Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Brâu/Brạo

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Phần giới thiệu của mình với các bạn tiếp theo Dân ca Bố YDân ca Brâu hôm nay.

Dân tộc Brâu (còn gọi là Dân tộc Brạo) là một dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu tại Campuchia, Lào và một ít tại Việt Nam.

Theo các nguồn khác nhau thì dân số người Brâu tại Campuchia khoảng 14.000 người, tại Lào khoảng 13.000 người tới 24.000+ người. Tại Việt Nam từ năm 1981 trở lại đây thì dân số người Brâu dao động trong khoảng 300 người. Cụ thể như sau:

Năm 1981 có 282 người
Năm 1989 có khoảng 231 người
Năm 1994 có 231 người

Đồng bào người Brâu vừa làm lễ để đón mừng ngôi nhà Rông mới được dựng lên (ảnh danviet)
Tộc Brâu vừa làm lễ để đón mừng ngôi nhà Rông mới được dựng lên (ảnh danviet)

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Brâu ở Việt Nam có dân số 397 người, cư trú tại 7 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Brâu cư trú tập trung tại các tỉnh: Kon Tum (379 người, chiếm 95,5% tổng số người Brâu tại Việt Nam), thành phố Sài Gòn (12 người, chiếm 3,0% tổng số người Brâu tại Việt Nam)

Người Brâu vốn ở vùng nam Lào và đông bắc Campuchia, mới nhập cư vào Việt Nam khoảng đầu thế kỷ XX.

Người Brâu vốn quen với cuộc sống du canh du cư, đốt rừng làm rẫy để trồng các loại lúa, ngô, sắn, sử dụng các công cụ sản xuất thô sơ như rìu, rựa và chiếc gậy chọc lỗ tra hạt. Với kỹ thuật trồng trọt này, năng suất cây trồng đạt được thấp.

Trang phục nam, nữ dân tộc Brâu.
Trang phục nam, nữ dân tộc Brâu.

Từ xa xưa, trong đời sống tâm linh, người Brâu quan niệm và tin rằng vũ trụ là do vị thần tối cao Pa xây sinh ra, Pa xây còn tạo ra bầu trời, mặt đất và muôn loài. Mỗi bước đi của Pa xây là thành sông, thành suối, thành núi, thành biển. Pa xây còn làm ra mưa gió, làm ra sự sống và cái chết. Cũng giống một số dân tộc khác ở Tây Nguyên, người Brâu cho rằng vạn vật hữu hình và thế giới đa thần, trong đó, thần núi, thần sông, thần biển, thần cây cối đều là nhân vật linh thiêng. Người Brâu còn tồn tại chế độ gia đình mẫu hệ. Trải qua các thời kỳ, cộng đồng dân tộc Brâu dần hình thành những nét văn hoá của dân tộc mình.

Tộc người này có truyền thống văn hóa độc đáo, dù kỹ thuật nông nghiệp còn lạc hậu. Văn hóa của người Brâu thể hiện ở các phong tục như hôn nhân, ma chay; ở nghệ thuật âm nhạc độc đáo, thể hiện qua các loại nhạc cụ, dân ca; ở các kiến trúc và trang phục riêng và ở các sinh hoạt văn hóa truyền thống như thả diều, đi cà kheo, đánh phết.

Trong phong tục hôn nhân, nhà trai tổ chức hỏi vợ phải nộp lễ vật cho nhà gái. Đám cưới được tiến hành tại nhà gái, và chàng rể phải ở lại nhà vợ khoảng 2 đến 3 năm rồi mới được làm lễ đưa vợ về ở hẳn nhà mình. Trong phong tục ma chay, người chết được đưa ra khỏi nhà, cho vào quan tài độc mộc và quàn tại một căn nhà riêng do dân làng dựng lên. Mọi người đến chia buồn, gõ chiêng cồng, mấy ngày sau mới mai táng. Những ché, gùi, dao, rìu… được bỏ lại trong nhà mồ được coi là số của cải gia đình dành cho người đã mất.

