Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Việt/Kinh

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Thổ, đặc biệt hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Việt/Kinh của người Việt/Kinh ở Việt Nam và trên nhiều quốc gia trên thế giới.

Người Việt hay người Kinh là một dân tộc hình thành tại khu vực địa lý mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam và miền Nam Trung Hoa. Đây là một dân tộc chính, chiếm khoảng 86,2% dân số Việt Nam và được gọi chính thức là dân tộc Kinh để phân biệt với những dân tộc thiểu số khác tại Việt Nam. Ngôn ngữ chính sử dụng là tiếng Việt theo nhóm Việt-Mường. Người Kinh sinh sống trên toàn thể nước Việt Nam và một số nước khác nhưng đông nhất vẫn là các vùng đồng bằng và thành thị ở Việt nam. Còn nếu tính theo tổng số người Việt ở các nước ngoài thì người Việt định cư ở quốc gia Hoa Kỳ là đông nhất.

Truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên” nói về nguồn gốc của tộc Việt:

“Nguồn gốc dân tộc Việt bắt đầu từ họ Hồng Bàng. Vị vua đầu tiên là Kinh Dương Vương (vua nước Xích Quỷ) hiện còn có mộ tại làng An Lữ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông lên làm vua vào khoảng năm Nhâm Tuất (hơn 2000 năm trước Công nguyên) sau đó lấy bà Long Nữ (con gái Thần Long là vua Hồ Động Đình), sinh hạ được Sùng Lãm (lấy hiệu là Lạc Long Quân). Ông lấy bà Âu Cơ (con gái Đế Lai) sinh ra 100 trứng, nở ra 100 người con. Một hôm nhà Vua bảo bà Âu Cơ: “Ta là giống Rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó”. Bèn từ biệt, hai ông bà đồng ý chia hai số người con; năm mươi người con theo mẹ lên núi, số còn lại theo cha xuống biển. Sau đó, nước Xích Quỷ chia thành nhiều nước gọi là Bách Việt.

Một trong các nước nhỏ này là nước Văn Lang. Lạc Long Quân về sau phong cho người con trưởng làm vua nước Văn Lang, xưng hiệu là Hùng Vương thứ 1, đặt quốc hiệu là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Vĩnh Phúc hoặc Phú Thọ). Dòng dõi Hùng Vương lưu truyền được 18 đời, đến đời Hùng Vương thứ 18 thì bị nhà Thục lấy mất nước.” (Trích Đại Việt Sử ký toàn thư khắc ở bia lăng Kinh.)

Kinh Dương Vương tên huý là Lộc Tục, là bậc thánh trí có tư chất thông minh, tài đức hơn người, tinh thần đoan chính, sức khoẻ phi thường. Kinh Dương Vương hình thành nhà nước sơ khai đầu tiên vào năm Nhâm Tuất (2879 Tr.CN) đặt quốc hiệu là Xích Quỷ (tên một vì sao sắc đỏ rực rỡ, sáng nhất trong 28 vì sao của dải ngân hà) đóng đô ở Hồng Lĩnh (nay là Ngàn Hống, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh). Sau đó dời đô ra Ao Việt (Việt Trì). Bờ cõi đất nước được xác định. Phía Bắc giáp Động Đình Hồ, phía Tây giáp Ba Thục (Trung Hoa), phía Nam giáp Hồ Tôn – Quảng Nam, phía Đông giáp biển Nam Hải. Kinh Dương Vương lấy thần Long sinh ra Lạc Long Quân (tên huý là Sùng Lãm). Con cả là Hùng Quốc Vương (Hùng Đoàn) hiện đền thờ tại đền Hùng, Phú Thọ.

viet1

Hồ Động Đình ngày nay.
Hồ Động Đình ngày nay.

Theo sử sách Trung Hoa, Việt Nam: Giả thuyết được phổ biến rộng rãi nhất nói rằng người Việt Nam xưa gốc ở miền hạ lưu sông Dương Tử tới miền bắc Việt Nam gồm nhiều nhóm cư trú ở các nơi khác nhau mà gọi chung là Bách Việt. Về sau bị người Hoa Hạ tràn xuống xâm lấn lãnh thổ, các nhóm này dần dần bị đồng hóa với Người Trung Hoa. Chỉ còn nhóm Lạc Việt ở miền Bắc Việt Nam là còn tồn tại được, chính là tổ tiên của người Việt ngày nay.

Vào năm 257 TCN An Dương Vương thành lập Vương quốc Âu Lạc, tại miền Bắc Việt Nam bây giờ.

Năm 218 trước Công Nguyên, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư làm chủ tướng, chỉ huy 50 vạn quân đi bình định miền Lĩnh Nam. Khi Đồ Thư chiếm được vùng đất Lĩnh Nam (phía nam sông Dương Tử), Tần Thủy Hoàng lập nên 3 quận là Nam Hải (Quảng Đông), Quế Lâm (đông bắc Quảng Tây) và Tượng Quận (nam Quảng Tây). Đồ Thư chiếm được nhiều đất đai nhưng cuối cùng bị tử trận.

Bản đồ Lĩnh Nam.
Bản đồ Lĩnh Nam.

Tần Thủy Hoàng sai Nhâm Ngao cùng Triệu Đà đến cai trị vùng Lĩnh Nam. Nhâm Ngao làm Quận úy quận Nam Hải. Nam Hải gồm 4 huyện Bác La, Long Xuyên, Phiên Ngung và Yết Dương; trong đó huyện Long Xuyên có vị trí quan trọng nhất về địa lý và quân sự, được giao dưới quyền Triệu Đà làm Huyện Lệnh.

Năm 208 TCN, quận uý Nam Hải là Nhâm Ngao bị bệnh nặng, trước khi chết cho gọi Triệu Đà đang tạm thời làm huyện lệnh Long Xuyên đến, dặn dò đại ý rằng vùng đất Nam Hải có núi chắn, có biển kề, rất thuận lợi cho việc dựng nước và phòng thủ chống lại quân đội từ Trung Nguyên (tức khu vực trung ương Trung Hoa) đánh xuống, đồng thời chính thức bổ nhiệm Triệu Đà nối quyền cai trị quận Nam Hải.

Năm 210 Tần Thủy Hoàng qua đời, tình hình Trung Nguyên trờ thành loạn lạc

Năm 208 TCN, Triệu Đà đánh thắng Âu Lạc của An Dương Vương, sáp nhập Âu Lạc vào quận Nam Hải, lập nước Nam Việt.

Năm 207 TCN, Triệu Đà cất quân đánh chiếm quận Quế Lâm, Tượng Quận; tự xưng “Nam Việt Vũ Vương”.

Nước Nam Việt bấy giờ, bao gồm từ núi Nam Lĩnh, phía tây đến Dạ Lang, phía nam đến dãy Hoành Sơn, phía đông đến Mân Việt. Thủ đô nước Nam Việt lúc ấy là thành Phiên Ngung, là thành Quảng Châu ngày nay.

Các tài liệu nghiên cứu ngày nay cho rằng miền đất Việt Nam bây giờ nằm trong quận Tượng của nước Nam Việt thời ấy.

