Dân ca dân nhạc VN – Hát Bộ/Bội Miền Nam

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay chúng ta nói đến Hát Bộ, còn gọi là Hát Bội, có lẽ là bộ môn nghệ thuật sân khấu cổ nhất của Việt Nam mà chúng ta được biết.

Hát Bộ/Bội có lẽ phỏng theo kinh kịch của Thanh Triều tại Bắc Kinh. “Bộ” đây có nghĩa là Vũ Bộ, tức là các cách đi đứng và diễn xuất đều phải theo các bước chân như con nhà võ, và các màn biểu diễn võ thuật cũng thường có trong Kinh Kịch hay Hát Bộ.

Hát Bộ còn được gọi là Hát Bội, có lẽ đó là cách nói trại ra. Ngoài ra còn có giải thích rằng gọi là “Hát Bội” vì trong nghệ thuật hóa trang đào kép phải đeo, phải giắt (bội) những cờ phướn, lông công, lông trĩ… lên người. Theo nhà nghiên cứu Vũ Khắc Khoan, cả hai tên gọi ấy đều đúng.

Hát Bộ du nhập vào Việt Nam vào thời điểm nào chưa được minh xác nhưng có truyền thuyết ghi rằng vào thời Tiền Lê năm 1005, một kép hát người Tàu tên là Liêu Thủ Tâm đến Hoa Lư và trình bày lối hát xướng thịnh hành bên nhà Tống và được vua Lê Long Đĩnh thâu dụng, bổ là phường trưởng để dạy cung nữ ca hát trong cung.

Sang thời nhà Trần, Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn bắt được một tên quân nhà Nguyên tên là Lý Nguyên Cát vốn là kép hát. Vương tha tội chết cho Cát và sai dạy lối hát đó cho binh sĩ. Cát cho diễn vở Vương mẫu hiến đào để vua ngự lãm cùng các triều thần xem. Ai cũng cho là hay.

Tuy nhiên người đầu tiên đặt nền móng cho nghệ thuật Tuồng (nghệ thuật Hát Bộ) Việt Nam là Đào Duy Từ (1572-1634). Ở Miền Trung Việt Nam trở ra gọi Tuồng do chữ “Liên Trường” là kéo dài liên tiếp thành một vở tuồng tích có khởi đầu truyện, có hồi kết cuộc, phân biệt với các ca diễn từng bài ngắn, từng trích đoạn. Từ “liên trường” do ngôn ngữ địa phương mà thành “luôn tuồng”…

Sang thế kỷ 20 với sự ra đời của Cải Lương và Kịch Nói thu hút nhiều khán giả, nghệ thuật Tuồng suy yếu nhiều tuy có cố gắng phục hưng với loại Tuồng xuân nữ, tức là Tuồng diễn theo đề tài xã hội tân thời và hát theo điệu “xuân nữ”. Loại Tuồng này pha phong cách cải lương, đánh võ Tàu… Dù vậy giới hâm mộ Tuồng càng ngày càng ít.

Diễn viên trong tuồng cung đình Huế, hình vẽ 1874
Diễn viên trong tuồng cung đình Huế, hình vẽ 1874

Ba trường phái lớn trong Hát Bội là:

1. Tuồng cung đình Huế
2. Tuồng Quảng Nam
3. Tuồng Bình Định

Lối diễn xuất thường được khuếch đại hơn sự thật ngoài đời để khán giả dễ cảm nhận. Các động tác càng nhỏ càng nhanh, khi lên sân khấu càng cần tăng cường điệu thì khán giả mới kịp nhận thấy. Kiểu cách đi đứng còn dùng để biểu lộ cái “tâm” của nhân vật thiện, ác. Nhất nhất đều phân thành từng bộ riêng, không thể diễn bộ “Trung” cho vai đứa “Hèn” hay đứa “Nịnh”. Thậm chí lên ngựa xuống ngựa còn phân biệt Bộ của trung thần khác bộ dạng nịnh thần. Mọi động tác đã thành thông lệ hay ước lệ. Nhất là vào thời trước khi kỹ thuật âm thanh và ánh sáng chưa đáp ứng được cho nghệ thuật trình diễn, hình ảnh diễn xuất chưa thể kéo lại nhìn gần, không thể “trung cảnh”, “cận cảnh”, nghệ sĩ làm tăng cường độ các động tác giúp khán giả xem được toàn cảnh, dù ngồi xa hay gần chiếu diễn (sân khấu) đều nhìn thấy.

Lối múa, đi và đứng có những động tác cách điệu, trong nghề gọi là bê, xiên, lỉa và lăn.

Diễn viên nào ra sân khấu từ cánh gà tay mặt (sinh môn) đều sống tới cuối tuồng, dẫu có bị kẻ gian hãm hại cũng không chết. Ngược lại, diễn viên nào ra sân khấu từ cánh gà bên trái (tử môn) cũng phải chết, dẫu làm tới Hoàng đế.

Ngôn ngữ ca ngâm thì dùng giọng thật to, thật cao và rõ. Điệu hát quan trọng nhất trong Hát Bội là “Nói Lối”, tức là nói một lúc rồi hát, thường để mở đầu cho các khúc hát khác. “Nói Lối” có hai giọng chính là “Xuân” và “Ai”. “Xuân” là giọng hát vui tươi, còn “Ai” là bi thương, ảo não. Nói Lối giọng Ai còn được gọi là “Lối Rịn”. Ngoài ra còn có những “Lối Hằng”, “Lối Hường”, “Lối Giậm”. Hát thì có những điệu “Nam”, “Khách”, “Thán”, “Oán”, và “Ngâm”.