Chiêng Tha
Chiêng Tha Brâu

Các nhạc cụ cổ truyền của dân tộc Brâu có cồng và chiêng gồm nhiều loại khác nhau. Đặc biệt có bộ Chiêng Tha (chỉ gồm hai chiếc) nhưng có thể trị giá từ 30 đến 50 con trâu. Chiêng Tha, gồm Chiêng vợ và Chiêng chồng, là một biểu tượng tinh thần, quyền uy tối linh trong đời sống cộng đồng thông qua sinh hoạt lễ hội. Đó là “vật chủ” thông linh giữa thế giới phàm tục của con người và thế giới các thần trên cao, nên nó được ký thác chức năng phán truyền. Do đó bộ chiêng được đặt ở vị trí trang trọng không chỉ lúc diễn xướng mà cả khi cất giữ.

Các thiếu nữ Brâu thường chơi đàn K’lông Pút là nhạc cụ gồm 5-7 ống lồ ô dài ngắn không đều nhau đem ghép với nhau, tạo âm thanh bằng đôi bàn tay vỗ vào nhau ngoài miệng ống. Khi ru con hoặc trong đám cưới, người Brâu có những điệu dân ca thích hợp. Những trò thả diều, đi cà kheo, đánh phết, cũng là sinh hoạt vui chơi của thanh thiếu niên.

brau21_klông pút

Đàn K'lông Pút
Đàn K’lông Pút

Bài thơ làm xao động lòng người Đàn K’lông Pút

(Tác giả: Ngọc Khuê)

Không chạm vào đàn, sao đàn vẫn kêu
Không nói điều gì, sao em đã biết
Không chạm vào đàn, sao đàn vẫn kêu
Không chạm vào đàn, sao đàn vẫn kêu?
Anh chưa nói gì sao em đã biết
Em chưa nói gì sao anh đã yêu?
Ơi K’lông Pút.. K’lông Pút.. Em là hơi thở
Ai đang qua đèo
Tiếng chân lội suối đi tìm người yêu
Ơi K’lông Pút.. K’lông Pút..
Em là giây phút ngàn lau xạc xào
Ngã nghiêng điệu múa. Rừng chiều trên cao.

Người Brâu có trang phục đơn giản nhưng vẫn thể hiện cá tính trong tạo hình và trang trí.

Nam giới ở trần, đóng khố. Đến khoảng 14 đến 16 tuổi, con trai Brâu phải cưa bốn răng cửa hàm trên, và thường xăm mặt, xăm mình.

Trang phục nam, nữ Brâu.
Trang phục nam, nữ Brâu.

Phụ nữ để tóc dài hoặc cắt ngắn, đeo nhiều vòng trang sức (chuỗi hạt cườm ngũ sắc, hoặc vòng đồng, bạc) ở tay chân và cổ. Trước đây, phụ nữ để mình trần, mặc váy hở, quấn quanh thân. Thân váy được xử lý mỹ thuật ở phần đầu váy và chân váy với lối đáp các miếng vải khác màu có các sọc đen ngang đơn giản chạy ngang. Mùa lạnh họ mang chiếc áo chui đầu, cộc tay, khoét cổ. Đây là loại áo ngắn thân thẳng, tổng thể áo có hình gần vuông. Thân áo phía mặt trước và sau được xử lý mỹ thuật cũng theo nguyên tắc như váy. Toàn bộ thân trước màu sáng có đường viền đậm trên vai và gấu áo. Lưng áo được xử lý màu sáng có sọc ngang đơn giản nửa phía dưới áo.

Dưới đây mình có bài “Chiêng Tha trong đời sống của người Brâu” của VC, bài “Độc đáo lễ hội của dân tộc Brâu có hơn 400 người”, 1 clip phim tài liệu về văn hóa dân tộc Brâu, 1 clip tài liệu khác về Chiêng Tha Brâu, 1 clip Lễ cúng trỉa lúa của người Brâu, và 2 clips hòa tấu Đàn K’lông Pút để các bạn tiện việc tham khảo cùng thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Chiêng Tha Brâu
Chiêng Tha Brâu

Chiêng Tha trong đời sống của người Brâu

(VC ‘st’)

Ngoài vai trò là nhạc cụ, cồng chiêng còn là tài sản, thước đo sự giàu nghèo của mỗi gia đình, dòng họ, có vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của các dân tộc ở Tây Nguyên.

Ngoài vai trò là nhạc cụ, cồng chiêng còn là tài sản, thước đo sự giàu nghèo của mỗi gia đình, dòng họ, là vật thiêng trong tín ngưỡng, thành tố cơ bản tạo thành lễ hội, có vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của các dân tộc ở Tây Nguyên.