Bản đồ Nam Việt.
Bản đồ Nam Việt.

Sau khi nhà Hán của người Hoa Hạ được thành lập, Triệu Đà đã đứng về phía những bộ tộc Bách Việt còn lại để đối chọi với sự bành trướng xâm lăng của nhà Tây Hán. Trong khoảng thời gian một thế kỷ (207 TCN-111 TCN), tuy có vua ngoại tộc là người phương Bắc nhưng Vương quốc Nam Việt hoàn toàn độc lập, tự chủ trước đế chế Hán.

Đội quân của Hán Vũ Đế xâm chiếm nước Nam Việt sau đó và sáp nhập Nam Việt vào đế chế Hán. Người Trung Hoa muốn cai quản miền châu thổ sông Hồng để có điểm dừng cho tàu bè đang buôn bán với Đông Nam Á. Trong thế kỷ thứ 1, các tướng Lạc vẫn còn được giữ chức, Trung Hoa bắt đầu chính sách đồng hóa các lãnh thổ bằng cách tăng thuế và cải tổ luật hôn nhân để biến Việt Nam thành một xã hội phụ hệ để dễ tiếp thu quyền lực chính trị hơn. Một cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo đã nổ ra ở quận Giao Chỉ, tiếp theo sau đó là các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và các địa phương khác của vùng Lĩnh Nam (mà theo cổ sử Việt ghi nhận là có tất cả 65 thành trì) hưởng ứng trong năm 40. Sau đó nhà Hán phái tướng Mã Viện sang đàn áp cuộc khởi nghĩa này. Sau ba năm giành độc lập, cuộc khởi nghĩa bị tướng Mã Viện đàn áp. Do bị cô lập và quân đội chưa tổ chức hoàn thiện nên không đủ sức chống cự lại quân do Mã Viện chỉ huy, Hai Bà Trưng đã tuẫn tiết trên dòng sông Hát để giữ vẹn khí tiết.

Bản đồ Lãnh thổ nước Văn Lang năm 500 TCN.
Bản đồ Lãnh thổ nước Văn Lang năm 500 TCN.

Tiếp theo sau nhà Hán, các triều đại phong kiến Trung Hoa kế tiếp khác như Đông Ngô, nhà Tấn, Lưu Tống, Nam Tề, nhà Lương lần lượt thay nhau đô hộ Nam Việt, người Việt cũng đã nhiều lần nổi dậy chống lại sự cai trị của ngoại bang, tuy nhiên tất cả đều không thành công cho mục tiêu dành độc lập.

Kế tiếp nhà Tùy, nhà Đường đô hộ Việt Nam gần 300 năm. Trung Hoa đến thời Đường đạt tới cực thịnh, bành trướng ra 4 phía, phía bắc lập ra An Bắc đô hộ phủ, phía đông đánh nước Cao Ly lập ra An Đông đô hộ phủ, phía tây lập ra An Tây đô hộ phủ và phía nam lập ra An Nam đô hộ phủ, tức là lãnh thổ nước Vạn Xuân cũ.

Cuối thế kỷ 9 nhà Đường bị suy yếu trầm trọng sau cuộc nổi loạn của Hoàng Sào và các chiến tranh quân phiệt tại Trung Hoa. Tại Việt Nam, năm 905, một hào trưởng địa phương người Việt là Khúc Thừa Dụ đã chiếm giữ thủ phủ Đại La, bắt đầu thời kỳ tự chủ của tộc Việt.

Bản đồ Văn Lang và vị trí Bách Việt.
Bản đồ Văn Lang và vị trí Bách Việt.

Năm 905, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng chính quyền tự chủ của người Việt nhân khi nhà Đường suy yếu, đặt nền móng cho nền độc lập của Việt Nam.

Năm 939, Ngô Quyền xưng vương sau trận chiến lịch sử trên sông Bạch Đằng trước quân Nam Hán.

Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh xưng đế, lập nên nhà Đinh (968-980) và đặt tên nước là Đại Cồ Việt.

Năm 980, Lê Hoàn lên ngôi vua, lập nên nhà Tiền Lê (980-1009)

Năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập nên nhà Lý (1009-1225).

Năm 1054 vua Lý Thánh Tông đổi tên nước thành Đại Việt.

Đại Việt trải qua nhiều chế độ phong kiến: Nhà Trần (1226-1400), Nhà Hồ (1400-1407), Nhà Lê sơ (1428-1527), Nhà Mạc (1527-1592), Nhà Lê trung hưng (1533-1789), nhà Tây Sơn (1778-1802).

Từ thế kỷ 10 tới thế kỷ 14, các triều đại Đại Việt xây dựng cơ chế trên cơ sở Phật giáo cùng với những ảnh hưởng Nho giáo từ Trung Hoa. Tới cuối thế kỷ 14, ảnh hưởng của Phật giáo dần thu hẹp và ảnh hưởng của Nho giáo tăng lên, sự phát triển nước nhà của Nho giáo theo mô hình kiểu Trung Hoa, sang đến thế kỷ 15 thì Đại Việt có một cơ cấu chính quyền tương tự nước láng giềng Trung Hoa, cơ cấu luật pháp, hành chính, văn chương và nghệ thuật đều theo kiểu Trung Hoa.

Bản đồ các nền văn hóa ở châu Á vào khoảng 200 năm trước công nguyên, cho thấy vị trí của văn hóa Sa Huỳnh.
Bản đồ các nền văn hóa ở châu Á vào khoảng 200 năm trước công nguyên, cho thấy vị trí của văn hóa Sa Huỳnh.

Bắt nguồn từ thời kỳ Nam-Bắc triều, năm 1527, sau khi giành ngôi từ nhà Hậu Lê, Mạc Đăng Dung đã lập nên nhà Mạc. Nhà Lê trung hưng được tái lập vài năm sau đó với sự giúp đỡ của Nguyễn Kim, một tướng cũ và giành được sự kiểm soát khu vực từ Thanh Hóa vào Bình Định. Sau khi Nguyễn Kim chết, người con rể là Trịnh Kiểm đã dành quyền bính, 60 năm kế tiếp Trịnh Kiểm và các con cháu của ông đã giành được chiến thắng trước nhà Mạc vào năm 1592 và mở đầu cho thời kỳ đặc biệt trong lịch sử phong kiến Việt Nam, thời kỳ vua Lê chúa Trịnh.

Đây là thời kỳ Đại Việt chia thành hai lãnh thổ riêng biệt Đàng Ngoài và Đàng Trong giữa Chúa Nguyễn và Chúa Trịnh.

Dấu ấn về việc mở rộng đất nước trong thời kỳ phong kiến này chính sự bành trướng xuống phương Nam, cuộc Nam tiến nhằm tìm đất nông nghiệp để cung cấp lương thực cho sự gia tăng dân số của Đại Việt. Với một quân đội có tổ chức tốt hơn, từ thế kỷ 11 đến thể kỷ 15, sau các cuộc chiến tranh cũng như hôn nhân chính trị giữa Đại Việt và Chăm Pa, lãnh thổ Đại Việt đã được mở rộng thêm từ dãy Hoành Sơn (bắc Quảng Bình) tới đèo Cù Mông (bắc Phú Yên).