Một số y phục dùng trong Hát Bộ/Bội
Một số y phục dùng trong Hát Bộ/Bội

Hát Bộ/Bội là nghệ thuật mang nặng tính ước lệ. Các diễn viên hát bộ phân biệt từ mặt mũi, râu tóc, áo quần để rõ kẻ trung nịnh, người sang hèn, ai thô lậu, thanh tú, ai minh chánh, gian tà. Sắc đỏ được dùng dặm mặt để biểu hiện vai trung thần; màu xám là nịnh thần; màu đen là kẻ chân thật; màu lục là hồn ma.

Về y trang thì võ tướng khi ra trận mặc võ giáp có cắm cờ lịnh sau lưng. Vua mặc áo thêu rồng; hậu phi mặc áo thêu phượng. Đào mặc áo lụa trắng đóng vai tiểu thơ đài các còn lụa đỏ dành cho cô dâu, v.v…

Dàn nhạc dùng trong hát bội gồm có những nhạc cụ như: trống chiến, đồng la, kèn, đờn cò và có khi sáo. Dàn nhạc được đặt bên tay phải sân khấu (từ trong nhìn ra). Tay phải ứng với cửa “sinh” trong khi bên trái là cửa “tử”.

Vở tuồng tức bài tuồng là một thể văn riêng trong văn học Việt Nam. Lối trình bày tuồng dùng nhiều thể văn học như Đường Thi, Phú, Song Thất Lục BátLục Bát ghép với lễ nhạc và một số điệu múa. Lời văn thì nhiều khi có vần và có đối.

Khi một vai lên sân khấu thì mở bằng một câu xướng, còn gọi là câu bạch để tự giới thiệu mình. Câu này dùng thể thơ bảy chữ.

Khi kể chuyện thì gọi là câu nói từ bốn đến bảy chữ, có đối, gieo vần cước vận (chữ cuối cùng mỗi câu). Câu kết thì gieo vần trắc.

Khi muốn dứt ý thì hát câu vãn, dùng thể lục bát còn muốn nhấn mạnh ý cho quyết liệt thì hát câu loạn, dùng thể phú hay lục bát.

Khi buồn thì hát câu than, cũng dùng lục bát trong khi vui thì hát câu khách, thường là chữ Nho dùng thể phú.

Hai diễn viên hát bội vào đầu thế kỷ 20
Hai diễn viên hát bội vào đầu thế kỷ 20

Tuồng tích trong vở diễn của hát bộ thường là các cổ tích, kịch bản phóng tác từ kinh điển truyện cổ Trung Hoa như Tam Quốc Chí, Vạn Hoa Lầu, San Hậu Thành, Ngũ Hổ Bình Tây… Tuồng tích đã sẵn trong sách nên người xem phần lớn đều biết rành kịch tình và đến rạp chỉ xem kịch tính của các nghệ sĩ và đạo diễn mà thôi. Loại này cũng được xem là tuồng pho. Tuồng pho thì theo sát đạo lý, có thể tóm tắt là:

Phụ tử đắc kỳ hiếu
Quân thần tận kỳ trung
Phu phụ đơn kỳ thuận
Bằng hữu chi kỳ tín
Huynh đệ toàn kỳ cung.

Tức là:

Cha con được hiếu
Vua tôi tận trung
Vợ chồng hòa thuận
Bạn bè tin nhau
Anh em tương kính

(TĐH dịch)

Ngoài ra thì có tuồng hài với cốt truyện tự do hơn, không nhất thiết đề cao đạo lý Tam Cương Ngũ Thường.

“Thầy tuồng”, tức đạo diễn, hay còn gọi là “nhưng tuồng”, là người chọn vở tuồng cùng cách diễn cho kép đóng đúng vai. “Thơ tuồng” là người thuộc lời để nhắc tuồng khi các diễn viên lên sân khấu. Kép chính thì tên trong nghề gọi là “Biện tuồng.”

Những vở tuồng nổi tiếng

• San Hậu Thành
• Tam nữ đồ vương (thế kỷ 17)
• Diễn Võ Đình (soạn giả: Đào Tấn, thế kỷ 19)
• Ngoại tổ dâng đầu (soạn giả: Nguyễn Hiển Dĩnh, thế kỷ 19).
• Phụng Nghi Đình
• Đào Phi Phụng
• Lý Thiên Luông
• Trần Quốc Toản

Dưới đây mình có bài “Nói chuyện hát bội”, kế đến là 7 clips về nghệ thuật bộ môn Hát Bộ/Bội do các nghệ nhân ưu tú diễn xuất để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

hát bộ5

Nói chuyện hát bội

(Nam Sơn Trần Văn Chi)

Sân khấu Việt Nam có ba bộ môn thịnh hành là hát bội, cải lương và thoại kịch. Riêng hát bội là loại hình sân khấu cổ điển và đặc biệt, bởi: 1/ Nội dung tuồng tích phản ảnh lối sống theo luân lý Nho giáo, bài bản xưa, cho nên không phải người nào xem hát bội cũng hiểu; 2/ Nghệ thuật hát bội từ cảnh trí sân khấu, điệu bộ ca múa, vẽ mặt vừa cường điệu vừa mang tánh “tượng trưng”, ẩn dụ khiến người coi phải quan sát tường tận, suy nghĩ và phải am tường nghệ thuật mới lãnh hội được.