Để góp phần giữ gìn di sản Văn hoá các dân tộc, trong những năm qua Bảo tàng tỉnh Kon Tum đã sưu tầm và đưa về lưu giữ tại kho hơn một chục bộ chiêng các loại trong đó có 2 bộ Chiêng Tha, một loại chiêng quý hiếm, được người Brâu gìn giữ như báu vật của dân tộc mình.

Chiêng vợ, Chiêng chồng

Một bộ Chiêng Tha có hai chiếc, đường kính khoảng 45 – 50cm, nhưng theo đồng bào có khi phải đổi tới vài ba chục con trâu. Bề ngoài, Chiêng Tha cũng có màu đồng thau xám, gần như không khác gì các loại chiêng khác, nhưng chỉ cần chạm nhẹ vào âm thanh đã vang lên vì có lẽ trong Chiêng Tha có pha hợp kim gì đó. Chiêng Tha thường được chơi trong các dịp đón khách, mừng nhà rông mới, lúa mới, trong các lễ hội…

Theo tư duy của người Brâu, Chiêng Tha không chỉ là nhạc khí mà còn là thần linh, người Brâu cho rằng Chiêng Tha là tổ tiên của họ. Vì vậy trong ngôn ngữ người Brâu không có từ đánh Chiêng Tha mà là gọi Tha pơi (mời Tha nói). Để mời Tha nói trước tiên phải làm lễ mời Tha ăn, mời Tha uống.

Trong bộ Chiêng Tha, chiếc nhỏ là chiêng vợ (Chuar) và chiếc lớn hơn là chiêng chồng (Jơ Liêng). Cả hai đều không có núm. Mỗi chiêng có khoan 2 lỗ để luồn dây treo lên khi biểu diễn. Để đánh Chiêng Tha cần có 2 người với 4 dùi, gồm 2 dùi đực thẳng, dài khoảng 50cm, to bằng ngón tay út gọi là Tơ Lông Tha và 2 dùi cái ngắn hơn có dáng hình cổ ngỗng gọi là Giơ Ra. Ở đầu các dùi có bọc vải mềm nhiều lớp rồi cột chặt lại.

Chiêng Tha Brâu.  Chiêng chồng, Chiêng vợ.
Chiêng Tha Brâu. Chiêng chồng, Chiêng vợ.

Khi đánh, 2 dùi ngắn hình cổ ngỗng đánh mặt lưng, 2 dùi dài, thẳng đánh mặt bụng, chiêng vợ lên tiếng trước, rồi mới đến chiêng chồng. Khi diễn tấu, Chiêng Tha được treo lên, có thể treo từ dây cột trên xà nhà thả xuống hoặc treo trên giá và treo theo cùng hướng, mép dưới của chiêng cách mặt đất khoảng 10cm. Nghệ nhân đánh chiêng ngồi đối mặt nhau, người cầm 2 dùi đực ngồi phía lòng chiêng, người cầm 2 dùi cái ngồi phía mặt chiêng. Họ ngồi bệt xuống đất. Người đánh mặt lưng khoanh chân bằng tròn. Người đánh mặt bụng ngồi bằng mông, 2 chân duỗi, bàn chân dựng, mũi chân đỡ (giữ) chiêng, áp sát thành chiêng để ngắt tiếng, tạo âm khi đánh.

Bịn rịn lúc chia tay

Tháng 6.2011, sau một thời gian khảo sát, tìm hiểu, chúng tôi đã đến gia đình ông Thao La, làng Đăk Mế, xã Bờ Y, Ngọc Hồi để sưu tầm bộ Chiêng Tha thứ 2 phục vụ chuẩn bị trưng bày Bảo tàng. Hôm đó sau khi thống nhất giá cả và hoàn thành các thủ tục mua – bán, gia chủ xin phép được làm một số nghi lễ trước khi đưa chiêng ra khỏi nhà.

