Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Tà Ôi

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Si La, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Tà Ôi của Dân tộc Tà Ôi.

Tộc Tà Ôi là một dân tộc thiểu số định cư tại Việt Nam và Lào. Tộc Tà Ôi còn có nhiều tên gọi khác nhau như: Tôi Ôi, Pa Cô, Ba Hi hay Pa Hi. Ngôn ngữ của họ là tiếng Tà Ôi, thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Tu trong ngữ tộc Môn-Khmer.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Tà Ôi ở Việt Nam có dân số 43.886 người, có mặt tại 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Họ cư trú tập trung tại các tỉnh:

Thừa Thiên-Huế (29.558 người, chiếm 67,35% tổng số người Tà Ôi tại Việt Nam)
Quảng Trị (13.961 người, chiếm 31,81% tổng số người Tà Ôi tại Việt Nam)
Thanh Hóa (37 người)
Quảng Nam (33 người).

Tộc Tà Ôi phân bổ ở nước ta và ở Lào, thuộc lớp dân cư tụ lâu đời ở Trường Sơn. Làng người Tà Ôi theo truyền thống thường có một ngôi nhà công cộng kiểu nhà rông dựng giữa làng. Nhà ở của người Tà Ôi là nhà sàn dài phổ biến tại nhiều vùng Trường Sơn – Tây Nguyên. Nhìn bề ngoài, nhà Tà Ôi kể cả nhà sàn và nhà đất đều có hình mai rùa và đều có “sừng” trang trí hình hai đầu chim cu tượng trưng cho tình yêu quê hương và tâm tính hiền hòa của dân tộc.

toi2

Tổ chức mặt bằng sinh hoạt của nhà ở của tộc này khá thống nhất. Trung tâm của ngôi nhà là căn nơi thờ tự, tiếp khách, hội họp chung của mọi thành viên trong nhà. Diện tích còn lại được ngăn thành từng buồng chỗ ở và sinh hoạt của các gia đình. Thông thường thì các buồng được bố trí thành hai hàng theo chiều dọc. Ở giữa là hành lang dành để đi lại. Đến nay ở trong những nhà đất người ta vẫn duy trì bố cục bên trong nhà như vậy.

Từng dòng họ người Tà Ôi có riêng tên gọi, có kiêng kỵ nhất định, có truyền thuyết lý giải về tên gọi và điều kiêng cữ ấy. Con cái đều lấy họ theo cha, chỉ con trai được thừa hưởng gia tài. Trưởng họ đóng vai trò quan trọng trong cả việc làng. Thanh niên nam nữ Tà Ôi tự do tìm hiểu nhau qua tục đi “sim” tình tự nơi chòi rẫy. Họ trao vật làm tin cho nhau, rồi nhà trai nhờ người mai mối. Sau lễ cưới, cô dâu trở thành người nhà chồng. Việc kết hôn giữa con trai cô với con gái cậu được khuyến khích, nhưng nếu trai họ A đã lấy vợ họ B, thì trai họ B không được làm rể họ A mà phải tìm vợ ở họ C.

Cũng như các tộc người khác tại vùng núi và cao nguyên miền Nam nước ta, người Tà Ôi chủ yếu làm rẫy, trồng lúa rẫy đa canh và du canh, làm theo lối cổ truyền: phát – đốt – trỉa hạt. Người Tà Ôi vốn có truyền thống nuôi gia súc lớn, nhất là trâu để làm vật hiến sinh, cũng là để giao thương, bán cho miền xuôi hoặc bán sang Lào.

Người Tà Ôi trước đây làm rẫy là chính, gần đây ở một số nơi họ làm ruộng nước, có vườn cây ăn quả, đào ao thả cá. Săn bắn, đánh cá, hái lượm đem lại thức ăn đáng kể. Nghề dệt chỉ có ở một số nơi, sản phẩm được các dân tộc láng giềng ưa chuộng (nhất là y phục có đính hoa văn bằng chì và cườm trắng). Ðồ đan mây tre chủ yếu đáp ứng nhu cầu tự cung tự cấp. Ðồ sắt, đồ gốm, đồ đồng chủ yếu do trao đổi với người Việt và các dân tộc khác.

toi_làng1

Người Tà Ôi tin mọi vật đều có siêu linh, từ trời, đất, núi, rừng, suối nước, cây cối cho đến lúa gạo, con người, con vật đều có “thần” hoặc hồn. Việc bói toán và cúng lễ là một phần quan trọng trong đời sống cá nhân cũng như cộng đồng dân làng. Mỗi dòng họ có một bàn thờ ở nhà trưởng họ, mọi gia đình đều có thể tới đó làm lễ cúng khi ốm yếu, rủi ro, cầu khẩn một điều gì đó.

Tộc Tà Ôi có rất nhiều lễ cúng, liên quan đến sức khoẻ, tài sản, việc ngăn chặn dịch bệnh, việc làm rẫy… Những lễ lớn đều có đâm trâu tế thần và trở thành ngày hội trong làng. Gắn với chu kỳ canh tác có những lễ thức quan trọng nhằm cúng cầu thần lúa, mong bội thu, no đủ. Tết cổ truyền vào thời kỳ nghỉ ngơi sau khi tuốt lúa, trước mùa rẫy mới. Họ dùng lịch căn cứ vào quy luật tròn – khuyết của mặt trăng để xác định ngày trong tháng. Tháng có 30 ngày, năm có 12 tháng và có ngày tốt, ngày xấu cho các công việc khác nhau.

Tộc Tà Ôi có một nền văn hóa rất gần với các dân tộc làng giềng nhưng nền văn hóa của người Tà Ôi cũng có những nét đặc sắc riêng, thể hiện qua nghệ thuật trạm, khắc, kiến trúc nơi cư trú và cách ăn mặc. Với kho tàng sáng tác nghệ thuật dân gian như: tục ngữ, ca dao, câu đố, hay những truyện cổ kể các chủ đề phong phú về nguồn gốc tộc người, nguồn gốc dòng họ, cuộc đấu tranh giữa kẻ giàu với người nghèo, giữa cái thiện với cái ác, tình yêu chung thủy v.v… Sử thi “Achất” đặc thù của họ là một thí dụ. Người có tuổi Tà Ôi am hiểu thường kể cho con cháu các truyện xưa, có tác dụng vừa giải trí, vừa giáo dục.

Già làng Kê Xâr, tộc Tà Ôi,  đánh chiếc chiêng đồng.
Già làng Kê Xâr, tộc Tà Ôi, đánh chiếc chiêng đồng.

Dân ca có các điệu Kalơi/Calơi đối đáp khi uống rượu, hội hè. Điệu Ba-boih hát một mình khi lao động hoặc đi đường. Điệu Rơih/Roih gửi gắm, dặn dò đối với các con cháu nhân các dịp vui chơi. Đặc biệt là điệu Cha chap/Cha chấp trữ tình dành cho tình cảm nam nữ thanh niên…

Nhạc cụ của tộc Tà Ôi gồm nhiều loại: Cồng, Chiêng (Chiêng núm và Chiêng bằng), Tù Và sừng trâu hay sừng dê, Khèn Bè 14 ống nứa, Sáo 6 lỗ, Nhị vừa kéo vừa điều khiển âm thanh bằng miệng, đàn Ta lư, Chập chõa, đàn Ân Toong (Atoong), Ămprây… Chúng được dùng vào những hoàn cảnh, tình huống khác nhau theo các tập quán có sẵn. Ví dụ: Trong đám ma thì gõ một Chiêng với một Trống, ở lễ hội vui lại có thêm một Tù Và, một Khèn Bè…

Đàn Ân Toong (Atoong) và Ămprây là hai loại nhạc cụ đặc thù của tộc Tà Ôi. Atoong gồm 7 thanh gỗ (thường là gỗ hai bai – loại gỗ nhẹ, màu trắng), mỗi thanh dài khoảng 1m, rộng khoảng 20cm, dày khoảng 3cm, được treo song song trên một giá đỡ. Người biểu diễn dùng dùi gõ vào mặt đàn. Âm thanh của đàn vang lên vừa trầm hùng, vừa rộn rã.

Hoàng hôn trên A Lưới.
Hoàng hôn trên A Lưới.

Ămprây hình thể như một loại “lục lạc” làm bằng một loại quả rằng khô to bằng nắm tay. Một chùm 5 quả, treo trên một cái vòng tròn, vòng này lại gắn trên một cái cán dài. Khi biểu diễn, nghệ nhân nhịp cán đàn xuống nền đất, làm các hạt khô trong chùm quả rừng rung lên, đập vào thành vỏ, phát ra một thứ âm thanh rộn ràng như tiếng nhạc ngựa…

Dưới đây mình có các bài:

– Thang Âm Trong Âm Nhạc Người Tà Ôi – Pa Kô Và Kơ Tu
– Đặc điểm về Dân nhạc
– Âm Hưởng Các Điệu Hát Trong Giao Hưởng AZAKÔN
– Nhạc cụ thuộc họ hơi của người Cơtu, Tà ôi – Pakô
– Sinh hoạt âm nhạc trong trình thức đám cưới của người Tà Ôi – Pacoh
– Múa Trong Tín Ngưỡng Của Người Tà Ôi
– Nét đẹp văn hóa người Tà Ôi
– Phác thảo diện mạo văn học dân gian dân tộc Tà Ôi
– Kỳ thú cách tính lịch tiết của người Tà ôi
– Tết cổ truyền của người Tà Ôi
– Lễ mừng nhà mới và lễ hội Arieuping của dân tộc Tà Ôi, Quảng Trị
– Nhà dài – Nơi chứa đựng nét văn hóa độc đáo của người Tà Ôi
– Trang phục dân tộc Tà Ôi
– Đi Sim – nét văn hóa đẹp của người Tà Ôi, Quảng Trị
– A Chất – Sử thi dân tộc Ta-ôi
– Tiếp cận truyện cổ Tà Ôi

Cùng với 7 clips tổng thể văn hóa dân tộc Tà Ôi để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia & DTV & VOV)

taoi_Đàn Abel của người Tà Ôi

THANG ÂM TRONG ÂM NHẠC NGƯỜI TÀ ÔI – PA KÔ VÀ KƠ TU

(Th.S Vĩnh Phúc-Trường Đại học Nghệ thuật Huế)

Tà Ôi là một tộc ít người, âm nhạc của họ là âm nhạc dân gian, dân gian thuần túy, không pha tạp yếu tố chuyên nghiệp như một số vùng dân ca của người Kinh (Việt). Vì vậy, chúng tôi không chủ trương dùng thuật ngữ điệu thức đi kèm với thang âm như thói quen lâu nay vẫn sử dụng khi khảo sát ngôn ngữ âm nhạc trong dân ca người Việt nói chung. Bởi vì điệu thức chỉ biểu hiện rõ trong nhạc chuyên nghiệp như ca Huế, ca Trù, ca nhạc tài tử… gồm một hệ thống bài bản hoàn chỉnh, chặt chẽ được phân chia thành hơi, thành điệu giọng phức tạp.

Âm nhạc của người Tà Ôi thô mộc hơn nhiều so với âm nhạc dân gian của người Kinh (Việt) nếu so sánh đối chiếu đồng hạng và không xét đến các yếu tố khác trong đặc trưng văn hóa tộc người, như hệ tiếng nói, cũng là một yếu tố quan trọng đối với việc hình thành ngôn ngữ âm nhạc. Khi bàn về Âm nhạc các tộc người ở Trường Sơn – Tây Nguyên, tác giả Phạm Duy căn cứ vào cách phân chia tuổi nhạc của nhà nghiên cứu âm nhạc người Đức: Walter Wiora và xếp tuổi nhạc của các bộ tộc Trường sơn vào tuổi nhạc thứ nhất: “Nhạc thời khuyết sử và sự tiếp nối ở những dân tộc hậu tiến, khởi sự từ khi loài người bắt đầu biểu lộ bằng âm nhạc và vẫn còn tồn tại ở một vài nơi trên thế giới hiện nay” (Đặc khảo về dân nhạc ở Việt Nam. Nxb Hiện Đại. SG 1972. Mục dân nhạc bộ tộc Trường Sơn)

Sự phân chia âm nhạc loài người thành 4 tuổi nhạc của Waiter wiora không khác lắm so với cách phân chia các thời kỳ âm nhạc trong lịch sử âm nhạc Phương Tây. Tuy nhiên, căn cứ vào đó để xếp âm nhạc của các tộc ít người Trường Sơn – Tây Nguyên Việt Nam vào thời kỳ âm nhạc nguyên thuỷ thì có gì đó hơi khiên cưỡng, máy móc gần với luận điểm của một số nhà nhạc học Phương tây trước đây cho rằng quá trình phát triển âm nhạc từ lạc hậu đến văn minh thể hiện trong quá trình phát triển thang âm điệu thức từ 3,4 âm đến 5 âm, 7 âm và 12 âm mới là dân tộc văn minh! vần đề này chúng tôi không bàn thêm.

Qua khảo sát âm nhạc của tộc người Tà Ôi ở Thừa Thiên Huế trong một số bài hát bản đàn, điều trước nhất nhận thấy là thang âm của tộc người này không cùng họ với thang âm bình quân trong âm nhạc cổ điển Châu Âu. Điều này thấy rõ ràng hơn so với trong âm nhạc dân gian và cổ truyền chuyên nghiệp của người Kinh (Việt), đó là những quảng âm “lơ lớ” không ứng với các bậc thang âm bình quân, cũng là ngũ cung, nhưng không phải ngũ cung không bán cung do ảnh hưởng của nhạc Trung quốc (ngũ cung đúng). Tuy vậy chúng tôi cũng chưa đủ điều kiện nghiên cứu đầy đủ để căn cứ, kết luận thang âm trong âm nhạc người Tà Ôi là thang âm do một quãng 8 chia ra 7 cung đồng đều, mà chỉ lấy 5 cung, bỏ 2, như GSTS Trần Văn Khê nêu ra trong một chuyên khảo về âm nhạc Đông Nam Á. (1 cung trong thang âm này chỉ có 171 cents, nhỏ hơn 29 cents so với một cung bình quân (200 cents) )

Hơn nữa, đây chỉ là nhạc dân gian của một tộc ít người ở một địa bàn hẹp chứ không phải nhạc chuyên nghiệp, và chưa hẳn đã phổ biến ở quy mô khu vực.

Trong các điệu hát, đàn của người Tà Ôi , dù trên thang 3, 4 hay 5 âm điều bộc lộ sự chênh lệch giữa các bậc tương ứng so với thang hệ bình quân, mà điều này ảnh hưởng rất dễ nhận thấy bởi sự tạo ra các quảng 3 trung tính: lớn hơn quãng 3 thứ ± 50 cents và nhỏ hơn quãng 3 trưởng ± 50 cents. Sự non, già khoảng ¼ cung này lỗ tai cảm nhận không phải là khó khăn lắm, nhưng chúng tôi cũng phải kiểm tra lại bằng chức năng Scale tuning của thiết bị âm nhạc điện tử. Để kí âm các bậc non, già ¼ cung này, chúng tôi cũng tạm dùng ký hiệu:

– Dấu ᵬ (*): để chỉ âm đó chỉ thấp hơn ¼ cung (- 50 cents)
– Dấu # (**): để chỉ âm đó chỉ cao hơn ¼ cung (+ 50 cents)

Chú thích: (*) Dấuthực ra là dấu như dưới đây:

taoi17

(**) Dấu # thực ra là dấu như dưới đây:

taoi18

Mặc dù các điệu hát của người Tà Ôi, hiếm bài được hát trên một thang 5 âm đầy đủ, mà giai điệu thường khống chế trong một tầm cử hẹp gồm 3,4 âm, nhưng chúng tôi không xem đây là loại thang 3 âm (Tritonique), thang 4 âm (tétratonique) độc lập mà chỉ xem xét nó trên cơ sở một thang âm thiếu của các dạng thang 5 âm không chia theo hệ thống bình quân.

Với thang 5 âm sau đây:

taoi1

Chúng tôi tạm thời kí hiệu bằng số La mã để xác định vị trí các nốt trong thang âm trường hợp khi có ý định làm rõ một vấn đề gì đó chứ không hàm ý là các bậc trong điệu thức cũng như mối tương quan giữa chúng như trong lý thuyết âm nhạc.

Điệu ru con Tà Ôi đã hát ở các khoảng 3 âm khác nhau tạo ra những biến thể âm điệu khác nhau. Chúng tôi tạm gọi tên các biến thể theo thứ tự khi ghi âm.

Điệu Hát ru 4 (được ghi với âm khởi đầu là son) đã hát với khoảng 3 âm: I – II – IIIᵬ (*)

taoi2

Hát ru 2 thì được hát trên khoảng 3 âm: II – IIIᵬ (*)- IV

taoi3

Do điệu hát chỉ có 3 âm, mỗi bài lại hát trên khoảng 3 âm khác nhau của các thang 5 âm trên trông như hai dạng thang 3 âm khác nhau đã tạo nên âm điệu khác nhau.

Hát ru 1 cũng hát trên khoảng 3 âm I – II – IIIᵬ (*) nhưng được bổ sung thêm âm bậc IV. Mặc dù âm này chỉ xuất hiện vớ thời gian rất ngắn nhưng cũng xem như đã hát trên khoảng 4 âm của thang 5 âm này.

taoi4

Điệu hát Calơi 1 gồm 3 âm, hát trên khoảng 3 âm: I – IIIᵬ (*) – IV và nét nhạc của đàn âm preeng gồm 4 âm mi – fa – sonᵬ (*) lại ứng với khoảng 3 âm I – II – IIIᵬ (*).

Một số điệu hát, bài nhạc khác như Chachấp, Calơi 2, nha nhim, ân tói, bài sáo Areeng thì được hat với đầy đủ 4,5 âm của dạng thang 5 âm có đặc điểm bậc III non ± 50 cents đã nêu.

taoi5

Ngoài dạng thang 5 âm phổ biến trên, còn có dạng thang âm mà chúng tôi cho là biến thể của dạng trên vì bước quãng 3 gồm 2 nguyên cung cũng bị non ± 50 cents:

taoi6

Trong dạng thang âm này, bậc I và II cách nhau 1,5 cung tạo thành quãng 3 thứ nhưng hiệu quả âm bậc II căng hơn một ít so với nốt ghi. Vì chưa đến 50 cents nên chúng tôi không ký hiệu bằng dấu # (**).

Trong các bài nhạc cho khèn và điệu hát Amiêng điều được diễn tấu và hát trên dạng thang âm này, và nó cũng gần gủi với thang âm của đàn Ân toong:

taoi7

Một dạng thang âm khác tuy rất ít nhưng cũng có mặt trong âm nhạc người Tà ôi. Trong điệu hát xiêng và nét nhạc đàn Âm phưng, dù chỉ có 3 âm nhưng sự quán xuyến chủ đạo của trục quãng 4 trong điệu hát biểu hiện nét đặc trưng của thang âm này:

taoi8

Trên đây là 1 nhận xét bước đầu về thang âm trong âm nhạc dân gian của người Tà ôih. Như đã nêu ở trước, điều cảm nhận trước nhất của chúng tôi là các bậc trong thang âm họ hát, đàn điều có các bậc non, hoặc già hơn so với hệ thống bình quân. Có thể đó là một dạng thang âm do một quãng 8 chia làm 7 cung đồng đều chỉ lấy 5 cung, bỏ 2 cung, hoặc quãng 8 chia làm 5 cung đồng đều như ý kiến của GSTS Trần văn Khê khi nói về đặc điểm chung của thang âm các nước Đông Nam Á. Nhưng hoặc do người hát chưa chính xác, người thổi sáo, thổi kèn chưa tới, hoặc một số nhạc cụ ví quá thô sơ chưa đạt độ chuẩn trong các chế tác. Và, hoặc là thời tiết làm mất độ chính xác của một số nhạc cụ làm bằng tre nứa, gỗ tạp v.v….mà trong khảo cứu bước đầu này, vì chưa đủ điều kiện và thời gian nên cũng chỉ nêu ra được một số vấn đề có tính chất sơ bộ, chưa có sự thống kê, so sánh, đối chiếu nhiều mặt hầu đạt được những nhận xét, kết quả mang tính khoa học cao đối với một tính cách âm nhạc còn in đậm dấu ấn thiên nhiên, nhưng trữ tình này.

Tâng coi của người Tà Ôi.
Takkoi của người Tà Ôi.

Đặc điểm về Dân nhạc

(Th.S Vĩnh Phúc-Trường Đại học Nghệ thuật Huế)

Nhạc cụ ít dây

– Nhạc cụ của người Tà Ôi so với các tộc ít người ở Tây Nguyên thì kém phát triển hơn. Điều đó có nghĩa là gần với nguyên sơ hơn, chẳng hạn đàn ống tre (Âm plưng) dừng lại ở 2 dây, trong khi các nơi khác có đến 4 – 6, 7 dây; đàn âm preeng chủ yếu vẫn chỉ một dây, còn đàn Brŏ, đàn Goong ở Tây Nguyên đã phát triển đến 8, 10 dây, có gắn phím cố định và có đến 2 bầu cộng hưởng; đàn Ântoong, họ tự thân vang, chi gõ là một dạng đàn Tơ rưng gỗ dùng để đánh trên nương rẫy cũng chỉ gồm 4 thanh gỗ. Cách đây vài năm, một số thanh niên trẻ ở xã A Ngo cải tiến tăng thêm 3 thanh nữa. (Bộ đàn này hiện được trưng bày tại Viện Âm Nhạc) chủ yếu là để đánh các bản nhạc mới có chứa bán cung, nhưng rõ ràng là xa lạ với nhạc ngữ của họ. Hiện nay vẫn đang sử dụng lại loại Ântoong 4 thanh, trong khi đó các loại Tơ rưng ở Tây Nguyên từ lâu rồi đã sử dụng rất nhiều ống tre trong sinh hoạt âm nhạc truyền thống của họ chứ không phải để chơi các bản tân nhạc… vì thế, sự kém phát triển đó của nhạc cụ người Tà Ôi (chưa kể đến những loại sáo được chế tác rất thô sơ chỉ có 2 và 3 lỗ bấm như Areeng và Tirieel) thể hiện sự ít bị lai tạp các truyền thống âm nhạc khác.

