Y Vân có thể lĩnh tiền về. Do là bạn bè với Y Vân nên ông đồng ý. Riêng về phía gia đình Y Vân, nhạc sĩ Y Vũ (em Y Vân) cho rằng “Duyên Tình” là tác phẩm do Xuân Tiên và Y Vân viết chung. Hai ông không chỉ là đồng tác giả của “Duyên Tình” mà còn viết chung bài “Về dưới mái nhà”.

Bà Trần Thị Minh Lâm (vợ Y Vân) cho hay rằng trong nhà bà, “ai cũng biết đó là nhạc phẩm của Y Vân” và sau khi nhạc sĩ Y Vân qua đời, “nhiều hãng băng đĩa đã phát hành bản nhạc này và họ cũng chỉ ghi một tên tác giả là Y Vân”. Nhà bà không có bản gốc của bài “Duyên Tình” nên không rõ liệu có tác giả thứ hai hay không, nhưng sau khi tham vấn nhạc sĩ Thanh Sơn và ca sĩ Ngọc Cẩm (vợ nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết) thì nhà bà được biết bài này là của Y Vân. Vợ Y Vân cho phóng viên báo Thanh Niên của Việt Nam xem danh sách 92 ca khúc Y Vân do Cục Bản Quyền Việt Nam cấp tại Hà Nội ngày 30 tháng 9 năm 1995, trong đó ghi “Duyên Tình” là của Y Vân, còn “Về Dưới Mái Nhà” và “Đường Đi Đối Về” là sáng tác chung với Xuân Tiên. Sau khi tờ Thanh Niên đăng tải bài báo này, có đọc giả đã mang bản nhạc được cho là bản gốc tới tòa soạn, trong đó ghi bài “Duyên Tình” là “nhạc Xuân Tiên, lời Y Vân”.

Nhạc sĩ Xuân Lôi qua đời lúc 08g45 sáng ngày 29/08/2006 tại bệnh viện Avicenne, France, ông thọ 90 tuổi. Mời các bạn xem bài “Nhạc sĩ Xuân Lôi” bên dưới của NS Trần Quang Hải để hiểu rõ chi tiết hơn về những hoạt động và đóng góp của ông cho nền tân nhạc nước nhà.

Dưới đây mình có các bài:

– Phỏng vấn Nhạc Sĩ Xuân Tiên – Nhân dịp Kỷ Niệm 65 Năm Âm Nhạc & Ra Mắt CD của Nhạc Sĩ
– Nhạc của ai ? Lời của ai ? – Bài 2: “Duyên Tình” đến lúc ly hôn ?
– Nhạc sĩ Xuân Lôi
– Hồi Ký

Cùng với 26 clips tổng hợp các ca khúc “Hận Đồ Bàn”, “Khúc Hát Ân Tình”, “Duyên Tình”, “Về Dưới Mái Nhà”, “Nhạt Nắng”, “Chờ Một Kiếp Mai”, “Mong Chờ”, “Trăng Khuya” do các ca sĩ xưa và nay diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Nhạc sĩ Xuân Tiên.
Nhạc sĩ Xuân Tiên.

Phỏng vấn Nhạc Sĩ Xuân Tiên-Nhân dịp Kỷ Niệm 65 Năm Âm Nhạc & Ra Mắt CD của Nhạc Sĩ

Nhạc Sĩ Xuân Tiên: “Duyên Tình là bản nhạc của tôi! Cả nhạc lẫn lời đều hoàn toàn là của tôi 100%!”

LGT: Trong số những nhạc sĩ Việt Nam cao tuổi nhất hiện còn tại thế, nhạc sĩ Xuân Tiên chiếm một vị trí đặc biệt vì Cụ không những am tường nhạc lý Tây phương, Trung Hoa, lẫn nhạc Việt; Cụ còn sử dụng được nhiều nhạc khí Tây phương như kèn clarinet, saxophone, flute, trumpet, guitar, violin… và hầu hết các nhạc cụ cổ truyền Việt Nam, Thái Lan, Lào, Cam Bốt. Không những thế, Cụ còn cải tiến, sáng chế ra những nhạc khí mới đáp ứng nhu cầu thể hiện đa dạng của nhạc sĩ. Đặc biệt, trong cuộc sống, Cụ luôn luôn có một tâm hồn nghệ sĩ trong tư cách của một kẻ sĩ ấp ủ chân lý “văn dĩ tải đạo”. Nhân dịp Cụ kỷ niệm 65 năm âm nhạc và ra mắt CD vào ngày 5 tháng 10 sắp tới, Sàigòn Times đã xin phỏng vấn Cụ và hân hạnh được Cụ vui vẻ chấp thuận. SGT xin chân thành cảm ơn thì giờ quý báu của Cụ, và sau đây, xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả nguyên văn bài phỏng vấn.

***

SGT: Thưa, Cụ là tác giả của những ca khúc nổi tiếng được nhiều người biết đến như “Chờ Một Kiếp Mai”, “Khúc Hát Ân Tình”, “Hận Đồ Bàn”, “Về Dưới Mái Nhà”, “Duyên Tình” v.v… Tuy nhiên, ít người có được cơ hội biết rõ về cụ. Vậy nhân dịp kỷ niệm 65 năm hiến dâng cho âm nhạc, xin cụ cho biết sơ qua cuộc đời của Cụ.

Cụ Xuân Tiên (Cụ XT): Tôi sinh năm 1921 ở Hà Nội. Bắt đầu học nhạc từ 6 tuổi. Ông cụ thân sinh tôi vốn có tính nghệ sĩ, đã từng qua Tàu học nhạc một thời gian. Khi về Việt Nam ông có mở lớp dạy nhạc ở hội Khai Trí Tiến Đức. Sáu anh em tôi được học nhạc vỡ lòng từ ông cụ rồi sau đó nhờ có năng khiếu mà đều thành nghề. Lúc đầu ở miền Bắc thì chúng tôi chơi nhạc Tây phương, sử dụng các loại kèn sáo Tây. Sau đó khoảng năm 1942 về sau có nhiều dịp đi trình diễn nhạc và sinh sống khắp các miền đất nước cho nên được học hỏi nghiên cứu nhạc của nhiều miền, điển hình như nhạc Huế ở Trung; cải lương, Hồ quảng ở Nam. Thậm chí còn đi Lào, Cao Miên và cũng nghiên cứu nhiều về nhạc của những nước láng giềng này. Từ năm 1952 tôi đưa gia đình vào ở hẳn Saigon, sinh sống bằng nghề nhạc cho đến năm 75. Mãi đến năm 1986 con tôi mới bảo lãnh qua Úc. Mười năm đầu sống tại thủ đô Canberra, sau đó mới dời về Sydney. Thời ở Canberra tôi cũng có chơi kèn Saxo với vài ban nhạc Úc nhưng thấy không thích hợp mấy vả lại cũng đã lớn tuổi, gần 70 rồi còn gì nữa, nên thôi, bỏ cuộc chơi luôn đến bây giờ (cười)…

SGT: Được biết, thân phụ của Cụ là cụ Phạm Xuân Trang cũng là một nhạc sĩ. Và như Cụ vừa nói, trong nhà Cụ có 6 anh em, cũng có nhiều nghệ sĩ tên tuổi, trong đó có nhạc sĩ Xuân Lôi. Phải chăng chính yếu tố gia đình, hay đúng hơn, yếu tố di truyền trong dòng họ đã mang đến cho Cụ lòng yêu thích âm nhạc, giúp Cụ trở thành một nghệ sĩ thuỷ chung trên con đường âm nhạc”

Cụ XT: Chắc là phải có sự kết hợp mỗi thứ một ít như anh vừa kể. Nhưng tôi nghĩ có lẽ ý hướng của ông cụ thân sinh tôi là góp phần quan trọng nhất. Ông cụ nhà tôi xưa vốn có Tây học, là bạn học cùng lớp với cụ Phạm Quỳnh một thời nhưng bạn bè mỗi người một chí hướng khác nhau, ông cụ không muốn làm việc cho Tây và cũng không thích dính dáng gì đến quan quyền thời ấy, chỉ thích làm nghề tự do, thích làm nghệ thuật, cho nên tất cả con cái trong gia đình “bị” (hay là “ddược”), lôi cuốn vào con đường nghệ thuật, rồi suốt đời các anh em tôi gắn bó với âm nhạc như một nghề nghiệp.

SGT: Nhìn lại quãng đường 65 năm vui buồn cùng vận nước và cống hiến cho âm nhạc, nếu có những kỷ niệm sâu sắc nhất, hay có tâm tình nào có thể nhắn nhủ với tuổi trẻ, thì đó là những kỷ niệm, những tâm tình gì, thưa Cụ.

Cụ XT: Kỷ niệm thì bây giờ tuổi lớn rồi, lãng đãng như nhớ như quên. Tự nhiên nhớ lại thì khó quá. Chỉ có một chút tâm tình có thể nói nhắn nhủ với tuổi trẻ là trong bất kỳ nghề nghiệp nào, hãy cố gắng đi đến sáng tạo. Sáng tạo là sự đóng góp to lớn và quí báu nhất cho cuộc đời. Nó cũng làm cho mình lạc quan vui sống nữa.

SGT: Năm 1942, tức cách đây đúng 65 năm, Cụ cùng anh là nhạc sĩ Xuân Lôi đi theo đoàn cải lương Tố Như vô Sàigòn trình diễn hội chợ rồi lưu diễn lục tỉnh Miền Nam. Như vậy, nhạc cải lương và các điệu hồ quảng của Miền Nam lúc đó đã có những ảnh hưởng gì đối với nhạc của Cụ sáng tác.

Cụ XT: Có chứ! Âm hưởng dân ca miền Nam và cải lương có in đậm nét trong nhiều sáng tác của tôi chứ! Chẳng hạn như trong các bản nhạc “Cùng một mái nhà”, “Khúc nhạc đồng xanh”, “DDất Việt” v.v… Còn các điệu Hồ quảng thì tôi không dùng đến vì đó không phải là nhạc Việt. Chủ trương sáng tác của tôi là đào sâu vào nhạc Việt, dùng kỹ thuật và nhịp điệu Tây phương để cải tiến và làm giàu nền nhạc của mình. Cho nên một đời làm nhạc của tôi, dù đa phần là chơi nhạc Tây phương, nhưng sáng tác thì lại luôn quay về nguồn nhạc Việt.

Nhân nói đến cải lương thì tôi xin nhắc lại là từ những thập niên 20, 30 dân chúng miền bắc đã thích cải lương lắm rồi. Chính tôi lúc khoảng trên 10 tuổi đã được ông cụ mướn thầy về nhà dạy tuồng và nhạc cải lương rồi. Sau đó những đoàn hát Kim Chung, Sĩ Tiến gồm toàn là ca sĩ người bắc, đã dàn dựng những bản tuồng sân khấu hoàn chỉnh và phục vụ công chúng bao nhiêu năm. Tóm lại là tôi đã quen thuộc với cải lương từ thời còn trẻ tuổi ngay tại miền bắc. Năm 1941 nhân ban hát Phụng Hảo của cô Bảy Phùng Há ra bắc trình diễn có mời tôi theo ban hát để cùng chơi chung với ban nhạc người Phi Luật Tân, ban nhạc này chơi rất giỏi cả nhạc cổ điển Tây phương lẫn nhạc Jazz. Tôi thấy đây là cơ hội tốt nên nhận lời gia nhập đoàn và đi lưu diễn miền nam. Sau đó lại ở Huế một thời gian với anh tôi là nhạc sĩ Xuân Lôi để nghiên cứu và học đàn Huế, rồi cuối năm 1942 cả hai anh em tôi mới theo gánh Tố Như vào nam trình diễn ở Sài Gòn và khắp miền lục tỉnh. Đi nhiều, đến nơi nào gặp nhạc sĩ đàn anh hoặc nghe câu hò điệu hát lạ là tôi lại ghi chép, nhờ thế tôi hiểu và nhiễm nhạc Việt nhiều lắm. Trong những sáng tác của tôi, như đã trình bày lúc nãy, nói chung là dùng âm hưởng nhạc Việt, nhưng xem kỹ lại thì thấy tôi có nhiều ca khúc bắc và trung nhiều hơn là nhạc miền nam.