Vua Gia Long.
Vua Gia Long.
Vua Minh Mạng.
Vua Minh Mạng.

Từ thế kỷ 17, Đàng Trong là một lãnh thổ, chính quyền riêng biệt với Đàng Ngoài. Nhằm tiếp tục tìm kiếm thêm diện tích đất đai cho sự gia tăng dân số, cũng như tăng cường quyền lực các chúa Nguyễn đã lần lượt tiến hành các cuộc chiến tranh với Chăm Pa và sát nhập hoàn toàn phần lãnh thổ còn lại của người Chăm (từ Phú Yên tới Bình Thuận) vào năm 1693.

Tiếp đó, sau các cuộc di dân của người Việt từ Đàng Trong vào sinh sống ở vùng đất của người Khmer, các chúa Nguyễn lần lượt thiết lập chủ quyền từng phần trên vùng đất Nam Bộ, sau các cuộc chiến với vương quốc Khmer, vương quốc Ayutthaya cũng như các yếu tố chính trị khác, từ năm 1698 đến năm 1757 chính quyền Đàng Trong đã giành được hoàn toàn Miền Nam ngày nay vào sự kiểm soát của mình.

Nguyễn Phúc Ánh, với sự hậu thuẫn và cố vấn của một số người Pháp, đã đánh bại được nhà Tây Sơn vào năm 1802. Ông lên làm vua, lấy niên hiệu là Gia Long và trở thành vị vua đầu tiên cai trị một đất nước thống nhất với hai đồng bằng phì nhiêu nối với nhau bằng một dải duyên hải, năm 1804 ông cho đổi tên nước từ Đại Việt thành Việt Nam.

Vua Bảo Đại.
Vua Bảo Đại.

Gia Long (1802-1820) đóng đô ở Huế, ông cho xây dựng kinh đô Huế tương tự như Tử Cấm Thành ở Bắc Kinh (Trung Hoa). Gia Long và con trai Minh Mạng (cai trị 1820-1841) đã cố gắng xây dựng Việt Nam theo khái niệm và phương pháp hành chính Trung Hoa.

Bảo Đại Đế (chữ Hán: 保大帝; 22 tháng 10, 1913 – 31 tháng 7, 1997) là vị Hoàng đế thứ 13 và cuối cùng của triều đại nhà Nguyễn, cũng là vị Hoàng đế cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam.

Ngày 25 tháng 8, 1945, Vua Bảo Đại thoái vị chấm dứt chế độ quân chủ Việt Nam biến Việt Nam trở thành một quốc gia Cộng Hòa từ đó đến nay.

oOo

Nam Phương Hoàng Hậu.
Nam Phương Hoàng Hậu.

Dân tộc Kinh (chữ Hán: 京族, bính âm: jīngzú, Hán-Việt: Kinh tộc). Vào khoảng thế kỷ 16, một số người Việt này di cư lên phía Bắc lập nghiệp ở vùng Trường Bình – Bạch Long. Vùng đất đó bấy giờ thuộc Đại Việt nhưng theo Công ước Pháp-Thanh ký năm 1887 giữa Pháp và nhà Thanh thì Trường Bình bị sáp nhập vào nước Trung Hoa.

Thời gian trôi qua, nhóm người Việt này đã bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Tuy vậy họ vẫn nói tiếng Việt và được chính thức công nhận là một dân tộc thiểu số tại Trung Hoa. Họ sinh sống chủ yếu trên 3 đảo (Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu), nay gọi chung là Kinh Đảo hay Kinh tộc Tam Đảo, thuộc thị xã Đông Hưng, khu tự trị người Choang Quảng Tây, nhưng tiếng Việt của họ đã pha trộn nhiều với tiếng Hoa kèm với nhiều từ cổ của tiếng Việt. Về chữ viết, ngày nay họ sử dụng Hán tự. Năm 2000 ước tính có khoảng 22.000 người Kinh tại Trung Hoa.

Thiếu nữ tộc Việt/Kinh ở Tam Đảo, Trung Hoa.
Thiếu nữ tộc Việt/Kinh ở Tam Đảo, Trung Hoa.

Người Kinh Tam Đảo hay Kinh tộc Tam đảo (chữ Hán: 京族三岛, bính âm: Jīngzú Sàndăo) là tên gọi đặc trưng được dùng để chỉ cộng đồng thiểu số người Việt (người Kinh) di cư theo đường biển từ miền duyên hải của Việt Nam vào đầu thế kỷ 16 đến định cư trên ba hòn đảo (tam đảo) nhỏ là Vạn Vĩ (Wanwei), Vu Ðầu (Wutou) và Sơn Tâm (Shanxin) lúc đầu vốn là hoang đảo, ngày nay là ba thôn thuộc địa phận thị trấn Giang Bình, huyện cấp thị Đông Hưng, địa cấp thị Phòng Thành Cảng của tỉnh Quảng Tây, Trung Hoa (cách cửa khẩu Móng Cái của Việt Nam chừng 25 km).

Họ được coi là cộng đồng người Kinh chủ yếu và còn mang nhiều bản sắc văn hóa Việt Nam nhất tại Trung Hoa với tư cách là một trong 56 dân tộc của đất nước này (không bao gồm cộng đồng người Việt mang quốc tịch Việt Nam hiện đang học tập và làm việc tại đây). Tại Quảng Tây nói riêng và Trung Hoa nói chung, tên gọi “Kinh tộc Tam Đảo” có nghĩa là “Ba hòn đảo của người Kinh”, hiện vẫn được dùng tương đối phổ biến để chỉ cộng đồng người Kinh này cũng như để chỉ địa bàn sinh sống tập trung của họ tại ba hòn đảo nói trên (nay đã trở thành bán đảo do phù sa bồi lấp và nhờ chính quyền cùng nhân dân địa phương đã đắp đê, làm đường nối các đảo với đất liền).

Với lịch sử định cư trải qua hơn 500 năm, hầu hết cư dân người Kinh ở khu vực Tam Đảo (Vạn Vĩ, Vu Ðầu và Sơn Tâm) cũng như một vài nơi khác ở Quảng Tây (chủ yếu tập trung tại Đông Hưng) đều có chung nguồn gốc là người Đồ Sơn (Hải Phòng, Việt Nam), còn lại số ít người Kinh trong đó có nguồn gốc từ một vài địa phương ven biển của Việt Nam di cư đến. Theo điều tra dân số tại Trung Hoa vào năm 2000, dân số người Kinh riêng tại khu vực nói trên là khoảng hơn 18.000 người trong tổng số trên dưới 22.000 người dân tộc Kinh trên toàn lãnh thổ Trung Hoa, một con số được coi là rất khiêm tốn nếu so với nhiều dân tộc khác đang cùng sinh sống trên đất nước đông dân nhất thế giới này.

viet_VK

Việt kiều hay người Việt hải ngoại là cộng đồng Việt định cư bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. Từ điển Thiều Chửu định nghĩa chữ “kiều” (僑) là “ở nhờ, đi ở nhờ làng khác hay nước khác gọi là kiều cư, kiều dân”. Cụm từ “Việt kiều” được những người sống tại Việt Nam dùng để gọi những người Việt sống ở nước ngoài chứ không phải là thuật ngữ được chính họ sử dụng. Tại Việt Nam ngày nay, từ “kiều bào” cũng được dùng với nghĩa tương tự.