Chủ nhà sai vợ con đi mời thầy cúng, già làng và ông cậu ở nhà bên. Người con trai của gia đình bắt một con gà trống lớn làm thịt. Ông chủ đi lấy một ghè rượu, đổ nước và đặt cạnh nơi treo bộ Chiêng Tha. Gà làm sạch, luộc cả con cùng với bộ lòng (trừ tiết), được đặt trong chiếc mâm nhỏ để cạnh ghè rượu chuẩn bị cúng. Thầy cúng đến, ông lấy tiết sống bôi vào lòng 2 chiếc chiêng, chiêng chồng bôi trước, chiêng vợ bôi sau,vừa bôi tiết gà – xoa tròn theo chiều kim đồng hồ trong lòng chiêng, ông vừa khấn (tạm dịch):

“Ớ Tha! Hôm nay mình đổi chỗ ở, cho Tha đi ở nhà khác. Vì hoàn cảnh gia đình mình nghèo khổ, vợ con ốm đau, nợ nần nhiều mình mới phải làm như vậy, chứ trong bụng mình không muốn xa Tha… Xin Tha đừng thắc mắc, đừng buồn, đừng trách, đừng giận mình. Tha đừng phạt, đừng làm mình ốm đau, xui xẻo…

Từ nay Tha đi đâu phải tự giữ gìn lấy bản thân, vợ chồng phải luôn ở cùng nhau, bảo vệ lấy nhau, mình không thể đi cùng bảo vệ cho Tha được. Dù đi đâu hồn Tha hãy luôn nhớ, quay về với gia đình nhà mình… Ớ Tha!”.

brau19_ct

Sau đó ông hút rượu ghè tưới vào lòng 2 chiếc chiêng (mời Tha uống) và đọc lại lời khấn như trên. Trong lúc thầy cúng khấn, chúng tôi thấy bà vợ Thao La cứ đứng sụt sịt lau nước mắt. Chúng tôi cảm nhận một sự bịn rịn, chia tay, tiếc nuối thật sự chứ không phải chỉ là việc bán một bộ chiêng, một món đồ trong gia đình.

Cúng ở ghè rượu xong, tất cả vào trong nhà. Con gà đó được chặt nhỏ chia làm 7 phần trong một chiếc mâm nhỏ. Khi tất cả đã ngồi quây tròn xung quanh, thầy cúng khấn và chia thịt cho các thành viên ngồi quanh mâm (gồm 4 người mua chiêng, chủ nhà, thầy cúng, ông cậu và già làng).

Thầy cúng khấn 7 lần, với nội dung gần như trên. Nhưng khác với khi khấn lần đầu, khi thầy cúng cất giọng khấn thì ông cậu của chủ nhà, già làng cũng cất tiếng đồng thanh khấn cùng, giọng hoà âm lời khấn có vần, có điệu gần như hát đồng thanh. Mỗi lần khấn xong, thầy cúng lại chia thịt cho các thành viên ngồi quanh mâm. Sau khi khấn xong 7 lần thì cũng chia hết 7 phần thịt trong mâm.

Sau cùng còn phần thịt lớn giữa mâm, chủ nhà lấy 2 đùi gà biếu cho già làng và 1 người đại diện bên mua (nhạc sĩ A Đủ – người lớn tuổi nhất, được Bảo tàng mời đi giám định bộ chiêng), đầu gà cho thầy cúng, lòng mề, gan chia cho các thành viên bên mua để tỏ sự hiếu khách.

Sau khi hoàn tất các thủ tục trong nhà, mọi người cùng ra sân, nơi đặt giá treo bộ chiêng. Gia chủ xin phép cho một số thành viên gia đình được đánh một số bài với bộ Chiêng Tha như một sự chia tay lần cuối cùng. Một sự chia tay thật là bịn rịn, tiếc nuối, đầy cảm xúc như với một người thân trong gia đình.

Lễ đâm trâu mừng nhà mới của người Brâu.
Lễ đâm trâu mừng nhà mới của người Brâu.

Độc đáo lễ hội của dân tộc Brâu có hơn 400 người

Trong ngày hội “Sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc” vừa được Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch tổ chức tại Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam (Đồng Mô, Hà Nội), có lẽ, Brâu là một trong số ít dân tộc được đông đảo du khách ấn tượng nhất. Cho đến tận ngày nay, người Brâu vẫn giữ được phương thức canh tác nông nghiệp thô sơ là chọc lỗ, tra hạt. Theo đó, trước khi bắt đầu xuống giống, cả buôn làng sẽ tập trung tổ chức lễ hội, gọi là lễ hội trỉa lúa với nhiều nghi thức tâm linh độc đáo, để bà con dân bản ăn mừng, nhảy múa trong suốt hai ngày hai đêm.