* * *

“Hát bội” hay “Hát bộ” nhiều người vẫn chưa thống nhứt cách gọi và có nhiều cách giải thích khác nhau. Nhưng đa số cho là “hát bội”.

Theo tự điển “Ðại Nam Quốc Âm Tự Vị” của Huỳnh Tịnh Của giải thích: “bội” là “hơn” là “bằng hai”, và hát bội là “con hát, kẻ làm nghề ca hát”.

Hát bội do chữ “bội” mà ra. Bởi lẽ xem hát bội ai cũng thấy rằng từ cách vẽ mặt, điệu bộ, lời nói… cái gì cũng làm gia bội thêm, cường điệu thêm rất nhiều.

Gánh Hát bộ Nam kỳ năm 1924
Gánh Hát bộ Nam kỳ năm 1924

Nguồn gốc hát bội từ đâu?

Theo ông Ðỗ Văn Rỡ thì ‘hát bội” là nghệ thuật có nguồn gốc VN là chủ yếu, ảnh hưởng của Trung Quốc, của Chiêm Thành đến sân khấu cổ truyền Việt Nam là điều không thể phủ nhận. (Ðịa chí Văn Hóa Thành Phố HCM, tập III, nxb TPHCM 1998).

Theo lịch sử, năm 1283, tướng nhà Nguyên là Toa Ðô sang xâm chiếm nước ta, bị Trần Hưng Ðạo đánh đuổi, quân ta bắt sống được nhiều tù binh trong đó có 12 danh ca biết múa hát mà nổi tiếng là Lý Nguyên Cát. Vua Trần Nhân Tông hậu đãi và truyền Lý Nguyên Cát dạy cho người mình thêm về điệu hát bội.

Trước đó ta đã biết múa hát, “tuồng tích” nội dung đã có trước rồi, chỉ học lối vẽ mặt, y trang và các điệu múa của Trung Quốc mà thôi.

Ðiều này đã được chứng minh qua hình ảnh trên mặt trống đồng, ở đó có khắc hình người hóa trang, nhảy múa với vũ khí và chắc phải có ca hát nữa.

Thời kỳ Việt Nam độc lập vào thế kỷ thứ X, triều nhà Lý, đến nhà Trần nước ta phát triền rực rỡ về chánh trị, học hành, xã hội và hát bội chắc sẽ phát triển vào lúc này.

Hát bội thời nhà Lý cũng như Hát Chèo, chỉ là trò chơi ca múa giải trí và tự phát trong dân gian. Khi hát bội vào đến cung đình thì có xiêm y rực rỡ, có nội dung hỉ, nộ, ái, ố… và tuồng tích rõ nét.

Cứ như thế hát bội ở nước ta phát triển song hành làm 2 dòng: dân gian và cung đình, tương tác nhau, bổ sung nhau đưa nghệ thuật hát bội phát triển đến thời Hậu Lê.

Nghệ sĩ Tả Giang trong vai Lã Bố, vở Phụng Nghi Đình 1960 diễn ở Sài Gòn
Nghệ sĩ Tả Giang trong vai Lã Bố, vở Phụng Nghi Đình 1960 diễn ở Sài Gòn

Ðến năm 1437 vua Lê Thái Tông (1437-1442) ra lịnh đuổi hát bội ra khỏi cung đình. Vua còn ra lệnh cấm quan lại, con cái nhà quan lấy đào hát làm thê thiếp.

Lý do nêu ra là “vì hát bội có hại đến việc giáo hóa”, vì hát bội có ý “bôi lọ người làm vua, làm quan.” Ðiều nầy được ghi vào trong Bộ Lễ.

Năm 1462 vua Lê Thánh Tông còn định ra lê cấm con nhà hát bội, tuồng, chèo, ả đào không được đi thi, và ông Ðào Duy Từ nằm trong trường hợp này.

Do đó hát bội chỉ còn tồn tại trong dân gian và hoạt động không công khai. Nên mới có câu ca dao “Trồng trầu, trồng lộn với tiêu/ Con theo hát bội, mẹ liều con hư!”

Xem như vậy hát bội nguồn gốc của Việt Nam, sau nầy lấy thêm “điệu múa”, nhạc của Trung Hoa từ thế kỷ XIII. Hát bội bị suy tàn ở đàng Ngoài và phát triển manh ở đàng Trong nhờ Ðào Duy Từ.

Rồi hát bội chịu ảnh hưởng Chàm khi nào?

Nguyễn Hoàng vốn có ý muốn “dời đổi phong tục” (Phan Khoang, Lịch sử Ðàng Trong) nên đến khi Ðào Duy Từ chạy vào Nam, được chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1635 thâu dùng cử làm Nội Tán. Ðào Duy Từ (1572 -1634) vốn thông minh, giỏi thơ văn, binh thơ đồ trận, nhưng vì thân phụ ông là Ðào Tá Hán xuất thân nghề ca hát nên ông bị Hiến Ty Thanh Hóa không cho thi Hương.