Đầu thập niên 1970 có khoảng 100.000 người Việt sống ngoài Việt Nam, chủ yếu tập trung tại các nước láng giềng (Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện, v.v.) và Pháp. Con số này tăng vọt sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 và số quốc gia có người Việt định cư cũng tăng theo; họ ra đi theo đợt di tản tháng 4 năm 1975, theo các đợt thuyền nhân và theo Chương trình Ra đi có Trật tự.

Đầu thập niên 1990 với sự sụp đổ của khối Đông Âu và Liên Xô, những người do nhà nước Việt Nam cử đi học tập, lao động không trở về nước đã góp phần vào khối người Việt định cư tại các nước này. Như vậy, ngoài Việt Nam hiện nay có khoảng 4 triệu người Việt sinh sống trên hơn 100 quốc gia ở năm châu lục, trong đó có 1,799,632 sống tại Hoa Kỳ.

viet_VK1

Người Mỹ gốc Việt (tiếng Anh: Vietnamese American) là những người định cư tại Hoa Kỳ có nguồn gốc dân tộc Việt với gần 1.8 triệu dân số họ đã chiếm trên một nửa dân số người Việt hải ngoại trên thế giới. Họ cũng là cộng đồng dân tộc gốc Á lớn thứ tư tại Hoa Kỳ, sau người Mỹ gốc Hoa, người Mỹ gốc Ấn, và người Mỹ gốc Philippines.

Người Việt di cư đến Hoa Kỳ bằng số đông kể từ sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, với những người nhập cư đầu tiên là những người tị nạn từ miền Nam Việt Nam được chính phủ Hoa Kỳ di tản. Tiếp theo là những thuyền nhân được cộng đồng quốc tế cứu vớt. Gần đây, những người Việt định cư vào Hoa Kỳ chủ yếu là để đoàn tụ gia đình. Bắt đầu từ hai bàn tay trắng, người Mỹ gốc Việt đã hòa nhập vào xã hội Hoa Kỳ và trở thành một cộng đồng dân tộc thiểu số đáng kể tại quốc gia này. Họ thường tập trung ở miền Tây-Hoa Kỳ, chủ yếu là ở các khu vực đô thị. Riêng tiểu bang California chiếm phân nửa, tập trung đông đảo nhất tại Quận Cam (Orange County), sau đó là thành phố San Jose, tiếp đến là thành phố Houston, tiểu bang Texas, vùng Metropolitan Thủ đô Washington DC là địa phận có cộng đồng người Mỹ gốc Việt đông thứ ba sau California & Texas.

Cộng đồng người Mỹ gốc Việt ở Hoa Kỳ đã đóng góp đáng kể cho quốc gia này vô số các chuyên gia nổi tiếng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: Khoa học, Y học, Luật học, Kỹ thuật, Giáo dục, Âm nhạc, Chính trường…

Nghệ sĩ Tuyết Lan, Nghệ sĩ Linh Phượng.
Nghệ sĩ Tuyết Lan, Nghệ sĩ Linh Phượng.

Những sinh hoạt cộng đồng nhằm góp phần lưu giữ gốc Việt và văn hóa Việt được tổ chức thường xuyên; như giải Phượng Hoàng được tổ chức hàng năm để tuyển lựa tài năng cổ nhạc. Và những trung tâm dạy Việt ngữ được mở ra khắp nơi. Tính đến năm 2008, chỉ riêng ở vùng Nam California, có tới hơn 80 trung tâm Việt Ngữ, đang tiếp nhận khoảng 17.000 học sinh theo học.

Sinh hoạt các tôn giáo cũng phong phú và đa dạng, nhiều chùa Phật giáo và giáo xứ Công giáo được xây dựng khắp nơi. Từ năm 1978, Đại Hội Thánh Mẫu của người Công giáo tổ chức hàng năm vào mùa hè tại Carthage, Missouri quy tụ khoảng 60 hay 70 ngàn người hành hương mỗi kỳ.

Người Việt tại Mỹ thường sống quây quần và có những sinh hoạt cộng đồng thường xuyên. Nhiều đoàn thể, hội ái hữu, hội đồng hương,…. và các tổ chức Hướng đạo Việt Nam, Gia đình Phật tử, Thiếu nhi Thánh Thể được thành lập khắp nơi.

Đón Tết Việt ở Nam California.
Đón Tết Việt ở Nam California.

Hàng năm, vào ngày Tết Nguyên Đán, đều có các cuộc diễn hành tết của cộng đồng người Việt tại khắp nơi, lớn nhất là tại San Jose do Hội Diễn hành Xuân (Vietnamese Spring Festival) tổ chức, với sự kết hợp của nhiều hội đoàn, tổ chức. Tại Garden Grove, trường Bolsa Grande High School hiện nay là địa điểm tổ chức Hội Tết Việt Nam hằng năm, với hàng trăm ngàn người tham dự, và do Tổng hội Sinh viên Việt Nam Nam Cali (UVSA) tổ chức liên tục từ năm 1982 đến nay. Từ năm 2003, Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế (Vietnamese International Film Festival – ViFF) là một đại hội điện ảnh diễn ra hai năm một lần tại Đại học California tại Irvine và nhiều địa điểm quanh vùng Little Saigon của Quận Cam.

Ngoài ra cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ thường xuyên tích cực tham gia đóng góp trong công cuộc lưu giữ, truyền bá dân ca dân nhạc truyền thống bản sắc dân tộc Việt trong những chương trình sinh hoạt văn hóa cộng đồng Việt và với cộng đồng người bản xứ qua sự điều phối của hai tổ chức phi lợi nhuận: “Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt” trụ sở chính ở thành phố San Jose, bang California do đôi uyên ương nghệ sĩ Nga Mi & Trần Lãng Minh sáng lập, và “Nhà Việt Nam” trụ sở chính ở thành phố Tampa, bang Florida do ông bà Nguyễn Phúc Vĩnh Lữ sáng lập.

“Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt” chuyên phụ trách hướng dẫn dàn dựng các bộ môn dân ca dân nhạc truyền thống VN trong các chương trình “Dân Ca Dân Nhạc” cho cộng đồng. Riêng “Nhà Việt Nam” thì chuyên phụ trách tổ chức các lớp dạy tiếng Việt, tham gia điều phối các chương trình lễ hội văn hóa truyền thống hàng năm tại “Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế” cùng với hơn 50 dân tộc cộng đồng bạn.

Lewisham tại London là nơi có cộng đồng người Việt tại Anh lớn nhất.
Lewisham tại London là nơi có cộng đồng người Việt tại Anh lớn nhất.