SGT: Cụ cùng với bào huynh Xuân Lôi từng chế sáo 10 lỗ và 13 lỗ có đủ các bán cung để thổi nhạc Tây Phương, và hiện hai loại sáo này được tàng trữ tại viện bảo tàng Paris, Pháp quốc. Xin Cụ cho biết về loại sáo đặc biệt này”

Cụ XT: Cây sáo trúc của ta chỉ có 6 lỗ cho 6 ngón tay. Nó bị giới hạn rất nhiều vì thiếu cung bực. Trong thời gian chiến tranh Việt-Pháp gia đình chúng tôi chạy giặc về đến những khu núi rừng ở các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang. Ở Tuyên Quang, hội Văn hóa của chính quyền Việt Minh thành lập trường nhạc trong rừng, tổ chức những lớp nhạc dạy về ký âm, xướng âm, ca hát. Nhạc cụ thì dạy sáo trúc và guitar. Thầy dạy nhạc gồm có các nhạc sĩ Văn Cao, Nguyễn hữu Hiếu, Canh Thân, Tô Vũ, Xuân Thư, Xuân Lôi, Xuân Tiên (nhạc sĩ Xuân Thư là anh cả của tôi). Xuân Lôi và tôi thì dạy ký âm và sáo trúc. Vì cần sáo phát cho tất cả các nhạc sinh nên anh Xuân Lôi và tôi phải len lỏi vào những khu rừng trúc, lựa chọn và chặt từng bó trúc ôm về. Chúng tôi phải nghiên cứu kỹ thuật để làm tất cả những cây sáo đúng với âm thanh mẫu (diapason) và đồng thời làm những cây sáo 10, 11, 12 và 13 lỗ. Với sáo 10 lỗ, người chơi phải sử dụng cả 10 ngón tay và có thể chơi tất cả những bán cung, do đó sáo không bị giới hạn trong bất kỳ âm giai nào. Còn sáo nhiều lỗ hơn (11, 12 hay 13 lỗ) là để tạo ra những âm thanh thấp hơn khi cần. Cái chính vẫn là 10 lỗ. Những cây sáo 10 và 13 lỗ vừa có tính sáng tạo vừa có tính cách lịch sử cho nên sau đó được trưng bày 5 cây tại viện bảo tàng Hà Nội và 2 cây tại viện bảo tàng Musee de Lhomme (Paris).

Sau hiệp định Geneve 1954, ở miền bắc hai nhạc sĩ Xuân Thư (là anh tôi) và Tô Vũ có viết sách dạy cách chế tạo và cách thổi kiểu sáo này. Sách này do nhà xuất bản Kim Sơn phát hành ngày 1/11/1955 tại Hà Nội.

SGT: Tại Úc, nhiều người cũng biết đến loại đàn bầu đặc biệt do Cụ sáng chế gọi là Đàn bầu Xuân Tiên. Vậy loại đàn bầu này có gì khác biệt”.

Cụ XT: Đàn Bầu là đàn cổ truyền của Việt Nam mình tự ngàn năm, tôi có sáng chế gì đâu! Chẳng qua là tôi có một cây đàn Bầu chế từ trái bầu khô do nhà trồng từ thời sống ở Canberra. Tôi muốn có một cây đàn Bầu ở dạng nguyên thủy của nó là làm bằng trái bầu để mọi người có dịp xem chơi vì sau này người ta chỉ làm đàn bầu bằng hộp gỗ mà thôi.

Còn cây đàn do tôi sáng chế là cây “đàn Xuân Tiên” làm từ thời ở Việt Nam năm 1976. Cây đàn này là một loại đàn dây, gẩy bằng 2 tay, có 60 dây cả thảy và bao gồm tất cả mọi cung bực. Nguyên do chế ra cây đàn này là vì tôi nhận thấy tiếng đàn tranh hay, ngọt ngào dịu dàng quá nhưng nó chỉ có 16 hoặc 22 dây, bị giới hạn nhiều trong cung bực và thiếu hợp âm để phụ đệm cho phần giai điệu. Cũng có một lý do khác là do thấy người Việt mình từ xưa đến giờ ít ai sáng chế ra các loại nhạc cụ cho nên tôi muốn chế ra một vài loại đàn sáo để lại cho mai hậu. Cây đàn này hiện còn để lại trong nước, hoàn cảnh chưa được thuận lợi để phổ biến dù bạn bè trong giới làm nhạc có nhiều người thích lắm. Cây đàn này âm thanh giống như đàn tranh nhưng tiếng mạnh và chắc hơn, sử dụng được cho cả 2 tay, tay phải chơi giai điệu và tay trái chơi hợp âm. Nếu sử dụng thành thục, đàn có thể chơi được bất kỳ thể loại nhạc nào.

SGT: Ngoài tập nhạc Duyên Tình Xuân Tiên, Cụ còn xuất bản tập thơ Thơ Xuân Tiên. Vậy theo Cụ, sáng tác nhạc và sáng tác thơ có gì giống và khác nhau” Khả năng thể hiện tiếng lòng qua nhạc và qua thơ, cái nào dễ hơn, sâu sắc hơn.

Cụ XT: Vâng, tôi có tập thơ “Trên kiếp hoa” do nhà xuất bản Ba Vì ở Canada in từ thế kỷ trước (cười)… đúng ra là năm 1997. Thực ra thơ đối với tôi chỉ để mình tự thể nghiệm và tiêu khiển chứ không phải để phổ biến. Thời buổi này thơ đã bị lấn mất sân chơi, thời hoàng kim qua rồi, người ta cần cái mãnh liệt và trần tục hơn…

SGT: Trong số những bản nhạc nổi tiếng của Cụ, bản “Tình Bắc Duyên Nam” là nổi tiếng nhất. Cụ có thể cho biết, hoàn cảnh nào và lý do nào Cụ đã sáng tác bản nhạc bất hủ này”

Cụ XT: Sau hiệp định Geneve 1954, miền Nam mở rộng vòng tay chào đón cả triệu người Bắc di cư vào cùng sống chan hòa với nhau trong vận hội mới của đất nước. Triệu người Bắc cũng đã nhận miền Nam như là quê hương mới của mình. Trong cuộc sống mới có nhiều mối tình Nam-Bắc nẩy nở, kết hợp với nhau, nhưng bên cạnh đó cũng có những ngộ nhận đáng tiếc về sự khác biệt địa phương, có thể gọi là kỳ thị giữa những người khác miền với nhau. Cái đó chẳng qua là do mưu đồ của Tây áp đặt vào người mình đã lâu. Thì trong hoàn cảnh đó, bài hát “Khúc hát ân tình” (tức “Tình Bắc Duyên Nam”) ra đời như là một lời kêu gọi mọi người con của đất nước hãy sống thân ái với nhau và ca ngợi tình yêu không phân biệt Nam-Bắc. Đó là lý do tôi sáng tác bản nhạc này.

SGT: Nghe nói, Cụ có thể chơi những bài hát tân nhạc trên các nhạc cụ cổ truyền tuyệt hay. Thí dụ như bài Buổi Tàn Thu, Con Thuyền Không Bến bằng đàn nhị hồ. Phải chăng điều này nói lên giá trị thể hiện một cách đa dạng của nhạc cụ cổ truyền dân tộc Việt, hay tuỳ thuộc phần lớn vào tài năng của người nghệ sĩ.

Cụ XT: Một phần là tài hoa của người trình tấu, một phần là phẩm chất sẵn có của bản nhạc, thêm một phần nữa là sự thích hợp của nhạc cụ đối với bản nhạc. Phải có đầy đủ 3 yếu tố vừa kể mới được.

Nhạc cụ của ta nó có cái hay của nó nhưng phải chọn đúng giọng, đúng loại nhạc thích hợp với nó thì mới phát huy đúng mức cái hay của nó. Nhạc cụ ta thì nó đi với nhạc ta, còn nếu dùng nó để diễn tấu những loại nhạc lai căng hay nhạc Tây phương thì không thích hợp đâu! Chính gốc nhạc cụ của ta chỉ có đàn Đáy và đàn Bầu. Còn các loại đàn khác như đàn kìm (hay là đàn nguyệt), đàn sến, đàn nhị, đàn tam, đàn tì bà, đàn tranh, tiêu, sáo v.v… đều có gốc tích từ bên Tàu. Tuy nhiên vì người mình đã dùng thành thạo cả ngàn năm nay nên vẫn quen gọi là “ta” để phân biệt với Tây.

Riêng đàn Bầu của ta thì độc đáo vô song. Chỉ một dây căng lơ lửng trên một cái cần, gẩy ra âm harmonic mà lại uốn éo như tiếng người, có thể diễn tả đúng giọng địa phương của từng miền, bắc khác, trung khác, nam khác. Ngay như giọng trung chẳng hạn, đàn Bầu lại có thể tấu lên giọng từng tỉnh khác nhau: Hà Tĩnh khác, Huế khác, Quảng Trị khác… Vì vậy, tôi có thể nói đàn Bầu là một cây đàn kỳ diệu nhất trên thế giới.

SGT: Một trong những bản nhạc nổi tiếng của Cụ thể hiện cái mộc mạc, chất phác nhưng đằm thắm của tình yêu qua cái tinh tuý của dân ca Miền Bắc là bài Duyên Tình. Nhưng theo chúng tôi biết thì ở trong nước, nhiều hãng băng đĩa khi phát hành bản nhạc Duyên Tình lại ghi tác giả là nhạc sĩ Y Vân. Trong Danh Mục Bản Quyền do Cục Bản Quyền CSVN cấp cho bà Minh Lâm, vợ của nhạc sĩ Y Vân, cũng ghi Duyên Tình là nhạc phẩm của Y Vân. Trong khi đó thì dư luận lại cho rằng bài Duyên Tình do Cụ viết chung với Y Vân. Chúng tôi cũng được biết là Tết Bính Tuất vừa rồi, trưởng nam của Cụ là ông Phạm Xuân Long, có đưa vấn đề bản quyền nhạc phẩm Duyên Tình lên trên báo chí trong nước. Như vậy xin hỏi Cụ đầu đuôi vấn đề này như thế nào.

Cụ XT: Duyên Tình là bản nhạc của tôi. Cả nhạc lẫn lời đều hoàn toàn là của tôi 100%. Ai hiểu nhạc và nếu nghe quen nhạc của từng người thì có thể nhận ra được từ nét nhạc đến lời ca là của tôi, không thể lẫn lộn với ai được. Sự lẫn lộn như anh vừa nêu ra là vì nó có một chút lịch sử như thế này.

Y Vân với tôi là bạn rất thân dù Y Vân nhỏ hơn tôi nhiều tuổi, mà tuổi nghề thì lại càng nhỏ hơn. Đúng ra Y Vân vẫn trọng tôi như đàn anh nhưng tính tôi thì thoải mái không câu nệ, quý Y Vân như bạn bè bình đẳng và anh em làm chung mãi với nhau bao nhiêu năm ở các đài phát thanh trong những năm cuối của thập niên 50 qua đến những năm đầu thập niên 60.

Riêng tôi, ngoài các đài phát thanh Sài Gòn, Quân đội, Mẹ Việt Nam, tôi còn làm tại Trung tâm điện ảnh, chơi nhạc cho các hãng phát hành băng và đĩa hát, đêm đêm lại phải chơi nhạc tại các Dancing, phòng trà nên rất bận. Y Vân thì rảnh hơn tôi nhiều nên tôi thường nhờ Y Vân giúp chép nhạc cho tôi. Thời đó đâu có máy photocopy như bây giờ, nếu cần copy một bản nhạc từ sách ra thì phải bỏ công chép tay, mà tôi thì lại rất cần nhiều bản sao của nhạc Âu-Mỹ để chơi trong các Dancing. Y Vân chép nhạc rất cẩn thận và đẹp nên tôi ưng ý lắm. Ngay cả nhạc do tôi sáng tác cũng có bài phải nhờ Y Vân chép lại cho đẹp. Hiện giờ tôi vẫn còn đang giữ một tập nhạc Mỹ do Y Vân chép lại dùm cho tôi. Thời đó Y Vân cũng có sáng tác và thường đi lại với nhà xuất bản để bán bản quyền các bản nhạc, nhân tiện tôi nhờ Y Vân mang bán giùm một sáng tác mới của tôi lúc đó là bản nhạc Duyên Tình mà Y Vân vừa mới giúp chép xong.

Khi trao bài Duyên Tình cho nhà xuất bản để lấy tiền thì Y Vân cần phải để tên chung vào bản nhạc mới ký tên nhận tiền được. Y Vân có hỏi trước tôi chuyện đó và tôi đồng ý. Bạn bè thân thiết, có khi chỉ vì thích nhạc của nhau, vẫn có thể để tên chung như là đồng tác giả, cũng là kỷ niệm vui, đâu có sao! Thế là bản Duyên Tình khi in và phát hành có tên của cả hai chúng tôi.

Các con tôi thì vẫn biết bài hát Duyên tình là của tôi. Còn gia đình của Y Vân thì sau khi Y Vân qua đời, thấy có tên Y Vân trên bài nhạc cũ thì nhận là của Y Vân, vả lại trong nước thì người ta chưa hề nói chuyện tác quyền với tôi dù họ vẫn phổ biến nhạc của tôi. Ngay cả bên này, Thúy Nga cũng đã từng ra băng cassette có bài Duyên Tình đề tên tác giả là Phạm Duy, tôi cũng chẳng phản ứng gì. Có mấy bài nhạc khác nữa cũng bị trường hợp tương tự như vậy.

Tất cả câu chuyện là như thế. Đầu năm ngoái nhân dịp người con gái của Y Vân ở Perth có liên lạc với tôi thì tôi cũng đã giải thích rõ câu chuyện là như vậy.

SGT: Trong những tác phẩm vang bóng một thời của cụ, chẳng hạn những ca khúc mà Thúy Nga Paris by night đã chọn để trình diễn, mỗi bài hát đều có nhịp điệu và phong cách riêng của nó. Vậy xin cụ cho biết thêm về khuynh hướng và quan niệm sáng tác của cụ.