Ngẫu hứng tự do

– Trong hòa tấu nhiều nhạc cụ thể hiện sự ngẫu hứng tự do của cá nhân. Theo quan niệm của họ, hòa tấu là tất cả mọi người cùng chơi chứ ít có ý thức hòa hợp các nhạc cụ. Điều đó thể hiện ở còi sừng trâu (Târ còi) cồng phẳng (Târ lè) đánh bịt tiếng và nhất là khèn. Chúng tôi thấy trong một số bài hòa tấu, đa số các nhạc cụ đều chơi lại các bài độc tấu của mình. Ngay trong khi đệm cho hát Karlơi, Târ lè thì đi theo lối diễn tấu trong dàn nhạc là đánh bịt tiếng với các âm hình tiết tấu nhanh, khèn thì chơi những nét nhạc trong bài độc tấu. Vì vậy dàn nhạc ở đây chỉ mang chức năng phụ họa chứ không phải chức năng đệm.

Chúng tôi trích ghi một đoạn hòa tấu và một đoạn các nhạc cụ phụ họa cho hát Calơi sau đây:

taoi9

taoi10

Để đệm cho bài hát đối đáp xiêng. Nét nhạc của khèn sau đây vừa là nhạc dạo, vừa để đệm luôn cho các chặng hát. Dù hát đến bao nhiêu lần thì cũng vẫn nét nhạc đó nhắc đi nhắc lại:

taoi11

Bài song tấu đàn Ân toong và sáo Talee cũng là người nào chơi bài của người ấy mà thôi. Tuy vậy, không hẳn là trống đánh xuôi kèn thổi ngược mà cũng có những quy định cụ thể như tất cả đều theo sự điều khiển của trống hai mặt da (A Kưr) về nhịp độ của dàn nhạc trong từng phần, và khi Târlè đánh chỏi nhịp với âm lượng lớn, vang là báo sự kết thúc phần này hoặc dẫn vào phần khác…

Bài bản hòa tấu nhạc cụ của người Tà ôih không nhiều chủ yếu là nhạc cụ gõ họvang tự thân và màng rung như: A Kưr, Koong, Târ lè, Târ còi, Khên và Kâr toŏtd, Kâr nhoong… với 3 khúc liên hoàn cơ bản:

– Roong hêl tâm moi (nhanh vừa)
– Pa lư tâm moi (chậm, nghỉ ngơi)
– Tặc ân toch tôr (nhanh)

3 khúc trên sử dụng trong mọi trường hợp nhưng nhiều nhất là trong tế lễ, hội lễ và tùy theo nội dung mà tấu một hay hai khúc hoặc cả 3 khúc được tấu đi tấu lại nhiều lần, thường là kết hợp với nhảy múa như một thể thống nhất. (Đặc biệt trong các nghi thức tế lễ thần linh thì khèn không thấy tham gia). Trong lễ đâm trâu khi mũi lao của già làng đâm trúng điểm quy định, nghĩa là con trâu sẽ phải gục chết thì nhạc chuyển qua khúc Tặc ân toch tôr tiết tấu tăng dần dồn dập hơn, cường độ cũng mạnh hơn, tiếng hú hét cũng nhặt hơn theo nhịp chân nhảy múa càng khẩn trương dần với đội hình di chuyển ngược chiều kim đồng hồ chung quanh nọc buộc trâu.

taoi16

ÂM HƯỞNG CÁC ĐIỆU HÁT TRONG GIAO HƯỞNG AZAKÔN

(Th.S. Vĩnh Phúc – Trường Đại học Nghệ thuật Huế)

Trong sáng tác khí nhạc, tác giả – nhạc sỹ Vĩnh Phúc đã mạnh dạn khai thác từ những làn điệu cụ thể như Cha chấp, Amiêng, Calơi và các điệu nhạc cho Khèn của người Tà Ôi – PaKô để xây dựng bản giao hưởng 3 chương: Azakôn.

Nét nhạc của điệu hát Calơi do piccolo, flute và Oboe diễn tấu với sự sắp xếp chồng âm quãng 4 trên nền của bộ dây, marimba, vibraphon, cồng xen kẽ với nét nhạc tù và sừng trâu được mô phỏng bằng kèn Cor và Trombone.

taoi12

Trong chương II chất liệu trữ tình của điệu hát Amiêng rất rõ nét qua nét nhạc do Oboe và Clarinet diễn tấu:

taoi13

Hai âm hình chuyển giao giữa Cor và Bassoon trong phần trung gian của chương II thì cũng chính là hai nét nhạc đặc trưng của điệu hát Cha chấp:

taoi14

Còn nét nhạc được chồng theo quãng 4 sau đây trong chương I rõ ràng là nét nhạc Khèn của người Tà Ôi.

taoi15

toi1

Nhạc cụ thuộc họ hơi của người Cơtu, Tà ôi – Pakô

(Th.S Vĩnh Phúc-Trường Đại học Nghệ thuật Huế)

Giới thiệu, mô tả nhạc cụ dân tộc dân gian trên thế giới hiện nay các nhà nghiên cứu thống nhất sử dụngphương pháp hệ thống hoá và phân loại. Nguyên tắc thứ nhất của phương pháp này là căn cứ vào nguồn vật chất chuyển động tạo ra âm thanh để chia các chủng loại nhạc cụ thành bốn Họ: Họ dây (Cordophone), họ hơi (Aerophone), họ màng rung (Membranophone) và họ tự thân vang (Idiophone). Sau đó căn cứ vào phương pháp kích âm để phân loại nhạc cụ trong cùng một họ thành các Chi: Chi gõ, chi vỗ, chi đấm, chi dập, chi lắc, chi gảy, chi búng v.v…Trong bài viết nhỏ này tôi chỉ xin giới thiệu một số nhạc cụ của người Cơtu, Tà Ôi – Pakô ở Thừa Thiên – Huế được chúng tôi sưu tầm và xếp vào họ Hơi chi lưỡi gà rung.

1. Areeng *(Cơ tu), Areng (Tà Ôi –Pakô)

Một loại sáo thổi dọc, được làm bằng một ống nứa dài khoảng 34cm, có 2 lỗ bấm có lưỡi gà được tách ra từ vỏ ống nứa đặt bên mép ống. Khi thổi phải ngậm kín phần có lưỡi gà trong miệng. Đây là loại sáo thô sơ nhất, dễ kiếm dễ làm.

toi_Mặc dù chỉ 2 lỗ bấm, nhưng các già làng thổi thành thạo có thể thực hiện từ 4 đến 5 âm với những nét nhạc linh hoạt--

Mặc dù chỉ 2 lỗ bấm, nhưng các già làng thổi thành thạo có thể thực hiện từ 4 đến 5 âm với những nét nhạc linh hoạt:

toi_(Các dấu giáng có mũ là cách kí âm của chúng tôi để chỉ âm đó thấp hơn âm cơ bản chưa đến nửa cung bình quân trong âm nhạc cổ điển phương Tây)

Các dấu giáng có mũ là cách kí âm của chúng tôi để chỉ âm đó thấp hơn âm cơ bản chưa đến nửa cung bình quân trong âm nhạc cổ điển phương Tây.

Tiếng Areeng đục hơn tiếng sáo trúc của người Kinh. Do vật liệu thô sơ, chế tác đơn giản nên âm thanh chưa hẳn ở cái sáo nào cũng chuẩn. Cái Areeng chúng tôi khảo sát là do già làng Quỳnh Hoàng (một nghệ nhân của người Tà Ôi, biết sử dụng thành thạo các loại nhạc cụ) chế tác. Ông là người chế tác hầu hết các loại nhạc cụ cho người Tà Ôi – Pakô, Cơ Tu ở A Lưới.

Sáo Areeng thường được trai gái Tà Ôi, Cơtu dùng để tỏ tình trong những buổi đi sim. Có loại Areeng 2 lưỡi gà đặt ở 2 đầu ống dùng cho 2 người thổi, một nam và một nữ trong giai đoạn tìm hiểu hoặc mến thương nhau. Loại Areèng này dài hơn khoảng 5cm có 3 lỗ nhưng 2 người chỉ sử dụng 2 lỗ 2 đầu còn lỗ giữa để thoát hơi.

Trong tập sách Dư âm tình rừng,* nhạc sĩ Minh Phương có sưu tầm câu chuyện về sáo Areeng, đại ý như sau: có chàng trai Tà Ôi vì nghèo không lấy được người mình yêu thương, lòng buồn phiền như cây rừng thiếu nước. Thần hộ mệnh động lòng thương bày cho 2 người làm chiếc sáo Areèng cùng thổi. Đêm đêm qua vách nứa, chàng trai ngồi ngoài, cô gái trong buồng cùng thổi chung một ống sáo Areèng như truyền tình cảm cho nhau, ban đầu họ thổi rất nhỏ nhẹ, nhưng sau vì say sưa quên cả mọi người chung quanh, bố mẹ cô gái cùng lắng nghe tiếng sáo Areèng và động lòng gọi chàng trai vào nhà, chấp nhận cho đôi trai gái lấy nhau, khi nào làm ra của cải sẽ làm đám cưới sau, từ đó sáo Areèng được mọi người xem là sáo hạnh phúc, trong một lời hát cha chấp cũng có nhắc đến chuyện nầy:

Cám ơn cây sáo hạnh phúc
Cám ơn cây nứa bên hè
Đã cho chúng tôi thêm sức mạnh
Vượt qua trở ngại khó khăn…

2. Tireel/Anam (Tà Ôi – Pakô)

Là sáo thổi dọc. Cấu tạo giống hệt cây sáo Areeng, vì vậy, chính người Tà Ôi đôi khi cũng nhầm lẫn khi gọi tên giữa Areeng và Tirieel.

Sáo Tireel gồm 2 chiếc. Chiếc dài có kích thước khoảng 40 – 42cm, đường kính to hơn sáo Areeng một tí. Gồm 3 lỗ bấm và một lỗ thoát hơi, gọi là Ahel chiếc ngắn khoảng 21cm, cũng gồm 3 lỗ bấm gọi làatotq. Chúng đều được thổi bằng lưỡi gà bằng nứa bên mép ống như Areeng.

Sáo Tirell.
Sáo Tirell.

Tirell hay dùng để 2 người hòa tấu, thường là một nam một nữ, như một tín hiệu để gọi nhau, tìm nhau, hẹn nhau… Sáo Tireel ngắn (atotq) linh hoạt hơn, sáo Tireel dài (ahel) chỉ để phụ họa, chơi các nốt trì tục, như nét nhạc sau đây:

toi_Tirell 1

3. Talee (Cơtu) Tale (Tà Ôi) Alia (Pakô)

Là loại sáo thổi dọc như Areeng, Tireel, nhưng dài hơn – khoảng 50 – 55cm và có gắn núm trái bầu khô làm loa sáo, làm cho tiếng vang to và xa hơn. Talee có 4 lỗ bấm thực hiện được 5 âm không có bán âm với nét nhạc sau đây:

Sáo Talee.
Sáo Talee.

toi_Talee 1

4. Khên

Khên/Khèn.
Khên/Khèn.

Người Kinh gọi là khèn, người Tà Ôi, Cơ Tu gọi là khên, một nhạc cụ phổ biến ở hầu hết các dân tộc thiểu số Việt Nam. Khèn là nhạc cụ hơi, đa thanh, vì mỗi ống cho một âm thanh riêng. Khèn của người Tà Ôi, Cơ Tu ảnh hưởng khèn Lào, gồm 14 ống nứa sắp xếp song song từng đôi một thành 7 hàng từ ngắn đến dài. Đôi ống dài nhất là 60cm và cặp ngắn nhất là 35cm. Các ống nầy đều gắn lưỡi gà và được xuyên qua bầu khèn, được làm bằng gỗ dẻo gọi là apúc. Phần ống có gắn lưỡi gà đều được đặt trong apúc được bít kín các khe bằng sáp ong ruồi. Lỗ thổi khoét ngay đầu bầu khèn, có thể đồng thời vừa chơi giai điệu vừa thực hiện các chồng âm đệm theo, cũng như âm trì tục kéo dài. Âm vực khá rộng, khèn Tà Ôi có âm vực từ g-a2hình thành hàng âm không bán âm

toi_Khên 1

Khèn chỉ được sử dụng trong vui chơi hội họp giao duyên, không sử dụng trong nghi lễ cúng tế thần linh.

5. Takkoi (Tà Ôi) Tang koi (Pakô)

Parngong (Cơ Tu, Tà Ôi)

toi_Takkoi

Takkoi là tên gọi của người Tà Ôi để chỉ một loại nhạc cụ làm từ sừng trâu, người Cơ Tu gọi làparngong. Ở người Kinh loại nhạc cụ này gọi là Tù và, người Bâhnar ở Tây nguyên gọi là Tơ nuốt, nhưng Tù và của người Tà Ôi, Cơ Tu miệng thổi không phải ở đầu chóp sừng được cắt phẳng, mà thổi bằng lưỡi gà bằng đồng đặt ở phần lõm của hình vòm cung, cách chóp 10cm. Vì vậy khi thổi được đặt nằm ngang, phía lõm của hình vòm cung hướng vào trong. Tiếng Tù và trầm, đục nhưng mạnh và có độ vang xa.

Âm thanh cao hay thấp là do điều khiển luồng hơi thổi mạnh hay nhẹ, nhưng thường chỉ thổi với một độ mạnh cho một âm tương đương với nốt pha quãng 8 nhỏ với độ vang khá lớn. Trong dàn nhạc, tù và chỉ sử dụng vài chỗ mở đầu, giữa và kết thúc với tính chất ngẫu hứng tự do. Thường dùng nhiều trong các cuộc tế lễ như đâm trâu, đón khách, tiễn khách v.v… Trong sinh hoạt hằng ngày, tù và là tín hiệu để báo tin cho nhau khi săn được con nai, con heo và cũng là lời kêu cứu khẩn cấp khi gặp nguy hiểm, tai nạn…

6. Karyok ayol (Tà Ôi – Pakô, Cơ Tu)

Karyok ayol.
Karyok ayol.

Giống như một cái Tù và nhỏ vì được làm bằng sừng dê núi, chỉ dài khoảng 10 – 12cm, đường kính ở góc sừng khoảng 2,5cm. Lưỡi gà đồng đặt cách chóp sừng, phía trong hình vòng cung 3cm – đầu nhọn của sừng được cắt thủng. Khi thổi có thể bịt cả 2 đầu hoặc không bịt để tạo ra âm khác. Màu âm của Karyok ayol sáng và chói nhọn, đôi lúc the thé như tiếng của thú rừng.

Thường hay được thổi trong lúc lên nương rẫy cho vui chân, đỡ buồn và có tác dụng đuổi thú rừng phá hoại hoa màu. Nó cũng là tín hiệu báo cho nhau giữa rừng xanh núi thẳm. Trong một số lời ca của điệu hát Baboih và chachấp do nhạc sĩ Minh Phương sưu tầm, có bài có đề cập đến 2 nhạc cụ nầy.

Anh ơi anh! Nhớ anh em chờ
Nghe tiếng Târ kòi thấy anh về đó
Thổi một tiếng dài, anh ở bờ suối
Thổi hai tiếng dài, anh ở nương ngô
Thổi ba tiếng dài anh ở đầu núi
Thôi thúc Târ kòi anh gọi em lên. [1]

Em như con nai
Bị Krờ doóc a dôn săn đón
Chân em líu lại
Má em như có lửa nung
Mắt em nhìn qua kẻ lá
Tim em như ngọn lửa bừng bừng. [2]

7. Tarqơơi took

Là một nhạc cụ đơn giản Họ hơi, chi thổi chỉ thấy ở người Cơ Tu. Tarqơơi toók được làm từ một đoạn ống tre dài khoảng 25cm, đường kính khoảng 2cm. Một đầu ống tre có mắt kín, có đục lỗ thổi ở mép ống, gần mắt, đầu kia rỗng được khoét, vạt vào thân ống bằng ½ chiều dài có tác dụng để điều khiển âm thanh. Người diễn tấu thổi trực tiếp vào lỗ thổi, tay trái nâng nhạc cụ, tay phải điều khiển âm thanh. Sáo Tr’ơi toóc nghe rộn ràng, phấn chấn. Cũng như Karyok ayol, Tarqơơi toók chỉ có một âm cố định phát ra trên một lỗ thổi, sự điều khiển âm thanh ở tay phải chủ yếu là tạo âm thanh bắt chước tiếng hót của một số loại chim rừng. Vì thế không phải là một nhạc cụ sở trường diễn tấu giai điệu.

8. Nkoaiq/ nkrao (Tà Ôi – Pakô) Âng Kro (Cơ Tu)

Có thể gọi đây là đàn môi, rất phổ biến hầu hết ở các tộc ít người ở Việt Nam với nhiều tên gọi và chất liệu chế tác khác nhau.

Đàn môi người Tà Ôi, Cơ Tu làm bằng đồng[3], hình chiếc lá có cả cuống lá, ở giữa được dát mỏng hơn so với chung quanh và cắt rời thành một hình tam giác cân mà 2 cạnh bên tạo thành một góc rất nhọn dưới 150, còn đáy dính vào thân đàn. Đầu nhọn của đỉnh tam giác ấy được uốn cong ra ngoài dùng để búng. Khi chơi đàn, người ta ngậm hờ vào môi dùng vòm họng làm hộp cộng hưởng và ngón trỏ búng vào cái đỉnh tam giác được uốn cong ra ngoài, tay trái giữ gốc đàn, là cái cuống lá.

Đàn môi được bảo quản cẩn thận trong một ống tre ngắn có nút đậy. Cao độ không chuẩn xác vì ngón trỏ búng làm rung lưỡi gà lúc mạnh lúc nhẹ, vòm miệng làm hộp cộng hưởng lại bị chi phối bằng việc thay đổi khẩu hình nên âm thanh phát ra đôi lúc như tiếng ếch nhái, khó định được cao độ.

Nkoaiq (ân quái).
Nkoaiq (ân quái).

Nkoaiq (ân quái) thường được dùng vào ban đêm, khi người con trai đến bên vách nứa, chỗ cô gái ngủ để tỏ tình và hò hẹn đi sim. Tiếng đàn thỏ thẻ vang lên như tiếng côn trùng trong đêm không làm cả nhà thức giấc, nhưng chỉ cô gái là nghe được “tiếng lòng” ấy, liền nhẹ nhàng theo tiếng đàn của người con trai đến bên bờ suối vắng để tình tự…

Lời ca trong điệu hát Kơlâu Kơlênh của người Cơ Tu có đề cập đến đàn môi làm bằng tre:

“Em ơi em,
Anh làm chíêc Âng Kro.
Để đàn nói giùm anh.
Những điều không nói được.
Anh lên trên núi cao.
Chọn cây tre già nhất.
lấy đoạn tre tốt nhất.
Làm chiếc đàn khéo nhất.
lựa những lời hay nhất.
Để nói với em những lời chân thật nhất.
Thương em nhiều nhất.
Em ơi em, em có biết không?” *

Chúng tôi phân vân chưa biết xếp nhạc cụ này vào họ nào, vì thực chất, vòm miệng của người đàn chẳng qua chỉ là hộp cộng hưởng như quả bầu mà thôi, còn lưỡi gà hình tam giác có chiều dài hơn ½ chiều dài của đàn, được búng bởi ngón tay người đàn để phát âm chứ hoàn toàn không tác động bằng luồng hơi thổi nào, chức năng của vòm miệng lại giống như kiểu chơi của đàn Abel, nên không thể khiên cưỡng rằng nhạc cụ nào đưa lên môi đều là nhạc cụ thổi. Ý kiến của GSTS Tô Ngọc Thanh trong tập sách Nhạc cụ dân tộc thiểu số Việt Nam, được biết, các nhà nghiên cứu trên thế giới cũng vẫn chưa nhất trí với nhau về việc xếp đàn Môi vào họ nhạc cụ nào, có người xếp vào họ dây, người xếp vào họ hơi và có người xếp vào họ tự thân vang.

Nhạc cụ của các tộc người thiểu số ở Thừa Thiên Huế khá phong phú. Chúng tôi đã sưu tầm và phân loại gồm đầy đủ cả 4 họ nhạc khí. Trong phạm vi bài viết này chỉ xin giới thiệu các nhạc cụ thuộc họ Hơi.

_______________________________________
** Các từ bằng tiếng dân tộc trong bài đã được Th.s ngữ văn Nguyễn Thì Sửu bổ sung và sửa chửa.
* Minh Phương. Dư âm tình rừng. Sở VHTT TTH, Nxb Thuận Hoá.2000.
[1] Lời ca điệu Babơq. Minh Phương sưu tầm.
[2] Lời ca điệu hát Chachấp. Minh Phương sưu tầm
[3] Nếu làm bằng tre thì gọi là ÂnKrao.
* Minh Phương sưu tập. Sách đã dẫn.