Dân tộc Brâu sống ở vùng Tây Nguyên, tập trung phần lớn ở huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum với vỏn vẹn hơn 400 người. Như tất cả các dân tộc thiểu số khác, người Brâu có phong tục tập quán, có bản sắc văn hóa riêng của mình, sống gần gũi, chan hòa với thiên nhiên, đất trời. Đối với người Brâu, lễ trỉa lúa là một nghi thức tâm linh quan trọng nhất của họ trong năm. Đây không chỉ là dịp ăn mừng, mà còn thể hiện khát vọng vươn lên làm chủ cuộc sống, làm chủ thiên nhiên.

Chỉ vào mâm lễ được đặt trang trọng trước mặt, già làng A Ót (dân tộc Brâu, làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum) giới thiệu cho chúng tôi biết, trước khi diễn ra lễ hội này, dân làng phải chuẩn bị những đồ lễ gồm: 2 vò rượu cần, thịt gà, thịt heo, thịt dê, cơm lam và một tô tiết. Bên cạnh đó, một điều quan trọng không thể thiếu trong mâm lễ là một túi đựng tất cả những hạt giống để gieo trồng trong năm, mỗi loại khoảng một nắm tay, trộn đều vào nhau để cúng thần linh.

Gần 10h sáng, tại làng Brâu (Làng văn hóa các dân tộc Việt Nam), buổi lễ cúng trỉa lúa của người Brâu đã được chính thức bắt đầu. Nhưng ngay từ trước đó hàng tiếng đồng hồ, hàng trăm du khách khắp nơi đã đổ dồn về đây, đứng quây thành vòng tròn chật ních, mong tìm được một vị trí thích hợp để được chứng kiến một cách đầy đủ nhất nghi lễ độc đáo này.

Già làng A Ót, dân tộc Brâu, làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi (Kon Tum), người có  uy tín trong bản làng, có vai trò trọng yếu trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống.
Già làng A Ót, dân tộc Brâu, làng Đắk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi (Kon Tum), người có
uy tín trong bản làng, có vai trò trọng yếu trong việc bảo tồn, phát huy các giá trị truyền thống.

Bắt đầu buổi lễ, trong không khí trang nghiêm, già làng A Ót lấy tiết của những con vật cúng thần đã được chuẩn bị sẵn trong mâm lễ để tưới lên những hạt giống và trộn chung lại với nhau. Số tiết còn lại, già làng A Ót bôi đều lên hai mặt của chiếc chiêng tha, mời tha ăn và khấn: “Đây là máu, là tim của vật cúng được dân làng chúng tôi dâng lên các vị thần… Đó là những con vật đẹp nhất, thức ăn ngon nhất, rượu cũng ngon nhất, xin thần hãy chấp nhận lời khấn của dân làng mà ban cho dân làng trỉa lúa không bị kiến tha, không bị chim, chuột ăn, trồng mì thì được tốt tươi nhiều củ, trồng gì được nấy, không bị thú rừng phá hoại”.

Với vai trò chủ Lễ, già làng thực hiện nghi thức truyền thống - cúng chiêng Tha, phân công việc cho mọi người, để ai cũng có thể được góp công, góp của cho Lễ hội quan trọng của cộng đồng.
Với vai trò chủ Lễ, già làng thực hiện nghi thức truyền thống – cúng chiêng Tha, phân công việc cho mọi người, để ai cũng có thể được góp công, góp của cho Lễ hội quan trọng của cộng đồng.

Trong lễ hội trỉa lúa, thủ tục cúng chiêng tha và mời tha ăn là quan trọng nhất. Người Brâu cho rằng, chiêng tha không chỉ là nhạc khí mà còn là thần linh, là tổ tiên của họ. Chiêng tha gồm chiêng vợ và chiêng chồng, là biểu tượng tinh thần, quyền lực tối ưu trong đời sống cộng đồng. Đó là vật chủ thông linh giữa thế giới thần linh và con người, nó có chức năng phán truyền, vì vậy chiêng luôn được đặt ở vị trí trang trọng nhất trong suốt quá trình diễn ra lễ cúng.

Lễ vật được dân bản chuẩn bị gồm: 2 vò rượu cần, thịt gà, thịt heo, thịt dê, cơm lam và một tô tiết. Đặc biệt là các loại hạt giống nông sản để gieo trồng trong năm, mỗi loại khoảng một nắm tay, trộn vào nhau để cúng thần linh.
Lễ vật được dân bản chuẩn bị gồm: 2 vò rượu cần, thịt gà, thịt heo, thịt dê, cơm lam và một tô tiết. Đặc biệt là các loại hạt giống nông sản để gieo trồng trong năm, mỗi loại khoảng một nắm tay, trộn vào nhau để cúng thần linh.