Cụ XT: Nói chung thì trong sáng tác, tôi rất chú trọng đến giai điệu và thể điệu của bài hát. Giai điệu được giải nghĩa một cách nôm na là cấu trúc của những câu nhạc sao cho có đầy đủ nhạc tính và phẩm chất của hòa âm, để mình nghe thấy hay, dù cho không cần lời hát, chỉ hòa tấu bằng nhạc cụ không thôi cũng thấy hay. Nếu không có giai điệu hay thì không thể có bài hát hay được. Tôi thấy như thế! Bởi vậy trước 75, những đài phát thanh SaiGon, Quân Đội thường thích dùng những bản nhạc của tôi dưới dạng hòa tấu để làm nhạc hiệu cho chương trình hoặc là chơi xen kẽ vào giữa những chương trình của họ.

Còn thể điệu thì ví dụ như là điệu valve, tango, rumba v.v… Nhạc Việt mình vốn nghèo về thể điệu, cho nên tôi chủ trương dùng nhiều thể điệu khác nhau cho những ca khúc để tạo những đổi mới ngay trong chính những tác phẩm của mình. Những bài hát trong CD này của tôi cũng có nhiều thể điệu khác nhau.

Tôi thích những âm hưởng lạc quan yêu đời, tôi yêu những lời hát ca ngợi quê hương dân tộc. Tôi cũng có làm những loại nhạc tình yêu lứa đôi và nhạc buồn nhưng không có sầu thương ủy mỵ quá. Có buồn cũng chỉ là chớm buồn chút thôi.

Đối với tôi, điều quan trọng nhất trong sáng tác là mình không được lập lại của người khác, mà mình cũng không được lập lại chính mình, nghĩa là mỗi một tác phẩm của mình phải hoàn toàn không giống ai!

SGT: Nói đến đêm Kỷ Niệm 65 Năm Âm Nhạc & Ra Mắt CD của Cụ vào Thứ Sáu 5 tháng 10 này, xin Cụ cho biết, lý do nào có đêm kỷ niệm này” Và Đêm Kỷ Niệm đó sẽ có những gì đặc biệt.

Cụ XT: Lý do là để có một kỷ niệm nho nhỏ nơi thành phố mình đang sống, và cũng là để đánh dấu một phần đóng góp của mình vào nghệ thuật. Thế thôi! Nhạc của tôi được phổ biến rộng rãi trong nước từ lâu lắm, từ những thập niên 50, 60… rồi sau đó lại cùng theo dòng người tị nạn đi khắp bốn phương trời, thế nhưng chỉ được trình diễn rời rạc chỗ này một ca khúc, chỗ kia một ca khúc do các trung tâm hoặc ca sĩ tự ý phát hành, chứ tôi chưa phát hành một CD nhạc nào của mình cả. Đây có lẽ cũng là một thiếu sót của tôi. Tính của tôi vốn chỉ thích bạn bè vui chơi và lại không có khiếu thương mại, ở Úc thì xa xôi mà tôi thì ngại liên lạc tiếp xúc chỗ này chỗ kia cho nên khi cần đến thì trong tay không có một cái CD ca nhạc làm quà cho thân hữu. Ngoại trừ vừa rồi Paris by Night số 83 có thực hiện một chương trình gồm những nhạc phẩm xưa của tôi như anh đã biết.

Rồi thì khi các con tôi có ý tổ chức làm một chương trình văn nghệ kỷ niệm 65 năm âm nhạc của tôi và có làm CD nữa, thì tôi vui vẻ đồng ý ngay và mời gọi đồng hương và thân hữu cùng đóng góp để tham dự cho vui. Đêm nhạc có ca và vũ được tổ chức vào tối thứ Sáu ngày 5 tháng 10 năm 2007 tại Bankstown Sport Club.

Trong CD này tôi cho chọn lựa trình bày 14 ca khúc trong số vài trăm sáng tác của tôi, cũ có, mới có. Có những bài xưa lắm, làm từ thập niên 50, 60, rất phổ biến từ thời đó. Cũng có những sáng tác mới làm sau này tại Úc, chưa được phổ biến. Bây giờ có dịp đưa ra, xem như là những món quà nhỏ cho bạn bè thân hữu, và cũng là những cống hiến cho giới yêu nhạc.

SGT: Xin cảm ơn Cụ, và kính chúc Cụ thành công trong đêm Kỷ Niệm 65 Năm Âm Nhạc & Ra Mắt CD của Cụ.

Nhạc sĩ  Xuân Tiên.
Nhạc sĩ Xuân Tiên.

Nhạc của ai ? Lời của ai ? – Bài 2: “Duyên Tình” đến lúc ly hôn ?

(Hà Đình Nguyên)

Biết nhau giữa độ trăng tròn. Nhớ nhau dưới biển mà lên non ơ vẫn tìm. Ơ… thương nhau thì mâm bánh buồng cau cũng nên duyên ừ ư duyên…” – đó là những lời ca và giai điệu thấm đẫm chất dân ca Bắc Bộ hết sức quen thuộc của ca khúc Duyên tình trong suốt hơn 40 năm qua. Thế nhưng, ít ai biết rằng đang có một cuộc tranh chấp nhằm sở hữu ca khúc Duyên tình…

Trước Tết Bính Tuất, ông Phạm Xuân Long (con trai đầu của nhạc sĩ Xuân Tiên) có đến gặp chúng tôi nhờ kiếm giùm bản gốc ca khúc Duyên tình nhằm chứng minh đó là tác phẩm của bố mình (hiện đang định cư ở Úc) và phàn nàn rằng các đơn vị sản xuất băng đĩa trong nước đã sử dụng ca khúc trên rất nhiều lần nhưng lại ghi tên tác giả là nhạc sĩ Y Vân (đã mất). Để chứng minh, ông Phạm Xuân Long đã đưa cho chúng tôi đĩa CD Dòng sông quê hương do Vafaco phát hành trong thập niên 1990, trong đó có ca khúc Duyên tình của tác giả Y Vân do Ái Xuân và Thanh Long trình bày. Ông Long còn cho chúng tôi mượn xem tập nhạc Duyên tình Xuân Tiên (tuyển tập nhạc Xuân Tiên do tác giả tự xuất bản năm 2000 tại Sydney – Úc), trong đó có ca khúc được lấy làm chủ đề (Duyên tình) chỉ ghi một tác giả duy nhất là Xuân Tiên.

Chúng tôi đã dò tìm trong các trang web như Google, dactrung… và thấy chỉ có tên nhạc sĩ Xuân Tiên là tác giả của các ca khúc Duyên tình, cũng như ca khúc Nhạt nắng chỉ có tên tác giả Xuân Lôi.

Trao đổi với nhạc sĩ Y Vũ (em trai nhạc sĩ Y Vân) về vấn đề này, ông khẳng khái xác nhận: “Duyên tình là tác phẩm do Xuân Tiên và Y Vân viết chung. Hai ông không chỉ là đồng tác giả của Duyên tình mà còn viết chung Về dưới mái nhà. Ngoài ra, anh tôi (Y Vân) còn viết chung ca khúc Nhạt nắng với nhạc sĩ Xuân Lôi (là anh ruột của nhạc sĩ Xuân Tiên). Riêng về ca khúc Duyên tình thì vợ nhạc sĩ Y Vân đang giữ bản gốc. Nếu bảo tìm trên mạng không thấy tên của anh Y Vân là đồng tác giả ca khúc Duyên tình thì ở trong nước các nhạc sĩ Thanh Sơn (biên tập cho Trung tâm Rạng Đông) hoặc Vinh Sử (biên tập cho Kim Lợi) chỉ biết có mỗi Y Vân là tác giả của Duyên tình…”.

Nghe nói bà Minh Lâm (vợ nhạc sĩ Y Vân) hiện đang có bản gốc, chúng tôi khấp khởi mừng nhưng “vật chứng” mà bà đem ra chỉ là một bản Duyên tình chép tay và bảo rằng đó là thủ bút của chồng mình. Với một bản gốc như thế thì quả thật chưa đủ sức thuyết phục, nhưng bà Minh Lâm khẳng định nhạc sĩ Y Vân còn để lại rất nhiều tài liệu chép tay và bà sẵn sàng mời các chuyên viên giám định tự dạng. Về ca khúc Duyên tình, bà phát biểu: “Trong gia đình tôi, ai cũng biết đó là nhạc phẩm của Y Vân. Sau khi nhà tôi mất, nhiều hãng băng đĩa đã phát hành bản nhạc này và họ cũng chỉ ghi một tên tác giả là Y Vân. Chúng tôi không có bản gốc nên cũng không biết bản nhạc này có 1 hoặc 2 tác giả nhưng trong lòng vẫn ngờ ngợ nên đã tìm đến hỏi nhạc sĩ Thanh Sơn và ca sĩ lão thành Ngọc Cẩm (mẹ của ca sĩ Hồng Hạnh) thì họ đều xác nhận bài này là của Y Vân. Chúng tôi cũng rất muốn hỏi chính nhạc sĩ Xuân Tiên nhưng không có địa chỉ để trao đổi. Tuy nhiên, với chúng tôi nếu Duyên tình là đồng tác giả của Y Vân – Xuân Tiên thì chúng tôi vẫn chấp nhận. Nhân đây chúng tôi cũng xin xác định quyền đồng tác giả trong các ca khúc viết chung của Y Vân: Về dưới mái nhà (viết chung với Xuân Tiên), Nhạt nắng, Gió hiền, Người em Cửu Long (viết chung với Xuân Lôi), Suối tóc (viết chung với Văn Phụng dưới bút danh Thy Vân là tên con gái của Y Vân)…”.

Quả thật chúng tôi nhận thấy bà Minh Lâm rất “tách bạch” khi cho chúng tôi tra cứu danh mục bản quyền tác phẩm Y Vân do Cục Bản quyền cấp tại Hà Nội ngày 30.9.1995 gồm 92 ca khúc. Ở số thứ tự 20. Duyên tình (không ghi tên tác giả thứ 2)… số 45. Về dưới mái nhà (với Xuân Tiên), 46. Hát lên nào (với Vĩnh Căn), 62. Chiếc khăn tay (với Minh Kỳ), 75. Đường đi lối về (với Xuân Tiên), 81. Nếu anh về (với Huỳnh Anh), 83. Thuở ấy (với Minh Kỳ), 84. Hình ảnh quê xưa (với Hoàng Trọng), 85. Chiều về quê xưa (với Thanh Thoại)… Như vậy, trong bản danh mục bản quyền này đã “hiện diện” 2 ca khúc viết chung với Xuân Tiên (ở các số thứ tự 45 và 75) thì hà cớ gì lại không thêm tên Xuân Tiên vào số thứ tự 20 ?

Chúng tôi cũng đã dò hỏi nhiều người am hiểu về nhạc trước 1975 thì đa số đều cho rằng Duyên tình do hai tác giả trên viết chung nhưng do vào thời điểm thập niên 90 cơ chế quản lý văn hóa còn chưa “thoáng”, mà Duyên tình lại có một đồng tác giả đang ở nước ngoài, chưa rõ về nhân thân, quan điểm chính trị nên các vị biên tập chương trình ca nhạc (và băng đĩa) trong nước đành phải “cắt” ông Xuân Tiên đi, chừa ông Y Vân lại. Tương tự nhưng… ngược lại là ở nước ngoài: chừa ông X mà cắt ông Y (cả trên mạng, dù mạng cũng không đảm bảo tính xác thực. Thí dụ bản Kim của Y Vũ lại nằm trong danh mục của Y Vân).

Xem ra, nếu bên đại diện nhạc sĩ Xuân Tiên không chịu “sống chung… như cũ” thì chuyện “ly hôn” còn lắm rối rắm, chỉ khi tìm được bản gốc (in) thì mới… êm! (Có bạn đọc nào có bản gốc Duyên tình không ?!).

Nhạc sĩ Xuân Lôi.
Nhạc sĩ Xuân Lôi.

Nhạc sĩ Xuân Lôi

(NS Trần Quang Hải)

Nhạc sĩ Xuân Lôi sinh ngày 17 tháng 10, 1917 tại Hà Nội. Thân-phụ ông là cụ Phạm Xuân Trang, cũng là nhạc sĩ, từng theo học nhạc cổ Trung quốc với các ban nhạc Tàu và cũng có lập ban nhạc đi trình diễn. Trong nhà có tất cả là 6 anh em: Xuân Thư, Xuân Oai, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Xuân Khuê và Xuân Tuấn. Khi còn nhỏ, Xuân Lôi đã nắm vững kỹ thuật nhạc khí Tàu và thông thuộc bài bản Tàu.

Buổi trình diễn đầu tiên trước công chúng của nhạc sĩ Xuân Lôi tại Khai Trí Tiến Ðức rất thành công. Năm 10 tuổi ông học nhạc lý, học nhạc khí tây phương như: Măng cầm (Mandoline), kèn saxo baryton, rồi kèn saxo alto, hắc tiêu (Clarinette).

Năm 1936, ông theo cha sang Cao Miên, trình diễn và lợi dụng cơ hội này ghi chép 30 bài ca Cao Miên và học cách đàn nhạc khí Cao Miên của dàn nhạc Pinpeat (khong vong, roneat, tro, pey or v.v…).

Năm 1940, người cha của ông định cư tại Bao Vinh (miền Trung) nên ông co dịp làm quen với nhạc Huế. Sau đó ông cùng người em là nhạc sĩ Xuân Tiên ra Hà Nội cộng tác với các vũ trường để sinh sống.