Hòa tấu Tale, Ântoong và Karyok ayol. (ảnh Vĩnh Phúc)
Hòa tấu Tale, Ântoong và Karyok ayol. (ảnh Vĩnh Phúc)

Sinh hoạt âm nhạc trong trình thức đám cưới của người Tà Ôi – Pacoh

(Th.S Vĩnh Phúc – Trường Đại học Nghệ thuật Huế)

A Lưới là một huyện miền núi phía Tây tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi đây là địa bàn cư trú lâu đời của ba dân tộc thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơme, mà trong đó, đông và tập trung nhất là dân tộc Tà ôi- bao gồm cả nhóm tự gọi là Pakoh- chiếm trên 80% tổng dân số của cả huyện.

Cũng như các cộng đồng tộc người cư trú dọc Trường Sơn, dân tộc Tà ôi còn bảo lưu, duy trì được những yếu tố văn hóa đặc sắc của tộc người, tiêu biểu cho cơ tầng văn hóa bản địa ở vùng lục địa Đông Nam Á.

Những hoạt động sản xuất của cộng đồng tộc người, tuy là vượt qua giai đoạn kinh tế cướp đoạt, đã tiến sâu vào giai đoạn kinh tế sản xuất với nền nông nghiệp lệ thuộc vào thiên nhiên, mà hình thái kinh tế chủ yếu là làm nương rẫy, ruộng vườn… nhưng hình thái săn bắt hái lượm vẫn mang đậm dấu ấn trong đời sống văn hóa của họ. Ở đó còn tiềm ẩn những tín hiệu văn hóa đặc thù liên quan đến sự giao thoa tiếp biến của truyền thống, mà trong từng lĩnh vực, cần được tiếp tục nghiên cứu và giải mã.

Tuy nhiên, văn hóa cổ truyền dân tộc Tà ôi, cũng như các tộc ít người khác trong cộng đồng các dân tộc Việc Nam, như lời cảnh báo của GSTS Tô Ngọc Thanh: vốn dược sinh ra trong điều kiện của nền văn minh nông nghiệp lạc hậu và của xã hội chậm phát triển, đang bị thử thách gay gắt trước những yêu cầu của sự phát triển của xã hội hiện đại, mà trước hết là xu hướng công nghiệp hóa, đô thị hóa và toàn cầu hóa mọi mặt đời sống của con người. Vì vậy, nếu không quan tâm đến vấn đề văn hóa thì quá trình phát triển cũng đồng thời là quá trình hủy diệt văn hóa. Quá trình này, có một nhà nghiên cứu đã diễn giải cụ thể, thực tế và rất hình ảnh: xích lô về làng đã đưa xe kéo tay vào bếp. Máy bơm nhiều mã lực có mặt trên đồng ruộng thì gàu sòng, gàu giai ra đi. Ti vi, phim ảnh lên núi, thì người múa hát dân dã bỏ dần vốn cổ “cây nhà lá vườn” …nói chung, như nhà nghiên cứu dân tộc học Nguyễn Văn Tiệp nhận định: đó là nguyên nhân làm rạn nứt các tập tục cổ truyền.

Việc chuyển từ ở nhà sàn sang ở nhà đất đã ảnh hưởng đến sự sắp xếp lại nơi ăn chốn ở; sự vắng mặt của ngôi Nhà Dài (dân tộc Tà ôi-Pacoh), là nơi bảo lưu rất rõ nét cơ cấu đại gia đình phụ quyền, đã tác động sâu sắc đến vấn đề hôn nhân và gia đình.

Quá trình hôn nhân của người Tà ôi thường diễn ra theo ba giai đoạn. Giai đoạn tiền hôn nhân. Giai đoạn hôn lễ, và giai đoạn kết thúc quá trình hôn nhân, trong đó hầu hết đều có sử dụng âm nhạc gắn bó với các bước của các lễ thức.

Cũng như đa số dân tộc ít người khác ở Việt Nam, các loại hình nghệ thuật của dân tộc Tà ôi chủ yếu tồn tại dưới dạng “phi vật thể” trong phương thức tổng thể nguyên hợp của văn hóa dân gian. Nó chỉ được lưu truyền qua trình diễn và ghi nhớ bằng trí nhớ con người. Trong đời sống của họ, âm nhạc luôn có mặt trong các sinh hoạt: trong nghi lễ tín ngưỡng, trong các lễ thức phong tục cũng như trong giao tiếp vui chơi… đã được phân định rõ nét về thể loại, chẳng hạn như điệu hát Ântoiq chỉ dùng trong đám cưới, và cũng chỉ ở giai đoạn tiến hành lễ thức cuối dùng, còn Karlơi thì hát trong các lễ thức ở giai đoạn đầu… Karlơi và Baboiq là thể hát của người có tuổi, nhưng Karlơi được dùng rộng rãi hơn, trong giao tiếp, giáo dục khuyên răn con cái, vui chơi…, còn Baboiq thuộc về thể tự sự, nỗi niềm, gần với hát ru. Chachâp thì thường thích hợp với nam nữ thanh niên để trao gửi, giao duyên.

Nhạc cụ của người Tà ôi tuy đơn giản, thô sơ được chế tác chủ yếu bằng các nguyên liệu sẵn có trong thiên nhiên xung quanh họ như tre nứa, gỗ… nhưng không kém phong phú về chủng loại. Với trên mười loại nhạc cụ khác nhau có thể xếp vào các nhóm loại như: Nhóm hơi thổi gồm 6 loại:Areng, Tireel, Tale, Khên, Karyok ayol, Târkòi; nhóm dây gảy và kéo gồm 4 loại: Âmplưng, Abel, Âmpreng, và ânkoaiq; nhóm gõ gồm đàn:Ântoong, Koong, Tarlè, Xar và trống hai mặt da Arkư. Trong đám cưới, chỉ sử dụng một vài loại cho từng giai đoạn của quá trình hôn nhân.

Ở giai đoạn tiền hôn nhân, là sự tìm hiểu một cách tự do giữa nam nữ khi đến tuổi trưởng thành. Họ được phép hẹn hò nhau đến một chòi vắng trên rẫy hoặc bên dòng suối vào những đêm trăng sáng, gọi là “đi sim”. Những buổi đi sim như thế có thể hẹn trước, tuy nhiên nhiều lúc phải thông tin cho nhau bằng âm nhạc. Người con trai sẽ đến bên nhà sàn, chỗ cô gái thường ngủ, qua vách nứa mỏng manh, sử dụng một thứ nhạc cụ làm bằng đồng gọi là Ânkoaiq chỉ nhỏ bằng ngón tay cái, ngậm vào môi dùng vòm miệng làm hộp cộng hưởng và ngón trỏ điều khiển làm rung lưỡi gà tạo nên những âm thanh như tiếng ếch nhái, ễnh ương kêu trong đêm. Cô gái nghe được “tiếng lòng” ấy, liền nhẹ nhàng rời nhà theo người con trai đến chỗ hẹn hò.

Thổi sáo Areng tỏ tình trong tục ‘đi sim’. (ảnh Vĩnh Phúc)
Thổi sáo Areng tỏ tình trong tục ‘đi sim’. (ảnh Vĩnh Phúc)

Trong đêm trăng sáng bên dòng suối giữa rừng, trong một chòi nhỏ họ ngồi bên nhau trao gửi ý tình. Ngoài ngôn ngữ bình thường, họ thường thổ lộ tình cảm bằng điệu hát chachâp hoặc bằng tiếng sáo Areng, tiếng đàn Âmplưng hoặc tiếng Khên.

Areeng được làm bằng một đoạn nứa nhỏ, ngắn khoảng 30cm, phát được 3 âm, đây là loại sáo dọc thường được trai gái sử dụng để trao gửi tình cảm cho nhau.

Đàn Âmplưng làm từ một ống tre có đường kính khoảng 8cm và dài khoảng 40cm, có hai dây bằng vỏ tre được tước ra từ chính ống tre đó, và dùng một miếng tre nhỏ khác làm ngựa đàn căng dây. Theo GSTS Trần Văn Khê, loại đàn ống tre này không chỉ có ở Việt Nam mà có mặt rất nhiều nước thuộc Đông Nam Á lục địa và hải đảo như: Mianmar, Philippin, Inđonêxia .v.v…

Khên là tên gọi của một nhạc cụ rất phổ biến ở các dân tộc miền núi phía Bắc Việt Nam: Khèn bè. Khèn của dân tộc Tà ôi ảnh hưởng khèn Lào, gồm 14 ống sậy được sắp xếp song song từng đôi một thành 7 hàng thứ tự từ ngắn đến dài. Khèn bè là một nhạc cụ thể hiện rõ nét yếu tố đặc trưng trong âm nhạc Đông Nam Á là thường sử dụng âm trì tục trong hòa tấu cũng như trong độc tấu ở một số loại nhạc cụ.

Qua nhiều lần tìm hiểu bằng các buổi tối đi sim, nếu đôi bên đã ý hợp tâm đầu thì họ trao tặng vật làm tin như chiếc vòng bạc đeo tay hoặc xâu chuỗi cườm.v.v…

Sau đó, người con trai chủ động trình bày với gia đình tìm người mai mối đến đặt vấn đề với gia đình bên gái. Việc đặt vấn đề có tốt đẹp, nhanh chóng hay không là tùy thuộc vào việc thõa mãn yêu cầu thách cưới của nhà gái. Nếu đã được thõa thuận về của cải thì sẽ nhanh chóng định ngày làm lễ cưới.

Giai đoạn làm lễ cưới, theo phong tục, được chia làm hai bước. Bước 1, được tổ chức tại nhà gái. Nội nhung và tính chất tựa như lễ hỏi của người Kinh, được gọi là “lễ bỏ của”.

Trong lễ này, nhà trai phải đưa đến một phần của cải đã thõa thuận và các vật phẩm khác như lợn, gà, xôi, bánh .v.v…

Hôn nhân của người Tà ôi ngày xưa nặng về tính chất mua bán với các tục tảo hôn, thách cưới rất nặng nề, nhưng được luật tục của cộng đồng thừa nhận. Vì vậy, cưới vợ đồng nghĩa với “mua vợ”, và do phải bỏ số của cải lớn theo yêu cầu của nhà gái, cho nên cô gái về nhà chồng phải quằn lưng làm lụng vất vả. Nếu không may chồng chết, người vợ không có quyền tái hôn với người nào khác, mà phải suốt đời ở lại như vật sở hửu của nhà chồng, và luật tục cổ truyền của người Tà ôi cho phép có thể tiếp tục tái hôn với người trong gia đình chồng, như lấy em trai hay anh trai chồng, thậm chí cả bố chồng, hoặc ngược lại con trai có thể lấy vợ lẻ của bố, cháu trai có thể lấy cả vợ của chú trong trường hợp bố, chú mất…

Trong lễ này, số của cải đã thõa thuận sẽ được xem xét, tính toán còn lại bao nhiêu mà nhà trai cho phép tiếp tục trả sau này. Đơn vị của cải này được nhà gái tính toán bằng số lượng hạt ngô…

Nếu không có gì trở ngại, cô dâu được phép theo họ ngà trai về luôn bên nhà chồng. Theo tục lệ, lễ này phải được diễn ra từ chiều tối,và cô dâu sẽ được đưa về lúc đêm khuya để tránh sự nhòm ngó của người khác, tránh điều rủi ro, vợ chồng sẽ không hạnh phúc. Lệ thường, thì sau 5, 7 ngày, hai vợ chồng còn phải trở lại nhà vợ để chính thức từ giã gia đình bằng 2 lễ thức phong tục, là cô dâu cắm một cây dao vào bếp, và ném đôi đũa xới cơm xuống sàn nhà, chấm dứt thời kỳ phụng dưỡng bố mẹ, để hoàn toàn thuộc về một gia đình khác.

Bước 2 trong giai đoạn này là sau khi cô dâu về nhà, sẽ diễn ra một cuộc lễ tại nhà trai để đón gia đình nhà gái. Nhà trai mời nhà gái những vật phẩm của mình. Phần này có một lễ thức mang tính ước lệ là đại diện 2 nhà nhúng mảnh lá chuối vào một bát rượu, biểu hiện sự nhất trí và giao kết giữa 2 họ… Nhà gái cũng mang đến đóng góp những vật phẩm của mình.

Tiếp đến là phần diễn xướng. Nhà trai mời nhà gái cùng nhảy múa hát chúc mừng 2 bên trong điệu hát Karlơi rất được ưa chuộng.

Karlơi là một điệu hát khá hoàn chỉnh về cấu trúc. Một mô-típ âm điệu sử dụng tiếng đệm, được láy đi láy lại ở âm khu cao xuất hiện nhiều lần sau các vế kể, tạo thành một “đoạn điệp” làm cân bằng kết cấu âm nhạc. Giai điệu đơn giản nhưng đường nét quán xuyến theo thủ pháp nhắc lại ở các cao độ khác nhau trong một mô-típ tiết tấu có tiết phách rõ ràng của loại nhịp chẵn, làm cho điệu hát mang tính giai điệu cao, so với các điệu hát khác của dân tộc này. Điệu hát Karlơi thường được hát với nhiều nội dung khác nhau, rất dược ưa thích và thường phải nhún nhảy, lắc lư theo nhịp trống. Đây là một điệu hát không thể thiếu trong mọi sinh hoạt diễn xướng của người Tà ôi…

Trong lúc vừa hát Karlơi vừa lắc lư theo nhịp điệu, sẽ thực hiện một lễ thức kết thúc là đại diện 2 họ khoác áo cho nhau. Nhà gái khoác tấm “dèng” thổ cẩm (là loại vải dùng cho phụ nữ) lên vai đại diện nhà trai, mang ý nghĩa gửi gắm con gái cho nhà trai, nhà trai thì khoác cho nhà gái chiếc áo đàn ông.

Giai đoạn cuối cùng là tiến hành lễ “hoàn tất” (Pẩy Plồh). Theo các nhà nghiên cứu văn hóa-dân tộc học như Nguyễn Hữu Thông, Huỳnh Đình Kết, Nguyễn Xuân Hồng và Phan Thị Đào, giai đoạn này được xem như sự đánh dấu cô dâu đã hoàn toàn thuộc về nhà chồng. Phía nhà trai phải thanh toán trọn vẹn số của thách cưới đang còn thiếu. Lễ hoàn tất có thể tiến hành ngay sau lễ cưới đối với nhà chồng giàu có, nhưng có thể hằng năm sau mới tiến hành được nếu nhà chồng khó khăn chưa đủ của cải để trả món nợ thách cưới của nhà gái. Có khi con cái của 2 vợ chồng đã lớn khôn mới thực hiện được, thậm chí lúc còn sống chưa trả được, lúc chết đi thì con cái hoặc dòng họ góp sức làm để trả.

Tùy theo điều kiện mà lễ này được tổ chức lớn hay nhỏ, nhưng thường có quy mô không kém hơn so với lễ cưới. Bà con hai họ, láng giềng đông đủ hơn để ăn uống, vui chơi, cũng như để cộng đồng chứng kiến việc bán gã đã hoàn tất theo luật tục, cô dâu từ đây đã chính thức thuộc về gia đình nhà trai…

Khi nhà trai tuyên bố xin thanh toán hết số của cải còn thiếu, nhà gái cũng trao lại cho nhà trai một số của cải tượng trưng, chủ yếu là dèng, chiếu, một ít thực phẩm đựng trong ống tre… có ý nghĩa như của “hồi môn” cho con gái trong tục lệ của người Kinh. Có thể đây là sự giao thoa văn hóa chăng?

Diễn xướng trong giai đoạn này cũng được xem là một bộ phận của lễ thức… Lúc mọi người vẫn ăn uống vui vẻ trong tiếng cồng, tiếng trống, chủ nhà gái cất hát Karlơi chúc mừng nhà trai và công nhận con gái của chúng tôi từ giờ phút này hoàn toàn thuộc về nhà chồng, mong nhà chồng săn sóc con dâu để đừng ốm đau bệnh tật. Đại diện nhà trai hát đáp lại cảm ơn gia đình nhà gái đã nuôi nấng dạy dỗ con cái nên người, và đã cho con gái về làm vợ, làm nội trợ cho gia đình chồng…

Kết thúc phần diễn xướng, chủ của 2 họ lại làm thủ tục quàng áo cho nhau. Chủ nhà gái quàng cả tấm dèng thổ cẩm lên người chủ nhà trai và trao cho chủ nhà trai một con gà sống, đồng thời ôm nhau trong một cử chỉ thân thiện, mãn nguyện.

Buổi lễ kết thúc bằng lễ thức cuối cùng: hai bên nói lời cam kết bằng điệu hát Ântoiq.

Ântoiq là điệu hát đặc biệt của người Tà ôi, chỉ dùng trong đám cưới và cũng chỉ ở giai đoạn kết thúc. Đường nét giai điệu không uyển chuyển như điệu hát Karlơi mà gần với lối “hát nói”, nhịp điệu tự do tùy hứng. Nội dung của điệu hát Ântóiq là sự cam kết giữa 2 gia đình: Vợ chồng không được bỏ nhau, phải yêu thương nhau và gắn bó với gia đình chồng suốt đời. Nếu bỏ nhau phải bồi thường theo lệ làng.

Nhà gái hát cám ơn nhà trai đã bỏ của cải để cưới con gái, sau đó nhà trai lại hát về việc của cải cho con không được nhiều… mong nhà gái không đòi con lại, hai gia đình sẽ mãi mãi là sui gia giữ vững tình đoàn kết thân ái…

Đứng trước sự phát triển của xã hội hiện đại , những ngôi nhà Dài, nhà Gươl của các dân tộc thiểu số cư trú dọc Trường Sơn ở Thừa Thiên Huế, đã bắt đầu hiếm hoi. Các tập tục văn hóa cổ truyền chứa đựng trong nó, được sản sinh ra trong nền kinh tế rẫy nương, săn bắt đã dần dần mai một đi trong đời sống “ở đất bằng làm ruộng nước” với thiết chế “điện, đường, trường, trạm” như hiện nay. Giữa thời điểm này, một lễ cưới của người Tà ôi ít nhiều còn bảo lưu được các tập tục cổ, cũng như nghệ thuật diễn xướng gắn bó với nó, mang tính nguyên hợp của một loại hình… tưởng cũng là một điều may mắn cho công việc bảo tồn các biểu hiện văn hóa còn tiềm ẩn những tín hiệu, những yếu tố mang đậm chất văn hóa bản địa này.

Cũng cần nói thêm rằng, những trình thức trong đám cưới, điều do các người già điều khiển qua sự tái tạo lại bằng trí nhớ; những điệu hát ở mỗi giai đoạn trong lễ cưới, cũng do người già nhớ và hát; các loại nhạc cụ cũng do người già chế tác… Giới trẻ, hầu như vắng mặt trong đời sống tinh thần của quá khứ, và như thế, những sinh hoạt mang tính phong tục, tập quán đặc trưng của tộc người khó mà lưu giữ được vào ký ức văn hóa của họ, như ý kiến cảnh báo của các nhà nghiên cứu: “truyền thống văn hóa của một dân tộc sẽ chấm hết khi thế hệ cuối cùng lưu giữ nó chết đi”… Và điều này, đang đúng với thực trạng văn hóa của các dân tộc thiểu số miền núi ở Thừa Thiên Huế.

Tài Liệu Tham Khảo:

1. Hội VNDGVN.. Góp phần nâng cao chất lượng sưu tầm, nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian. Văn hóa dân tộc. Hà Nội 2000.
2. Nguyễn Quốc Lộc (chủ biên) Các dân tộc ít người ở Bình Trị Thiên. Phần dân tộc Tà Ôi – Nguyễn Hữu Thông. Thuận Hóa. Huế 1984.
3. Ngô Văn Lệ, Nguyễn Văn Tiệp, Nguyễn Văn Diệu. Văn hóa các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Giáo dục. Hà Nội 1997.
4. Mai Ngọc Chừ. Văn hóa Đông Nam Á. Đại học Quốc gia Hà Nội. 1998.
5. Phan Thị Đào. Tục cưới của người Pa cô, nỗi ám ảnh đối với người nghèo. Văn hóa dân gian Thừa Thiên Huế. 1995.
6. Nguyễn Xuân Hồng. Hôn nhân, gia đình, ma chay của người Tà Ôi, Kơ Tu, Vân Kiều ở Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Sở VHTT Quảng Trị. 1998.
7. Dương Bích Hà. Âm nhạc trong lễ Cầu mùa của người Tà Ôi ở Thừa Thiên Huế. Văn hóa Nghệ Thuật. Số 8. 2000.

toi_Đặc sắc trang phục dân tộc Tà Ôi

Múa Trong Tín Ngưỡng Của Người Tà Ôi

(Trần Nguyễn Khánh Phong)

Trước đây, sau khi xong một chu kỳ sản xuất, người Tà ôi thường tổ chức sinh hoạt tín ngưỡng thông qua các lễ hội lớn của cộng đồng như: Ariêu ping (lễ dời mả), Ariêu car (lễ đâm trâu), Ariêu Aza (lễ tạ ơn trời đất), Ariêu paching dung (lễ mừng nhà mới), Aza kooh (lễ cầu mùa)…Trong các lễ hội này, những người tham gia đều sử dụng các điệu múa phổ biến là aza, za zả, madooc, jadooc…Đây là những điệu múa tập thể, động tác đơn giản nhưng rất sôi động và vui nhộn bởi có sự phụ họa của dân nhạc lẫn người xem.