Những người theo Ðào Duy Từ, trong đó có bà con vốn theo hát bội, vào định cư ở phủ Hoài Nhơn Bình Ðịnh, thâu nhận một số người địa phương lập gánh hát. Ðào Duy Từ cố ý dạy dân hát theo giọng địa phương và ca hát kéo dài ra làm cho khác lối ca ngắt câu “ví ư, í ư” như lối ca hát bội của Lê Trịnh ở Bắc.

Ðến năm 1404 Lý Thái Tông đi đánh Chiêm Thành bắt được nhiều hầu thiếp của vua Chiêm là Xạ Ðẩu, đem về xây nhà riêng cho ở và truyền họ múa hát cho vua xem từ đó hát bội mang ảnh hưởng Chàm. (Theo Việt Nam Sư Lược của Trần Trọng Kim)

Ðến năm 1679 các tướng Minh như Dương Ðịch Ngạn, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên được Chúa Nguyễn cho tị nạn ở Mỹ Tho, Biên Hòa; rồi đến năm 1708 Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho Chúa thì nghệ thuật hát Tiều, hát Quảng của người Hoa ảnh hưởng lên hát bội Việt Nam đồng thời và làm cho tánh chất Chàm mờ đi rất nhiều.

Năm 1698 Nguyễn Hữu Cảnh đặt nền móng cho Ðông Phố, Gia Ðịnh, Biên Hòa, rồi đất Lục Tỉnh thuộc về chúa, nhưng văn hóa Chân Lạp (Miên) không để lại dấu vết nào trong nghệ thuật hát bội Việt Nam.

Hát bội Việt Nam vào đàng Trong phát triển mạnh, về nghệ thuật khởi đầu chịu ảnh hưởng người Chàm qua điệu “hơi Nam” nghe u buồn, uẩn ức, tâm tình thương cảm… rồi cuối cùng tiếp nhận hát Tiều, hát Quảng qua “hơi Khách” nghe vui tươi, trong sáng và huy hoàng làm nên hát bội Việt Nam.

Riêng ở Bình Ðịnh hát bội tạo riêng cho mình sắc thái đặc biệt trở thành cái nôi của hát bội miền Trung.

Hát bội Bình Ðịnh cũng gốc từ Ðào Duy Từ cải biến từ Hát Chèo ngoài Bắc với lối hát của Chiêm Thành. Ðến thời Tự Ðức hát bội Bình Ðịnh được Ðào Tấn xây dựng nặng phát triển hướng về “trí thức – cung đình” văn chương bác học.

Ðào Tấn (1845-1917) người Bình Ðịnh. Ðỗ Cử nhơn, làm quan đến hiệp tá đại học sĩ, có tiếng là người thanh liêm và công bình.

Tương truyền rằng thuở xưa Ðào Tấn có mở trường dạy hát bội tại quê ông lấy tên là “Học bộ đình”. Ðào Tấn là người có công sáng lập và phát triển hát bội Bình Ðịnh lên đến “tuyệt đỉnh về nghệ thuật cũng như văn chương” và những kép hát nổi tiếng thời Ðào Tấn đều được phong tặng phẩm hàm. (Theo Quách Tấn, Nước Non Bình Ðịnh)

Ðào Tấn còn là người soạn nhiều tuồng hát bội hay được lưu truyền về sau như tuồng Trầm Hương, Tân Dã, Cổ Thành, Hoàng Cổ, Vạn Bửu Trình Tường, Quần Tiên Hiến Thoại, Tứ Quốc Lai Vương… Các tuồng ông nhuận sắc như Hồ Sanh, Khuê Các Anh Hùng, Sơn Hậu, Hoàng Phi Hổ…

Hát bội Bình Ðịnh xưa cũng hát trong đình, miếu hoặc tại tư gia. Rạp dựng tạm, sân khấu “không có gì hết” ngoài bộ ván, có tấm vải che hậu trường làm phông, trên có đôi liễn. Người coi hát chỉ quan tâm đến điệu bộ hơn là ca trúng hay trật khen chê tùy theo người cầm chầu.

Người Bình Ðịnh rất mê hát bội và sau nấy có nhiều người trở thành đào kép cải lương. Vua Tự Ðức và Thành Thái cũng rất mê hát bội. Hát bội Bình Ðịnh bắt đầy suy tàn sau khi Ðào Tấn chết.

* * *

Hát bội là một loại hình sân khấu mang tánh “tượng trưng” (art symbolique) về: cảnh trí-sân khấu, điệu bộ-ca diễn, và vẽ mặt-y trang

-Về cảnh trí sân khấu hát bội rất đơn giản “không có gì hết. Ðó có thể là bộ ván, cái sạp bằng gỗ trên có trải đệm hoặc chiếu bông, cũng có thể là “tiền đình của cái đình”… không đủ lớn và đủ cao, khán giả ngồi xa không trông thấy được.

Mọi cảnh trí bày ra trong cái không gian gọi là sân khấu đó đều đơn giản “nghèo nàn tầm thường” mang tánh ước lệ, tượng trưng. Yếu tố thời gian và không gian không được ghi trên tấm bảng “10 năm sau” hay “đây là từng núi”… như sân khấu cổ thời Shakespeare.