Năm 1942, ông và người em, nhạc sĩ Xuân Tiên, đi theo đoàn cải lương Tố Như vô Sài gòn nhân dịp hội chợ trình diễn và lưu diễn khắp lục tỉnh miền Nam. Nhờ vậy nhạc sĩ Xuân Lôi học hỏi thêm nhạc cải lương và các điệu hồ quảng.

Năm 1943, đoàn cải lương Tố Như trở ra Bắc. Ông rời gánh và năm 1944, hai anh em ông đàn cho các vũ trường Lucky Star, Moulin Rouge tại ngã tư Sở, rồi tại vũ trường Victory, hotel Spendide, Taverne Royale ở Hà Nội. Trong thời gian này, ông học thêm vĩ cầm (Violon), hâ-ut-cầm (Guitare Hawaienne , trống, đàn banjo alto v.v….

Trong thời gian tản cư (khoảng 1946), Xuân Lôi và Xuân Tiên lập ban nhạc Lôi Tiên đi diễn lưu động và đàn cho gánh cải lương Bích Hợp.

Từ năm 1949 tới 1950, hai anh em lên tận vùng Thái Nguyên nhập vào ban văn hoá vụ với trưởng ban là Hoài Thanh. Ông có dịp gặp gỡ các văn nghệ sĩ nổ tiếng như: Phan Khôi, Tố Hữu, Thế Lữ, Văn Cao, Canh Thân, Lê Hoàng Long, Quốc Vũ, Nguyễn Tuân.

Trong thời gian ở Thái Nguyên, ông đã ký âm mấy chục ca khúc dân tộc Chèo thiểu số. Ông đã cùng Xuân Tiên nghiên cứu cách làm ống sáo 10 lỗ và 13 lỗ, có đủ các bán cung để có thể thổi các bản nhạc Tây phương. Ông chế các ống sáo từ do, re, mi, fa, sol, la, si. Ông còn chế biến với ống nứa để làm nhạc khí khác như bộ trống nứa.

Năm 1951 hai anh em đi Nam Ðịnh làm việc ở dancing Văn Hoa. Ít lâu sau với một thành phần 12 nhạc sĩ, ông cùng họ làm việc tại nhà hàng Le Coq d’Or.

Năm 1953, ông vào Sài gòn làm việc tại vũ trường Kim Sơn, Bồng Lai, Lê Lai, Mỹ Phụng, Văn Cảnh. Rồi làm đài phát thanh Pháp Á, đài Sài gòn, đài Tiếng nói Tự Do, đài tiếng nói Quân Ðội, lập ban nhạc lấy tên Hương Xa, chuyên đàn nhạc jazz lời Việt.

Năm 1958, nhạc sĩ Xuân Lôi đoạt giải nhất với bản Tiếng hát quê hương do ông bộ trưởng Trần Chánh Thành trao tặng. Năm 1961, ông lại đoạt giải nhất qua bài Bài hát của người Tự Do trong cuộc thi sáng tác của đài Tiếng nói Quân Ðội.

Khi có đài truyền hình, ông có cộng tác, chánh với ban Tiếng Tơ Ðồng và ban Tuổi Xanh. Cho đến trước khi mất Sài gòn, ông điều khiển ban nhạc tại nhà hàng Maxim’s do Hoàng Thi Thơ tổ chức văn nghệ theo kiểu quốc tế.

Trong thời gian sau tháng 4 năm 1975, nhạc sĩ Xuân Lôi có sáng chế ra một cây đàn làm bằng lon sắt có 39 lon tức 39 nốt nhạc. Ðàn được đặt tên là Xuanloiphone và thực hiện xong ngày 20 tháng 7, 1976.

Nhạc sĩ Thanh Tùng chụp hình làm tài liệu và nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát viết bài trên báo Tin Sáng ngày 17 tháng 10,1979 về nhạc khí này. Ông có sáng chế một nhạc cụ khác bằng nứa 29 nốt gọi là Mélobasse. Ðàn Mélobasse chưa thực hiện xong vì thiếu phương tiện.

Ngày 2 tháng 11, 1987, nhạc sĩ Xuân Lôi cùng gia đình sang định cư tại Pháp.

Nhạc sĩ Xuân Lôi còn lại 27 ca khúc, trong khi nhạc sĩ Xuân Tiên còn lại 32 bài hát, trong số đó có bài Tình Bắc Duyên Nam là nổi tiếng nhứt. Ðặc biệt là hai anh em đều sử dụng âm giai ngũ cung để sáng tác nhạc.

Tôi có dịp gặp nhạc sĩ Xuân Lôi và mời anh vào thăm viện bảo tàng Musée de l’Homme. Anh có tặng cho viện bảo tàng hai cây sáo để tàng trữ. Tôi có giới thiệu anh vào một quyển loại Who’s Who mang tên là The International Directory of Distinguished Leadership dể ghi giữ tiểu sử của anh. Trong thời gian ở Pháp, anh có làm lại cây đàn Xuanloiphone hoàn tất vào ngày 31 tháng 12, 1991. Anh có biểu diễn cho tôi nghe, có chụp hình lưu niệm.

Thỉnh thoảng anh góp mặt vào những buổi sinh hoạt cộng đồng Việt tại Paris.

Nhạc sĩ Xuân Lôi.
Nhạc sĩ Xuân Lôi.

HỒI KÝ

(Xuân Lôi)

Nhạc sĩ Xuân Lôi sinh ngày 21 tháng 10,1917 tại Hà Nội. Cụ thân sinh là Phạm Xuân Trang, gồm có 6 anh em trai: Phạm xuân Thư, Phạm xuân Oai, Phạm Xuân Lôi, Phạm xuân Tiên, Phạm xuân Khuê, Phạm xuân Tuấn. Gia đình lúc đó cư ngụ tại Bạch Mai, ngoại ô Hà Nội, đối diện bên đường là gia đình của Hoài Trung (Phạm đình Viêm). Chúng tôi Xuăn Lôi, Xuân Tiên, Xuân Tuấn và Hoài Trung đều chơi thân với nhau và cùng học một trường từ nhỏ cho đến lớn.

Hồi đó có ban nhạc của Trun g quốc sang trình diễn tại Hà Nội, rất hay và được hoan nghênh nhiệt liệt; lúc đó bố tôi mời ban nhạc Trung quốc về nhà ở để học các nhạc khí của Tàu và các bài bản của họ. Lúc đó tôi mới có 6 tuổi mà đã biềt nhiều loại nhạc cụ Tàu và thuộc các bài bản.

Sau đó bố tôi lập một ban nhạc Tàu với các nhạc sĩ giỏi đẻ đi biểu diễn khắp nơi, tôi cũng được cùng đi để tham gia biểu diễn. Lần đầu tiên tại nhà Khai Trí Tiến Ðức, trung tâm văn hóa ở Hà Nội. Buổi trình diễn rất thành công và khán giả rất ngạc nhiên khi biết tôi mới 6 tuổi đã xử dụng đuợc các nhạc cụ và bài bản Tàu.

Anh cả tôi, Xuân Thư, đuợc học nhạc Tây phương, xử dụng hắ tiêu (clarinette) và học nhạc lý tại nhạc viện Conservatoire Hà Nội, cùng học có Nguyễn văn Diệp (violon), Nguyễn xuân Khoát (violoncelle và contrebasse), Paul Lành ( violon), Joachim Gontran Cung (violon). Học được 4 năm Conservatoire Hà Nội đóng cửa.

Khi tôi 10 tuổi, tôi học thêm nhạc Tây phương, anh cả dạy tôi kèn clarinette và nhạc lý, sau tôi học thêm đàn mandoline và kèn baryton.

Ðà Lạt 04-06-1929.
Ðà Lạt 04-06-1929.

1936, bố tôi có viec đi sang Cao Miên, tôi được đi theo và ở đó một thời gian… Khi đó có ban nhạc Miên hát dạo, bố tôi gọi vào nhà để nghe và nghiên cứu. Tôi đã nghe và ghi được hơn 20 bài của họ. Nhạc Cao Miên đơn sơ và dễ ký âm, sau đó hầu như tôi xử dụng được các nhạc khí của họ. Tôi còn nhớ vài bài, sau đây ghi lại bài “A Lê”.

xuantien_A Lê

Bộ đàn Cao Mên thời đócó chừng 10 loại đàn. đàn thuyền, thùng đàn như cái thuyền, có dây xỏ qua mấ thanh gỗ là nốt nhạc, rồi móc vào hai bên đầu như cái võng. Ðàn sắt có thùng dài, trên để mấy thanh sắt làm nốt nhạc, lấy cây gõ lên, âm thanh nghe thanh thoát. Ðàn côồng có 16 nốt, gồm 16 miếng đồng hình dạng cái gồng ở giữa u tròn, đường kính từ 15 cm đến 30 cm, dàn có khung bằng mây cuốn tròn xung quanh, người xử dụng đứng giữa gỏ bên trái, bên phải. Còn các loại khác thì cũng na ná như nhạc cụ VN.

Gia đình Pham Xuân Trang - Ðế thiên đế thích 1938.
Gia đình Pham Xuân Trang – Ðế thiên đế thích 1938.

1939, tôi đi Hải Phòng chơi nhạc cho dancing của Hoàng cao Tăng, được hơn 5 tháng vì buồn nên tôi trở về Hà Nội.

1940, bố tôi mua trại ở Bao Vinh, cách Huế 4 cây số, anh em tôi đều về theo. Ở đây tôi được dịp học hỏi nghiên cức các loại nhạc cổ truyền và nhạc lễ Huế, tìm học các nhạc sĩ giỏi như Nguyễn hữu Ba. Nhạc Huế nhiều bài rất hay và khó.

Thành nội Huế 1940.
Thành nội Huế 1940.
Huế 1940.
Huế 1940.

1941, anh em tôi trở về Hà Nội

xuantien_Ảnh trên-- Gia đình cụ Phạm Xuân Trang

Ảnh trên: Gia đình cụ Phạm xuân Trang.

Ảnh dưới: Xuân Khuê, Xuân Oai, Xuân Thư, Xuân Lôi, Xuân Tuấn, Xuân Tiên.

1940, tôi và Xuân Tiên chơi nhạc cho ban cải lương Tố Như và vào Sài gòn nhân dịp hội chợ. Ông bầu Tố Như, Lê Thiết, thuê một thuyền to để cho nghe sĩ vứa ở vừa đi khắp lục tỉnh miền Nam trình diễn. Có những lúc muà trăng, đi thuyền ban đêm, tất cả nghệ sĩ lên mui thuyền ngắm trăng và đàn hát. Ban nhạc gồm có: Paul Trí (piano), Xuân Lôi ( banjo alto), Xuân Tiên (clarinette), Văn Thịnh (trống). Ban nhạc chơi trước giờ mở màn và chuyển màn khác, có lúc đệm cho ca sĩ hát tân nhạc hoặc những bài Tây Thi, Xàng Xê theo điệu hồ quảng v.v… Tôi lại có dịp biết thêm về các điệu cải lương.

Một hôm, đoàn trình diễn ở Bạc Liêu, anh em chúng tôi đi chơi phố về, khán giả chen chúc dông nghẹt. Xuân Tiên đi trước để chen vào cửa, đụng phải tên anh chị, cãi lộn sơ sơ, tên đó đánh vào vai, Xuân Tiên ngoảnh lại đánh trả, tôi vội đứng cạnh, hai anh em đâu lưng đánh lại, cuộc ẩu đả chừng vài phút thì cảnh sát đến can thiệp và bắt tay anh chị, còn chúng tôi chỉ là tự vệ mà thôi, sau đó trở vào làm việc bình thường. Sáng hôm sau cảnh sát đến gọi chúng tôi và nói đã bắt tên du đãng, chúng tôi đề nghị xin tha hắn. Ở Bạc Liêu thời đó nổi tiếng nhiều tay du đãng, có những tên chỉ muốn vào xem không chịu mua vé, xoát vé không cho vào, mấy hôm sau khi diễn đến màn hai thì họ tắt hết đèn, ông bầu phải điều đình và chi tiền thì mới được yên ổn trình di

Xuân Oai, Xuân Lôi, Xuân Thư.
Xuân Oai, Xuân Lôi, Xuân Thư.
Xuân Khuê, Xuân Lôi, Xuân Oai.
Xuân Khuê, Xuân Lôi, Xuân Oai.

Một hôm ban Tố Như đến Dakao trình diễn, anh em tôi đi chơi về qua hiệu bánh mì, có mấy thanh niên to khỏe đang nói về thể dục thể thao. Chúng tôi vào và làm quen nói chuyện thể thao và vật tay, họ nói có biết một người tên Lắm vật tay khỏe nhất ở Dakao; rồi hắn thử vật tay với Xuân Tiên, hẹn bẻ tay 3 lần xem thắng bại. Khi bẻ tay đến lần 3, Xuân Tiên đều thắng nhưng củng hơi gay go. Họ lấy làm lạ tại sao Xuân Tiên nhỏ bé mà bẻ tay lại khỏe đến thế ! Hắn hỏi ở đâu đến ? Chúng tôi nói là ở ban hát Tố Như. Khi chào ra về, hắn cao to, lúc bắt tay phải cúi xuống và hẹn có buổi gặp lại ….