Ngày nay, mặc dù ở địa bàn sinh sống của người Tà ôi có nhiều biến đổi theo lối của cơ chế thị trường nhưng họ vẫn cố gắng giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa tinh thần to lớn của dân tộc mà trong đó những điệu múa trong tín ngưỡng của họ còn bảo lưu khá đậm nét.

Nếu như múa trong lao động và múa trong sinh hoạt của người Tà ôi, các động tác múa không cần nhiều diễn viên thì đến loại hình múa trong tín ngưỡng này thì lại khác: “Người già, người trẻ, nam nữ ai cũng có thể tham gia được. Múa thường được đệm, được hòa với tiếng trống, tiếng chiêng. Vì vậy càng tạo được không khí rộn ràng, vui vẻ, có sức cuốn hút lớn đối với cả người diễn lẫn người xem”.

Theo các nghệ nhân kể lại thì múa trong tín ngưỡng của người Tà ôi có các đề tài sau:

+ Múa trong lễ Ariêu ping.
+ Múa trong lễ Ariêu – Ârpuch (lễ đoàn kết giữa các làng).
+ Múa trong lễ Ariêu aza.
+ Múa trong lễ Ariêu paching dung.
+ Múa trong lễ Ariêu ale cârmai akay (lễ đưa dâu).

Với các đề tài đó, người Tà ôi đã sáng tạo ra các điệu múa phổ biến phù hợp với nội dung của từng lễ hội.

+ Điệu za zả: đây là điệu múa truyền thống độc đáo mà không chỉ riêng người Tà ôi, ngay cả dân tộc Cơtu cận cư cũng có. Điệu này được múa ở các lễ hội lớn với nội dung là tạ ơn và cầu mong đất trời, thần linh ban tặng cho dân làng một vụ mùa tốt tươi, ấm no.

+ Điệu aza: đây là điệu mừng năm mới, tạ ơn thần linh đã che chở cho dân làng khỏi ốm đau, bệnh tật, xui xẻo. Phụ nữ nhóm Pacô thường sử dụng điệu múa này hơn.

+ Điệu aza kooh: được múa trong lễ hội cầu mùa.

+ Điệu adưn Radoóc: đây là điệu múa của đám Radoóc (khách không mời mà đến) thường xuất hiện trong các lễ: đám cưới, dời mả.

+ Điệu adưn Tờ rỉa: đây là điệu múa vòng tròn quanh cột lễ trong lễ hội đâm trâu.

+ Điệu adưn aza: điệu múa trên nhà sàn hoặc trước sân nhà Rông mới dựng của làng.

+ Điệu adưn choán paching dung: múa mừng nhà mới, múa đuổi tà ma.

+ Điệu Curu: đây là điệu mang tín ngưỡng saman giáo dùng cho các vị thầy bói, thầy cúng ở trong cộng đồng Tà ôi. Thầy bói hoặc thầy cúng nói chuyện với thế giới thần linh và truyền đạt lại nội dung đó cho người nghe, người xem. Có 2 lần múa với các động tác ngây ngất toàn thân giống như người say rượu vậy, rồi sau đó ngáp, trong khi ngáp lần đầu báo hiệu rằng thần linh đã nhập vào cơ thể mình, khi đó vị thầy cúng hoặc thầy bói thể hiện các công việc của mình, ngáp lần thứ hai báo hiệu thần linh đã thoát ra khỏi thể xác cũng là kết thúc điệu múa.

+ Điệu hầu sasai veel (già làng): điệu múa này chỉ dành cho người phụ nữ trẻ chưa chồng.
Tuy có sự thống kê khá nhiều về các đề tài và điệu múa trong tín ngưỡng song ngày nay, theo sự chứng kiến của chúng tôi trong quá trình tham gia các đợt sinh hoạt lễ hội của người Tà ôi thì họ chỉ trình diễn các điệu múa trong tín ngưỡng với các đạo cụ được sử dụng như sau:

Một nét chung ở múa trong tín ngưỡng là đội múa lấy cây nêu làm trọng tâm, vòng tròn là trung tâm sinh hoạt, múa là diễn xướng của cộng đồng. Đối với người Tà ôi, cứ đến cuối tháng Xay chit la bar (tháng 12 dương lịch) thì họ lại tưng bừng với các lễ hội. Tất cả các lễ hội đều được tổ chức long trọng tại một ngôi nhà chung của làng (chỉ trừ lễ dời mả được tổ chức riêng với địa điểm tập trung ở bãi đất hoang cách làng khoảng 500 – 700m). Sau khi chuẩn bị đầy đủ mọi thứ thì các đội múa cũng đã sẵn sàng để diễn xuất.

Trong lễ hội đâm trâu, đội múa thường đông người có khi lên đến 100 người không kể già, trẻ, gái, trai, giàu, nghèo. Số lượng người càng đông lại càng thể hiện sự gắn kết cộng đồng. Sự phân công các công việc trong đội múa được rạch ròi như sau:

– Người đàn ông lớn tuổi: cầm xập xõa, đánh trống, thổi khèn, đánh cồng chiêng.
– Thanh niên nam trẻ: tay cầm khiên và kiếm, vai mang cung tên.
– Người đàn bà lớn tuổi: cầm quạt (bằng lá cọ), ngày nay do sự biến đổi văn hóa cho nên hầu hết trong các lễ hội họ sử dụng loại quạt xếp bằng giấy của người Việt.
– Phụ nữ trẻ tuổi: tay cầm cây mía còn nguyên gốc và lá, cầm lục lạc.

Đội múa dịch chuyển ngược theo chiều kim đồng hồ quanh cây nêu có buộc con trâu. Từ vị trí trung tâm cây nêu ra đến đường vòng tròn của đội múa khoảng 5-7m. Phía bên trong vòng tròn là một vài người cũng tham gia phụ họa theo các động tác múa ở vòng ngoài, thành phần đứng ở vòng trong là các vị già làng và người được giao nhiệm vụ đâm trâu.

Với 2 điệu múa được sử dụng trong lễ này là múa điệu adưn Tờ rỉa, sasai veel (hầu quạt già làng). Khi lễ đâm trâu được bắt đầu thì các già làng làm lễ một mâm cúng nhỏ gồm 1 con gà luộc, một ít rượu, gạo và vải dzèng. Khi già làng ngồi cúng thì các thiếu nữ Tà ôi đến bên cạnh cùng ngồi và quạt cho già làng. Với động tác quạt nhẹ nhàng, hai tay cầm quạt và lắc lư theo nhịp trống. Việc hầu già làng bằng động tác múa quạt này thể hiện sự kính cẩn mời thần linh về chứng giám lễ hội đâm trâu của làng.

Khi lễ đâm trâu được bắt đầu thì cùng với âm nhạc được xướng lên là những đôi bàn chân vừa chắc khỏe (đối với nam), vừa mềm mại (đối với nữ), đôi bàn tay uyển chuyển, thân hình nhún đều cùng dịch chuyển theo một vòng tròng đều đặn. Các cụ già và trai tráng nghiêng mình để diễn tấu các loại thanh la, cồng chiêng, thổi khèn, tù và… Các cụ bà thì một tay chống vào hông, một tay cầm quạt phẩy qua về theo chiều ngang để tượng trưng quạt cho các vị già làng đang đứng ở vòng trong. Còn về phần các thiếu nữ, với các thao tác đưa tay lên ngang vai, ngửa ra, tâng lên tâng xuống một cách nhẹ nhàng đều đặn, những bước đi nhẹ nhàng uyển chuyển đã tạo nên một không khí lễ hội vừa trang nghiêm, tôn kính mang vẻ tâm linh nhưng lại vừa thể hiện cuộc sống đời thường – mừng xong một chu kỳ sản xuất.

Trong lễ hội đâm trâu thường có tới 5 cảnh múa khác nhau, lúc đầu mang âm hưởng nhẹ nhàng thì các điệu múa chậm rãi, càng về sau khi con trâu bị những nhát lao đâm thì dân nhạc lại càng rộn ràng, gấp gáp, dồn dập đồng thời đội múa di chuyển càng nhanh kèm theo những lời hò hát nhằm thể hiện sức mạnh và niềm vui mừng khi con trâu bị hạ gục. Khi con trâu ngã xuống thì đội múa lại trở về với trạng thái ban đầu nhằm bày tỏ sự thương tiếc trâu, vì trâu hi sinh để tế thần khi đó thần linh mới ban lại hạnh phúc và ấm no cho dân làng.

Tương tự như trong lễ đâm trâu thì múa trong lễ cầu mùa lại có điểm khác là không có tục đâm trâu. Đội múa cũng di chuyển quanh cây nêu, động tác aza kooh, adưn aza thể hiện sự vui mừng mùa màng bội thu và cầu mong một mùa mới với ước mong mưa thuận gió hòa. Trong quá trình múa, các thiếu nữ còn cầm theo những gié lúa hoặc các thứ nông sản khác nhằm tượng trưng cho sinh hoạt kinh tế nông nghiệp của cư dân Tà ôi.

Đối với điệu múa adưn choán paching dung thì phần âm nhạc có phần vừa rộn ràng nhưng vừa trữ tình. Trong múa mừng nhà mới, số lượng diễn viên tham gia múa không nhiều, thường từ 5 – 8 cặp nam nữ trẻ. Nam một tay cầm bàn đỡ, một tay cầm kiếm với ý nghĩa xua đuổi ma tà ra khỏi khu vực nhà mới, nữ thì đeo gùi với ý nghĩa siêng năng trong lao động, đem lương thực về đầy nhà.

Thông thường, chỉ có làm nhà cộng đồng và sau khi hoàn thành nhà thì mới tổ chức ăn mừng đi kèm với sinh hoạt diễn xướng dân vũ. Còn đối với các loại nhà khác thì người Tà ôi chỉ tổ chức lễ nhỏ mang tính chất gia đình nên không tổ chức múa hát.

Múa trong lễ tạ ơn trời đất là sự hội tụ tất cả các điệu múa vốn có trong sinh hoạt tín ngưỡng của người Tà ôi. Thông thường trong lễ đâm trâu đó chính là sự tạ ơn nữ thần Lúa, trong lễ cầu mùa là sự cầu mong mưa thuận gió hòa, múa mừng nhà mới là lễ tạ ơn Yang Dung (thần Nhà)

Người Tà ôi luôn có những quan niệm về Yang (thần) trong đời sống tâm linh của mình, bởi vì theo họ các vị thần đó đã luôn luôn che chở cho họ qua cơn bĩ cực và chính vì thế người Tà ôi luôn có những vật ký thác cho các vị thần, nơi đâu có cư dân sinh sống thì ở đó có thờ thần.

Lễ tạ ơn trời đất của người Tà ôi chính là sự tạ ơn các vị thần sau: Arơbang (thần Trời), Tro (thần Lúa), Acheeq (thần Chim), Panuôn (thần Buôn bán), Mbang (ông Bụt), Cu the (thần Đất), Koh (thần Núi), Dad (thần Sông suối), Kotnhon (thần Hộ mệnh), Păngtơrô (thần Sao), Tudê (thần Nước), Kutaawng (thần ban sự ấm no), Yơơ (thần Không trung). Đội hình múa trong lễ này tùy theo từng vị thần mà họ có những động tác và đạo cụ phù hợp.

Ví như: múa tạ ơn thần Sông suối, thần Đất, thần Núi, thần Trời, ông Bụt thì đa phần là những người già hoặc người đứng tuổi tham gia vì những người này có cách dùng những lời lẽ hay để thuyết phục hoặc tạ ơn thần. Đến lượt múa tạ ơn các vị thần như: thần ban sự ấm no, thần Lúa thì đa phần các vũ công là phụ nữ trẻ, tràn trề sức sống vì trong tâm thức của người Tà ôi, thần Lúa là một nữ thần có bộ ngực căng tròn, no sữa. Còn múa tạ ơn thần Buôn bán, thần Hộ mệnh, thần Nước, thần Không trung thì đội múa là những chàng trai và ông lão, vì tùy theo đặc trưng tín ngưỡng của người Tà ôi thì sau mỗi mùa thu hoạch thì đàn ông tranh thủ thời gian nông nhàn để đi trao đổi hàng hóa, săn bắn thú rừng và đánh bắt cá.

Sinh hoạt tín ngưỡng là một nét sinh hoạt cộng đồng đặc sắc nhất của người Tà ôi, là nơi hội tụ nghĩa gia tộc và gắn chặt với trách nhiệm cộng đồng trong văn hóa ứng xử. So với các loại hình múa khác của người Tà ôi thì múa trong tín ngưỡng lại được nhiều đề tài khác trong nghệ thuật tạo hình thể hiện, đó là trong điêu khắc, kiến trúc và trang trí hoa văn trên nền vải.

Tuy có rất nhiều điệu múa trong sinh hoạt tín ngưỡng song chỉ có điệu za zả được nhắc đến nhiều nhất, vì đây là điệu múa truyền thống. Ở trong điêu khắc gỗ, các nghệ nhân Quỳnh Vâng, Quỳnh Nam ở xã Nhâm (huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế) đã thể hiện các thiếu nữ Tà ôi uyển chuyển và mềm mại qua điệu za zả được cách điệu qua các tượng gỗ trưng bày ở nhà Rông của làng A Hươr, hoặc trên lan can các ngôi nhà sàn cộng đồng trong toàn xã Nhâm. Còn ở trên vải dzèng, các nghệ nhân Tà ôi đã thể hiện hệ hoa văn về con người với tên gọi là Răm/ Ngai răm/ Ngai za zả. Loại hoa văn này tồn tại hai nội dung:

– Người đàn ông múa: được biểu thị bằng hình ảnh của một người đàn ông khom lưng múa, hai bàn tay ép lại và các ngón tay xòe ra.
– Người đàn bà múa: mặc váy Naidôi đang múa, các ngón tay xòe rộng và đưa lên ngang bằng hai vai, đôi bàn chân cũng choải ra bằng vai và cũng lắc lư theo điệu nhún nhảy xòe rộng của đôi tay. Người đàn bà múa đó là biểu thị điệu múa za zả cổ truyền mà bất cứ người phụ nữ Tà ôi nào cũng có thể múa được.

Hiện nay, ở vùng người Tà ôi, sinh hoạt tín ngưỡng trong lễ hội ngày càng phát triển và các điệu múa để phục vụ cho các lễ hội này không ngừng được phát huy và phát triển, được truyền dạy từ thế hệ này qua thế hệ khác. Điều này thể hiện một sức sống mới cho dân vũ Tà ôi. Tuy nhiên, rất tiếc cho các điệu múa trong lễ dời mả và múa Curu hiện tại đã lùi vào dĩ vãng. Nên chăng chúng ta sớm phục hồi để khi có dịp trình diễn thì các điệu múa này sẽ bổ sung thêm phần phong phú cho kho tàng dân vũ Tà ôi.

Độc tấu kèn sừng trâu.
Độc tấu kèn sừng trâu.

Nét đẹp văn hóa người Tà Ôi

(Nguyễn Nhân)

Dân tộc Tà Ôi hay còn gọi là dân tộc Pa Cô, Pa Hi có khoảng 30.000 người, sinh sống chủ yếu ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Người Tà Ôi có nhiều tập tục hay, nhiều sinh hoạt đẹp.

Thật là thú vị khi mùa xuân về, được nghe các điệu hò, câu hát, lời ru, âm thanh của trống, cồng, khèn cùng các điệu múa như bừng lên một sức sống mới.

Ngày xưa, khi đời sống tinh thần với thế lực siêu nhiên thường xuyên là nỗi ám ảnh không rời đối với đồng bào Tà Ôi, thì ngày nay thế lực ấy đang ngày càng bị mai một dần trong ý niệm của họ. Cuộc sống trước mắt vẫn là niềm tin yêu, những truyền thống văn hóa tốt đẹp được gạn đục khơi trong đang bảo lưu, gìn giữ.

Nét đẹp đa dạng nhất của văn nghệ dân gian Tà Ôi là các làn điệu dân ca, nó phong phú cả về chủ đề lẫn thể loại. Ví như Calơi là loại hát đối đáp nghiêng về lý trí, để khuyên răn mọi người bỏ thói lười biếng trong lao động:

“Buổi tối thức khuya như con chim A Vang
Buổi sáng mọi người ra rẫy nó còn nằm”

Hay một câu ví von:

“Ơ! Ơ! cái gì đụng đậy đằng kia
Thây như con voi và moi như con chuột”
Một thể loại dân ca khác là Rơin cũng có sức sống mạnh mẽ:
“Ơi, này con chim, con cá ơi
Nước chảy nhiều không được lội bơi
Trời cao xa không đưa tay với… ơ!”

Và thể loại dân ca nổi bật tính trữ tình, đó là “cha – chấp”. “Cha – chấp” xoay quanh vấn đề tình yêu đôi lứa:

“Buổi sáng em ra rẫy
Lấy lá môn múc nước suối trong
Em đứng soi bóng mình
Sao em thấy cả bóng anh
Bụng thấy nhớ anh hung
Nhưng nghe vai củi nặng
Em cố quên bóng chàng”

Sau những lần hẹn ước khi đi sim, họ gắn bó với nhau không một trở lực nào có thể ngăn cách:

“Anh đã hẹn với em
Nơi hòn đá to dài
Em ngồi đợi chờ anh
Ống nước xanh đã vàng
Nhưng bóng anh nào thấy
Anh đã hẹn với em
Em đến chờ đợi anh”

Giai điệu, lời ca rất trữ tình mộc mạc, trong sáng, có khi như vuốt ve, như mơn trớn, chàng trai lên tiếng nói lời tạ lỗi với tất cả nỗi lòng mình:

“Đôi chân em đẹp như ngà voi
Cái ngực em đẹp như mặt trăng
Anh thấy tóc em như dải mây dài trên núi
Cái bụng anh thương em
Cái đầu anh nhớ em!”

Lắng nghe lời thổ lộ tâm tình của chàng trai, cô gái liền đưa lời thách đố:

“Anh ơi, nếu anh cõng em qua núi này
Em tặng anh cái vòng vàng
Còn anh đưa được em qua suối
Vòng bạc sẽ về anh …”

Lập tức chàng trai trả lời lại ngay:

“Ôi em! dù em muốn qua ngọn núi cao
Anh sẽ cố đưa em lên bằng được
Dù em muốn qua dòng suối sâu
Suối sâu kia không ngăn cản được bước chân anh”

Trong cuộc sống hàng ngày, nhu cầu trao đổi tình cảm trong mối quan hệ giữa miền xuôi và miền núi đã gắn chặt bao nếp suy nghĩ, cách làm ăn và lối sống của các dân tộc anh em:

“Ơi! Í A chai ới!
Ơi chàng trai miền xuôi
Ơi! A un ơi
Ơi! Cô gái miền ngược
Hòa chung giọng hò
Bắp trên rẫy cũng vui
Lúa trên nương cũng cười”

Ngoài ra, kể sao hết được cả kho tàng tục ngữ, ca dao, câu đố… mà ở đó đã tích lũy biết bao nhiêu kinh nghiệm, nhận thức, tình cảm, ước mơ qua bao đời của đồng bào Tà Ôi. Đó chính là những nét đẹp riêng của một bản sắc văn hóa độc đáo và đầy lý thú của một dân tộc.

Già làng Kê Xâr thổi khên cho con cháu nghe.
Già làng Kê Xâr thổi khên cho con cháu nghe.

Phác thảo diện mạo văn học dân gian dân tộc Tà Ôi

(Trần Nguyễn Khánh Phong)

Người Tà Ôi ở Việt Nam thật sự đã có một kho tàng văn học dân gian rất phong phú với các thể loại: Ca dao (Pracăm), câu đố (Pralau), truyện cổ dân gian (Axoar), tục ngữ và dân ca.

Một đặc tính rõ nét nhất của người Tà ôi là: “Cho dù ngày cũ thiếu cơm, thiếu chữ nhưng mọi thế hệ nối tiếp nhau qua đi vẫn trân trọng giữ gìn bản sắc phong phú độc đáo của mình thể hiện trong nền văn hoá văn nghệ dân gian đa dạng, hồn nhiên, khoẻ mạnh giàu tính chiến đấu và giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc”(1). Chính những truyền thống tốt đẹp đó mà ngày hôm nay thế hệ trẻ Tà Ôi vẫn còn nghe được những bài hát lối, những câu chuyện kể mang đầy tính triết lý và nhân bản sâu xa.

I. Vài nét về ca dao Tà Ôi

Trong kho tàng văn học dân gian Tà Ôi, thể loại ca dao có một vị trí rất quan trọng trong sự hình thành nền văn hoá bản địa. Ca dao Tà Ôi có lối thể hiện bằng các ngôn từ đằm thắm nhằm gửi gắm những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình qua từng lời nói như:

“Ngủ ngon Akay ơi! Ngủ ngon Akay hỡi
Mai sau khôn lớn được ở nhà dài”.

“Mẹ như con chồn nằm ấp con
Gấu con của mẹ ơi hãy ngủ ngon”.

“Gió sớm bay về anh nhớ em
Ngọn gió muộn màng vẫn chưa tan nỗi nhớ”.

“Rượu dở mình cũng không chê
Vì tình cảm rượu chua mình cũng uống”.