Người Việt tại Anh là một bộ phận cấu thành nên cộng đồng Việt kiều ở nước ngoài. Người Anh gốc Việt (tiếng Anh: Vietnamese British people, British Vietnamese hoặc Vietnamese Britons) là những người Việt nhập cư vào Anh, họ có thể là công dân hoặc không phải công dân Anh.

Người Việt bắt đầu di cư tới Anh sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975 và Anh Quốc cho phép người tị nạnđến từ Hồng Kông (từng là thuộc địa của Anh) đến định cư. Phần lớn những người nhập cư sớm nhất là thuyền nhân trong biến cố 30/4/1975, phần còn lại là các sinh viên, học giả và doanh nhân. Những người Việt tị nạn mới đầu cảm thấy khá khó để thích nghi với lối sống Anh, bởi vì trước đây, cộng đồng người Anh gốc Việt không nhiều và những người mới di cư đến cảm thấy nơi đây khó để hòa nhập hơn là những nước có đông cộng đồng người Việt như Pháp hay Hoa Kỳ.

Dân số người Việt tại quốc gia Anh khoảng trên 55.000 người.

Canadian Parliament building in Canada's capital.
Canadian Parliament building in Canada’s capital.

Người Canadian gốc Việt (tiếng Anh: Vietnamese Canadian) là những người sinh sống tại Canada có nguồn gốc dân tộc Việt. Người Việt tại Canada là một trong những cộng đồng dân tộc có nguồn gốc khác châu Âu lớn nhất tại Canada. Những người Việt đầu tiên tại Canada là sinh viên học sinh du học từ miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Nhiều người Việt bắt đầu di cư đến Canada sau sự kiện 30 tháng 4, 1975, với hàng nghìn người tị nạn từ miền Nam Việt Nam. Từ con số 1.500 người vào cuối năm 1974, cộng đồng người Việt tại Canada đã tăng trưởng mạnh và đã lên đến 180.000 người vào năm 2006.

Hầu hết những người Canada gốc Việt tự xem mình là người Canada và người Việt, hay là người Canada có nguồn gốc từ Việt Nam. Năm 2002, 65% người Canada gốc Việt cho biết họ cảm thấy gắn bó với Canada, trong khi chỉ 43% cho rằng họ cảm thấy gắn bó với nhóm người cùng văn hóa hay chủng tộc với họ.

Nhiều nhạc sĩ, họa sĩ, và văn sĩ gốc Việt sống tại Canada. Các tác phẩm của họ nói về cuộc sống hiện đại trong bối cảnh xa quê hương. Các ca sĩ và nhạc sĩ người Canada gốc Việt thường biểu diễn tại các hội chợ và các buổi tiệc. Các nghệ sĩ hải ngoại khác, đặc biệt là từ California, cũng được mời biểu diễn tại Canada. Hàng trăm băng đĩa hải ngoại, thường được sản xuất tại Hoa Kỳ hay Pháp, được bày bán tại các tiệm sách và băng nhạc. Canada có ba tới bốn nhà xuất bản Việt ngữ và khoảng 30 báo và tạp chí.

Ngoài những nhân vật văn nghệ sĩ thường xuất hiện trước công chúng, cộng đồng người Việt tại Canada còn phải kể những nhà trí thức như giáo sư Nguyễn Ngọc Định, khoa trưởng Giáo dục Hậu đại học thuộc Viện Đại học Laval (l’Universite Laval, Quebec). Chính ông cùng cộng đồng đã vận động chính quyền địa phương vào năm 2000 để dựng tượng đài Nguyễn Trãi ở Québec.

Một đóng góp đáng kể về mặt văn hóa đối với cộng đồng là việc xây dựng Viện Bảo tàng Thuyền nhân người Việt (Vietnamese Boat People Museum) ở thủ đô Ottawa góc đường Preston và Somerset do Liên hội người Việt Canada xúc tiến. Việc khởi công bắt đầu vào mùa hè năm 2010. Cơ sở này sẽ là nơi lưu trữ những dữ kiện và hiện vật liên quan đến người tỵ nạn Việt Nam

Người gốc Việt cũng đã đóng góp cho nền văn hóa Canada như trong lãnh vực văn học. Tác giả Kim Thúy với cuốn tiểu thuyết Ru nguyên tác bằng tiếng Pháp đã đoạt giải Governor General’s Award 2010. Tác phẩm này sau được dịch sang tiếng Anh (2012) và được xuất bản ở 20 quốc gia trên thế giới. Nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn cũng có cuốn Ý trời (The Will Of Heaven) được dịch ra tiếng Anh.

Vào đầu thế kỷ 21 Canada có khoảng 40 ngôi chùa người Việt, trong đó có 8 ở Montreal, 7 ở Toronto, và 4 ở Vancouver.

viet_australia

Theo cuộc thống kê toàn quốc năm 2001, dân số Úc có 154.807 người sinh tại Việt Nam và 174.246 người dùng tiếng Việt trong các hoạt động trong gia đình. Nếu kể cả những con em gốc Việt sinh tại Úc, con số người gốc Việt lên đến 245 ngàn người. Vì lý do ngôn ngữ, liên hệ gia đình, việc làm và nhất là do tình đồng hương, đa số người Việt sống quây quần với nhau và thường tập trung tại các thành phố lớn như Sydney, Melbourne.

Cộng đồng người Việt tại Úc là một cộng đồng non trẻ, vì mới thành lập và có tuổi bình quân là trẻ. Người Việt tại Úc thường sống rất đoàn kết, và thường xuyên có những sinh hoạt cộng đồng duy trì một số sinh hoạt văn hóa như việc dựng Đền thờ Quốc tổ ở Melbourne, kỷ niệm giỗ đức Thánh Trần, mở trường dạy tiếng Việt, cùng chùa chiền, nhà thờ cũng như triển lãm những thư tịch và hình ảnh của Văn khố Thuyền nhân. Ở Footscray (Melbourne, Victoria) và Brisbane, Queensland đều có đài kỷ niệm Thuyền nhân Việt Nam.

Hàng năm, vào ngày Tết Nguyên Đán, đều có các cuộc diễn hành Tết và Hội Tết của cộng đồng người Việt tại khắp nơi, mang đậm bản sắc văn hóa Việt, như tại Sydney, Melbourne với hàng trăm ngàn người tham dự.

viet_effel

Người Pháp gốc Việt là nhóm người có tổ tiên xuất xứ từ Việt Nam nhưng sau định cư ở Pháp. Đây là một trong những cộng đồng người Việt hải ngoại lớn nhất thế giới. Vì Chính phủ Pháp không làm thống kê với dữ liệu về chủng tộc của công dân Pháp nên không có con số nào chính xác để biết về số người Pháp gốc Việt. Số người Việt tại Pháp được ước tính từ khoảng 200.000 đến 250.000 người (2002). Con số này tăng thành khoảng 300.000 vào năm 2013.