Xuân Tiên, Xuân Oai, Xuân Thư, Xuân Khuê, Xuân Lôi.
Xuân Tiên, Xuân Oai, Xuân Thư, Xuân Khuê, Xuân Lôi.
Xuân Khuê, Xuân Oai, Xuân Thư, Xuân Lôi.
Xuân Khuê, Xuân Oai, Xuân Thư, Xuân Lôi.

Nói về chuyện thể thao, vì anh em chúng tôi nhỏ bé cho nên chịu khó tập chuyên về hai tay và tập về gân như: tập leo dây, xà ngang, xà dọc, đu vòng và còn chế ra lối tập riêng v.v…Có chuyện vui về vật tay; khi ban Tố Như diễn ở Cần Thơ, buổi chiều đẹp trời, anh em tôi dạo chơi tới tiệm hớt tóc, thấy có treo mấy hình lực sĩ Việt Nam, vào hỏi thử thì chính anh ta tên Thành là lực sĩ, chuyên tập về đu vòng nhất ở Cần Thơ, vội về nhà anh ta xem trổ tài, anh ta lên xuống vài kiểu rất bình thường, anh ta nói còn vài kiểu đu ở trẻn cao, vì xà nhà thấp không làm được, phải ra bãi tập. Anh ta vội lấp cặp đu vòng đi xe đạp ra ngoài bãi tập, leo lên thang treo cặp đu vòng, biểu diễn đưa hai chân thẳng lên trời và mấy kiểc khác cũng bình thường. Rồi Xuân Tiên lên làm cho anh ta xem mấy kiểu khó, sau đó đến lượt tôi lên làm vài kiểu khó khác, anh ta rất thích và nói từ trước đến nay chưa thấy ai làm đu vòng hay như anh em tôi. Chúng tôi hỏi ở Cần Thơ có ai biết vật tay không? Anh ta nói có anh tên Ổn bẻ tay khỏe nhất và anh ta sắp sửa cá độ ăn tiền với một người Pháp. Chúng tôi nói anh Thành dẫn đến anh Ổn. Khi đến nhà anh Ổn là nhà của ông tỉng trưởng giàu có nhất Cần Thơ. Khi gặp anh ta, tiếp chuyện vui vẻ và hẹn chiều họm sau se đến rạp lúc 4 giờ…Hôm sau chờ đến 4giờ rưỡi thì anh ta đến, mọi người trong ban Tố Như đứng chung quanh xem. Khi sắp sửa bẻ tay thì nói anh ta chờ một chút để ông bầu Lê Thiết đến xem, anh Ổn có vẻ số ruột và hơi bực mình, anh nói vật tay việc gì phải chờ ai nữa. Cuộc bẻ tay sắp bắt đầu thì ông bầu gánh đến, hẹn nhau bẻ tay 3 lần…bắt đầu lần thứ nhất Xuân Tiên thắng, mọi người reo hò hoan hô, đến lần thứ hai và ba, Xuân Tiên vẫn thắng, biết là dư sức cho nên chấp tay để ngả nằm xuống cho anh ta đè lên, rồi Xuân Tiên vật đè lại vẫn thắng hoàn toàn. Lúc bấy giờ anh Ổ mới chịu thua và phục Xuân Tiên. Anh ta mời chúng tôi về nhà và một số người trong gánh Tố Như, rồi sai người đi hái trái cây mời ăn uống vui vẻ. Ở Cần Thơ, anh ta rất hách, ai cũng phải kính nể vỉ là con của tỉnh trưởng và lại to khoẻ. Cách ít lâu sau, chúng tôi gặp anh ta ở Sài gòn, thấy gầy tọp hẳn đi, hỏi tại sao thi anh ta nói từ ngày bẻ tay thua cho nên chán nản, bỏ không tập nữa mà còn ăn chơi nghiện ngập….

Trong thời gian ở gánh Tố Như, chúng tôi có dạy cho mấy anh kép hát chừng 17 đến 25 tuổi, họ thưởng hút thuốC phiện, tôi khuyên họ nên bỏ rồi các anh kép hát theo tập thể thao, chỉ trong thời gian đã thấy to và khỏe, rồi các anh kép đó gặp các anh kép ở gánh khác, cũng thử sức bẻ tay và các anh ở ban Tố Như đều được cả…

Một hôm ban Tố Như trình diễn ở Palicao Chợ Lớn, buổi sáng đẹp trời anh em chúng tôi đi dạo phố thì thấy treo bức ảnh lực sĩ to khỏe, trên bàn bày bán các thứ thuốc, người bán thuốc nhìn cũng khá to con, hỏi ra thì anh ta là học trò của tiểu lực sỉ Lý Ngọc Long từ bên Trung Quốc sang, mãi võ biểu diễn môn sức khoẻ và bán thuốc. Ah ta nói, chiều khoảng 5 giờ ra bờ sôngcó bãi rộng để xem Lý Ngọc Long biểu diễn võ và sức khoẻ; đến chiều chúng tôi ra xem, thì thấy Lý Ngọc Long biểu diễn võ với sức khoẻ và bán thuốc. Chúng tôi hỏi làm quen với thày trò Lý Ngọc Long và mời cả hai đến tối đến xem hát…

Nói về chuyện thể thao và sức khoẻ với Lý Ngọc Long thi hắn rất thích thú và hợp ý với chúng tôi. Anh ta rất mến chúng tôi và có tặng hình kỷ niệm

Tiểu lực sĩ Lý Ngọc Long 28 tuổi, Chợ Lớn 1938.
Tiểu lực sĩ Lý Ngọc Long 28 tuổi, Chợ Lớn 1938.

Thầy của Lý Ngọc Long là Long Ngọc Thiên, sư thúc là Trần Phi Sơn đã qua Việt Nam năm 1938, mãi võ và biểu diễn sức khỏe, lấy danh hiệu là Ðại lực sĩ Trần phi Sơn, bởi vậy Lý ngọc Long là hàng con cháu cho nên phải lấy danh hiệu là Tiểu lực sĩ Lý ngọc Long.

Một buổi sáng đẹp trời, anh em chúng tôi đi dạo phố buôn bán sầm uất, rồi đi đến bờ sông thì gặp anh học trò của Lý ngoc Long ở dưới thuyền đi lên, chúng tôi bèn gọi hắn, gạ vật tay thử xem sức khỏe, hắn bằng lòng, cùng ra tới chỗ xi măng, lấy mouchoir lót, bắt đầu sắp sửa bẻ tay, Lý ngọc Long ở dưới thuyền đi lên và đúng xem hai người bẻ tay. Khi bắt đầu vật tay thì Xuân Tiên được dễ dàng.. Lý ngọc Long khen rồi nói để hắn, Xuân Tiên thấy hắn to con mà biểu diễn võ rất khỏe, không dám thử, nhưng hắn nói về thể thao và tinh thần thượng võ được thua là sự thường, huống chi hắn to con mà Xuân Tiên thì nhỏ bé có thua thì cũng không sao, cũng là bình thường. Nghỉ vậy Xuân Tiên cũng liều để vật tay thử, khi bắt đầu vật tay lần thứ nhất, X Tiên cố gắng hết sức thì được; Lý ngọc Long lấy làm lạ, không ngờ Xuân Tiên lại khoẻ đến thế! vì lần đầu hắn coi thường nhỏ con.

Rồi làm lại lần hai, Lý ngọc Long chuẩn bị lấy gân cốt, Xuân Tiên củng cố gắng hết sức mình. Vật tay lần thứ hai thì không ai được ai, hai tay cứ đứng yên thật gay go, lâu chừng một phút thì Lý ngọc Long giơ tay trái lên và nói thôi hòa…Hắn nói từ bên Tàu sang mấy năm nay chưa từng có ai vật tay với hắn mà hòa, chỉ có Xuân Tiên là người độc nhất đã thủ hòa vói hắn. Hắn kể đã đi nhiều tỉnh miền Nam và gặp những tay từng khiêng những bao gạo 100 kg từ khoang thuyền ở dưới lên, hắn đã thử sức và đều thắng hết cả….

1943, ban cải lương Tố Như lại ra Hà Nội và đi Phát Diệm trình diễn, sáng nào chúng tôi cũng tập thể thao trên sân khấu, bất chợt có hai anh bạn từ Hà Nội đến thăm, một anh Việt Nam và một anh Tây lai, thấy chúng tôi đang tập thể dục thì anh Tây lai có vẻ coi thường vì chúng tôi nhỏ con. Lại nói về chuyện thể thao và vật tay thì họ nói là có biết bẻ tay, sau đó hẹn chiều mai khoảng 5 giờ ngoài sân rạp.

Chiều hôm sau, kê bàn sẵn để có cuộc thi vật tay, đúng 5 giờ vẫn chưa thấy họ đến. Tất cả mọi người trong gánh Tố Như có mặt chờ xem cuộc vật tay với anh Tây Lai. Chờ mãi đến hơn 5 giờ rưỡi họ mới đến…Hẹn vật tay 3 lần và cuộc vật tay bắt đầu. Những người đứng xem đều hồi hộp im lặng để chờ xem cuộc vật tay hào hứng này. Mới vật tay lần thứ nhất Xuân Tiên đã được ngay, thế là những người xung quanh đều vỗ tay hoan hô, đến lần thứ hai, thứ ba, XTiên đều thắng, anh Tây lai tức giận nói, liệu có khoẻ bằng …súng không? Biết là dư sức cho nên XTiên chấp, để tay nằm ngả xuống cho hắn đè tay lên và XTiên dễ dàng bẻ ngược lại đè lên tay hắn. Sau đó hắn mới chịu phục và biết XTiên quá khỏe, hắn dịu giọng và mời chúng tôi đi uống nước, nhưng chúng tôi từ chối không đi, để cho anh em trong gánh đi với hắn.

Ban Tố Như lại về Hà Nội… Chúng tôi làm cho họ được thêm vài tháng rồi thôi luôn.

Anh em chúng tôi làm cho dancing Holywood của bà Sắm là bà Tàu ở bờ sông Hà Nội. Dancing này mở ra để chuyên cho lính Tây đến nhảy và giải trí

Dancing Hollywood 1943.
Dancing Hollywood 1943.

Ban nhạc gồm: A Thòong (Trống), Xuân Tiên (Accordeon), Xuân Lôi (Clarinette), Xuân Tuấn (Saxo Alto) và Trọng Hưởng (Paino).

Có một hôm đang chơi nhạc, thấy một bọn lính Tây trắng và đen đến nhảy, trong bọn có anh lính đen cao to, nhảy đến gần ban nhạc để xin cho nghe bài nhạc yêu cầu…Ban nhạc thấy hắn to con và nói, trông anh to con chắc khỏe lắm thì phải..Anh có biết vật tay không? Hắn nói biết, vậy trước khi cho anh nghe bài nhạc hãy vật tay thử với chúng tôi. Hỏi hắn trong ban nhạc chọn ai ? Hắn bảo chọn anh đánh trống là cao to nhất trong ban nhạc tức A Thòong. Chúng tôi mới nói là hãy khoan chọn anh này, trong ban nhạc có anh chơi đàn Accordeon là nhỏ nhất để vật tay thử với hắn đã, hắn bằng lòng ngay và cùng kéo sang bên kia đường có garage của chủ dancing. Trong đó có mấi cái máy may, vội vàng gập lại để làm bàn vật tay. Bên trong dancing anh em nhạc sĩ vẫn chơi đều. Khi sắp sửa vật tay, hắn cởi áo ngoài ra thi thấy hắn to con như con bò mộng, bắp thịt chỗ nào cũng căng to nhu tượng đồng đen. Hẹn vật tay 3 lần. Bắt đầu lần thứ nhất Xuân Tiên được ngay, hắn ngạc nhiên vô cùng và cho là sự lạ. Rồi vật lần 2 và 3, Xuân Tiên đều thắng cả, vỉ biết sức của hắn còn kém cho nên Xuân Tiên chấp, để tay nằm ngả cho tay hắn đè lên rồi vật lại. Bấy giờ hắn mới thán phục sao người Việt Nam bé nhỏ mà lại khỏe đến thế ! Hắn nói bon linh Tây họ yếu lắm, hắn nói ở trong trại lính, hắn chơi thể thao, môn gì cũng hơn bọn lính Tây, chúng tôi nói với hắn, vì chúng tôi nhỏ con cho nên chỉ chuyên tập về tay và về gân. Xong cuộc vật tay lại kéo vào trong dancing chơi nhạc tiếp và chơi bài nhạc mà hắn đã yêu cầu.

Anh em chúng tôi làm cho dancing này được một thời gian rồi thôi và chuyển sang làm cho dancing Victory mới mở.

Dancing Victory 30-11-1943.
Dancing Victory 30-11-1943.

Hàng trên: Nguyễn Thịnh (ContreBass), Hoàng Ðại (Trống), Văn Ðại (Piano)
Hàng dưới: Ngọc Bích (Guitar), Xuân Lôi (Saxo Ténor), Xuân Tiên (Saxo Alto), Paul Lành (Violon)

Làm cho dancing Victory được một thời gian, rồi thời cuộc thay đổi, Nhật đảo chánh chiếm Viet Nam. Anh em chúng tôi phải nghỉ Victory để làm cho Dancing Lucky Star tại ngã tư Sở, ở ngoại ô Hà Nội và phải chơi nhạc Nhật. Do đó phải thuê nhà ở gần chỗ làm cho anh em tôi tiện việc đi lại.