Trên sân khấu, phía sau có tấm màn phông xẻ đôi chính giữa nếu cần làm cửa ra vô của tướng soái hay vua; trước màn có cái bàn vài ba cái ghế ngồi, trên phông màn có treo đôi liễn viết mấy chữ Tàu nói lên tên tuồng hát.

Hai bên sân khấu là hai tầm màn che làm “cửa sanh cửa tử” cho đào kéo ra vô; phía trước có dựng tàn lọng gươm giáo.

Sân khấu như để cho “thầy tuồng” tùy nghi bố trí theo ý mình qua điệu bộ và ca diễn của đào kép. Chỗ nầy có thể là triều đình với bá quan văn võ hay chốn hậu cung; có thể là bãi chiến trường, nơi phi ngựa…

Chỉ có màn phông, Không có màn cảnh phụ, cũng không có đèn màu, đèn chiếu làm nổi bậc, mà tất cả chỉ có một loại ánh sáng.

Mặt tiền sân khấu có tấm màn kéo lên khi trình diễn, thả xuống kéo lên khi đổi lớp, thả hẳn khi vãn hát.

Cái bàn có chiếc ghế có thể là chỗ vua ngự. Cái ghế lật nằm xuống có thể làm nấm mộ để cô đào quì xuống khóc chồng, khóc cha! Hai chiếc ghế lật ngửa làm hòn núi cảng lối ngựa phi…

Cái bàn khi thì làm quán rượu, lúc lại là chỗ công quyền, chốn pháp đình xử án… Hai chiếc chiếu trải làm sông làm biển, hoặc căng lên làm mây làm gió, tuyết v.v…

– Về điệu bộ ca diễn. Hát bội cái gì cũng được gia bội thêm trong đó có điệu bộ. Tuy nhiên mọi động tác gia bội đều phải tuân thủ theo một qui tắc nhứt định mà người nghệ sĩ phải biết.Tất cả động tác của nghệ sĩ trên sân khấu đều mang ý nghĩa tượng trưng sao cho người coi hát tưởng tượng ra hay hình dung ra nhân vật, ra tình huống thật của câu chuyện. Cho nên nói hát bội là một loại hình sân khấu mang tánh “nghệ thuật tượng trưng” là vậy. Như:

– Ðộng tác cầm thương, tiếp nhận ngựa từ tên quân hầu là giả, là tượng trưng nhưng phải thể hiện được tình huống đang xảy ra trong kịch bản như lên ngựa xuất trận…

– Ông quan văn trung, quan nịnh vuốt râu thế nào? Quan võ hữu võng vô mưu, người nghĩa khí đều có cách vuốt râu, đi đứng ra sao?

– Tâm lý nhân vật trong hát bội buồn, giận, sợ, thương, ghét, yêu, ghen… cũng không như cải lương hay thoại kịch mà rất ư là gia bội thêm “màu mè”, khác thường nhưng mang tánh kinh điển “rất là hát bội”. Tất cả đều có nguyên tác.

– Về vẽ mặt, y trang. Hát bội có lối “vẽ mặt” đặc thù xuất phát từ lịch sử lâu đời. Tương truyền rằng ngày xưa bên Tàu, các tướng ra trận thường đeo mặt nạ để tăng thêm vẻ oai nghi, làm cho đối phương sợ. Chuyện kể rằng có tướng tên là Lan Lăng Vương thời Bắc Tề (479-501) đánh giặc giỏi nhưng nét mặt không oai, mỗi khi ra trận đều đeo mặt nạ nên trăm trận trăm thắng.

Hát bội lúc đầu cũng đeo mặt nạ, sau thay vào bằng cách vẽ mặt cho tiện, và truyền mãi tới nay.

Vẽ mặt không phải như hóa trang ngày nay, mà màu sắc rất sặc sỡ như đỏ tươi, đen sậm, trắng bạch… nói lên tánh tình của nhân vật. Tất cả cũng phải theo nguyên tắc “tượng trưng” của hát bội.

Quan võ trung thần vẽ mặt đỏ ói như Quan Công; Trương Phi trung mà nóng vẽ mặt đen có pha tròng trắng…

Nịnh thần vẽ mặt trắng móc nên có chữ gọi kẻ nịnh là “mặt móc”; Thầy rùa vẽ cặp mắt thao rực gọi là thầy rùa mắt thao.

Quan văn trung hậu có lúc để mặt thật, không vẽ mặt; tướng Phiên ở biên cương vẽ mặt rằn ri có nhiều màu cho thấy tánh man rợ… Thần tiên vẽ chấm đỏ son trên hai gò má, vẽ râu dài.

Ðào thương thì chỉ giồi phấn thoa son. Như vai Ðào Tam Xuân vẽ vặt nửa đỏ nửa trắng, vai Chung Vô Diệm vẽ mặt đen.

Màu sắc và lối vẽ mặt trong hát bội tượng trưng cho tánh khí của nhân vật được tôn trọng như là nguyên tắc bất thành văn trong hát bội kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật hát bội Việt và Hoa.