Hệ thống giáo dục tại Pháp, khác với Canada và các quốc gia châu Âu khác, không chủ trương xây dựng một xã hội đa văn hóa. Vì thế, mặc dù người Pháp gốc Việt thuộc thế hệ thứ nhất cố gắng giữ gìn văn hóa Việt Nam và sử dụng tiếng Việt trong cộng đồng, những người thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba sinh ra và lớn lên tại Pháp biết rất ít về quốc gia và văn hóa của tổ tiên họ. Về ngôn ngữ họ cũng không sử dụng tiếng Việt.

Trong một cuộc thăm dò ý kiến vào thập niên 1990, 41% người trẻ từ 11 đến 30 tuổi nói rằng họ được gia đình dưỡng dục theo truyền thống Phật giáo, và 28% nói rằng họ được dạy dỗ theo truyền thống Công giáo.

Những ngày lễ văn hóa được cộng đồng người Pháp gốc Việt duy trì gồm có Tết Nguyên Đán, Vu Lan, và Tết Trung Thu.

viet_germany

Người Việt tại Đức là nhóm người ngoại quốc gốc Á lớn nhất tại quốc gia này, theo Văn phòng Thống kê Liên bang có 83.446 người có quốc tịch Việt Nam đang sinh sống tại Đức tính đến cuối năm 2005. Không được tính trong các con số đó là những người Việt đã nhập quốc tịch Đức. Giữa những năm 1981 và 2007, 41.499 người đã từ bỏ quốc tịch Việt Nam để lấy quốc tịch Đức.Thêm vào đó, khoảng 40.000 người di cư gốc Việt không chính thức cũng hiện đang sinh sống tại Đức, chủ yếu tại các bang ở miền Đông.

Phần đông người Việt nhập cư tại Đức trên danh nghĩa là tín đồ Phật giáo. Những ngôi chùa kiểu Việt được xây dựng là một trong những dấu tích đáng chú ý nhất cho sự hiện diện của người Việt tại nước này, trong đó đáng kể nhất là chùa Viên Giác ở Hannover, Niedersachsen, chùa Phật giáo lớn nhất ở châu Âu.

Những người Công giáo tạo thành một cộng đồng nhỏ hơn; tính đến tháng 5 năm 1999, có 12.000 người Công giáo gốc Việt tại Đức, theo thống kê của Hội đồng Giám mục Đức. Mỗi năm, cứ vào dịp Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống (khoảng tháng 6), người Công giáo Việt tại Đức lại tổ chức một đại hội thường niên tại Aschaffenburg gần Frankfurt am Main, đến nay đã hơn 35 năm.

viet_russia

Người Việt tại Liên bang Nga là cộng đồng dân tộc thiểu số lớn thứ 72 ở Nga (theo cuộc điều tra dân số 2002). Với chỉ 26.205 người, họ là một trong số các cộng đồng người Việt ở nước ngoài có quy mô nhỏ nhất. Tuy nhiên theo các ước tính không chính thức, con số đó có thể lên tới 100.000 đến 150.000 người. Khoảng hai phần ba số Việt kiều sống ở Moskva, chủ yếu ở phía nam thanh phố, gần ga tàu điện ngầm Akademicheskaya.

Phần lớn người Việt ở Nga là các tiểu thương bán lẻ; với việc Nga cải cách luật bán lẻ năm 2007, áp đặt những hạn chế về số lượng các cửa hàng của người nhập cư và yêu cầu mọi người phải vượt qua các cuộc kiểm tra trình độ tiếng Nga mới được đi làm và có giấy phép kinh doanh; vì thế nhiều người Việt đã phải ngừng công việc kinh doanh của họ và tìm nghề khác để sống, có khi là làm công nhân phổ thông.

Các sinh viên cũng là một nhóm cộng đồng quan trọng. có tổng cộng khoảng 50.000 sinh viên Việt Nam học tập ở Nga trong suốt thời kì chiến tranh Lạnh. Việc trao đổi giáo dục giữa hai nước vẫn tiếp tục sau khi Liên Xô và khối Đông Âu sụp đổ; vào năm 2006, có khoảng 4000 sinh viên Việt Nam theo học tại các trường đại học của Nga; trong số đó có 160 người nhận được học bổng của chính phủ Nga.

viet_sec

Người Việt tại Séc là một cộng đồng dân tộc thiểu số hiện đang sinh sống tại Cộng hòa Séc. Hiện nay (năm 2013), có khoảng 65.000 người Việt Nam đang sinh sống hợp pháp tại quốc gia Trung Âu này.

Theo điều tra dân số năm 2001, số người có quốc tịch Việt Nam tại Cộng hòa Séc là 18.200. Con số này đã tăng lên thành 53.110 vào năm 2011, trở thành số người ngoại quốc đứng thứ ba tại nước này, chỉ sau Ukraina và Slovakia. Cộng đồng người gốc Á lớn nhất tại Cộng hòa Séc là người Việt Nam. Người Việt Nam đến Tiệp Khắc lần đầu vào năm 1956 để du học theo thỏa thuận về giáo dục giữa hai chính phủ cộng sản lúc bấy giờ. Số người Việt Nam nhập cư vào Cộng hòa Séc tăng nhanh cho đến khi chế độ xã hội chủ nghĩa tại nước này sụp đổ vào năm 1989. Thế hệ đầu tiên của người Việt Nam tại đây chủ yếu kinh doanh trong những cửa hàng nhỏ, còn thế hệ người Việt tiếp theo sinh ra tại Séc nổi tiếng với thành tích học tập rất tốt.

Với quy chế là một dân tộc thiểu số, cộng đồng người Việt tại Séc sẽ có điều kiện và được hỗ trợ kinh phí từ ngân sách để phát triển về văn hóa, truyền thống và đặc biệt là ngôn ngữ của dân tộc mình. Tại các địa phương có nhiều người Việt Nam sinh sống, trẻ em có thể được học kiến thức bằng tiếng Việt.

Quy chế này cũng đảm bảo cho người Việt Nam quyền sử dụng tiếng Việt tại công sở cũng như tòa án. Ngoài ra, cộng đồng người Việt Nam tại Séc có thể thành lập chương trình phát thanh và truyền hình bằng tiếng Việt. Cộng đồng người Việt tại Séc là dân tộc thứ 14 tại Séc.

viet_senegal

Người ViệtSenegal bao gồm cả các chuyên gia và người lao động đến từ Việt Nam cũng như con cháu của những di dân từ thế kỷ 20. Ước tính có tổng cộng hàng trăm người sống ở Senegal và có vài nhà hàng người Việt ở thủ đô Dakar.

Đều từng là thuộc địa của Pháp, Việt Nam và Senegal đã có một lịch sử dài giao lưu văn hóa. Bắt đầu từ thập niên 1930, nhiều người Senegal tới Việt Nam để phục vụ cho Quân đội Pháp. Một số người đã kết hôn và có con với phụ nữ Việt Nam. Tuy nhiên vào thập niên 1940 nhiều bất ổn, cùng với Thế chiến thứ hai và chiến tranh Đông Dương, nhiều phụ nữ Việt Nam lấy người Senegal đã theo chồng đến Senegal. Vào năm 2007, Jean Gomis, một “nhà lãnh đạo cộng đồng không chính thức” mang dòng máu Việt, đã ước tính có ít hơn 5 người phụ nữ như thế còn sống và có hơn 300 người là hậu duệ người Việt sống rải rác khắp Senegal. Những người này còn biết một ít tiếng Việt và vẫn nấu các món ăn Việt Nam. Tuy nhiên Gomis cho rằng trong vòng 10 năm nữa tiếng Việt sẽ bị lãng quên trong cộng đồng người Việt ở Senegal.