Nhà thuê ở ngay giữa 2O căn, cả dãy đó toàn là cô đầu ở, mỗi tối đi làm phải đi qua những dãy nhà cô đầu khác, họ đều ăn mặc đẹp và ngồi ngoài cửa chào đón khách. Mang đồ nhạc đi làm vẫn phải qua nhà cac em…Khi cac em nhìn thấy chúng tôi là chạy ra đón cầm những đồ nhạc và nói là để cầm hộ cho, chúng tôi sợ quá, giằng đồ nhạc lại và chay mau đến Dancing. Tối nào cũng phải đi qua dẫy nhà cô đầu cho nên chúng tôi dấu đồ nhạc và chạy nhanh về nhà.

Lại nói về thời kỳ Nhật, đang được thời thì họ hống hách làm tàng ra oai, thật là khó chịu đáng ghét.

Có một sĩ quan Nhật, mỗi lần hắn đến là phải chơi bài nhạc riêng của hắn, trước khi vào cửa đã nói bô bô, rồi giầy đi nện gót xuống đất cho kêu to để ra oai. Hắn ngồi vào bàn, gọi tất cả các vũ nữ ra ngồi ôm hôn hít và bao tất cả các bàn. Cũng có hôm, 1 tên sĩ quan Nhật khác đến trước ban nhạc tự rút kiếm ra rồi đưa lên đưa lên múa trên đầu, trước mặt ban nhạc, có những chậu cây kiểng, hắn chật lấy một cành nhỏ rồi chặt hết lá làm cây đánh nhịp, rồi cầm kiếm đâm thủng khoanh tròn làm hư hết 2 mặt trống, hắn để kiếm trên bàn, cầm cây đánh nhịp và bắt ban nhạc phải chơi bài “China No Yuru ” và phải chơi liên tục cho đến khi nào cho nghỉ mới được thoi, có vẻ tự đắc lắm. Cũng có hôm, co tên sĩ quan Nhật to lớn để râu quai nón trông rất dữ tợn, hắn từ ngoài cửa đi thẳng vào sàn nhẩy, đến chỗ có chậu cây lớn, tự ôm lấy chậu cây nhảy theo điệu nhạc, những khách nhảy xung quanh phải đi ra nhường chỗ cho hắn làm trò. Nhạc sĩ phải chiều theo ý chơi theo nhạc của họ .

Mấy tháng sau anh em chúng tôi thôi ở Lucky Star chuyển sang làm ở dancing Moulin Rouge của chủ Tây Lai là Gauder, nhưng cũng phải chơi nhạc cho Nhật.Vì vậy anh em chúng tôi đã thuộc hơn 100 bài nhạc Nhật.

Cùng thời gian đó có anh Woong Bong Phu ở bên Trung quốc mới tới Hà Nội để biểu diễn các trò Xiếc và các môn về sức khỏe, có người em của hắn cũng đi cùng để trình diễn phụ với hắn. Họ cũng có nhiều trò hay, còn về sức khỏe như vật bò, cho bò nằm ngã ngửa; nằm dọc trên ghế, để miếng ván ngang qua bụng, ván dày khoảng 7 phân, chiều ngang 40 cm, chiều dài 6 thước, cho 20 người đứng lên trên ván, hai tay giơ lên để cho người em hãm 2 tay, chân đưa lên trời; còn trò làm 2 cái đu vòng cũng khá hay…

Thân hình của hắn trông to đẹp cân đối. Chúng tôi xem và làm quen với hắn, còn nói chuyện về thể thao sức khỏe và chuyện xiếc thì hắn thích lắm, hắn cho chúng tôi mấy tấm hình để làm kỷ niệm…

Woong Bong Phu 1/5/1953.
Woong Bong Phu 1/5/1953.
Vật bò.
Vật bò.
Ðu vòng.
Ðu vòng.
20 người đứng trên và một người chống ngược.
20 người đứng trên và một người chống ngược.

Vẫn trong thời kỳ Nhật. Có một anh Tàu tổ chức thuê một ban nhạc và cac vũ nữ lên Chapa làm cho Nhật, trả lương cao, làm hợp đồng 6 tháng, bao ăn ở luôn với hotel. Tôi đi cùng với ban nhạc.Tỉnh Chapa, nằm trên núi cao 5000 m, cảnh đẹp vô cùng, luôn luôn có mây phủ và bay lướt qua người mát lạnh… Hàng ngày sáng sớm tôi dậy sớm tập thể dục, co thêm Ngọc Bích và một anh Tàu cùng tập, chạy bộ cách hotel ở chừng 1 cây số, nhièu lúc nhìn lại không thấy hotel đâu, vì bị mây che phủ kín tất cả. Lúc bấy giờ là mùa đào đang chín cây, tha hồ ăn cả ngày, thường đến muà này họ hái mang về Hà Nội bán. Chúng tôi làm cho dancing được 4 tháng thì trời mưa bão rất lớn, làm các đường xe ô tô và các nơi khác đều hư hại rất nhiều. Dangcing phải hủy bỏ giao kèo. Chúng tôi phải tự đi bộ về Yên Bái rồi chung nhau mở phòng trà để sống tạm, còn các nhạc sĩ khác và vũ nữ tự túc đi bộ về Hà Nội. Thế giới lại lộn xộn việc Nhật đầu hàng, rồi quân đội Tàu qua Việt Nam tước vũ khí Nhật.Trước khi để quân Tàu giải giới. Quân đội Nhật đứng nghiêm và hô to để giao khí giới cho quân đội Tàu, nghe hô to quân lính Tàu hoảng sợ bỏ chạy tán loạn.

1945, quân đội Pháp vào lại Việt Nam… Có ban nhạc của Nga, chơi nhạc Dancing rất giỏi. Nhạc trưởng ban nhạc Nga có mời anh em tôi cộng tác với họ, từ 4 giờ chiều cho đến 7 giờ tại nhà hàng lớn ở Hà Nội là Taverne Royal. Chơi toàn nhạc classique và ăn cơm tây tại đó, rồi càng sang bên Dancing Ciros làm từ 9 giờ đến 12 giờ đêm, vì làm hai nơi liền nên họ trả lương cao…

Cuối năm 1945. Quân đội Pháp đánh chiếm Hải Phòng. Ở Hà Nội bắt đầu hơi lộn xộn và rục rịch muốn tản cư.

Nói về nhạc trưởng Nga, rất quí mến chúng tôi, vì chúng tôi biết chơi nhạc classique và dancing. Một hôm ông ta mời anh em tôi đến nhà ăn cơm và đích thân làm mấy món ăn thuần túy Nga để mời chúng tôi. Khi ăn cơm xong hắn lấy tờ contrat ra để mời anh em chúng tôi làm thêm và còn tăng lương gấp đôi, tiếp theo cầm gói giấy bạc lớn nói là chúng tôi muớn vay bao nhiêu cũng được. Hắn nói nếu tình hình có lộn xộn thì hai anh cứ mang gia đình đến nhà hắn ở, vì nhà hắn là villa lớn co hầm trú ẩn bằng đá rất chắc chắn và có thể chứa được mấy gia đình ăn ở luon trong hai ba tháng…Và nếu hắn kéo cờ Nga thì bảo đảm không còn sợ gì hết. Anh em chúng tôi mới nói là xin cám ơn ông đã có lòng tốt ưu đãi, chúng tôi rất cảm động, vậy xin ông hiẻu cho chúng tôi và xin ông cho phép chúng tôi được nghỉ luôn…Vì chúng tôi là người Việt Nam, đã là người Việt Nam thì ai cũng có lòng yêu nước, một lần nữa chúng tôi xin cám ơn ông …thật đáng tiếc. Khi ông ta nghe chúng tôi nói như vậy, mới đầu thì cũng hơi tức giận, ngồi thừ người ra, rồi một lúc sau nguôi giận vì biệt không thể giữ chúng tôi ở lại được. Ông ta mới noi là chúng tôi làm như vậy là phải. Ðến khi chào bắt tay ra về thì ông ta và chúng tôi đều bùi ngùi luyến tiếc.

1946, hàng ngày vẫn nghe tiếng súng bắn ở xa gần, báo hiệu cho biết Pháp lại muốn chiếm lại Hà Nội. Anh em chúng tôi phải bỏ nhà và các đồ nhạc ở lại. Ði đến Quán Gánh là các trại của bố mẹ tôi ở gần đó, cách Hà Nội 16 cây số, gần hãng rượu Văn Ðiển. Trong khi chúng tôi ở Quán Gánh được hơn 1 tháng thì vẫn nghe tiếng súng nổ rất gần. Buộc lòng anh em chúng tôi và cùng bố mẹ vội đi tản cư, bỏ hết tất cả trại, nhạc cụ và tài sản …

Chúng tôi lại tản cư đến Thanh Hóa, thấy rất đông vui, mới ở được vài hôm sắp có ý định mở phòng trà thì thấy họ bắt đầu phá thành để chuẩn bị chống Pháp. Chúng tôi lại phải rời đi Nông Cống cách Thanh Hóa 28 cây số. Tất cả gia đình ở tạm đó thì gặp một anh bạn là anh Giàng đang làm trưởng đồn điền café rộng 15 cây số vuông. Hắn mời tôi và vợ chồng Xuân Khuê đến ở, hắn lo hết…Chúng tôi đến ở Như Xuân, chỉ có tập thể thao , uống sữa bò, săn bắn chim v.v..Ðược mấy tháng rồi ở lâu cũng chán. Lại nghe đồn ở Phát Diệm đang đông và vui. Mấy anh em lại cùng đi Phát Diệm, đây là nơi của người Công Giáo rất vui và sầm uất, ở đó đã có 3 phòng trà đang mở, một của Hoàng Trọng và hai phòng trà khác. Chúng tôi sửa soạn để mở phòng trà, tìm thuê một sân rộng , đóng sân khấu cao để cho ban nhạc, sắm mọi thứ để mở phòng trà, có nhạc sĩ Ðan Thọ cùng cộng tác thêm. Phòng trà đặt tên là Lôi Tiên. Chúng tôi định chỉ mở chừng một tháng là kéo lại vốn. Khi bắt đầu mở, khách đến rất đông, mấy anh em bạn thân họ nói chơi cho vui là phòng trà Lòi Tiền… Mấy hôm sau thì các phòng trà nhỏ đòng cửa dần. Làm được gần một tháng, bỗng một buổi trưa, ngoài phố lộn xộn, có tin một bọn Việt Minh trà trộn để đột kích ở Phát Diệm, người Công Giáo họ biết tin ngay, họ đuổi bắt, bọn Việt Minh sợ chạy trốn, rồi chạy vào sân phòng trà, chui vào tủ, gầm giường, nhưng người Công Giáo đuổi đến tận nơi, rồi bắt hết. Chúng tôi nghe tin báo, ngay chiều hôm đó phải ra xem tình hình, rồi vội vàng thu xếp đồ đạc bán và cho hết…. Hôm sau chúng tôi vội vã từ giã Phát Diệm rời đi nơi khác. Lại nghe đồn là ở Ðống Nam, họ đang buôn bán đông đảo rất vui.

1947, chúng tôi di cư đến Ðống Nam, đến một ngôi chùa lớn, anh em đến điều đình với sư cụ chủ trì ở chùa đó, xin sư cụ cho phép chúng tôi được ở dãy nhà ngang tại chuà trong thời gian tản cư khó khăn. Sư cụ vui vẻ bằng lòng cho mấy gia đình chúng tôi được phép ở lại chuà. Bởi vậy chúng tôi coi đây là trụ sở nơi dừng chân nghỉ ngơi của chúng tôi… Anh em tôi lập ban nhạc đi lưu động đặt tên là Ban Âm Nhạc Lôi Tiên, đi trình diễn khắp nơi rồi lại về chùa ở Ðống Nam dừng chân nghỉ ngơi…

Xuân Khuê, Xuân Tiên, Xuân Lôi - Ðống Nam 1948.
Xuân Khuê, Xuân Tiên, Xuân Lôi – Ðống Nam 1948.

Ở Ðống Nam chúng tôi có quen biết ông bà Trần Xuân Ky bán thuốc tây, có 2 người con trai là Trần xuân Kim 12 tuổi và Trần xuân Kính 11 tuổi, anh em Kim Kính đều thích ca nhạc và tập thể dục thể thao…Thấy chúng tôi chơi nhạc và tập thể dục, anh em Kim Kính xin chúng tôi dạy cho ca nhạc và thể dục thể thao, chúng tôi dạy cho họ ca nhạc thực hành và thể dục thể thao về sức khỏe gân tay. Khi ở Ðống Nam có gặp nhạc sĩ Ðỗ Thế Phiệt choi đàn violon về Classique rất giỏi.

Ðỗ Thế Phiệt, Xuân Khuê, Xuân Lôi, Xuân Tiên - Ðống Nam 1948.
Ðỗ Thế Phiệt, Xuân Khuê, Xuân Lôi, Xuân Tiên – Ðống Nam 1948.
Ban Bích Hợp - Xuân Lôi, Phùng Tử Lân, Bích Hợp, Xuân Khuê, Xuân Tiên.
Ban Bích Hợp – Xuân Lôi, Phùng Tử Lân, Bích Hợp, Xuân Khuê, Xuân Tiên.
Bích Hợp - 1952.
Bích Hợp – 1952.
Hà Nội – 1953.
Hà Nội – 1953.
Ban nhạc trước hiệu ảnh Thủ Ðô - Ðống Nam 12-9-1949.
Ban nhạc trước hiệu ảnh Thủ Ðô – Ðống Nam 12-9-1949.