Theo quan niệm của người Brâu, lễ hội trỉa lúa cũng là dịp để cầu cho bản thân và gia đình mình có được một sức khỏe tốt, có đủ lúa ăn cho cả năm và cảm tạ thần linh đã bao bọc cho toàn thể dân làng. Theo quy định, trước khi xuống giống một ngày, dân làng phải kiêng ăn ớt, kiêng uống rượu, kiêng ăn muối, vì nếu ăn những thứ đó, thì con chim, con chuột sẽ phá lúa, phá rẫy.

Tham gia Lễ, đồng bào Brâu không phân biệt nam, nữ hay độ tuổi. Trước ngày hành lễ, trong 7 ngày, người thụ lễ phải ở nhà, làm điều thiện, không uống rượu, ăn cay, ăn thịt, không đi nương rẫy hay chặt cây phá rừng…
Tham gia Lễ, đồng bào Brâu không phân biệt nam, nữ hay độ tuổi. Trước ngày hành lễ, trong 7 ngày, người thụ lễ phải ở nhà, làm điều thiện, không uống rượu, ăn cay, ăn thịt, không đi nương rẫy hay chặt cây phá rừng…

Sau khi mời chiêng tha ăn xong là đến phần khấn quanh mâm lễ và thụ lộc. Theo đó, già làng sẽ ngồi trước hai vò rượu và cúng, mời các thần linh về hưởng thụ. Khi già làng khấn xong, hai nghệ nhân trong làng sẽ đánh chiêng bài “Đón khách” và bắt đầu phần nhảy múa, uống rượu vui vẻ. Cả làng và tất cả các khách đến tham dự lễ hội cùng nhau thụ lộc, giao lưu nhảy múa, biểu diễn cồng chiêng sôi nổi.

Sau nghi thức mời chiêng Tha ăn là phần khấn lễ và thụ lộc. Già làng sẽ ngồi trước hai vò rượu và cúng, mời các thần linh về hưởng thụ...
Sau nghi thức mời chiêng Tha ăn là phần khấn lễ và thụ lộc.
Già làng sẽ ngồi trước hai vò rượu và cúng, mời các thần linh về hưởng thụ…

Người Brâu cho rằng, trong ngày lễ trỉa lúa, xuống giống này, nếu mời được khách đến càng đông, thì càng có nhiều may mắn, đem lại cho dân làng vụ mùa tốt tươi. “Lần đầu tiên được chứng kiến một lễ hội độc đáo và sôi nổi như thế này, tôi thấy mình như là thành viên của lễ hội trỉa lúa chứ không phải là khán giả. Qua đây mới biết, người Brâu rất nhiệt tình và hiếu khách, tôi thấy đặc biệt thích nét văn hóa này của họ”, anh Nguyễn Văn Khánh (du khách ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) chia sẻ.

Khi bài chiêng “Đón khách” được tấu lên rộn rã cũng là lúc dân bản, khách khứa vui vẻ cùng nhau uống rượu.
Khi bài chiêng “Đón khách” được tấu lên rộn rã cũng là lúc dân bản, khách khứa vui vẻ cùng nhau uống rượu.

Cũng trong lễ hội trỉa lúa, sau 2 ngày nhảy múa, ăn mừng, già làng sẽ gói tất cả các vật phẩm hạt giống đã được cúng tế thần và chia cho các thành viên trong làng mang về từng nhà để làm phép. Những hạt giống đó được đem về nhà trộn chung với thóc lúa, hạt giống xong mới được đem đi tra hạt.