Những hình ảnh có trong ca dao Tà Ôi đều mang những sắc thái riêng so với ca dao người Việt. Một điều cho chúng ta thấy rằng, ở những nơi có địa hình, địa vật đặc thù, cho nên trong ca dao của họ vắng bóng hình ảnh con thuyền, bến nước, cây đa mà trong lúc đó họ lại đưa vào trong những câu ca dao các hình ảnh về núi đồi, rượu, nương rẫy và cồng chiêng.

“Nghe tiếng trống, tiếng chiêng hay quá
Nhà bạn dù nhỏ, cũng xin được vào chơi
Mình sang chơi mà chưa thấy ai mời
Có hội hè, mình muốn cùng vui có được không?
Những lời anh nói tôi vui sướng biết bao
Tôi chỉ có một lời nói chân thành
Rất vui lòng mời anh về dự lễ
Hãy cảm thông nhau trước cảnh nghèo nàn”.

Hoặc:

“Anh sinh ra lúc trăng tròn
Qua bao mùa nương, mùa rẫy
Qua mấy mùa rừng thay lá
Em như mặt trăng, mặt trời như sao anh muốn ngắm
Em sinh ra lúc trăng tròn
Em lớn lên vào mùa trăng tối
Nghĩ phận mình nghèo khó
Như cây khô trong rừng
Không biết có xứng cho anh ngắm không?”

Không gian và thời gian trong ca dao Tà Ôi thường lấy cảnh núi đồi, nương rẫy, lấy thời gian buổi sáng là chủ đạo, tiếp đến là thời gian lễ hội và thời gian khi đêm về:

“Buổi sáng em ra rẫy
Lấy lá môn múc nước suối trong
Em đứng soi bóng mình
Sao em thấy cả bóng anh”.

Ca dao Tà Ôi cùng một lúc chuyển tải đến cho người thưởng thức thấy được nhiều nội dung phong phú như tình yêu trai gái, tình cảm mẹ con, tình yêu nương rẫy, núi đồi. Tất cả đều hướng mọi người sống chan hoà với vạn vật và thời gian.

toi3

II. Vài nét về câu đố Tà Ôi

Ở người Tà Ôi, mỗi lần có sinh hoạt mang tính tập thể thì các già làng, trưởng bản thường xuyên đặt ra những câu đố mang đầy tính trí tuệ nhằm để cho con cháu có khả năng linh động, động não để trả lời. Câu đố Tà Ôi cũng lấy đề tài ở xung quanh họ, cuộc sống nơi nương rẫy, các hiện tượng tự nhiên, các vật dụng trong gia đình… đều trở thành đối tượng để đố, ví như:

Nhìn thì chướng, chân đi không vướng (Sương núi)
Ngọn có thấy, gốc thì không (Mưa)
Chân thì bốn, đầu thì một (Nhà chòi)
Càng bế, càng ẵm lại càng khóc (Cái thanh la khi đánh)
Đói bụng to, no bụng xép (Cái bẫy)

Số lượng câu đố của người Tà Ôi cho đến nay vẫn đang còn ít, tuy không thông dụng như thể loại ca dao, dân ca và truyện cổ song câu đố Tà Ôi vẫn mang một nét rất riêng; vì với số lượng ngôn từ ít nhưng cũng đủ toát lên được một vài khía cạnh của cuộc sống. Người Tà Ôi vẫn có câu đố về quả ớt “nhỏ thì mặc áo xanh, già thì mặc áo đỏ” mang nét phảng phất câu đố của người Việt cũng về quả ớt “Khi nhỏ em mặc áo xanh, lớn lên em mặc áo đỏ”. Thế nhưng, người Việt chúng ta lại không thể sáng tạo bằng khi cùng nói đố về các hiện tượng tự nhiên: mưa, sương mù.

Đi lên non bỏ quên hạt cườm trắng (Sương mù).
Chó đỏ liếm đít chó đen (Bếp lửa nồi cơm).
Ở trên rừng như con sâu róm
Về làng xóm giống chiếc ngà voi (Mây).

Người Tà Ôi hay lấy các hình ảnh vừa quen thuộc, vừa đặc trưng của họ để đưa vào câu đố nhằm nói đến vật kia như: Ngà voi (đặc tính trắng) chỉ mây trắng, hạt cườm trắng – chỉ sương, bụng to, bụng xép – chỉ căng bẫy miệng há to, sập bẫy miệng khép lại… Như vậy chỉ chừng đó câu đố đặc trưng cũng cho chúng ta thấy rằng, người Tà Ôi biết dùng vị trí để lí giải mọi hiện tượng, sự vật, sự việc mang tính lô gíc cao.

toi4

III. Vài nét về truyện cổ dân gian

Theo như các nhà nghiên cứu mô tả thì: “Chuyện kể (Axoar) của người Tà Ôi là sinh hoạt của những ngày mưa, lúc rảnh rỗi đêm về… Sinh hoạt chuyện cổ là tiếng gọi của sự quây quần, nhiều thế hệ cùng ngồi với nhau, nhiều người từ dung (nhà) này, vel (làng) nọ đến bên nhau. Ngồi nghe chuyện cổ để giải trí, để được giáo dục tri thức truyền thống và đạo lý làm người, làm “đứa con ngoan” của rẫy, của vel…”(2). Đi sâu vào việc tìm hiểu truyện cổ Tà Ôi chúng ta sẽ thấy cả một thế giới quan và nhân sinh quan rộng lớn, phản ánh đầy đủ mọi mặt của cuộc sống cộng đồng.

Về nguồn gốc ra đời của người Tà Ôi. Theo như người Tà Ôi kể trong truyện cổ của họ rằng dân tộc này được sinh ra từ một quả bầu và con chó được xem như là vật tổ. “Ngày xưa khi trên trái đất chỉ có loài thú sống với nhau, con người chưa xuất hiện thì bỗng xảy ra một tiếng nổ dữ dội. Sau tiếng nổ thì mặt đất bỗng dưng thay đổi hẳn, các con thú vắng bóng. Chỉ may mắn còn sống sót mỗi hai con chó, một đực, một cái.

Hai chó sống chung với nhau. Bỗng một hôm trời hạn hán, nước sông suối khô cạn, cây sim, cành móc đều chết cháy. Hai con chó tìm lên vùng cao để tìm thức ăn và nước uống. Vượt qua nhiều núi đèo hiểm trở, cuối cùng hai con chó cũng tìm được nguồn nước. Con chó cái lúc này đang bụng mang dạ chửa, nó cố lê mình đến bên bờ suối. Lúc nó chui đầu xuống dòng nước, cũng là lúc nó chuyển dạ, đẻ ra một quả bầu dài, một nửa quả bầu nằm dưới nước, một nửa nằm vắt lên bờ.

Quả bầu cứ nằm vậy suốt bao tháng liền. Nửa trên bờ của trái bầu bị nắng hạn nung nóng ngày càng đen thẫm lại. Còn nửa dưới mát mẻ nên trắng bợt ra.

Mãi khi mùa xuân đến, khi trời ấm áp dần lên thì quả bầu bỗng vỡ ra và con người từ trong quả bầu đó vươn dậy. Số người nằm nửa trên bờ của quả bầu có nước da ngăm đen, còn số được nước bảo vệ nên có làn da trắng trẻo.

Số người có làn da trắng xuôi theo dòng suối, dòng sông về đồng bằng sinh sống trở thành người Kinh sau này. Những người có làn da ngăm đen lại đi ngược về phía đầu nguồn tìm rừng phát rẫy trở thành người Tà Ôi bây giờ”(3).

Câu chuyện này thể hiện mối quan hệ giữa người Tà Ôi và người Việt – chủ thể chính trong cộng đồng các dân tộc Việt . Điều này đã có một đánh giá cho rằng: “Ngày xưa, mọi người cùng nằm chung trong một quả bầu. Sau đó Yang Arơbang (Thần trời) mài đỏ một thỏi đá, dùi thủng quả bầu cho mọi người bước ra. Các anh Tà Ôi, Pa Cô, Vân Kiều, Cơtu ra trước, mình đầy khói than nên đen, tóc quăn và người Yoan (Việt) ra sau cùng nên da sáng, tóc thẳng hơn. Điểm kết của câu chuyện được nhấn mạnh ở chỗ, họ đều là anh em ruột thịt và sau đó chia nhau đất đai để sống như bây giờ(4).

Nhìn chung, trong truyện cổ các dân tộc thiểu số Việt , hình tượng quả bầu là khơi nguồn cho cảm hứng sáng tạo mà nổi bật nhất là phải kể đến truyện quả bầu mẹ của người Khơ Mú. Vậy thì ở truyện trên, giải thích nguồn gốc ra đời của người Tà Ôi cũng một phần nào đó có sự ảnh hưởng từ các dân tộc anh em khác và ngược lại. Ngay cả một số nước trên thế giới cũng có những trường hợp: “Các vị thần sáng tạo hay những anh hùng văn hoá làm ra những con người đầu tiên từ những chất liệu khác nhau: Xương cốt các con vật (trong một số thần thoại thổ dân da đỏ Bắc Mỹ, thần sáng tạo mahabus tạo ra con người bằng bộ xương của thú, chim và cá), quả cây họ cọ (trong thần thoại Melenedi từ quả dừa, trong thần thoại của người da đỏ Pêru từ quả cây cọ…)”(5). Đây chính là giải pháp tốt nhất để giải thích nguồn gốc ra đời của một tộc người.

Một nội dung khác của truyện cổ Tà Ôi là đi sâu vào việc giải thích nguyên nhân ra đời của các dòng họ. Bởi vì một lẽ, người Tà Ôi xưa và thậm chí cho đến cả ngày nay vẫn còn bảo lưu những dòng họ cổ xưa của dân tộc mình như: Pơ Loong, A har, A moong, A Kơơ, Pihôih, Vien, Aviét, Kê, Kêr… và mỗi dòng họ đều có vật tổ để thờ, để kiêng cữ cho nên mới lưu truyền được trong cộng đồng người Tà Ôi những câu chuyện cổ về các dòng họ.

Đã có một sự đánh giá cho rằng “Ở người Tà Ôi dấu vết của tổ tiên còn đậm nét trong các tổ chức dòng họ”.(6) Đây chính là vấn đề thờ vật tổ ở người Tà Ôi, một tín ngưỡng của tôtem giáo và là một biểu hiện văn hoá có nhiều nét tương đồng với các dân tộc cận cự trên dãy Trường Sơn và Tây Nguyên. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thì “Hình thức cơ sở nhất là tôtem, là ông tổ huyền thoại thường là con vật, cây cối hay vật dụng nào đó. Những người cùng một ông tổ huyền thoại này đều coi nhau là anh em, cùng kiêng cữ không ăn hoặc sử dụng tôtem của mình có các tập tục liên quan khi cúng lễ vật tổ và thường không có quan hệ hôn nhân…”.(7)

Bởi vậy người Tà Ôi có tập tục kiêng cữ ở các dòng họ như: Họ Avô không bắt, giết, ăn thịt con vượn, họ Pihôih kiêng bắt và ăn con ong mật, họ Kêr không bắt con chim Tutiết, họ Blup Akol không bắt, giết con thằn lằn, họ Patả không ăn thịt mèo, họ A Kơơ không ăn thịt con trút… Trong kho tàng truyện cổ Tà Ôi cho đến nay theo như chúng tôi được biết đã có tới 15 dòng họ được lưu truyền bằng những câu chuyện kể đó là Ya Aviét, Ya Avô, Ya Ahar, Ya La Lay, Ya Pihôih, Ya Piriu, Ya Prung, Ya Riêh, Ya Kê, Ya Kêr, Ya Patả, Ya Kraai, Ya Vien, Ya Blup Akol, Ya A kơơ. Đây thực sự là một nguồn tri thức phong phú của cư dân bản địa mà chúng ta cần bảo tồn và phát triển.

Bên cạnh hai nội dung trên, truyện cổ Tà Ôi còn đem đến cho người đọc những câu chuyện hay về việc giải thích nguồn gốc các địa danh. Mỗi địa danh thường gắn liền với những câu chuyện tình cảm hết sức lý tưởng và dũng cảm. Những câu chuyện kể về sông Đăkrông, Dốc Parsee, núi Đan Lai, Koonh Seam Sai, sông Asáp, hồ A Co… đã ăn sâu vào trong tâm khảm của họ. Và ngày nay những địa danh đó vẫn còn hiện hữu như một minh chứng nhằm giáo dục thế hệ trẻ một lối sống ứng xử tốt với hai môi trường tự nhiên và xã hội.

Trong kho tàng truyện cổ Tà Ôi khi tiếp cận chúng tôi thấy có sự liên hệ mật thiết với những sự vật ngoài đời, họ biết kể về sự ra đời của các nhạc cụ âm nhạc dân gian như cái trống, chiếc Tingát, chiếc khèn bè, Đàn Ta lư, chiếc A màm, chiếc A reeng… Điều này đã chứng tỏ người Tà Ôi ưa thích sự phóng túng, vì khi đi rẫy, khi có hội hè luôn muốn tạo cho mình một niềm vui hay mong muốn có một người bạn để tâm sự, thì họ thường lấy những thứ vật liệu có sẵn trong thiên nhiên như lồ ô, nứa gọt dũa nó đi để rồi thổi và nghe những âm thanh vui tai. Từ đó mới hình thành nên những loại nhạc cụ và thường kèm theo những câu chuyện kể.

Người Tà Ôi có lối kể chuyện chất phác và giản dị, chuyện kể của họ chiếm một số lượng lớn kể về các loài vật, điều này có lẽ do lấy cuộc sống săn bắt và thuần hoá súc vật đã làm nền tảng cho lĩnh vực kinh tế nên họ xem các loài vật làm hình tượng nhân vật là chủ yếu. Một điều đặc biệt ở trong hầu hết các câu chuyện cổ Tà Ôi thường sử dụng lối kể chuyện đồng thoại. Những câu chuyện kể lồng ghép với những lời văn vần đã làm cho chuyện cổ thêm tăng giá trị biểu cảm và dễ đi sâu vào lòng người.

Người Tà Ôi luôn nâng niu những vòng mã não đã gắn với họ qua bao năm tháng thăng trầm của cuộc đời.
Người Tà Ôi luôn nâng niu những vòng mã não đã gắn với họ qua bao năm tháng thăng trầm của cuộc đời.

IV. Vài nét về tục ngữ Tà Ôi

Người Tà Ôi có một kho tàng tục ngữ khá phong phú về số lượng lẫn nội dung. Đọc tục ngữ Tà Ôi chúng ta cũng bắt gặp những sáng tác dân gian ngắn gọn, có đơn vị là câu. Nội dung ghi lại những điều quan sát được về các hiện tượng thiên nhiên, con người mang tính triết lý lớn.

– Gà chọi thì mưa, chó chơi thì nắng.

Đây là câu tục ngữ điển hình nói đến kinh nghiệm về thời tiết.

– Không lao động thì sướng một lúc còn nghèo khổ sẽ theo sau.

Khuyên răn mọi người hãy cần cù, siêng năng lao động để được ấm no.

– Làm rẫy mong trời mưa, làm ruộng mong trời râm mát.

Nêu lên vai trò quan trọng của thời tiết trong sản xuất nông nghiệp.

– Có đổ mồ hôi thì mới ấm no.

Kinh nghiệm của người dân lao động, có siêng năng thì mới hưởng được thành quả lao động thích đáng do chính mình làm ra.

Những câu tục ngữ này cho chúng ta thấy họ lấy hình ảnh các con vật thường ngày mà họ gặp khi đi nương rẫy. Gà rừng, chó, sau đó nhờ việc thực thi trí thức bản địa mà họ đã đúc kết được các kinh nghiệm về sản xuất, về thời tiết… Nếu như người Việt lấy hình ảnh con chuồn chuồn làm chủ thể chính trong dự báo thời tiết thì người Tà Ôi lại lấy con gà rừng và con chó làm chủ thể chính.

Như vậy cho chúng ta thấy được rằng, sự sáng tạo của người Tà Ôi ở trong những câu tục ngữ đã một phần nào nói lên được những tư tưởng của họ.

Trống của tộc Tà Ôi.
Trống của tộc Tà Ôi.

V. Vài nét về dân ca

Đây là loại hình mà người Tà Ôi rất thích, bất kể giới tính, tuổi tác. Bởi vì bản tính của người Tà ôi ưa hò hát, nhảy múa vui nhộn suốt đêm. Mọi người có thuộc nhiều làn điệu dân ca.
Về phân loại, hầu hết các nhà nghiên cứu cũng như qua sự kể lại của các nghệ nhân Tà Ôi đều thống nhất chia ra làm 6 điệu.

1. Ba bói: Đối với thể loại dân ca này mang đậm tính chất quen thuộc của những công việc hằng ngày. Đối tượng hát cũng có sự quy định rõ ràng, đó là dành cho những người đã lập gia đình.

Nội dung chủ yếu làn điệu này là bàn chuyện làm ăn, họ hát khi trên đường lên nương rẫy, hát như để xua đi cái mệt nhọc của đường xa, hát để tâm sự với bạn đồng hành.

“Ta đi trong rừng sâu
Chim ơi về với bản
Với thần mặt trời sáng
Cúng thần mặt trời tròn”

Hoặc là khi các thiếu phụ Tà Ôi điểm những ngón tay khéo léo lên khung dệt để dệt nên cả một bức tranh cuộc sống của cộng đồng mình. Để cho đôi tay đỡ mỏi cũng như ngợi ca công việc làm của mình họ lại hát lên để mô tả sự tài hoa cho bàn tay thiện nghệ.

“Úp bàn tay trái lên nét hoa lan
Ngửa bàn tay phải đã thành bông hoa chuối
Ngồi xổm thêu được hình con chim én
Ngồi nghiêng quay sợi thành bông gạo, bông lau”

Với làn điệu Ba bói, thời gian và không gian hát rất đơn giản, mọi lúc đều có thể hát được. Những lời bài hát thường mượt mà về ca từ, đằm thắm về làn điệu, du dương êm thấm làm cho người nghe cảm thụ một cách dễ dàng.

2. Cà lơi: Đây là thể loại hát đối đáp giàu tính triết lý. Đối tượng hát dành cho các vị già làng, trưởng bản, trưởng các gia tộc, trưởng dòng họ và các cụ ông lớn tuổi trong thôn bản. Đa số những người này thường có những kinh nghiệm sống lâu đời, đủ khả năng diễn cảm những suy nghĩ của mình nghiêng về mặt lí trí để tỏ ý khuyên răn các thế hệ hãy chăm lo cuộc sống, siêng năng làm việc.

“Buổi tối thức khuya như con chim A vang
Buổi sáng mọi người ra rẫy nó vẫn còn nằm”

Những bài ca của làn điệu cà lơi thường được thể hiện trong các lễ hội hè, sinh hoạt cộng đồng mang tính chất trân trọng nhằm thắt chặt mối quan hệ cộng đồng để mọi người dễ gần gũi thân thiện, dễ thuyết phục và mang tính giáo dục hơn.

3. Cha chấp: Đây là làn điệu có tính chất vui khoẻ, sinh động dành cho các đôi trai gái chưa nên vợ nên chồng hát. Chính vì thế mà trong đời sống cộng đồng, người Tà Ôi có quy định như sau:

“Người đã có gia đình tham gia ca hát cha chấp bị coi là “không đứng đắn”, là không ổn định về tình cảm là “con voi đi xiêu vẹo”. Ngay chính điều này đã chứng tỏ rằng, người Tà Ôi rất tôn trọng tình cảm của đôi lứa. Hát cha chấp là chiếc cầu nối giúp cho trai gái thanh lịch Tà Ôi nên vợ thành chồng. Là minh chứng cho sự trưởng thành của các chàng trai cô gái Tà Ôi.

Người con trai hát:

“Em hứa hẹn cho anh cái gì
Để sau này thành vợ thành chồng
Anh thì vẫn yêu em trọn đời”

Người con gái hát:

“Em thì không yêu ai khác ngoài anh
Cho dù anh có đi xa mấy nghìn nương, trăm sông, trăm suối
Nhưng em sẽ chờ anh
Và chờ khi nào anh nói ‘Anh sẽ cưới em’
Khi xong mùa đôi ta sẽ cưới”

4. Atêravin: Mang tính chất trữ tình thắm thiết, dùng để than thân trách phận.

“Nước cạn khô còn cát
Hoa cuối mùa rụng xuống còn cành
Em đã búi tóc ngược sao anh còn nhớ?
Nhớ em trong đêm đi bạn trăng tròn
Tay cầm tay tâm tình thủ thỉ
Hơi quyến luyến thân áp thân mồ hôi chảy xuống
Chảy xuống muôn vàn áo còn lau”

5. Ru Akay: Thường được hát trong lúc các mẹ, các chị Tà Ôi ru cháu, ru con ngủ. Qua lời ru, họ thường gửi gắm những ước mong, mong sao cho con cháu mình sau này khôn lớn rằng:

“Ru, ru à ra
Ru ru ru cho con sau này sung sướng
Học sao cho tài giỏi
Để sau này làm trưởng bản
Trâu bò được đầy nhà
Ru để sau này giống trưởng bản nhiều người hầu hạ cơm nước
Mong cho đứa con, đứa cháu được sáng như mặt trời
Để được mọi người thừa nhận.”

6. Riroi: Lời ca mang âm điệu buồn thường khi có người thân mất. Loại dân ca này rất khó thuộc vì người diễn xướng hát nhanh, rất ít truyền lại cho người ngoài dòng họ, gia tộc.