Tường Vi, Xuân Lôi, Xuân Khuê, Xuân Tiên, Phùng Tử Lân, Paul Trí

1949, chúng tôi ở Ðống Nam một thời gian khá lâu. Ở đây họ buôn bán vẫn sầm uất vui vẻ. Bỗng có một máy bay bà già lượn chung quanh để hỏi thăm Ðống Nam, họ bắn những tràng liên thanh và thả bom. Chúng tôi biết không yên, gia đình anh em vội đến Thụy Anh ở ngay cạnh biển. Dân ở đó cũng đông lắm. Cảnh biển ở Thụy Anh rất đẹp. Dân chài lưới, đánh cá, họ sống cảnh thiên nhiên và bình thản. Tiếp đến lại nghe rất nhiều tiếng súng. Chúng tôi lại phải quay về Phủ Lý định Dinh Tề (tiếng lóng là về Hà Nội). Nhưng lúc đó tiếng súng vẫn nhiều và họ chặn đường không cho ai đi Phủ Lý, chỉ còn một con đường duy nhất đi được là Thái Nguyên. Khi đến Thái Nguyên thì gặp bà Cát Thành Long, bà ta là một người nổi tiếng giàu có ở Hải Phòng. Bà gặp gia đình chúng tôi đến, có cả bố mẹ tôi, bà vui mừng lắm, bà còn mấy cái đồn điền ờ Thái Nguyên. Khi xưa bà cho người em trai bà là Thành đến xin làm con nuôi bố mẹ tôi từ hồi còn nhỏ, bởi vậy mới thân thiện và biết rỡ bà từ hồi đó, ở Thái Nguyên, bà còn đồn điền lớn , luôn luôn bà mời gia đình chúng tôi đến ăn cơm thịnh soạn. Bà Cát Thành Long còn nuôi 10 anh bộ đội làm con nuôi, mỗi khi các anh bộ đội về thăm bà là bà đều cho ăn ở rất chu đáo và còn cho thêm mọi thứ cần thiết.

Chúng tôi ở Thái Nguyên một thời gian, anh em chúng tôi không có đất dụng võ, đành phải đến chỗ Văn Hóa Vụ là nơi của Việt Minh, trưởng ban là Hoài Thanh. Khi chúng tôi đến Văn Hóa Vụ thì họ rất vui mừng tiép nhận anh em chúng tôi niềm nở. Trong ban Văn Hóa Vụ có: Phan Khôi, Nguyễn Tuân, Văn Tân, Tố Hữu, Thế Lữ, Ðào Duy Anh, Ðoàn Phú Tứ, Nguyễn Ðình Thi, nhạc sĩ có: Nguyễn Xuân Khoát, Văn Cao, Tô Vũ, Nguyễn Hữu Hiếu, Canh Thân, Lê Hoàng Long, anh em chúng tôi có: Xuân Thư, Xuân Oai, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Xuân Khuê… Họ đối với chúng tôi rất tử tế và giao công tác cho từng người. Chúng tôi ở Văn Hóa Vụ cũng tạm ổn định.

Ban Nhạc 5 anh em chụp ở Ðống Nam.
Ban Nhạc 5 anh em chụp ở Ðống Nam.

Xuân Khuê, Xuân Thư, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Xuân Oai

Bỗng có máy bay bà già của Tây đến thăm và vấn an Thái Nguyên và tặng cho những tràng đạn liên thanh. Văn Hóa Vụ phải rời đi Tuyên Quang, vào sâu trong rừng cách Tuyên Quang 70 cây số.Trong khi anh em tôi đi theo họ phải lội qua 5, 6 cái suối lạnh rợn người. Có những lúc đang đi trong rừng thi trời mưa to, có những con vắt nhỏ thấy có người đi qua nhảy xuống bám rất nhẹ để hút máu, hình thù nó giống con đỉa nhung chỉ dài có 2 phân. Khi qua đên khu rừng rậm rạp âm u thuộc tỉnh Tuyên Quang là nơi họ đã làm những nhà lá rất lớn để dạy học trò về đủ mọi bộ môn văn nghệ, ca nhạc, múa hát, kịch, chèo và vẽ… Ở trong rừng sâu không còn sợ máy bay đến viếng nữa.

1950, có một hôm họ tổ chức ghi nhạc Chèo để có tài liệu lưu lại mai sau…Vì hồi đó chưa có máy magnetophone và cassette, bởi vậy họ mời tất cả các nhạc sĩ và các ca sĩ chuyên về hát chèo đến tập trung lại một nơi để ghi nhạc chèo, rồi mời một cụ tên Nít ngồi vào giữa hát thử một bài chèo để nghe trước, rồi cụ Nít hát câu thứ nhất cho các nhạc sĩ ghi, đến cáu thứ hai, thứ ba đến hết cả bài Chèo… Dồng thời tôi ghi xong trước nhất và đúng nhất. Hội đồng giám khảo thấy tôi ghi nhạc Chèo đúng quá và rất giỏi, đưa cho các nhạc sĩ xem. Rồi họ đồng ý là để cho tôi chuyên về ghi nhạc Chèo. Họ mời tôi lên một nơi đến một nhà chòi tĩnh mịch để tôi ghi nhạc Chèo với cụ Nít và thêm có ông bà Năm Ngũ cũng hát Chèo gốc… Khi ghi xong mỗi bài nhạc Chèo là tôi đánh đàn và hát theo cùng với người hát, rồi lại ghi tiếp bài khác. Trong thời gian ghi nhạc Chèo đó, tôi đã ghi được hơn 30 bài nhạc Chèo… Sau này anh Tô Vũ mang hết tài liệu về nhạc Chèo cùng về Hà Nội để ở Viện Âm Nhạc.. Chùng tôi nhận dạy thổi sáo trúc và lý thuyết cơ bản về âm nhạc.. Mỗi khi có cuõc học hoặc cuộc vui nào là đả có ban nhạc anh em chúng tôi sẵn sàng…

Tôi và Xuân Tiên lại nghiên cứu làm sáo 6 lỗ đến 10,11,12,13 lỗ… Mười ngón tay đều có chỗ bấm, làm thên lỗ là để cho có thêm nửa giọng, nếu bấm kiểu thì khó và chậm, bấm nửa lỗ thì tiếng kêu lúc bấm già bấm non không đúng tiếng mà còn câm tiếng…Sáo 10 lổ còn chơi được các bài tân nhạc và các bài ngoại quốc. Sáo 11 đến 13 lỗ còn chơi thêm được các giọng thấp cho hợp với các bài Việt Nam. Các loại sáo kiểu mới từ 10 lỗ đến 13 lỗ đã làm đủ các giọng là Do, Ré, Mi, Fa, Sol, La, Si … Văn Hóa Vụ đã công nhận và cho bằng khen là sáo Xuân Lôi, Xuân Tiên cải tiến năm 1950. Tôi còn làm thên các sáo nhỏ 6 lỗ là Picolo. Tôi và Xuân Tiên còn nghiên cứu làm loại sáo đệm để đệm cho ban nhạc chơi toàn sáo, thay thế cho các đàn đệm có hợp âm (Accord). Sáo đệm gồm có 16 ống sáo nhỏ,3 ống sáo to và dài, xếp lại giống Khèn của người thiểu số miền Thượng, khi chơi thì đeo giây móc vào như kèn Saxophone. Cách xử dụng thì bấm 3,4 nốt sẽ thành hợp âm… Tôi còn có ý định làm thêm đàn Violoncelle, đàn Xylophone, đàn Contrebass cũng chỉ bằng ống nứa. Nghiên cứu làm đàn contrebass bằng các ống nứa lớn đường kính chừng 8 phân, chiều dài khoảng 80 cm, có tất cả là 22 ống nứa, từ nốt Sol thấp đến nốt Sol cao, cách nhau 3 quãng 8. Các óng nứa treo vào các khung để ống, lò xo mắc ống nứa lên cao cách mặt đất độ 5 cm, lấy vải dầy hoặc thảm lót dưới đất, khi đánh thì lấy tay ấn vào ống nứa, ống nứa đụng xuống mặt đất thành tiếng kêu rất êm, nghe hay có thể thay thế đàn contrebass được, sau đó đặt tên đàn này là Melobasse… Nhạc sĩ Tô Vũ và anh tôi Xuân Thư hợp tác viết một cuốn sách dạy về cách làm sáo và dạy về cách thổi. Nhà xuất bản Kuy Sơn Hà Nội ngày 1-11-1955, trong sách có nói đếncách tập thổi sáo như thế nào là phải nói đến sáo Lôi Tiên.

1951, chúng tôi đi từ rừng Tuyên Quang về theo hướng đi Phủ Lý có cả đàn bà, trẻ con và dụng cụ nhạc thật là khó khăn và gian nan vất vả. Khi chúng tôi đến bờ sông để định sang sông đi Phủ Lý, thì có mấy anh công an đến kiểm soát hỏi giấy tờ, thì thấy nói là chúng tôi chuyển công tác đi khu Tư là Thanh Hóa. Họ biết ngay là chúng tôi định Dinh Tê về Hà Nội. Họ nhất định không cho chúng tôi sang sông. Trong lúc đang nói chuyện thì có máy bay Tây bay lượn quanh bờ sông, tất cả đều chạy núp; khi máy bay đi rồi thì bọn công an đã sang sông trước để đón kiểm soát ở con đường đi qua đến Phủ Lý. Chúng tôi sửa soạn để qua sông thì có một anh đến nói với chúng tôi, hắn là tự vệ ở khu phố này mà bọn công an giữ không cho chúng tôi đi thì hắn đã biết có chuyện rồi, hắn mới nói là để hắn giúp cho anh em tôi được về, vì hắn thấy gia đình chúng tôi và văn nghệ sĩ có cả đàn bà và trẻ con, hắn thương tình giúp cho gia đình chúng tôi qua sôngvà gánh đồ về nhà hắn để giấu chúng tôi ở nhà hắn đến tối, luôn luôn ra xem bọn công an đã về chưa, thường lệ thì 2 giờ đêm thì bọn công an về, riêng tối hôm đó là dân gánh gạo tiếp tế cho công an, cho nên bọn họ phải gác đến 4 giờ sáng mới về, anh tự vệ vội báo cho chúng tôi đi gấp, bắt buộc phải đi ven qua bờ đê rồi tới Lâm Ðại, khi đang đi thì vẫn nghe tiếng súng rất gần, dến sáng sớm thì đến Lâm Ðại, anh ta đến nhà người bạn để gửi gia đình chúng tôi tránh bọn công an, rồi anh tự vệ về. Chúng tôi phải cho hắn tiền gánh đồ đạc gấp đôi và cho luôn nhiều quần áo….Sáng sớm hôm sau công an đã đến Lâm Ðại hỏi dân phố xem có biết gia đình nghệ sĩ có đàn bà trẻ con đi qua không, thì dân phố trả lời đều nói không có, không biết. Lâm Ðại là vùng một nửa của Tây và một nửa của Viet Minh, gọi là vùng Tề…Chiều, anh bạn lại gánh đồ đạc dẫn chúng tôi đi đén Phủ Lý. Khi đến Phủ Lý thấy sáng sủa nhẹ nhõm, không khí vui tươi, dễ thở, chúng tôi vội đến hotel tắm rửa ăn uống, sáng sớm đang ăn thì thấy một người từ trên gác đi xuống, nhìn kỹ là một anh bạn quen, gặp nhau mừng lắm, anh bạn hỏi có muớn nhắn gì ai ở Hà Nội không ? hắn sắp sửa đi Hà Nội. Chúng tôi nói là nhờ anh nói hộ cho chúng tôi là gia đình Xuăn Lôi, Xuân Tiên đã về đến Phủ Lý, rồi anh nói với bố tôi đến đón chúng tôi ở Phủ Lý. Khi chúg tôi gặp bố mẽ thì mừng rỡ biết bao. Ðúng là trời giúp đã cho anh tự vệ và anh bạn dẫn cho chúng tôi thoát khỏi vùng Việt Minh…

1952, tôi và Xuân Tiên nhận làm cho Dancing Văn Hoa ở Nam Ðịnh

Dancing Văn Hoa 1952.
Dancing Văn Hoa 1952.

Ðỗ Văn Ngọc, Xuân Tuấn, Xuân Lôi, Xuân Tiên, Văn Bính, Lê Chuyên

Chúng tôi làm cho Dancing Văn Hoa được 3 tháng rồi thôi xin về Hà Nội.