Trong lịch sử hát bội Việt Nam có thể nói nghệ sĩ Thành Tôn, sanh năm 1913, là người đã có trên 60 năm trong nghề hát bội, để lại dấu ấn trong nghệ thuật hát bội Việt Nam. Từ kép hát tỉnh lẻ Vĩnh Long, đơn thân độc mã lên Sài Gòn gia nhập gánh Bầu Thắng ra mắt khán giả lần đầu tiên với vai diễn Châu Do; từ đó chững chạc đứng trên sân khấu hát bội suốt trên nửa thế kỷ. Thành Tôn là một điển hình cho nghệ thuật hát bội Việt Nam từ lối vẽ mặt, y trang, điệu bộ, ca diễn nhập vai một cách tự nhiên như trời cho. Tới nay chưa ai bằng. Theo lời kể thì Ông không chỉ học cầm thương lên ngựa, ca diễn, vẽ mặt mà còn phải học đánh đờn, viết tuồng và đạo diễn hát bội nữa.

* * *

Nói hát bội không thể không nói đến “cầm chầu”.

Thuở xưa cái trống chầu đặt ngay trước sân khấu. Mỗi tiếng trống đánh lên đều mang một y nghĩa khen hay chê, hoan nghinh khích lệ hay khiển trách, quở phạt… nói lên giá trị về nghệ thuật. Tiếng trống chầu coi đơn giản nhưng nó là mệnh lệnh của viên chỉ huy, bởi theo đó mà người coi nhiệt liệt hoan hô hay hò hét chê trách.

Trống chầu

Chức sự cầm chầu là người am tường nội dung, bài bản và nhứt là hiểu biết nghệ thuật hát bội. Người cầm chầu ăn mặc nghiêm chỉnh với áo thụng xanh, khăn đen, ngồi trước hàng khán giả, gần sân khấu để xem, nhìn thấu tận “cửa sanh” cánh gà bên trái, chỗ đào kép ra; “cửa tử”cánh gà bên phải, chỗ đi vô.

Trống chầu là loại trống to, sơn màu đỏ, căng thẳng, tiếng kêu to để khán giả ngồi xa có thể nghe theo dõi.

Tới giờ hát, chấp sự hai tay cầm hai dùi trống quay mặt hướng về đình thần “xá thần” và chào khán giả. Quay mặt trở lại sân khấu, ngồi xuống nghiêm trang cầm chầu.

– Khai chầu bằng 9 tiếng trống: 3 chập, mỗi chập 3 tiếng, báo cho đào kép chuẩn bị.

– Mở màn bằng 6 tiếng trống: 2 chập, mỗi chập 3 tiếng. Ðào kép theo thứ tự bước ra ở “cửa sanh”.

– Chầu khấu bằng 1 tiếng trống cho đào kép “khấu bái” thần như lạy vua. Trống kèn nổi lên, đào kep lần lượt xưng tên và chào khán giả. Sau đó bước vào “cửa tử”.

Suốt buổi hát, chấp sự cầm chầu túc trực chăm chú xem để khen thưởng. Ðánh trên mặt trống là khen, đánh trên bìa trống là chê và phạt…

Ðào kép nếu ai hết vai tuồng không ra nữa, chấp sự cũng phải biết để dánh hai tiếng trống chầu để giữ lại chào từ biệt khán giả.

Lúc vãn hát, nếu đêm mai còn hát tiếp thì chấp sự đánh 9 tiếng: 3 chập, mỗi chập 3 tiếng như lúc khai chầu. Nếu là đêm chót, ngày mai không còn hát nữa, chấp sự chỉ đánh một chầu 3 tiếng.

Ở miền Nam xưa mỗi làng thường có một ngôi đình thờ thần do nhà vua ban sắc phong. Mỗi năm đình làng có tổ chức cúng thần hai lần vào mùa Xuân và mùa Thu gọi là cúng “kỳ yên”, cầu cho thiên thời – địa lợi- nhơn hòa.

Hát bội cúng đình tức là cúng thành hoàng nên được tổ chức rất trịnh trọng và nghiêm trang nhứt là suất hát bội đầu tiên gọi hát khai chầu (các xuất sau thì chủ yếu là giúp vui mà thôi)

Suất hát khai chầu thường diễn ra vào giữa đêm giờ Tý (khoảng 1 giờ khuya) chờ lúc nước dưới sông “đứng”, nghĩa là nước sông hết “ròng” bắt đầu “lớn”.

Giữa đêm là thời điểm trời đất yên tĩnh. Nước lớn biểu thị cho sự phát triển, phát tài.

Ban Hương Chức trong làng cử ra một vị “chấp sự” đứng ra làm lễ khai chầu, người nầy phải là người hiền đức, gia đình trọn vẹn, hạnh phúc.

Lễ khai chầu cử hành trước bàn thờ thần. Sau khi làm xong thủ tục cúng thần, ông chấp sự, thường là ông hương cả, dùng chiếc khăn điều (khăn đỏ) lau mặt trống chầu 3 lần rồi lau 2 cái dùi trống 3 lần.

Hương Chức, dân chúng đứng quanh chờ đợi hồi hộp cái giờ khai trống chầu.

Chấp sự bắt đầu khai chầu bằng 3 hồi trống liên thanh, tiếp theo ban nhạc lễ trỗi lên ba hồi, chín chập.

Chấp sự hai tay cầm 2 dìu trống chấp trước ngực, đứng thẳng người nghiêm nghi chờ ban nhạc lễ chấm dứt; bèn “thỉnh thần” ra xem hát. Lúc đó ban nhạc hát bội bắt đầu trỗi lên tiếp bản nhạc lễ.