“Con nai, con heo rừng chết không ai khóc
Con người ta chết là dòng họ phải khóc.”

Như vậy, các thể loại văn học dân gian của người Tà Ôi đang hiện hữu đã là một minh chứng cho sự phóng túng của người dân bản địa nơi đây. Mỗi thể loại đều có những nội dung nghệ thuật riêng. Do đó đối với chúng ta cần làm sao để tiếp tục phát huy và bồi đắp cho văn học dân gian dân tộc Tà Ôi không ngừng phát triển.

(nguồn: TCSH số 223 – 09 – 2007)
——————————–
(1), (2): Nguyễn Quốc Lộc (Chủ biên): Các dân tộc ít người ở Bình Trị Thiên. NXB Thuận Hoá – Huế 1984, trang 176 – 177.
(3): Trần Nguyễn Khánh Phong – Nguyễn Thị Sửư: Truyện cổ Tà Ôi. Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá dân gian Huế. NXB Thuận Hoá – Huế 2005, trang…..
(4): Nguyễn Hữu Thông: Vùng đất Bắc miền Trung – Những cảm nhận bước đầu. Tạp chí Dân tộc học số 4 (130) 2004, trang 5.
(5): Ngô Văn Doanh: Thần thoại về nguồn gốc con người. Tạp chí Văn hóa nghệ thuật số 12 (222) 2002, trang 99.
(6): Nguyễn Quốc Lộc (Chủ biên), Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Thị Hoà: Truyện cổ Tà Ôi. Sở Văn hoá thông tin Bình Trị Thiên, Huế 1985, trang 12.
(7): Bế Viết Đẳng (Chủ biên): Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế xã hội ở miền núi. NXB chính trị quốc gia, NXB văn hoá dân tộc – Hà Nội 1996, trang 99.

Phụ nữ Tà Ôi dệt zèng (thổ cẩm).
Phụ nữ Tà Ôi dệt zèng (thổ cẩm).

Kỳ thú cách tính lịch tiết của người Tà ôi

(Bài và ảnh: Vũ Hào)

Lịch tiết tương tự như cách tính âm lịch của người Kinh, dựa vào sự chuyển động của mặt trời, trái đất và mặt trăng.

Người dân tộc Tà Ôi định cư nhiều ở các huyện Hướng Hóa- Quảng Trị, huyện A Lưới- Thừa Thiên Huế. Gồm 3 nhóm chính là Tà Ôi, Pa Koo, và Pa Hi, đều có văn hóa, ngôn ngữ tương đồng. Theo số liệu điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Tà Ôi ở Việt Nam có 43.886 người, riêng tỉnh Thừa Thiên-Huế 29.558 người và tại Quảng Trị có 13.961 người. Lịch tiết của người Tà Ôi tương tự như âm lịch của dân tộc Kinh- Việt Nam.

Đối với người Tà Ôi, chuyển động của mặt trăng theo chiều khuyết – tròn – khuyết – khuất, được ghi nhận mỗi chu kỳ như thế tương ứng với một tháng trong năm. Nhìn mặt trời biến chuyển trong ngày, người Tà Ôi xác định các giờ trong một ngày. Họ tính giờ dựa vào sự chuyển động của mặt trời, bằng cách quan sát sự chuyển động của mặt trời/ngày. Họ thường lấy bóng của mái nhà Gươl, bóng cây và có khi là bóng của chính con người để tính thời gian trong một ngày.

Khi mặt trời đã lặn, người Tà Ôi tính thời gian căn cứ vào tiếng gà gáy. Nhưng họ chỉ có đơn vị thời gian cụ thể từ 1 giờ đến 18 giờ, còn lại khoảng thời gian từ 19 giờ đến 24 giờ họ không tính đến. Từ 1 giờ sáng đến 5 giờ sáng, người Tà Ôi dựa vào tiếng gà gáy, khi gà trống gáy lần thứ nhất một hơi dài là 1 giờ. Gà gáy lần thứ hai, hai hơi khá dài là 2 giờ sáng. Lần thứ ba gà gáy ba hơi thì đến 3 giờ. Giống như thế, gà gáy lần bốn là 4 giờ và lần thứ năm, gà gáy năm hơi liên tục, báo hiệu 5 giờ.

Tiết mục cồng chiêng của Đoàn dân tộc Tà Ôi (tỉnh Thừa Thiên Huế) biểu diễn tại Công viên Văn hóa Đồng Xanh. Thanh Hà – TTXVN
Tiết mục cồng chiêng của Đoàn dân tộc Tà Ôi (tỉnh Thừa Thiên Huế) biểu diễn tại Công viên Văn hóa Đồng Xanh. Thanh Hà – TTXVN

Dựa vào sự biến đổi hình thể của mặt trăng để tính thời gian, nên người Tà Ôi gọi tên mỗi ngày/tháng theo cách của mình. Mồng một là đỏ hườm (kaler), mồng hai là nhú sừng (takoi ngô’h)… Trong lịch của người Tà Ôi chỉ có tháng đủ và tháng thiếu, không có tháng nhuận. Từ đó, họ tính thời vụ dựa vào hình dạng khác nhau của mặt trăng, để vạch ra thời điểm trồng trỉa phù hợp với thời vụ. Do chỉ chuyên canh hai loại cây lương thực chủ yếu là ngô và lúa, nên khoảng thời gian từ tháng 01 đến tháng 4 được người Tà Ôi nhìn vào cây ngô. Cây ngô bắt đầu được trỉa hạt từ tháng 1, hễ thấy lá ngô non mơn mởn là biết cuối tháng 1, ngô trổ đòng kết trái là tháng 2- tháng 3 và khi bắp ngô thu hoạch chất đầy nhà là vào tháng 4.

Sau đó người Tà Ôi xác định các tháng còn lại trong năm, nhìn vào cây lúa. Bắt đầu mùa lúa họ gieo hạt vào tháng 5 và thu hoạch vào tháng 10. Khi mùa rẫy mới bắt đầu, công đoạn gieo hạt thóc giống đã xong là biết hết tháng 4, tháng 5 đã đến. Cuối tháng 5 là lúc nhà nông nghỉ ngơi, chuyển sang công việc vào rừng săn bắn. Tháng 7 và tháng 8 họ làm cỏ mùa để giúp cho cây lúa tốt tươi. Tháng 9 khi cây lúa già bông và chín hạt. Tháng 10 là lúc cả làng lên nương rẫy thu hoạch và chuẩn bị ăn cái Tết cơm mới (Aza). Do cách tính như thế, trong lịch thời vụ của người Tà Ôi chỉ có 2 mùa ngô và lúa, tất cả gồm có 10 tháng.

Cách tính lịch tiết của người Tà Ôi như đã nói trên rất cụ thể, dựa vào mặt trăng, mặt trời, mùa vụ cùng với sự biến đổi của sự vật, hiện tượng tương ứng. Khi tính mùa/năm họ căn cứ vào 4 yếu tố quan trọng nhất là pir (hoa), atooq (nóng), tưm/yur pang (mát/rụng lá),a-oot (lạnh). Từ đó họ cũng tính một năm có bốn mùa. Mùa xuân (tiếng Pakô là nno piar) được tính từ tháng 1 đến tháng 3. Mùa hè (nno atooq) từ tháng 4 đến tháng 6. Mùa thu (nno uk) từ tháng 7 đến tháng 9. Mùa đông (nno alsăm) chỉ có duy nhất một tháng 10, nhưng dài gấp ba lần các tháng khác trong năm.

Khi mùa đông giá rét qua, người Tà Ôi nhìn thấy hoa rừng đua nở, cây rừng đâm chồi nẩy lộc, đàn ong mật bay đi hút nhụy… thì các bản làng nhộn nhịp mở hội đón mùa xuân mới.

Thiếu nữ dệt zèng (vải thổ cẩm) chuẩn bị áo mới đón tết.
Thiếu nữ dệt zèng (vải thổ cẩm) chuẩn bị áo mới đón tết.

Tết cổ truyền của người Tà Ôi

(dongvan)

Trước đây, người Tà Ôi sống trên dãy Trường Sơn (huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế) thường đón tết riêng theo nông lịch của họ. Họ ăn tết ngay sau vụ lúa, vào khoảng tháng 12, khi gạo Ra Dư đã đầy bồ.

Vài năm trở lại đây, tết cổ truyền của cộng đồng người Tà Ôi đã “góp gạo thổi cơm chung” với tết cổ truyền của người Kinh. “Ăn tết Acha Aza chỉ vui riêng trong dân tộc Tà Ôi, còn ăn tết chung với anh em người Kinh thì cái vui còn gấp bội” – già làng Quỳnh Hoàng (xã A Ngo) cho biết.

Phụ nữ làm chủ ngày tết

Dù vậy, người Tà Ôi vẫn giữ được nét đặc trưng ngày tết của dân tộc mình. Tết cổ truyền Acha Aza của người Tà Ôi chính là tết ăn cơm mới. Đây là ngày hội quan trọng bậc nhất vì nữ thần Lúa chính là mẹ Lúa, giúp dân bản có cái ăn, được mùa cũng nhờ thần mà mất mùa cũng do người quyết. Theo quan niệm của người Tà Ôi, thần Lúa là nữ thần nên người đàn bà trong gia đình đứng ra làm chủ lễ, thường đó là một nữ cao niên có uy tín với bản làng.
Với người Kinh, dấu hiệu mùa xuân đến là mai đào nở, là chim én bay về. Với người Tà Ôi, “khi chim pricoh kêu, lan rừng đua nở là dấu hiệu quan trọng nhất. Ngày xưa, đồng bào chúng tôi thường ăn tết cổ truyền ngay sau khi vụ mùa gặt hái xong, tức vào khoảng cuối tháng 12 âm lịch của người Kinh. Nhưng những năm gần đây, người Tà Ôi ăn tết cùng thời điểm với tết Nguyên đán” – anh Quỳnh Yêu (thôn 1, xã Hồng Quảng) nói.

Chuẩn bị lễ hội với trang phục truyền thống.
Chuẩn bị lễ hội với trang phục truyền thống.

Tết ăn cơm mới thường diễn ra trong ba ngày đầu tháng của năm mới. Những ngày cận tết, người chồng lễ vật để người vợ hành lễ. Lễ vật gồm: một a điên (mâm có bốn chân) cơm nếp, năm ống cơm lam, năm ống thịt, thịt khô, năm ống cá, cá khô năm xâu, một bát cơm cắm trên một xâu cá nhỏ, một ít khoai từ hoặc khoai tía, đậu phộng, đậu a vải, một cây mía để nguyên lá, một chén kì cul (giống trầm hương) để xông cho thơm. Trước khi lễ gọi thần Lúa diễn ra, người ta thường bắc thang sẵn lên trần nhà, mâm lễ được đặt dưới cái thang đó. “Làm như vậy là để thần theo thang lên trần nhà, ở với lúa gạo, giữ lúa gạo cho mình” – già làng Quỳnh Át giải thích.

Khi lễ cúng bắt đầu, người phụ nữ chủ gia đình sẽ khấn vái liên tục, còn đàn ông lấy tấm vải zèng (vải thổ cẩm) đưa cho chủ lễ làm vật ký thác cho nữ thần Lúa. Chủ lễ cầm lấy tấm zèng vẩy nhiều lần lên trần nhà để yên vị hồn thần Lúa. Cũng trong ngày hôm đó, lễ Acha Aza được tiếp tục bằng việc cúng ở rẫy nhằm cầu mong các vị thần tiếp tục cho mùa bội thu. Gia chủ có rẫy thường treo 3-5 hàng lúa có nhiều gié được buộc chặt vừa to vừa no hạt.

Chén kì cul cháy gần hết cũng là lúc lễ cúng ở gia đình xong xuôi. Cả nhà cùng quây quần bên mâm lễ cúng ăn bữa cơm mới đầu tiên trong ngày tết với tình cảm gia đình thắm thiết.

Các món ẩm thực độc đáo

Ăn tết cùng thời điểm với người Kinh nhưng người Tà Ôi hiếm khi dùng các món mứt, hạt dưa, bánh kẹo… Dù giàu hay nghèo, gia đình vẫn phải có bánh nếp như a quát, adeep man, đệp peng và các món cơm lam. Thức uống có rượu mía, rượu cần, rượu đoác. Trong đó, nổi lên hai món ăn: món thịt rừng từ các con vật như dúi, chuột, nhím, gà, heo rừng… do đàn ông săn được và món cua suối do các thiếu nữ mò được.

Nếu không được mùa, người Tà Ôi sẽ tổ chức lễ hội đâm trâu.
Nếu không được mùa, người Tà Ôi sẽ tổ chức lễ hội đâm trâu.

Như một thông lệ, trước tết mấy hôm, các chàng trai thường vào những cánh rừng già để săn thú rừng. Họ chỉ đi gần để tránh rủi ro, đau buồn cho bản làng trong ngày đầu năm. Cách bẫy truyền thống là dùng nỏ, đặt bẫy để săn những loại thú bé, tránh bắt những thú lớn bởi người Tà Ôi quan niệm bắt thú lớn Yàng cũng không vui.

Thú rừng sau khi săn về được làm thịt sạch sẽ rồi hong trên bếp theo từng xâu nhỏ hoặc làm thịt ống. Thịt chuột sau khi làm sạch, ướp các loại gia vị như muối, ớt, tiêu rừng kèm theo một số loại rau củ thái nhỏ như sắn, môn thục, bắp chuối, rau rớn… trộn vào nhau, sau đó lèn chặt vào trong các ống lồ ô hay ống nứa rồi đem nướng. Nướng xong, các ống thịt được đặt ngay ngắn trong gùi để dành ăn trong những ngày tết.

Các thiếu nữ Tà Ôi đi bắt cua đá ở suối gần nhà, trong các hốc đá. Cua bắt về được làm sạch, sau đó tách vỏ cua ra làm hai phần. Sau khi cạo hết phần thịt riêng ra, họ nhét một ít đậu phộng và rau húng vào rồi đậy nắp vỏ lại, buộc chặt bằng dây lạt nhỏ. Tất cả được đặt vào một cái rổ nhỏ, để trên giàn bếp một đêm. Hôm sau, họ lấy xuống nướng ăn hoặc làm đồ nhắm với rượu, còn thịt cua thì kho nấu ăn với xôi.

Già làng Blúp A Măng (xã A Roàng) nói: “Ba ngày tết Acha Aza, người Tà Ôi rất mến khách. Có bao nhiêu rượu, cơm nếp, bánh, thịt ống, thịt khô đều mang ra đãi khách”.

Dấu ấn tâm linh

Người Tà Ôi cũng “Mùng 1 tết cha, mùng 3 tết thầy” như người Kinh. Ngày đầu tiên đầy dấu ấn tâm linh được dành cho các vị thần và tổ tiên. Ngày thứ hai, cả cộng đồng sinh hoạt với nhau. Thanh niên trai gái vui chơi trong ngày thứ ba.

Với mong ước một mùa bội thu và mưa thuận gió hòa, những người con của Yàng thường dành ngày đầu tiên của tết để hướng đến những vị thần. Họ khấn vái, quỳ lạy để rước điều may vào nhà. Tết ăn cơm mới chỉ tổ chức vào đúng dịp được mùa lúa, vui vẻ. Năm nào mất mùa, người Tà Ôi sẽ cúng Yàng bằng vật hiến sinh với lễ đâm trâu trong dịp tết. “Trong ngày này, họ tộc, gia đình làm lễ cúng thần Tro (thần Lúa). Trong ngôi nhà rông, từ 10 đến 20 gia đình sẽ góp lễ cúng gồm một a điên cơm nếp, một con gà luộc, một bát ki cul, một bát gạo” – anh Ploong Điệp (xã Đông Sơn) nói.

Tiếng cồng chiêng báo mùa lễ mới.
Tiếng cồng chiêng báo mùa lễ mới.

Với các lễ vật này, người chủ họ thắp kì cul, xông trầm rồi khấn vái cầu xin. Điều họ cầu mong chủ yếu hướng về vụ lúa mới, mong các vị thần linh phù hộ cho gia đình, họ tộc sang mùa rẫy mới được mùa, cầu xin mưa thuận gió hòa. Họ cầu cho dân làng không đau ốm, vật nuôi không bị chết… Việc đốt rẫy, dọn rẫy trong năm mới được nhanh như gió thổi, thú rừng không về quấy phá.

Ngày thứ hai, dân làng nô nức đến ngôi nhà rông giữa làng để xem lễ cúng cộng đồng. Đêm đến, hết thảy mọi người đều tập trung để nghe người già phát biểu ba bói, cà lơi, khuyên bảo con cháu lớp trẻ ăn ở có hiếu với cha mẹ, ông bà, nhớ ơn cha mẹ nuôi nấng nên người khôn lớn. Sau đó, mọi người xem lớp trẻ nhảy múa những điệu aza, za zả, cha chấp…

Ngày thứ ba của tết Acha Aza, thanh niên trong bản được vui chơi thoải mái. Tiếng khèn bè vang lên rộn rã, tiếng cồng chiêng hòa vào tiếng hát đối đáp. Nhiều đôi uyên ương cũng nhờ ngày mùng 3 tết mà nên vợ nên chồng. Đây cũng là thời điểm tổ chức các trò chơi dân gian như bắn nỏ, phóng lao, đá gót, kéo co, đu xà…

“Không khí ăn tết cổ truyền của người Tà Ôi luôn sinh động, mang đầy bản sắc. Tết Acha Aza đã làm cho văn hóa của sáu dân tộc anh em Pa Kôh, Tà Ôi, Pa Hi, Vân Kiều, Cơ Tu và Kinh sống trên đỉnh Trường Sơn thêm phong phú. Có thể nói, hiếm có cái tết nào như cái tết ở A Lưới khi sáu bản sắc của sáu dân tộc hòa quyện vào nhau làm nên cái chung, nhưng mỗi dân tộc lại có đặc trưng riêng” – ông Lê Dừa, nguyên Trưởng phòng Văn hóa, Thể thao và Du lịch huyện A Lưới, tự hào nhận xét.

Lễ hội Ariêu Ping đã trở thành một nét văn hóa độc đáo trong tiến trình phát triển của dân tộc Tà Ôi ở Quảng Trị.
Lễ hội Ariêu Ping đã trở thành một nét văn hóa độc đáo trong tiến trình phát triển của dân tộc Tà Ôi ở Quảng Trị.

Lễ mừng nhà mới và lễ hội Arieuping của dân tộc Tà Ôi, Quảng Trị

(TH-Cinet-DTV)

Lễ mừng nhà mới của người Tà Ôi được tiến hành với một cây nêu cao được dựng lên trước cửa nhà; thầy cúng, đội cồng chiêng và rất đông đồng bào Pa Coh tham dự lễ cùng nhau nhảy múa trên nhà, dưới đất, trảy lửa đuổi ma quỷ để gia cư được yên ổn, người nhà an tâm làm ăn.

Sau lễ mừng nhà mới là lễ Cúng nhà mồ với rất nhiều các nghi lễ như: lễ hiến tế, lễ đâm trâu hoặc dê, lễ đưa Mả vào lăng, lễ Cầu kết… tất cả đều do thầy cúng điều hành. Lễ hội Ariêu Ping của người Tà Ôi đã có từ lâu đời và được duy trì cho đến tận ngày nay. Đây là một lễ hội bao hàm tổng thể cả đời sống văn hoá lẫn tâm linh. Người Tà Ôi quan niệm, xung quanh đời sống của họ luôn có các linh hồn song song tồn tại. Bởi vậy, Lễ hội Ariêu Ping được tổ chức nhằm tưởng nhớ và tỏ lòng tôn kính đến những người đã khuất, khơi dậy những nét đẹp văn hóa truyền thống tốt đẹp đã ăn sâu vào tiềm thức của đồng bào từ xa xưa.

Lễ hội Ariêu Ping không được ấn định niên hạn tổ chức cụ thể, thường đến mười năm mới tổ chức một lần căn cứ vào điều kiện đời sống và kinh tế của các hộ gia đình trong làng bản. Địa điểm tổ chức tuỳ thuộc vào sự bố trí của già làng đối với những thôn có nhiều mặt thuận lợi và đảm bảo việc đi lại của những người tham dự lễ hội…

Một số hình ảnh tại Lễ mừng nhà mới và lễ hội Arieuping của dân tộc Tà Ôi..

SONY DSC

SONY DSC

SONY DSC

SONY DSC

SONY DSC

SONY DSC

Đầu tiên, đồng bào làm chung một ngôi nhà ở trung tâm để mời các già làng, trưởng bản lân cận, những vị khách quý tham dự lễ đến ở trong suốt thời gian lễ hội. Tiếp đó, các nghi lễ thờ cúng sẽ diễn ra theo phong tục của đồng bào Tà Ôi. Mọi người tham gia lễ hội nhảy múa xung quanh nhà mồ cho đến khi lễ hội kết thúc.

Trong thời gian diễn ra lễ hội, nhiều hoạt động văn hóa truyền thống cũng được tổ chức, đặc biệt là lễ hội đâm trâu – một nghi lễ quan trọng để cúng tế thần linh, khấn cầu cho bản làng yên vui, đoàn kết, tương thân tương ái…

Có thể nói, lễ hội Ariêu Ping đã trở thành một nét văn hóa độc đáo trong tiến trình phát triển của dân tộc Tà Ôi ở Quảng Trị. Đây là một hình thức giáo dục nhằm chuyển giao cho các thế hệ sau biết kế thừa, giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dòng tộc. Đồng thời, lễ hội còn thể hiện nét văn hóa tâm linh, sự tôn kính, hiếu nghĩa của người sống đối với người đã khuất góp phần khơi dậy truyền thống hiếu nghĩa, đoàn kết gắn bó bền chặt trong cộng đồng làng bản.