1952 anh em chúng tôi lập thành ban nhạc, gọi toàn nhạc sĩ giỏi để hợp tác tự mình làm chủ một nhà hàng lờn gọi là Dancing Le Coq d’or ở Hà Nội.

xuantien_Le Coq d'Or -1

xuantien_Le Coq d'Or 2

Canh Thân, Văn Cách, Ðỗ văn Quy, Ðỗ văn Ngọc
Paul Lành, Lê văn Bính, Xuân Tiên, Xuân Lôi, Ðinh văn Hoằng, Văn Yết, Nguyễn văn Ích

1953, Xuân Tiên vào Saigon trước để chơi nhạc cho các nhạc hội, phụ diễn tân nhạc tại cinéma Thanh Bình đường Phạm Ngũ Lão… Mấy tháng sau tôi cũng vào Saigon làm cho Dancing Kim Sơn, có cả Xuân Tiên, trưởng ban nhạc là Trần văn Lý… Ðể nói tiếp là khi Xuân Tiên đang chơi nhạc, có gặp nam ca sĩ Mai Trường, anh ta tập thể thao, to con và rất khỏe, khi nói về chuyện vật tay thì anh ta đòi thử sức liền, hẹn vật tay với Xuân Tiên 3 lần, mới vật lần thứ nhất thì Xuân Tiên được ngay, rồi đến lần thứ hai thứ ba Xuân Tiên vẫn thắng, mọi người đứng xung quanh xem đều vỗ tay hoan hô Xuân Tiên, lúc bấy giờ Mai Trường mới chịu phục Xuân Tiên. Từ đó các nghệ sĩ đều biết Xuân Tiên vật tay khỏe và Xuân Tiên nổi tiếng từ đó…

Mai Trường 1966.
Mai Trường 1966.

Mấy tháng sau Dancing Kim Sơn nghỉ đóng cử luôn. Họ phá nhà hàng lấy chỗ trống làm bãi để xe ngựa. Tôi lại làm cho các Dancing Bồng Lai, Văn Cảnh, Mỹ Phụng, Kim Ðiệp v.v…Làm đài phát thanh Pháp Á, đài Saigon, đài Tiếng nói quân đội, đài Tiếng nói Tự Do v.v…

1954, tôi nhận 3 chương trình của đài Saigon, mỗi tuần một lần, làm trưởng ban nhạc Xuân Lôi, ban nhạc chuyên chơi nhạc Jazz. Tôi nhận thêm làm 1 ban nhạc cho đài Tiếng nói quân đội, ban Hương Xa chuyên chơi nhạc ngoại quốc, hát lời Việt và hoà tấu, mỗi tuần một lần.

Ban nhạc Dancing Kim Sơn - Huỳnh Anh, a Chẻng, Châu Lồi, Xuân Tiên, Văn Út, Xuân Lôi
Ban nhạc Dancing Kim Sơn – Huỳnh Anh, a Chẻng, Châu Lồi, Xuân Tiên, Văn Út, Xuân Lôi
Ban nhạc Xuân Lôi, đài Saigon 1958.
Ban nhạc Xuân Lôi, đài Saigon 1958.
Ban nhạc Hương Xa, Xuân Lôi trưởng ban, đài Tiếng Nói Quân Đội 1957.
Ban nhạc Hương Xa, Xuân Lôi trưởng ban, đài Tiếng Nói Quân Đội 1957.
Xuân Lôi, phi trường Lào 1953.
Xuân Lôi, phi trường Lào 1953.

1955, Ðài phát thanh Tiếng Nói Quân Ðội tổ chức ban văn nghệ đi Lào dự hội chợ Tháp Luổng.
1956, Ðài phát thanh Tiếng Nói Quân Ðội tổ chức ban văn nghệ đi Thái Lan biểu diễn ca nhạc.

Nhật Bằng, Xuân Lôi, Trung Úy Trường, Xuân Tiên và 2 cô người Phi mặc áo dài VN.
Nhật Bằng, Xuân Lôi, Trung Úy Trường, Xuân Tiên và 2 cô người Phi mặc áo dài VN.

1961, ban văn nghệ Ðài Tiếng nói Quân Ðội sang Phi Luật Tân biểu diễn văn nghệ ca nhạc để trao đổi nghệ thuật cùng các nghệ sĩ Phi Luật Tân.

xuantien1

xuantien2

xuantien3

Xuân Lôi và các nhạc cụ sử dụng Clarinette, Basson, Violon.
Xuân Lôi và các nhạc cụ sử dụng Clarinette, Basson, Violon.
Ban Hoa Thời Ðại 14-07-1968 do anh chị Phạm Mạnh Cương và Như Hảo phụ trách.
Ban Hoa Thời Ðại 14-07-1968 do anh chị Phạm Mạnh Cương và Như Hảo phụ trách.
Ban Tuổi Xanh do hai nghệ sĩ Phạm Ðình Sĩ và Kiều Hạnh phụ trách.
Ban Tuổi Xanh do hai nghệ sĩ Phạm Ðình Sĩ và Kiều Hạnh phụ trách.
Xuân Tiên, Xuân Lôi khi tản cư ở Ðống Nam, 1948.
Xuân Tiên, Xuân Lôi khi tản cư ở Ðống Nam, 1948.

Khi anh em chúng tôi vào Saigon 1953, co gặp lại Tiểu lực sĩ Lý Ngọc Long, anh ta rat vui. Lại noi thêm về chuyện vui vật tay, tại Ðài tiếng nói quân đội, có một hôm chúng tôi đang làm việc để sửa soạn các nhạc cụ thu thanh, chợt co hai anh bạn của Vũ Huyến đến chơi, một anh là huấn luyện viên thể dục, cao to, bắp thịt tay rắn chắc, tên là Thành. Bấy giờ Vũ Huyến mới giới thiệu, anh Thành vật tay rất khỏe, muốn đến vật tay thử sức với chúng tôi… Nhưng lúc bấy giờ, chúng tôi mới ốm khỏi chưa lại sức, nên hẹn đến tháng sau …Tháng sau, anh Thành và các bạn cùng đến. Xuân Tiên vật tay với anh Thành, vật 3 lần, lần đầu Xuân Tiên được liền, đến lần hai và ba Xuân Tiên đều được, biết là dư sức, Xuân Tiên lật ngửa tay chấp anh ta, rồi vật lại vẫn được như thường… Lúc ấy anh Thành mới chịu phục Xuân Tiên khỏe hơn nhiều, anh ta mời chúng tôi đi uống nước, nhưng từ chối vì phải lên phòng thu thanh cho các ban nhạc. Trong thời gian làm việc ở Ðài quân đội, một buổi chiều, anh em chúng tôi đến chơi sân vận động Phan Ðình Phùng thì gặp anh huấn luyện viên ở sân giới thiệu có Trần xuân Kim là tay chơi về đu vòng rất giỏi và vật tay thi khỏe nhấ và được hết tất cả các thanh niên ở sân vận động. Chúng tôi nói tưởng ai chứ Trần xuân Kim thì chúng tôi đã biết ở Ðống Nam, lúc bấy giờ Kim hãy còn nhỏ, chúng tôi đã dạy cho Kim ca nhạc và cách tập thể dục đu vòng. Cách thời gian hơn 10 năm mà bây giờ trông anh ta to đẹp, khỏe mạnh, khác hẳn lúc còn nhỏ ở Ðống Nam. Khi gặp chúng tôi, Trần xuân Kim mừng lắm, xem anh ta biểu diễn đu vòng thi thấy cũng có mấy kiểu khó và hay…Ðến khi Xuân Tiên lên chơi mấy kiểu khó hơn và tôi lên chơi làm mấy kiểu khác nữa rất khó, toàn thể thanh niên trong sân đều vỗ tay hoan nghênh…

1967 Tôi làm cho nhà hàng Maxim’s do Hoàng thi Thơ tổ chức, chương trình ca vũ nhạc kịch theo lối quốc tế như: Casino, Muolin Rouge. Mỗi thang thay đổi chương trình một lần, tôi điề khiển ban nhạc Maxim’s.

Hoàng thi Thơ và Thúy Nga 29/01/1969.
Hoàng thi Thơ và Thúy Nga 29/01/1969.
Nhà hàng Maxim's 1967.
Nhà hàng Maxim’s 1967.
La mi Nghiêm, A Chẻng, Chí Mình, Barthelemi, Xuân Lôi, Lê Ðô, Hoàng Trung Vinh
La mi Nghiêm, A Chẻng, Chí Mình, Barthelemi, Xuân Lôi, Lê Ðô, Hoàng Trung Vinh

1975 – Ðầu năm vì tình hình căng thẳng lộn xộn, nhà hàng Maxim’s đóng cửa. 30 tháng 4 miền Nam mất.

1976 – Công ty du lịch tổ chức văn nghệ ca nhạc, muá dân tộc để đón khách nước ngoài đi du lịch đến xem tại nhà hàng Rex mà họ đổi tên là khách sạn Bến Thành. Họ lập ban văn nghệ và mời tôi trong ban nhạc. Ðược ít lâu lại mở thêm Dancing. Thành phần ban nhạc gồm co 12 nhạc sĩ, họ mời tôi điều khiển ban nhạc Bến Thành.Làm cho Bến Thành được mấy tháng, ban Cải Lương Hồ Quảng Minh Tơ, trưởng ban nhạc là Ðức Phú năn nỉ mời tôi sang chơi giúp cho ban Minh Tơ – vì hắn thấy tôi biết chơi sáo ta và biết thông thạo về các điệu Hồ Quảng – Ðức Phú năn nỉ tôi mãi, tôi đành phải chơi giúp cho ban Minh Tơ trong thời gian 2 tháng. Khi chơi giúp cho Minh Tơ, bên Bến Thành lại thiếu kèn Saxo Alto, nên họ phải mời nhạc sĩ chơi kèn Saxo thế chỗ của tôi. Khi qua 2 tháng, tôi trở về làm lại Bến Thành, tôi đổi qua qua chơi Guitar Bass. Ðược một thời gian thi tôi lại chơi qua kèn Trombonne, trong ban nhạc lớn phần nhiều phải có kèn Trombonne. Những bài nhạc lớn có hoà âm đầy đủ, phần nhiều do bài bản của tôi mang ra.

Ðồng thời tôi lại nghiên cứu sáng chế một loại đàn mới lạ. Vật liệu dùng các lon bia bằng sắt, cắt bỏ nắp, rồi úp ống lon ngược trên miếng ván co lót nỉ, rồi gõ tiếng kêu rất lạ, nhưng phải nghiên cứu cách sắp xếp khác với loại đàn thường, rồi xếp thành 3 hàng ngũ cung, đàn có 39 nốt, mỗi nốt cách nhau nửa giọng. Khi làm rất lâu. Kết quả âm thanh nghe lạ và rất xa… Ðàn được đặt tên là Xuanloiphone, làm xong ngày 20/07/1976. Ðể xử dụng các bài Ngũ Cung thì rất hợp, chơi được các bài từ chậm cho đến nhanhmà đàn còn vuốt được, kể cả các bài Tân nhạc và nhạc ngoại quốc. Nhạc sĩ Y Vân mời xử dụng đàn này thu cho film hoạt họa… Một lần nhạc sĩ Cao Thanh Tùng đến xin tài liệu và chụp hình đăng báo Tin Sáng ngày 17/10/1979.

Ðàn Xuanloiphone sáng chế 20-07-1976, Sài Gòn.
Ðàn Xuanloiphone sáng chế 20-07-1976, Sài Gòn.

oOo

Trăng Khuya – Danh ca Thái Thanh:

 

Hận Đồ Bàn – Ca sĩ Việt Ấn:

 

Hận Đồ Bàn – Ca sĩ Quốc Anh:

 

Hận Đồ Bàn – Ca sĩ Thế Sơn:

 

Hận Đồ Bàn – Ca sĩ Chế Linh:

 

Hận Đồ Bàn – Ca sĩ Đăng Vũ:

 

Khúc Hát Ân Tình – Ca sĩ Hương Lan:

 

Khúc Hát Ân Tình – Ca sĩ Mai Thiên Vân:

 

Khúc Hát Ân Tình – Ca sĩ Như Quỳnh, Hạ Vy, Hà Phương, Minh Tuyết:

 

Khúc Hát Ân Tình – Ca sĩ Hà Thanh Xuân:

 

Duyên Tình – Ca sĩ Hà Thanh Xuân, Quốc Khanh:

 

Duyên Tình – Ca sĩ Thu Hà, Lê Anh Dũng:

 

Duyên Tình – Ca sĩ Tài Linh, Đình Văn:

 

Về Dưới Mái Nhà – Ca sĩ Trần Thái Hòa, Quang Lê, Thế Sơn:

 

Về Dưới Mái Nhà – Ca sĩ Hạnh Nguyên, Trương Minh Quốc Thái:

 

Nhạt Nắng – Ca sĩ Hương Lan:

 

Nhạt Nắng – Ca sĩ Trung Hậu:

 

Nhạt Nắng – Ca sĩ Giáng Tiên:

 

Nhạt Nắng – Ca sĩ Cẩm Ly:

 

Nhạt Nắng – Ca sĩ Hoàng Thục Linh:

 

Chờ Một Kiếp Mai (Xuân Tiên, Ngọc Bích) – Ca sĩ Khánh Ly (thu âm trước 1975):

 

Chờ Một Kiếp Mai (Xuân Tiên, Ngọc Bích) – Ca sĩ Thanh Lan (thu âm trước 1975):

 

Chờ Một Kiếp Mai (Xuân Tiên, Ngọc Bích) – Ca sĩ Trầm Tấn:

 

Mong Chờ – Ca sĩ Hương Lan:

 

Mong Chờ – Ca sĩ Hoàng Oanh:

 

Mong Chờ – Ca sĩ Quang Linh:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s