Vào thập niên 1990, những chuyên gia nông nghiệp người Việt đã đến Senegal dưới sự bảo trợ của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc, thông qua một sáng kiến thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia đang phát triển. Vào năm 2001, số chuyên gia đã tăng từ 40 lên đến 100 người. Phần lớn các chuyên gia đến Senegal trong thời hạn 2 năm, phần lớn không có vợ hoặc chồng đi cùng và sống trong những khu nhà tập thể với những người Việt Nam khác. Họ có nhiệm vụ thúc đẩy nền kĩ thuật và công nghệ còn yếu kém của Senegal phù hợp với sự phát triển kinh tế nước này; ví dụ, những thợ nuôi ong người Việt giới thiệu cho các nông dân Senegal máy triết mật ong ly tâm điều khiển bằng tay và tổ ong bê tông theo kiểu Việt Nam. Những người khác cố gắng làm cho người Senegal biết đến nước mắm Việt Nam. Mặc dù vậy, nước mắm chỉ được sản xuất và sử dụng trong các nhà hàng Việt Nam ở Dakar, các chuyên gia người Việt ở thị trấn ven biển M’Bour đã dạy những nhóm phụ nữ công đoạn chuẩn bị và đã sản xuất được khoảng 20 thùng nước mắm. Phần lớn các chuyên gia chỉ nói tiếng Việt, mặc dù họ có thể học một số từ vựng tiếng Wolof liên quan đến nông nghiệp trong thời gian họ ở đây.

viet_japan

Người Việt tại Nhật Bản, (tiếng Nhật: 在日ベトナム人 Zainichi Betonamujin; âm Hán Việt: tại Nhật Việt Nam nhân) theo số liệu của Bộ Tư pháp Nhật Bản, là cộng đồng người nước ngoài lớn thứ tám tại Nhật Bản vào năm 2004, đứng trên người Indonesia và sau người Thái. Phần lớn trong số 26.018 người Việt cư trú hợp pháp sống tại vùng Kantō(13.164 người, chiếm 50,6% tổng số người Việt) và vùng Keihanshin (5.289 người, chiếm 20% tổng số) bao gồm các phủ Kyoto, Osaka, Kobe.

Vào đầu thế kỷ 20 khi người Pháp đang đô hộ Đông Dương, nhiều sinh viên người Việt đã tìm sang Nhật Bản theo Phong trào Đông Du của hoàng thân lưu vongCường Để và Phan Bội Châu. Đến năm 1908 thì có khoảng hai trăm sinh viên Việt Nam ghi danh theo học tại các trường đại học của Nhật. Một số nhỏ sau đó định cư ở lại Nhật, tạo nên hạt mầm của cộng đồng người gốc Việt tuy lúc ấy rất khiêm nhường.

Mãi đến thập niên 1970 sau chiến tranh Việt Nam con số người Việt sang Nhật mới tăng mạnh với làn sóng người tị nạn được Nhật Bản đón nhận; nhóm người này chiếm 70% tổng số Việt kiều ở Nhật vào đầu thế kỷ 21. Việc nhận dân tỵ nạn nước ngoài vào Nhật cũng đánh dấu một thời kỳ mới cho Nhật Bản kể từ sau Thế chiến thứ hai. Trước thập niên 1970, Nhật duy trì chính sách hạn chế người nhập cư để bảo vệ tính thuần chủng của người Nhật nhưng lệ này được nới lỏng kể từ đó trở đi.

Người tỵ nạn Việt Nam phần lớn định cư tại phủ Kanagawa và Hyōgo nới có trại tạm cư ban đầu. Khi họ rời trại thì người Việt thường tìm đến khu vực đông người Nhật gốc Hàn sinh sống (Zainichi Korean). Dù vậy họ vẫn mấy thông cảm với người gốc Hàn vì người Hàn đã hội nhập sâu rộng vào xã hội Nhật trong khi người Việt vẫn là cộng đồng non trẻ mới nhập cư.

Phần lớn người gốc Việt giữ nguyên tên tiếng Việt thay vì lấy tên tiếng Nhật. Cho dù có lấy tên Nhật vì nhu cầu mưu sinh, họ vẫn cho là bị đối xử khác biệt vì dùng tên “katakana”. Giáo hội Công giáo Rôma đóng một vai trò quan trọng trong cộng đồng người Việt ở Nhật.

viet_korea

Người Việt tại Triều Tiên có một lịch sử từ cuối thời nhà Lý khi nhiều hoàng tử của nhà Lý đã chạy qua Cao Ly để tỵ nạn ở triều đình của vương quốc Goryeo sau khi nhà Trần lên nắm quyền. Sau khi Triều Tiên bị chia làm hai quốc giaBắc Triều Tiên và Hàn Quốc, người Việt tại đây tiếp tục sống ở cả hai quốc gia. Hiện tại người Việt ở Hàn Quốc có vào khoảng 120 ngàn người.

Một trong những người Việt đến Cao Ly sớm nhất là Lý Dương Côn (李陽焜), một con nuôi của Lý Nhân Tông sau một vụ khủng hoảng kế vị, ông đã chạy qua Goryeo. Tại Triều Tiên hiện nay, ông được mọi người xem là người sáng lập ra Jeongseon-gun, Gangwon-do bon-gwan của họ Lý. Sau này, một hoàng tử khác của nhà Lý là Lý Long Tường (con trai thứ 7 của Lý Anh Tông), đã chạy qua tỵ nạn ở Goryeo năm 1226, sau khi nhà Trần chiếm ngôi nhà Lý.

Người Việt di cư sang Hàn Quốc sau này nhưng đã tăng về số lượng, họ gồm công nhân, phụ nữ lấy chồng Hàn thông qua các đơn vị môi giới hôn nhân.[5] Năm 1994, có 20.493 người lao động nhập cư từ Việt Nam đến Hàn Quốc bằng hộ chiếu tu nghiệp sinh, đến năm 1997,con số này đã tăng 10% lên 22.325 người.

viet_thailand

Việc người Việt di cư sang Thái Lan diễn ra qua mấy giai đoạn lịch sử, phản ảnh tình hình chính trị và xã hội dao động tại Việt Nam. Có tài liệu đặt mốc năm 1548 thời kỳ Vương quốc Ayutthaya là thời điểm đầu vì sử sách Thái đã nhắc đến Wat Khun Yuan của người Việt nhân khi nhà vua cho đào con kênh ở ngoài thành. Triều vua Narai tức Somdet Phra Ramathibodi III (trị vì 1656-1688) thì sứ thần Pháp là Simon de la Loubrère khi sang Xiêm cũng đã ghi nhận sự hiện diện của người Việt từ Đàng Trong cư ngụ ở ngoài thành Ayuthaya như trong tấm bản đồ vẽ năm 1691. Khu vực phía tây thành mang tên “Ban Plahet” được ghi là khu đông người Việt, phần lớn là giáo dân Công giáo, có cả chủng viện của người Pháp.