Nhà dài của người Tà Ôi.
Nhà dài của người Tà Ôi.

Nhà dài – Nơi chứa đựng nét văn hóa độc đáo của người Tà Ôi

(TH-Cinet-DTV)

Những ngôi nhà dài ngót trăm mét chỉ còn là ký ức của người già nhưng nó mãi mãi vẫn là biểu tượng, là thành tựu kiến trúc độc đáo của dân tộc Tà Ôi trên núi rừng Trường Sơn hùng vĩ.

Dân tộc Tà Ôi ở Thừa Thiên Huế thường quây quần sống với nhau thành từng làng, bản. Mỗi làng, bản thuở xưa có trên dưới vài ba chục nóc nhà dài. Tuy những ngôi nhà dài của người Ta Ôi hiện nay không còn nữa nhưng theo lời kể của những người trong làng, trước đây mỗi họ ở một ngôi nhà dài, những họ đông có tới trên 20 hộ sinh sống trong một nhà dài. Mỗi hộ có tới 5-6 người có bếp lửa riêng.

Gian khách được bố trí ở giữa nhà dài, gọi là moong. Hai đầu hồi của nhà đều có cầu thang chính bắc lên nhà. Cầu thang chính thường được dùng để đón khách. Ở mỗi hộ có các cầu thang phụ nhỏ gắn vào sườn nhà đi vào từng hộ. Mỗi hộ có một bếp (apoh) riêng. Tại gian khách cũng bố trí một bếp lửa. Trước đây khi nhà dài có khách đến thăm thì 4 hộ ở xung quanh gian khách là những hộ tiếp khách đầu tiên, sau đó mới đến các hộ tiếp theo lần lượt mang thức ăn đến phòng khách mời khách ăn uống. Đây còn là nơi để cho khách ngủ đêm lại. Những hộ ở gần gian khách có nhiệm vụ thông báo cho các hộ khác để tiếp khách. Khách đến được mời hút thuốc, uống rượu, được mời ăn mía, chuối, lạc, được mang chiếu và gối để ở. Khách ăn cơm có các hộ xung quanh nhà lần lượt mang cơm đến, khách ngủ dậy được mang bầu nước để rửa mặt, sau đó được mời ăn sáng.

Tại những cột nhà dài người ta treo sừng trâu, sừng bò sau mỗi lần gia đình nào đó tổ chức hiến tế. Trước đây người Tà Ôi tại làng có quy định rằng nếu trường hợp một đôi vợ chồng đến thăm làng và nghỉ đêm ở lại chỉ có người chồng được nghỉ ở gian khách còn người vợ sẽ được gửi đến một hộ nào đó để nghỉ. Gian khách của ngôi nhà dài còn là nơi diễn ra các hoạt động chung của làng. Trong phòng khách còn có cây cột to (âr rông mông), nơi để chum rượu lớn buộc vào đó cho chắc chắn.

Tất cả của cải như chum, trống, thanh la… đều để ở gian khách, không bao giờ xảy ra trường hợp mất hay cầm nhầm. Nếu có việc lớn như tổ chức lễ hội cũng đưa khách về ở gian khách. Gian khách cũng là chỗ thanh niên, ở chỗ đó có chăn chiếu riêng cho thanh niên. Tổ chức việc uống rượu vào dịp khánh thành nhà, cưới xin, mừng con rể, đàn ông vui chơi… đều diễn ra ở gian giữa, đàn bà nấu nướng ở các nơi.

Khi trong nhà có người chết người ta đưa người chết ra bằng lối cửa phụ, không đưa ra lối hành lang vì sợ xui xẻo, bệnh tật ảnh hưởng đến các hộ khác. Khi khách đi sẽ dọn dẹp đồ đạc trong từng hộ gia đình.

Ở giữa nhà dài là hành lang (ka nang) đi lại dọc theo ngôi nhà dẫn đến từng hộ gia đình. Đây là chỗ thông thoáng không để bất cứ đồ đạc gì trên khoảng không đó, kể cả việc ngồi trên hành lang cũng không được phép, ông già làng là người thường xuyên nhắc nhở công việc đó. Khi một hộ gia đình có con trai lớn lấy vợ mà chưa có điều kiện nối thêm nhà dài thì đôi vợ chồng đó vẫn ở chung với bố mẹ. Ở với cha mẹ chừng một năm khi đã có con cái thì tách khỏi bố mẹ và nối thêm chiều dài của ngôi nhà sau khi xin ý kiến của tập thể.

Ở giữa ngôi nhà dài người Tà Ôi thường làm một cái thang đi lên gian khách. Cầu thang này chỉ có đàn ông và khách mời mới được đi lại, phụ nữ không được phép sử dụng cầu thang này như lối lên. Phụ nữ khi sinh nở được làm một cái lán nhỏ bằng cách đan một cái sạp bằng tấm liếp quây xung quanh để che chắn gió. Sau khi sinh khoảng một tuần đó cũng là nơi tắm giặt cho sạch sẽ. Mặt bằng sinh hoạt ngôi nhà dài với bếp của mỗi hộ sẽ được làm ở giữa nhà, phía trên có một giàn treo, chỗ ngủ của gia đình là sàn nhà.

Ngày nay kinh tế hộ gia đình đã phát triển đến trình độ cao. Các bếp tách riêng thành các hộ cá thể với ngôi nhà riêng của mình. Những ngôi nhà dài ngót trăm mét không còn nữa. Song nó mãi mãi vẫn là biểu tượng là thành tựu văn hóa đặc sắc và là sự thể hiện cao tính cộng đồng của dân tộc Tà Ôi .

Đặc sắc trang phục dân tộc Tà Ôi.
Đặc sắc trang phục dân tộc Tà Ôi.

Trang phục dân tộc Tà Ôi

(TQ-DTV)

Người Tà Ôi ăn mặc khá giản dị nhưng ưa nhiều trang sức. Theo truyền thống, một bộ trang phục cổ truyền bao gồm khố, một cái áo, một tấm choàng cho đàn ông, một cái váy với nịt lưng và một cái áo cho đàn bà.

Áo nam và nữ của người Tà Ôi đều là kiểu áo cổ chui, có thể có tay nhưng thường không tay đối với áo nữ. Trong y phục của người Tà Ôi, màu đỏ được sử dụng rộng rãi, tấm choàng thường là màu đỏ. Áo, khố váy màu xanh chàm đều có những sọc đỏ.

Người Tà Ôi một số nơi giỏi nghề dệt vải sợi bông, hoa văn được tạo bằng sợi màu vàng và bằng cườm trắng. Loại vải có hoa văn cườm được phần lớn đồng bào ưa thích. Trước đây, người dân Tà Ôi phải lấy vỏ cây chế biến ra trang phục để mặc thì nay, ngoài vải tự dệt, họ còn sử dụng vải mua ở nước Lào hoặc mua sẵn y phục của người miền xuôi đưa lên.

Mỗi khi đi chơi xa hay dự lễ hội, phụ nữ Tà Ôi thường mặc đẹp, đủ các loại váy, áo, thắt lưng và không quên mang theo chiếc gùi sau lưng. Người Tà Ôi có hai hình thức trang sức- dùng nhiều đồ đeo và bằng cách trang điểm trên cơ thể. Đàn ông và đàn bà đều đeo bông tai hình chóp nón cụt bằng xương hay quý hơn là ngà voi. Đường kính của bông tai to làm dái tai căng rộng. Đeo ở cổ là những chuỗi dây mã não màu nâu trong hay những chuỗi hạt cườm nhiều màu quấn thành nhiều vòng. Đeo ở cổ tay, cổ chân là những vòng bằng kim loại.

Trang phục truyền thống dân tộc Tà Ôi.
Trang phục truyền thống dân tộc Tà Ôi.

Nam nữ Tà Ôi đều để tóc lá bài, mớ tóc rủ xuống ngang chân mày, phủ gần kín vùng trán. Tóc còn lại được vuốt ngược hay chải lật ra phía sau và búi lại trên gáy. Dùng để giữ hoặc làm đẹp thêm trên mái đầu là những cây trâm bằng kim loại và lược sừng hoặc lược đồng. Riêng đàn ông, khi cần tỏ vẻ tráng kiện của mình, họ còn đóng thêm một vành khăn có dắt vài ba chiếc lông chim dài và đẹp.

Cho đến nay, tục cà răng và xăm hình trên cơ thể vẫn còn duy trì. Không có ai giải thích việc 2 tập tục này liên quan đến một hành động tín ngưỡng nào mà họ coi đó là cách làm dáng khi bước vào tuổi dậy thì để kén vợ chọn chồng.

Trang sức của người Tà Ôi còn đặc biệt có tục đeo mã não đã trở thành một biểu tượng của quyền lực, sự giàu có, sang trọng và có địa vị trong cộng đồng. Trong xã hội xưa, không phải ai cũng có mã não để đeo, chỉ có những nhà giàu có, nhiều trâu bò, ruộng nương và có vị thể trong cộng đồng mới mua được mã não, đặc biệt là phải tuổi “lên bà” dân bản mới đeo mã não”.

Với những gia đình giàu to, của hồi môn là những chuỗi mã não theo con gái trong ngày cưới, giàu vừa thì phải có vòng đeo tay; còn khó khăn lắm cũng kiếm được đôi ba hạt làm của hồi môn. Có thể nói, những hạt mã não thường gắn liền với phong tục thách cưới của người Tà Ôi. Ngày nay, giới trẻ Tà Ôi không còn nhiều mặn mà với loại trang sức này.

Tục đi sim trở thành nét văn hóa đẹp, trong sáng của người Tà Ôi xưa. (ảnh Vĩnh Phúc)
Tục đi sim trở thành nét văn hóa đẹp, trong sáng của người Tà Ôi xưa. (ảnh Vĩnh Phúc)

Đi Sim – nét văn hóa đẹp của người Tà Ôi, Quảng Trị

(TH-Cinet-DTV)

Tục đi Sim là nét văn hóa truyền thống lâu đời của người Tà Ôi, tỉnh Quảng Trị. Vào những đêm trăng thanh, gió mát, các chàng trai cô gái lại quây quần bên nhau, trao nhau những câu hát tìm vợ, tìm chồng làm say đắm lòng người.

Đakrông – một huyện miền núi của tỉnh Quảng Trị, có đại bộ phận dân cư là người đồng bào dân tộc thiểu số Vân Kiều và Tà Ôi sinh sống. Những người già, trưởng bản ở đây cho biết tập tục đi Sim đã có từ lâu đời, đến ngày nay vẫn còn được lưu truyền trong các thế hệ trẻ. Đi Sim là dịp để các đôi nam nữ đến tuổi dựng vợ gả chồng tìm hiểu nhau, trao nhau những làn điệu, câu hát, những bản nhạc làm say đắm lòng người.

Thường thì tục đi Sim diễn ra vào những mùa trăng. Chính vì vậy vào những đêm trăng sáng những người con trai, con gái trên rẻo cao lại tìm đến nơi hò hẹn bên những con suối, những ngôi nhà Xu thơ mộng giữa rừng để cùng trò chuyện, tìm hiểu. Và cứ như vậy, từng mùa Sim đi qua sẽ có những đôi trai gái nên duyên vợ chồng sau khi đã trò chuyện, tìm hiểu nhau. Họ ngồi nói chuyện với nhau cả đêm bên dòng suối mát, dưới ánh trăng thanh hữu tình. Để tránh gặp trời mưa, người con gái khi đi Sim thường đem theo một cái gối và một cái chăn để ngủ lại ở nhà Xu hoặc những căn lều nhỏ của gia đình ở giữa rừng.

Tục đi Sim như một minh chứng cho việc bình đẳng trong tình yêu, hôn nhân của người Tà Ôi chứ không có chuyện cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Đây là một điều rất tiến bộ trong suy nghĩ của bà con nơi đây.

Đi sim, thường các cô gái đi trước, họ mang theo đầy chiếc Tựp cơm nếp, thịt gà, cá nướng làm vật nhận lời. Các chàng trai theo sau mang theo chuỗi cườm, hạt ba não hay vòng bạc đồng tiền làm vật ngỏ lời. Khi các chàng trai đến nơi thì các cô gái đã ngủ trên chòi rồi nhưng họ chỉ ngủ giả vờ thôi. Các chàng trai tới không lên thẳng trên chòi mà đứng dưới chân cầu thang hát gọi.

Một trong những điều không thể thiếu trong những lần đi Sim hò hẹn là những bài hát giao duyên với ca từ đẹp để bày tỏ nỗi niềm tâm sự, khát khao yêu thương mà những đôi trai gái dành cho nhau. Chính những điệu hát này càng làm cho tình cảm giữa người con trai, con gái càng khăng khít, bền chặt hơn để có thể về thưa với cha mẹ, trưởng bản và đi đến một cuộc hôn nhân trọn vẹn.

Tuy nhiên, cách tỏ tình của các chàng trai với các cô gái không nhất thiết phải hát mà tùy theo năng khiếu sở trường của mỗi chàng. Có chàng thì sử dụng bằng tiếng đàn abeel – âng krao, âng koái, tireel, khền, tâm preh. Có chàng thì thể hiện bằng giọng hát ngọt ngào tha thiết đến xao xuyến lòng người bằng giai điệu: Cha chấp, Xiềng, Ba bói, Phỉ ku moor và những câu đáp lại của các cô gái cũng tùy theo ý thích, sở trường của mỗi nàng. Để chiếm được cảm tình của các cô gái, các chàng trai không chỉ hát, đàn cho thật hay mà còn cố gắng thể hiện dáng vẻ, nét mặt cho thật đáng thương làm sao cho các cô gái chịu mở cửa mời chàng lên.

Khi đã lên chòi rồi, chàng ngồi bên này, nàng ngồi bên kia, chính giữa là bếp lửa hồng cháy đều vừa đủ soi mặt hai người, điều này thể hiện giữa hai người vẫn còn xa lạ, họ trò chuyện nhìn nhau trong e thẹn, họ ngồi với nhau như vậy cho đến khi gần nửa đêm, cô gái mới mời chàng trai thưởng thức món cỗ mà nàng mang theo, nếu nàng cảm thấy ưng ý. Ngược lại, đến quá giờ này mà cô gái không chịu trao món cỗ tình yêu này thì đồng nghĩa với câu nói “Từ chối lời cầu hôn của chàng”. Qua bao lần thuyết phục mà trái tim của cô gái vẫn như sương lạnh thì chàng trai kém may mắn đó đành phải bỏ cuộc, lại đi sim đi tìm bạn tình mới.

Cái hay, cái đẹp và độc đáo nhất ở tục đi sim của người Tà Ôi xa xưa là ở chỗ, từng đôi trai gái mới lớn lên, nhựa tình yêu tràn trề sức sống, họ sống bên nhau, cùng ăn, cùng ở, cùng đắp tấm dzèng ấm cúng qua đêm trong cái chòi hoàn toàn cách biệt bên ngoài cùng với khung cảnh đầy lãng mạn trong thời gian dài như vậy. Nhưng họ chỉ trao nhau nụ hôn cháy bỏng, vòng tay êm ấm, giữ nguyên tình yêu trong sáng chứ không bao giờ vi phạm chuyện “chăn gối”. Bởi người Tà Ôi quan niệm rằng, chuyện “chăn gối” là chuyện thiêng liêng nhất của đời người, chỉ khi nào thành vợ thành chồng họ mới dâng hiến cho nhau. Còn khi yêu nhau mà phạm chuyện đó thì thật xấu hổ, nhơ bẩn, nhục nhã, kiêng cự. Yàng sẽ trừng phạt bằng cách gây ra đau ốm, chết chóc cho gia đình, làng bản. Già làng mà biết cha mẹ, gia đình, họ tộc sẽ bị trừng phạt rất nặng, thậm chí gom hết tài sản của cả họ tộc vẫn không đủ nộp phạt. Vì thế các chàng trai cô gái đã đến tuổi vẫn đi sim thoải mái không cha mẹ nào ngăn cấm nhưng tuyệt đối không phạm tục đi sim.

Tục đi sim trở thành nét văn hóa đẹp, trong sáng của người Tà Ôi xưa. Các chàng trai cô gái đã đến tuổi trăng tròn sau một ngày lên nương làm rẫy, đêm đêm vào mùa trăng sáng đẹp trời, họ lại nô nức rủ nhau đi sim. Đi sim để đi tìm bạn tình, đi sim tìm lời thương lời nhớ.

Chị Kê Sửu (Trương Thị Sửu) tại buổi bảo vệ luận án Tiến sĩ.
Chị Kê Sửu (Trương Thị Sửu) tại buổi bảo vệ luận án Tiến sĩ.

A Chất – Sử thi dân tộc Ta-ôi

(Trần Hoàng)

Mấy mươi năm gần đây, một số nhà giáo, nhà nghiên cứu trong và ngoài tỉnh Thừa Thiên Huế đã đầu tư nhiều công sức đi về các làng bản hai huyện miền núi A Lưới, Nam Đông để sưu tầm, nghiên cứu ngôn ngữ, lịch sử, sinh hoạt văn hóa, văn học nghệ thuật… của các dân tộc Ta-ôi, Pa-kô, Cơ-tu, Bru, Vân Kiều. Kết quả của những chuyến điền dã này là một số công trình khoa học viết về tiếng nói, về tín ngưỡng, lễ hội, về ca múa nhạc dân gian… đã được công bố.

Tháng 12 năm 2012 vừa qua, nhà xuất bản Thuận Hóa đã ấn hành tập sách “A Chất – Sử thi dân tộc Ta-ôi”, do TS Kê Sửu sưu tầm và biên soạn.

Dân tộc Ta-ôi hiện có khoảng 4 vạn người, chủ yếu sống tập trung ở huyện vùng cao A Lưới, miền Tây Thừa Thiên Huế. Trước đây, người Ta-ôi có nghề sống chính là làm nương rẫy và săn bắt, hái lượm. Ngày nay, một số làng đã có thêm nghề làm ruộng bên cạnh các nghề truyền thống. Đồng bào sống quây quần bên nhau thành các làng to, nhỏ khác nhau, nhưng làng lớn cũng chỉ đến trên 30 nóc nhà.

Là người con của dân tộc Ta-ôi, từ lúc nhỏ cho đến khi trưởng thành, Kê Sửu(*) luôn gắn bó với miền núi A Lưới quê hương chị. Vì vậy, Kê Sửu rất am hiểu ngôn ngữ, lịch sử, đời sống văn hóa-xã hội của các dân tộc thiểu số ở miền tây Thừa Thiên Huế. Cùng với một số tập sách đã được xuất bản những năm trước đây, “A Chất-Sử thi dân tộc Ta-ôi” là kết quả của nhiều năm chị đi sưu tầm, nghiên cứu văn hóa trên mảnh đất quê nhà, là tâm huyết của một người con đối với dân tộc mình.

Sưu tập và lưu giữ về văn hóa dân gian người Tà Ôi là công việc cấp thiết của Tiến sĩ Kê Sửu/Nguyễn Thị Sửu.
Sưu tập và lưu giữ về văn hóa dân gian người Tà Ôi là công việc cấp thiết của Tiến sĩ Kê Sửu/Nguyễn Thị Sửu.

Cuốn sử thi đầu tiên của dân tộc Ta-ôi vừa được nhà xuất bản Thuận Hóa công bố dày 698 trang (khổ 16x24cm). Sách có in kèm 16 tấm ảnh màu ghi lại một số sinh hoạt của đồng bào Ta-ôi khi nghe già làng kể sử thi A Chất. Trong đó nổi bật là hình ảnh cha con nghệ nhân Kóonh Hiêm ở thôn Chi Lành, xã A Đớt (huyện A Lưới), nay đã trên 100 tuổi, người được xem là nghệ nhân thuộc đầy đủ và diễn xướng hấp dẫn nhất, hay nhất sử thi của dân tộc Ta-ôi.

Sử thi là một loại hình độc đáo của văn học dân gian. Tác phẩm tự sự bằng thơ này có độ dài rất lớn, từ hàng trăm đến hàng ngàn câu, thậm chí cả chục ngàn câu. Ở Việt Nam, sử thi “mo” của dân tộc Mường và sử thi “khan” của các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên (Ba Na, Ê Đê, Mơ Nông…), của người Chăm đã được ghi chép, được công bố từ trước năm 1945. Sử thi A Chất đến với độc giả lần này giúp cho người đọc gần xa hiểu thêm nhiều nét đẹp, nhiều điều mới mẻ về đời sống của một dân tộc thiểu số ở miền Trung Trung Bộ. Văn bản sử thi gồm 7212 câu, được chia thành 3 phần lớn với 14 chương.

Nhân vật trung tâm của tác phẩm là A Chất. Cùng với những người anh em và cư dân trong cộng đồng, chàng đã phải trải qua bao cam go, thử thách trong việc chống lại và chiến thắng lũ lụt, ma quỷ cũng như kẻ thù của bộ tộc để xây dựng làng bản, để tạo nên cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Những cảnh săn bắt, hái lượm, trồng trỉa lúa ngô, làm nhà cửa, chèo thuyền vượt thác lũ…, rồi cảnh giao chiến giữa các dũng sỹ, những thử thách khắc nghiệt đối với người anh hùng của bộ tộc v.v… qua lời kể của nghệ nhân-già làng hiện lên thật sinh động. Những câu hát có vần, những lời thơ giản dị và giàu hình ảnh có sức hấp dẫn rất lớn đối với người nghe, người đọc. Những câu chuyện vừa mang tính chất huyền thoại vừa gần gũi với đời sống của người bình dân xoay quanh nhân vật A Chất… đã làm nên nét đẹp riêng của sử thi này.