Ông chấp sự đỡ 2 dùi trống quay về khán giả chào mọi người, rồi quay vào sân khấu chào đào kép và ngồi xuống trước cái trống chầu để cầm chầu đêm hát. Cầm chầu hát bội trở thành là người giám khảo, bởi người ham mộ hát bội trình độ thưởng thức còn bị hạn chế, nên cầm chầu vừa là danh dự vừa là nhiệm vụ nặng nề. Cầm chầu vì vậy luôn chịu búa rìu khán giả. Thế mới có câu:

“Ở đời có bốn cái ngu
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu”

* * *

Hát bội từ khi có mặt ở Việt Nam rất được dân chúng ưa thích, từ thôn quê đến thành thị, không chỉ người bình dân mà cả đến người có học chữ Nho, sau nầy chữ quốc ngữ, chữ Tây cũng thích hát bội.

Hát bội ở miền Trung phát triển cực thịnh vào thế kỷ XIX đến cuối thời vua Tự Ðức thì suy yếu. Ðào Tấn mở trường “Học Bộ Ðình” dạy nghệ thuật hát bội cho mầm non góp phần vực dậy hát bội miền Trung, đến cao điểm vào thời từ 1914 đến 1917. Sau khi Ðào Tấn mất hát bội miền Trung suy tàn.( Theo Ðỗ Văn Rỡ)

Hát bội trong Gia Ðịnh phát triển cực thịnh vào thời Lê Văn Duyệt làm Tổng Trấn Gia Ðịnh. Sang thời Minh Mạng, sau vụ Lê Văn Khôi, trường hát xưa của Lê Văn Duyệt bị giải tán, các nghệ sĩ hát bội gốc binh lính thời Lê Văn Duyệt phải ra trận, các ông nhưng (thầy tuồng) bị cấm hoạt động.

Tiếp theo Nam Kỳ bị Pháp chiếm và hát bội lưu lạc tản mác về làng bắt đầu hát cương, hát không tuồng tích và chỉ còn hát trong các đình làng.

Hát bội ở miền Nam suy yếu đến đầu thế kỷ XX, phục hồi trở lại ở Sài Gòn với sự ra đời của hội “Khuyến Lệ Cổ Ca” rồi sau nầy là Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ. Ðến lúc cải lương, rồi phim ảnh xuất hiện thì hát bội đi vào thời suy tàn tới nay!

Thật đáng tiếc!

(Nam Sơn Trần Văn Chi)

Sách tham khảo:

– Trần Trọng Kim, Việt Nam Sư Lược
– Phan Khoang, Lịch sử Ðàng Trong
– Trần Văn Khải, Nghệ Thuật Sân Khấu Việt Nam
– Ðỗ Văn Rỡ, Ðịa chí Văn Hóa Thành Phố HCM, tập III
– Quách Tấn, Nước Non Bình Ðịnh
– Nguyễn Thị Minh Thái, Sân Khấu và Tôi
– Thái Văn Kiểm, Cố Ðô Huế.

oOo

Nghệ thuật HÁT BỘI:

 

Cô Dương Ngọc Bầy (GS Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ) – Sân Khấu và Nghệ Thuật Hát Bội Phần 1:

 

Hát Bộ/Bội THẤT NAM DƯƠNG THÀNH (trích đoạn):

 

Hát Bộ/Bội BẠCH HẠC QUAN (trích đoạn):

 

Hát Bộ/Bội CHUNG VÔ DIỆM (trích đoạn)

 

Tuồng ĐƯỜNG VỀ SAN HẬU (phần 1):

 

Tuồng ĐƯỜNG VỀ SAN HẬU (phần 2):

5 thoughts on “Dân ca dân nhạc VN – Hát Bộ/Bội Miền Nam”

  1. Em chào chị Phượng!
    Đọc bài ” hát bội” của chị mà em thấy chạnh lòng. Chạnh lòng cho bộ môn nghệ thuật độc đáo này chị ạ.
    Ngày xưa lúc còn nhỏ em hay lân la vào đại nội xem các anh chị tập các vở tuồng hát bội. E thấy rất hay và thường tập hát và múa theo làm mấy đứa bạn em nói em thinh thoảng sến. Lúc đó dòng hát bội vẫn chưa đến nỗi bị thất sủng, vẫn có khán giả chờ đợi để xem các vở kịch tuồng. Nhưng ngày nay thì còn đâu nữa… chủ yếu chỉ còn diễn những bài múa hát cung đình để khách nước ngoài xem hoặc trong một vài dịp lễ. Môn nghệ thuật này gần như bị biến mất ở Huế.
    Em có bà chị làm Phó Giam đốc nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh TP.Đà Nẵng. Được biết, Đoàn gần như rất ít đi diễn, thinh thoảng mới có 1 vài hợp đồng diễn ở các địa phương cùng sâu vùng xa. Còn ngay tại nhà hát thì một tuần diễn 2 ngày thứ 4 và thứ 7 chủ yếu cho khách nước ngoài xem. Mỗi suất diễn được trả thù lao 2 triệu đồng với 45 diễn viên tham dự(chưa kể con số người lao động gián tiếp tầm 20 người). Các tiết mục biểu diễn là hòa tấu nhạc dân tộc, múa và trích đoạn tuồng tầm 10 phút chủ yếu là vũ đạo (do người nước ngoài kg biết tiếng nên chỉ diễn trích đoạn tập trung phần vũ đạo). Mà chị biết rồi để lên được 1 chương trình như thế thì đòi hỏi sự tập luyện phối hợp cả 1 tập thể, chưa kể công sức ăn học…. kg đơn giản chỉ cầm mic là hát … nhưng thật là chua xót.
    Hàng tháng nhà nước phải trợ giá để giúp đoàn Tuồng tồn tại, để bộ môn nghệ thuật này kg bị “diệt vong”.
    Em không biết có thể tồn tại đến bao lâu nhưng có thể nói công chúng hầu như không đón nhận hát bội nữa chị ạ.
    Hôm nay, cảm ơn chị đã giới thiệu lại hát bội, hơ hơ… anh chị e ĐCN nghe rồi ngẫm … sẽ thấy cái hay… thâm thúy… não nề… của hát bôi…. chưa diễn tả hết chị Phượng hè!
    cam ơn ĐCN