Trong suốt quá trình hành Lễ, chiêng Tha có vị trí đặc biệt trang trọng. Người Brâu quan niệm rằng, Chiêng Tha không chỉ là nhạc khí mà còn là thần linh, tổ tiên của họ, đó là vật chủ thông linh giữa thế giới thần linh và con người. Nó có chức năng phán truyền trong đời sống cộng đồng.
Trong suốt quá trình hành Lễ, chiêng Tha có vị trí đặc biệt trang trọng. Người Brâu quan niệm rằng, Chiêng Tha không chỉ là nhạc khí mà còn là thần linh, tổ tiên của họ, đó là vật chủ thông linh giữa thế giới thần linh và con người. Nó có chức năng phán truyền trong đời sống cộng đồng.
Sau phần Lễ là phần hội tưng bừng. Không gian rộn rã trong nhịp trống, tiếng cồng chiêng, tiếng đàn klôngpút. Những cô gái Brâu trong trang phục truyền thống uyển chuyển trong các điệu múa, cùng các chàng trai nồng say bên ché rượu... Tất cả hòa quyện, tạo nên một ngày hội đầy âm sắc.
Sau phần Lễ là phần hội tưng bừng. Không gian rộn rã trong nhịp trống, tiếng cồng chiêng, tiếng đàn klôngpút. Những cô gái Brâu trong trang phục truyền thống uyển chuyển trong các điệu múa, cùng các chàng trai nồng say bên ché rượu… Tất cả hòa quyện, tạo nên một ngày hội đầy âm sắc.
Sau 2 ngày hội, già làng sẽ gói các hạt giống đã cúng tế, chia cho các thành viên trong làng về làm phép. Những hạt giống đó được mang về trộn chung với hạt giống của mỗi nhà, rồi đem đi  tra hạt để khởi đầu cho một vụ mùa mới.
Sau 2 ngày hội, già làng sẽ gói các hạt giống đã cúng tế, chia cho các thành viên trong làng về làm phép. Những hạt giống đó được mang về trộn chung với hạt giống của mỗi nhà, rồi đem đi tra hạt để khởi đầu cho một vụ mùa mới.

oOo

Phim tài liệu – Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên (giới thiệu về dân tộc Brâu bắt đầu ở phút 17:58):

 

Lễ cúng trỉa lúa của người Brâu:

 

Cồng chiêng Tây Nguyên (biểu diễn Chiêng Tha của dân tộc Brâu bắt đầu ở phút 3:20):

 

Độc Tấu Đàn K’Long Put Mùa Xuân Đến – Bích Đào:

 

Mùa Xuân Đến – Đàn K’loongPut – (Ban Nhạc Gia Đình Trẻ Việt trình diễn ở Nhật):

 

4 cảm nghĩ về “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Brâu/Brạo”

  1. Dear Chị Hai

    Em biết chơi đàn K’lông Pút nhưng hôm nay qua giới thiệu chia sẻ của chị Hai em mới biết rõ xuất xứ nguồn gốc của loại đàn K’lông Pút này

    Em thấy anh em sắc tộc Brâu có những lễ hội và trang phục cũng như cung cách làm nương rãy rất gần gũi với anh em sắc tộc Sêđăng 🙂

    Em cảm ơn và chúc chị Hai ngày mới an lành hạnh phúc.

    Em M Lành

    Liked by 1 person

  2. WOW… Lành biết chơi đàn K’lông Pút nữa hể. Chị đang tưởng tượng em đứng trước cây đàn rồi vừa vỗ tay vừa nhúng có điệu bộ mà chị thấy vui quá là vui. Cô em gái này có lắm tài thế. Mai mốt chị Hai về thăm em thì em phải chơi đàn K’lông Pút cho chị Hai nghe nha. Đây là một trong những nhạc cụ dân tộc mà chị thật ấn tượng và phục hết sức người đã chế tạo ra nó.

    Rất thú vị nghe em nói tộc Sêđăng và tộc Brâu rất gần gũi về văn hóa. 🙂

    Cám ơn em chúc lành cho chị Hai. Em cũng luôn an lành hạnh phúc trong Chúa.

    Số lượt thích

  3. Dear Chị Hai

    Tất cả các nhạc cụ của anh em đồng bào sắc tộc nguyên thủy đều được chế ở Gam Do trưởng vì vậy chị Hai muốn chơi các nhạc cụ dân tộc chị Hai chỉ cần học thuộc lòng những bài hát có giai điệu Gam Do trưởng là chị Hai có thể chơi đàn cũng như cồng chiêng được nhất là đàn K’lông Pút.

    Một bộ cồng chiêng hai mươi mấy cái nhưng chỉ có bốn chiêng lớn trong đó ba chiêng giữ ba nốt Do – Mi – Sol rồi cho nên chỉ cần chị Hai chắc nhịp là có thể ôm một trong ba chiêng đó ngồi suốt ngày đêm với anh em Buôn Làng 🙂

    Em M Lành

    Liked by 1 person

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s