Việc ghi chép và công bố bằng hai thứ tiếng sử thi A Chất của dân tộc Ta-ôi, theo chúng tôi là một việc làm rất cần thiết và rất đáng trân trọng. Nó góp phần tích cực vào việc gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp không những chỉ của dân tộc Ta-ôi mà còn là của chung các dân tộc ở Thừa Thiên Huế, ở Việt Nam.

CREATOR: gd-jpeg v1.0 (using IJG JPEG v62), quality = 100
CREATOR: gd-jpeg v1.0 (using IJG JPEG v62), quality = 100

Tiếp cận truyện cổ Tà Ôi

(Trần Nguyễn Khánh Phong)

Cho đến nay, đã có các công trình sưu tầm và biên soạn truyện cổ Tà Ôi khá đầy đặn về văn bản. Qua các công trình nầy chúng ta thấy rằng người Tà Ôi sinh sống trên dãy Trường Sơn, quần cư chủ yếu trên địa bàn hai tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên Huế đang lưu giữ một kho tàng tri thức phong phú về văn học dân gian mà trong đó thể loại An xoar (chuyện cổ tích) là một thí dụ điển hình.

Theo các nhà nghiên cứu mô tả thì: “Chuyện kể (An xoar) của người Tà Ôi là sinh hoạt của những ngày mưa, lúc rảnh rỗi hoặc khi đêm về… Sinh hoạt chuyện cổ là tiếng gọi của sự quây quần, nhiều thế hệ cùng ngồi với nhau, nhiều người từ “dung” (nhà) này, “vel” (làng) nọ đến bên nhau. Ngồi nghe chuyện cổ để giải trí, để được giáo dục tri thức, truyền thống và đạo lý làm người, làm “đứa con ngoan” của rẫy, của vel… (1).

Đi sâu vào việc tìm hiểu truyện cổ Tà Ôi chúng ta sẽ thấy cả một thế giới quan và nhân sinh quan rộng lớn, phản ánh đầy đủ mọi mặt của đời sống cộng đồng. Ở đó, người Tà Ôi luôn đề cao các vị thần, vì những đấng siêu nhân nầy đã từng che chở, giúp họ vượt qua những cơn hoạn nạn. Họ cũng đứng lên đấu tranh chống lại cái ác, thần quyền và bạo ngược. Họ đã gửi gắm những ước mơ của mình thông qua những việc làm cụ thể để đi đến cuộc sống ấm no và hạnh phúc.

Người Tà Ôi kể trong truyện cổ của họ rằng: Dân tộc Tà Ôi được sinh ra từ một quả bầu. “Ngày xưa khi trên trái đất chỉ có loài thú sống với nhau, con người chưa xuất hiện thì bỗng xảy ra một tiếng nổ dữ dội. Sau tiếng nổ thì mặt đất bỗng dưng thay đổi hẳn, các con thú vắng bóng. Chỉ may mắn còn sống sót mỗi hai con chó, một đực, một cái.

Hai con chó sống chung với nhau. Bỗng một hôm trời hạn hán, nước sông suối khô cạn, cây sim, cành móc đều chết cháy. Hai con chó tìm lên vùng cao để tìm thức ăn và nước uống. Vượt qua nhiều núi đèo hiểm trở, cuối cùng hai con chó cũng tìm được nguồn nước. Con chó cái lúc này đang bụng mang dạ chửa, nó cố lê mình đến bên bờ suối. Lúc nó chui đầu xuống dòng nước, cũng là lúc nó chuyển dạ, đẻ ra một quả bầu dài. Một nửa quả bầu nằm dưới nước, một nửa lại nằm vắt lên bờ.

Quả bầu cứ nằm như vậy suốt bao tháng liền. Nửa trên bờ của trái bầu bị nắng hạn nung nóng nên ngày càng đen thẫm lại, còn nửa dưới được mát mẻ nên trắng bợt ra.

Mãi lúc khi mùa xuân đến, khi trời ấm áp dần lên thì quả bầu bỗng vỡ ra và con người từ vòng quả bầu đó vươn dậy. Số người nằm nửa trên bờ của quả bầu có nước da ngăm đen, còn số được bảo vệ nên có làn da trắng trẻo.

Số người có làn da trắng xuôi theo dòng sông, suối về đồng bằng sinh sống trở thành người Kinh sau nầy. Những người có làn da ngăm đen lại đi ngược về ở phía đầu nguồn tìm rừng phát rẫy trở thành người Tà Ôi bây giờ…” (2).

Trong câu truyện này thể hiện mối quan hệ giữa người Tà Ôi và người Việt chủ thể chính của cộng đồng các dân tộc Việt . Chính vì mối quan hệ đó mà nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông đã nêu ra được 3 hệ thống chủ đề trong truyện cổ các dân tộc thiểu số Bắc miền Trung trong đó có dân tộc Tà Ôi như sau:

Hệ thống 1: Các truyện kể phản ánh mối quan hệ mật thiết có tính cách huyết thống của các dân tộc thiểu số với người Kinh ở đồng bằng.
Hệ thống 2: Tập hợp các truyện kể lưu lại các dấu ấn kỷ niệm.
Hệ thống 3: Các truyện kể thể hiện mối quan hệ xuôi ngược, miền thấp miền cao về kinh tế, văn hóa, hôn nhân và gia đình.

Và cũng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông thì: “Ngày xưa, mọi người cùng nằm chung trong một quả bầu. Sau đó Yang Arơbang (thần Trời) mài đỏ một thỏi đá, dùi thủng quả bầu cho mọi người bước ra. Các anh Tà Ôi, Pa Cô, Pahy – Vân Kiều, Cơ Tu ra trước, mình dính đầy khói than nên đen, tóc quăn và người Yoan (Việt) ra sau cùng nên da sáng, tóc thẳng hơn. Điểm kết của câu chuyện được nhấn mạnh ở chỗ, họ đều là anh em ruột thịt và sau đó chia nhau đất đai để sống như bây giờ” (3).

Hoàng hôn trên A Lưới.
Hoàng hôn trên A Lưới.

Nhìn chung, trong truyện cổ các dân tộc thiểu số Việt , hình tượng quả bầu là khơi nguồn cho cảm hứng sáng tạo mà nổi bật nhất phải kể đến là truyện bầu mẹ của người Khơ Mú. Điều đó cũng không có gì lạ khi “Các vị thần sáng tạo hay những anh hùng văn hóa làm ra những con người đầu tiên từ những chất liệu khác nhau: Xương cốt các con vật (Trong một số thần thoại thổ dân da đỏ Bắc Mĩ, thần sáng tạo Mahabus tạo ra con người bằng bộ xương của thú, chim và cá), quả cây họ cọ (trong thần thoại Me le ne di, từ quả dừa trong, thần thoại của người da đỏ Pê ru – từ quả cây cọ…), cây (trong thần thoại của người Ket Tây Xibiri, thổ dân da đỏ Bắc Mĩ…) (4); thì người Tà Ôi với nguồn gốc ra đời của mình được lấy từ hình tượng quả bầu, con chó là phù hợp với nền văn hóa trong bối cảnh Đông Nam Á.

Một nội dung khác của truyện cổ Tà Ôi là đi sâu vào việc giải thích nguyên nhân ra đời của các dòng họ. Bởi vì một lẽ, người Tà Ôi xưa và thậm chí còn đến cả ngày nay vẫn còn bảo lưu những dòng họ cổ xưa của dân tộc mình như: Pơ Loong, Ahar Priêng, Amoong, Akơ ơ, Pihôih, Blup, Viên, Kê, Kêr… và mỗi dòng họ đều có vật tổ để thờ, để kiêng cữ cho nên mới lưu truyền được trong cộng đồng người Tà Ôi những câu chuyện kể về các dòng họ.

Đã có một sự đánh giá cho rằng: “Ở người Tà Ôi dấu vết của tổ tiên còn đậm nét trong các tổ chức dòng họ” (5). Bởi vậy người Tà Ôi có các tập tục kiêng cữ ở các dòng họ, ví như: Ya AVô (Họ AVô) kiêng bắn giết và ăn thịt con vượn, Ya Pihôih (Họ Pihôih) kiêng bắt và ăn con ong mật, Ya Kêr (Họ Kêr) kiêng bắt, giết chim Tu Tiết, Ya Blup AKol (Họ Blup AKol) kiêng bắt, giết con thằn lằn, Ya Pa Tả (Họ Pa Tả) không ăn thịt mèo, Ya AKơ ơ (Họ AKơ ơ) không ăn thịt con Trút…

Về vấn đề bái thờ vật tổ của người Tà Ôi, được xem là một tín ngưỡng của Tôtem giáo vì có nhiều nét tương đồng với các dân tộc cận cư trên dãy Trường Sơn và Tây Nguyên. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu thì: “Hình thức cơ sở nhất của Tôtem là ông tổ huyền thoại thường là con vật, cây cối hay vật dụng nào đó. Những người cùng một ông tổ huyền thoại nầy đều coi nhau là anh em, cùng kiêng cữ không ăn hoặc sử dụng Tôtem của mình có các tập tục liên quan khi cúng lễ vật tổ và thường không có quan hệ hôn nhân… Hình thức vật tổ nầy còn thấy khá phổ biến trong các tộc nói ngôn ngữ Môn – Khmer vùng Trường Sơn – Tây Nguyên” (6).

Cho đến nay, chúng tôi đã thống kê ra được 85 dòng họ cổ truyền của người Tà Ôi, trong đó quá phần nửa đều có liên quan đến Tôtem giáo và những tập tục kiêng cữ thường liên quan đến những con vật (chó, mèo, khỉ, vượn, trút, ong, hổ, chim…), vật dụng (cối giã gạo, hầm chông…), cây (cây đoác, cây đa), tên làng… và trong kho tàng truyện cổ Tà Ôi đã có 10 truyện giải thích được nguồn gốc ra đời của các dòng họ: Họ Kê, họ Pa tả, họ Kra ai, họ Viên, họ Blup AKol, họ Kêr, họ AKơ ơ, họ A Viết, họ A Vô và họ Pihôih.

Nếu đem so sánh với các dân tộc anh em khác thì dòng họ của người Tà Ôi vẫn có sự đa dạng về tín ngưỡng. Ví như người Hmông có khoảng 18 họ, người Kơ Tu có khoảng 35 họ… thì người Tà Ôi vẫn tự hào về dòng họ của mình, thờ tổ tông theo dòng họ, dùng gián tiếp bằng cách lấy bộ phận của con vật tổ để gọi.

Ngoài ra truyện cổ Tà Ôi còn đem đến cho người đọc những câu chuyện hay về việc giải thích nguồn gốc các địa danh. Mỗi địa danh thường gắn liền với những câu chuyện tình cảm hết sức lý tưởng và dũng cảm. Những truyện như truyền thuyết về sông Đắc Krông, Dốc Parsee (Dốc tình yêu bất tử), sự tích núi San Lai, Kooh seam sai, sự tích sông A Sáp, sự tích hồ A Co… đã ăn sâu vào trong tâm khảm của người dân nơi đây. Và ngày nay những địa danh đã được giải thích đó vẫn là sự thật, vẫn có dòng sông Đắc Krông và A Sáp xanh tươi, có núi San Lai, Kooh seam sai uy nghi, vững chãi, có hồ A Co tràn đầy nước mát… như một minh chứng nhằm giáo dục con người thể hiện lối ứng xử tốt giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.

Trong kho tàng truyện cổ Tà Ôi, khi tiếp cận chúng tôi thấy có sự liên hệ mật thiết với những sự vật ngoài đời. Ngay cả khi người Tà Ôi tổ chức hình thức sinh hoạt ca múa nhạc thì những nhạc cụ cũng có nguồn gốc ra đời của nó. Truyện cổ Tà Ôi đã có những câu chuyện kể về cái trống (Sự tích cái trống), khèn (Sự tích chiếc khèn bè), Tingát (Chiếc Tingát), A reeng (Tiếng sáo hạnh phúc), Đàn Ta lư (Sự tích đàn Ta lư), A màm (Sự tích chiếc A màm)… điều đó đã chứng tỏ người Tà Ôi ưa thích sự phóng túng.

Người Tà Ôi khi đi làm nương rẫy thường muốn tạo cho mình niềm vui hay mong muốn có một người bạn để tâm sự, họ lấy những ống nứa gọt dũa để thổi nghe cũng vui tai, từ đó hình thành nên những loại nhạc cụ và thường kèm theo những câu chuyện kể. Ví như câu chuyện sự tích chiếc A màm được kể dưới đây là một minh chứng cho điều đó: “Ngày xưa, ở làng nọ, có một người mẹ góa rất thương con. Cứ mỗi lần bà mẹ lên nương thì không nỡ bỏ đứa con còn nhỏ dại của mình ở nhà. Bà đành địu con theo trước ngực, sau lưng thì mang gùi bắp giống, tay cầm chiếc A pật thong thả lên rẫy.

Đứa con thơ của bà rất vui khi nghe tiếng chim hót, tiếng suối chảy róc rách và cả những bước chân hòa đều với tiếng ru của mẹ.

A Kay ơi, ngủ cho yên
Con ve rừng ru akay ngủ
Gió cây rừng che mát akay
Hãy ngủ yên.
Như con A vang còn nằm trong trứng
A Kay ơi! Akay ơi! Ngủ yên đi.

Hoàng hôn trên A Lưới.
Hoàng hôn trên A Lưới.

Đến rẫy, bà mẹ đặt đứa con của mình ở nơi thoáng mát. Nghe tiếng ve rừng kêu, đứa bé êm tai lim dim ngủ để cho mẹ rảnh tay trỉa bắp. Sau khi xong việc, đứa bé lại được mẹ địu về nhà. Nhưng khi về đến làng, đứa bé nhớ những âm thanh quen thuộc của ve thì lại khóc.

Không dỗ dành được, bà mẹ đành ra sau hè, cắt lấy một đoạn sậy nhỏ, gọt ở một đầu thành chiếc lược ngà, gọt vài cái lỗ nhỏ thổi lên nghe giống tiếng ve ve. Đứa trẻ nghe vậy êm tai ngủ ngon giấc, cứ thế, ngày này qua ngày khác, đứa trẻ dần lớn lên trong tiếng êm dịu của một loại gáo dọc đơn giản. Đó là chiếc A màm” (7).

Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Huế đã có một nhận định trong công trình nghiên cứu: “Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích Việt ” rằng: “Khẳng định hiện tượng kiểu truyện và kiểu nhân vật xấu xí mà tài ba của truyện là rất phổ biến trong truyện cổ tích các dân tộc Việt . Đề tài nhân vật xấu xí mà tài ba là sự phản ảnh thực tại xã hội của một giai đoạn lịch sử của loài người, nó xuất hiện một cách tất yếu và là một đề tài có tính chất hiện thực sâu sắc, bởi nó phản ánh cuộc sống của một loại người bất hạnh của xã hội. Đề tài nầy thường xuất hiện ở những nơi mà sự tan rã của chế độ mẫu hệ và chế độ công xã nguyên thủy không dẫn tới sự thành lập gia đình phụ hệ lớn mà chỉ đưa tới sự hình thành một xã hội manh nha có giai cấp” (8). Qua đó cho chúng ta thấy, xã hội trong truyện cổ tích Tà Ôi đang hình thành một xã hội có giai cấp, những nhân vật dị hình, dị dạng, người lấy vật xấu xí thường đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành giai cấp đó.

Mô típ người dị hình dị dạng, người lấy vật xấu xí trong truyện cổ Tà Ôi có các câu truyện tiêu biểu như: Vỗ Đủ hóa cọp, Người vợ vượn, Chàng rắn, Chàng voi, Chàng cóc, Người đội lốt mèo, Pirưi A rooq, Kalang Niêtka, Piar Tu liq, Người vợ đá… Bản chất của những con người nầy luôn luôn cần cù, nhẫn nại, siêng năng, chịu khó, thông minh và sáng tạo, đó chính là những lẽ sống thiết thực của người Tà Ôi.

Trong hệ thống các truyện mang nội dung nầy chúng tôi thấy các nhân vật đều mang lốt động vật và hầu như đều nói tiếng người, biết thể hiện được những tâm tư tình cảm qua những lời nói, cử chỉ và hành động. Họ luôn luôn cứu người, đem lại cuộc sống tốt lành cho dân bản. Và một điều rõ nét, những người dị hình, dị dạng, người lấy vật xấu xí về sau đều được trút bỏ những tấm áo thú bằng cách đốt đi hoặc thả trôi theo dòng nước… Những việc làm và số phận của họ “trở thành người đại diện cho lý tưởng của xã hội và số phận tốt đẹp của nhân vật chính là phương tiện hiện thực hóa ước mơ của nhân dân” (9).

Tư duy trong lối kể chuyện của người Tà Ôi thật chất phác và giản dị.

Chuyện kể của họ chiếm một số lượng lớn kể về các loài vật, điều nầy có lẽ do lấy cuộc sống săn bắt và thuần hóa súc vật đã làm nền tảng cho nền kinh tế, đã ăn sâu vào trong tâm trí của người Tà Ôi và lấy loài vật làm hình tượng nhân vật là điều tất yếu.

Trong truyện cổ Tà Ôi, thời gian và không gian nghệ thuật thường gắn liền với cảnh núi rừng bao la hoặc bên bếp lửa của những ngôi nhà dài, và phảng phất mang những nét tương đồng với truyện cổ của các dân tộc anh em khác.

Một điều đặc biệt được đưa ra ở đây là trong truyện cổ Tà Ôi thường có sử dụng lối kể chuyện theo kiểu đồng thoại. Khảo sát gần 100 truyện kể thì có đến 40% câu chuyện có sử dụng lối kể đồng thoại nầy. Như trong truyện sự tích chiếc A màm vừa nêu trên là một ví dụ điển hình. Hoặc có những lời đồng thoại rất hay được lồng vào khi kể chuyện, nghe phảng phất như những làn điệu dân ca Calơi, Ba bói, Cha chấp tiêu biểu của người Tà Ôi.

Ơi chàng hỡi
Buổi sáng em lên rẫy
Lấy lá môn em hứng nước trong
Soi bóng em lấp lánh
Ai ngờ hiện bóng anh
Ơi hỡi chàng tài giỏi.
Cây to, đá tảng luôn phải tay người
Chú voi vàng ngọc A poal
Hãy mang đá tảng núi ngàn thỏa ân
Hãy dâng lễ tại cho thân
Bởi lòng ta khát một ngần nước trong
Bởi nay cây cối trâu bò
Mãi trong tưới mát, ấm no dân tình
(Tireal Put)

Những câu chuyện kể lồng ghép với lối hát văn vần đã làm cho chuyện cổ mang hơi thở của sử thi.
Trên cơ sở những văn bản có được, truyện cổ Tà Ôi luôn mang trong mình một sức sống mới, hơi thở mới cả về nội dung lẫn giá trị nghệ thuật. Ngày nay, chúng ta chỉ cần khai thác và nghiên cứu gìn giữ để cho nó thêm tinh túy mà thôi.

(nguồn: TCSH số 219 – 05 – 2007)
————
(1) Nguyễn Quốc Lộc (Chủ biên): Các dân tộc ít người ở Bình Trị Thiên, NXB Thuận Hóa – Huế 1984, trang 177.
(2) Trần Nguyễn Khánh Phong – Nguyễn Thị Sửu: Truyện cổ Tà Ôi, Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa dân gian Huế, NXB Thuận Hóa – Huế 2005, trang 27.
(3) Nguyễn Hữu Thông: Vùng đất Bắc miền Trung: Những cảm nhận bước đầu, Tạp chí Dân tộc học – Hà Nội, số 4 (130) 2004, trang 5.
(4) Ngô Văn Doanh: Thần thoại về nguồn gốc con người, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 12 (222), 2002, trang 99.
(5) Nguyễn Quốc Lộc (chủ biên), Nguyễn Hữu Thông, Nguyễn Thị Hòa: Truyện cổ Tà Ôi, Văn nghệ dân gian Bình Trị Thiên, Sở Văn hóa thông tin Bình Trị Thiên, Huế 1985, trang 12.
(6) Bế Viết Đẳng (Chủ biên): Các dân tộc thiểu số trong sự phát triển kinh tế – xã hội ở miền núi, NXB Chính trị Quốc gia – NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội 1996, trang 99.
(7) Trần Nguyễn Khánh Phong, Nguyễn Thị Sửu: Sách đã dẫn… trang 137.
(8) Nguyễn Thị Huế: Nhân vật xấu xí mà tài ba trong truyện cổ tích Việt , Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1999, trang 16.
(9) Nguyễn Thị Huế: Sách đã dẫn… trang 150.

oOo

Tìm Hiểu Văn Hóa Người Tà Ôi:

 

Điệu múa Pako:

 

The A’bel and A’reng – Co Tu and Ta Oi – Pako peoples of Hue Province, Vietnam:

 

Dưới trời A Lưới:

 

Sắc màu biên viễn:

 

Nghề dệt Dzèng của dân tộc Tà Ôi:

 

Lên Trường Sơn học làm nỏ của dân tộc Tà Ôi:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s