    Số lượt thích

  2. Hi chị Phượng,

    Là dân ca VN thì thể loại nào em cũng thích. Mỗi thể loại có cái hay riêng, cái quyến rũ riêng.

    Thật may là có chị Phượng ở đây để giới thiệu có hệ thống về dòng nhạc này. Em cám ơn chị. 🙂

    Số lượt thích

  3. Hi chị Queen,

    Em cám ơn chị đã chia sẻ.

    Nhà hát tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh nằm ở trung tâm ĐN, nếu em có đi đâu trong Tp thì hầu như đều đi ngang qua nhà hát này. Từ khi nhà hát được xây lại mấy năm gần đây, sửa sang đẹp đẽ thì em mới biết đến nhà hát và mong được vào nhà hát để xem, nhưng chưa có dịp.

    Mong nhà hát càng ngày càng đông khách VN tới xem.

    Số lượt thích

  4. Chị chào Queen,

    Chị rất vui có em chia sẻ. Nghe em kể chuyện ngày trước em thường tập hát và múa theo mỗi khi có tập tuồng vui quá.

    Rất tiếc các bạn em nói em sến có lẽ vì lý do chưa hiểu được nghệ thuật kỷ cương thuần nhất độc đáo của bộ môn này đòi hỏi người nghệ sĩ phải khổ công luyện tập như thế nào + khả năng thiên phú ra sao thì mới có thể thủ diễn vai trò họ được chọn đóng một cách đúng mức. Thí dụ như là mỗi vai trong truyện tuồng, từ cung nhân, dân nữ, đến công chúa, hoàng hậu, hoàng đế – từ quan văn đến quan võ – quan nịnh đến quan trung… đều có vũ bộ & trang phục & hóa trang riêng biệt thống nhất không được lẫn lộn

    Ngày chị còn nhỏ tí tị nhờ có ông ngoại chị luôn cho chị đi theo tham dự xem lễ cúng đình và Hát bội hàng năm vào dịp Lễ Kỳ Yên bên quê ngoại nên chị mới có dịp biết đến bộ môn nghệ thuật truyền thống này từ sớm và chị rất yêu thích từ đó đến nay.

    Theo chị được biết dựa theo tài liệu lịch sử thì Huế là cái nôi trung tâm của nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống của dân tộc mình trong đó có Hát bội. Nếu như bộ môn Hát bội bị biến mất ở Huế thì đó là một thiếu sót rất đáng tiếc.

    Chị thấy trong miền Nam hiện nay có sự cố gắng duy trì bộ môn nghệ thuật truyền thống cổ này với nhiều đoàn Hát bội mới đi lưu diễn nhiều nơi. Các clips trích đoạn và tuồng Đường về San Hậu (San Hậu Thành) mà chị kèm theo bài này là do các đoàn Hát bội mới hiện nay trình diễn đấy.

    Còn GS Dương Ngọc Bầy thì hiện cô đang định cư ở Mỹ và cô vẫn tiếp tục dạy (và duy trì) bộ môn Hát bội cho nhiều học trò bên này và vẫn có show diễn liên tục do cộng đồng tổ chức.

    Chị nghĩ có lẽ mỗi người chúng ta nên góp công góp sức bằng cách nào cũng được và tùy nghi, mỗi người một chút, giúp bảo tồn nền di sản văn hóa có cơ nguy tuyệt chủng trong nay mai của mình để sau này các thế hệ con cháu mình còn có cơ hội được biết đến.

    Việc nhà nước phải trợ giá hàng tháng để giúp đoàn Tuồng tồn tại, để bộ môn nghệ thuật này được duy trì khỏi bị “diệt vong” là một điều đáng khích lệ. Nhưng để được tồn tại lâu dài thì cần phải được công chúng ủng hộ Queen ạ. Mà muốn được công chúng ủng hộ thì trước nhất đoàn & nhà hát phải có một đội ngũ nghệ sĩ tài năng xuất sắc, kế đến là nội dung tuồng tích phải được nhắm vào thị hiếu của công chúng mới được.

    Chị em mình cứ tiếp tục hy vọng và giúp đở khi có thể Queen nhé.

    Chị chúc em luôn khỏe, luôn vui.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s