Đến thời Tây Sơn thì chứng tích người Việt sang Xiêm đã rõ; đa số là để tránh loạn lạc chinh chiến. Sang thời nhà Nguyễn một số khác theo đạo Công giáo bỏ sang Thái Lan vì chính sách cấm đạo của triều đình. Trong mấy đợt chiến tranh Việt Xiêm trên đất Cao Miên dưới hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị lại có thêm một số người Việt bị bắt làm tù binh giải về Xiêm. Mấy nhóm này thường gọi là “người Việt cũ”. Tính đến thập niên 1970 với khoảng 20.000 người thì đã có đến bảy thế hệ người Việt sinh sống trên lãnh thổ Thái là hậu duệ của mấy đợt di cư này, đa số đã hòa nhập toàn phần vào xã hội Thái, không khác người bản địa là mấy.

Đợt di dân đáng kể lúc đầu là khoảng năm 1780, trong số đó có Nguyễn Phúc Ánh cùng gia thần trốn sang Vọng Các (Bangkok กรุงเทพมหานคร) để tránh cuộc truy đuổi của quân Tây Sơn. Năm 1787 thì tướng nhà Nguyễn là Nguyễn Huỳnh Đức bị quân Tây Sơn đánh bại, phải dẫn tàn quân khoảng 5000 người trốn theo đường thượng đạo qua Lào để đến đất Thái. Khi Nguyễn Ánh trở về thì vua Xiêm ép các di thần nhà Nguyễn phải ở lại. Đó là hạt mầm của cộng đồng người Việt tại Thái Lan sau này; các sử gia ước tính khoảng hơn 3000 người gồm binh lính và giáo dân đã ở lại Xiêm khi Nguyễn Ánh trở về tái chiếm Gia Định. Xiêm triều cho họ ngụ ở Bangpho (บางโพ) phía bắc Vọng Các và bổ Thông Dung Gian và Ho Dương Dac làm chánh suất đội để cai quản họ theo lệ kiểm soát ngoại kiều, tương tự như cách nhà Nguyễn bổ nhiệm bang trưởng cai quản các bang Hoa kiều.

Ngôi chùa Wat Annamnikayaram (วัดอนัมนิกายาราม) ở Bangpho là do cộng đồng người Việt lập nên từ thời kỳ đó. Tập trung ở vùng Vọng Các, nhóm di dân này đa số là nam giới nên họ lấy vợ bản xứ người Thái hoặc người Hoa, hậu duệ thường không nói được tiếng Việt mà chỉ biết mù mờ là họ gốc gác người Việt mà thôi. Những ngôi chùa của người Việt sau đó cũng được triều đình Thái sắc phong, công nhận phái tu Đại Thừa của người Việt là An Nam tông (tiếng Thái: Annamnikaya อนัมนิกายา).

Khu phố Việt ở Bangkok tập trung ở đường Mitrakham (ซอยมิตรคาม), khu Samsen (เข็ตสามเสน), gần Thư viện Quốc gia Thái Lan. Khu phố này còn có ngôi nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê do giáo dân gốc Việt lập nên từ năm 1851.

viet_combodia

Người Cambodian gốc Việt (tiếng Khmer: Yuon) là nhóm người sinh sống tại Campuchia nhưng về mặt huyết thống, xuất phát từ Việt Nam.

Thư tịch cổ ghi rằng người Việt và người Khmer đã có tiếp xúc từ thế kỷ 13. Sau khi Champa bị Đại Việt thôn tính thì dân Việt tiến vào đến đồng bằng sông Cửu Long thuộc Thủy Chân Lạp. Từ khoảng giữa thế kỷ 17 trở đi Chân Lạp suy yếu vì nội chiến và xâm lược của Xiêm, các chúa Nguyễn đã dùng nhiều cách như hôn nhân chính trị, áp lực ngoại giao cùng thế mạnh quân sự, để dần sáp nhập vùng đồng bằng sông Cửu Long vào xứ Đàng Trong, đặt ra phủ Gia Định. Cùng lúc đó, đội quân của chúa Nguyễn cũng đụng độ với quân Xiêm để tranh giành ảnh hưởng lên đất Chân Lạp.

Sang thế kỷ 19, nhà Nguyễn dưới triều vua Thánh Tổ đã sáp nhập toàn lãnh thổ Campuchia, gọi là Trấn Tây Thành vào Đại Nam. Mọi thể chế từ việc cai trị đến phong tục đều có lệnh thay đổi hầu đồng hóa nước Campuchia. Trong triều thì vương tôn sĩ thứ Campuchia phải cải trang theo người Việt. Đối với dân chúng Miên thì không những nền độc lập chính trị của Campuchia bị đe dọa mà cả sự tồn vong của dân tộc Campuchia bị lâm nguy nên dân Miên nổi lên chống lại, lại có thêm triều đình Xiêm hậu thuẫn nên quan quân nhà Nguyễn phải rút khỏi Campuchia sau mấy năm chinh chiến, bỏ phép trực trị mà chấp nhận lệ triều cống như cũ.

Đến giữa thế kỷ 19 thì Pháp xâm lăng rồi chiếm đất Nam Kỳ. Người Pháp sau đó thuyết phục Miên vương chấp nhận chế độ bảo hộ của Pháp trên đất nước Campuchia. Dù vậy, ảnh hưởng của người Việt ở Campuchia thay vì thuyên giảm dưới sự can thiệp của Pháp, lại càng tăng khi chính quyền bảo hộ thường tuyển mộ dùng người Việt, một số theo Công giáo, làm nhân sự cho guồng máy cai trị. Người Pháp cũng đưa công nhân người Việt sang làm phu đồn điền cao su ở Campuchia.

Năm 1874 khi người Pháp mở cuộc điều tra dân số tại campuchia thì có 4.452 người Việt trên tổng số 746.424 dân cư. Đến năm 1911 thì có 79.050 và năm 1921 thì tăng lên là 140.225 người gốc Việt. Riêng tại thủ đo Nam Vang thì có 18.990 người gốc Việt, chiếm 61% dân số thủ đô. Sang năm 1936 chính phủ bảo hộ ghi nhận có 191.000 người Việt sinh sống trên đất Campuchia.

Hai ngôn ngữ Việt và Khmer đều thuộc ngữ tộc Môn-Khmer. Dù vậy dân gốc Việt không hội nhập hài hòa như người Chăm hay người Hoa, phần vì khác biệt văn hóa giữa 2 dân tộc. Ngày nay, vì tỉ lệ thất nghiệp cao ở Việt Nam mà nhiều người Việt sang Campuchia tìm kiếm việc làm, trong khi nhiều người khác tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn dù chỉ một số ít đạt được ý muốn. Sau 10 năm Việt Nam đóng quân trên đất Campuchia, nhiều người Campuchia có thái độ nghi ngờ và căm ghét người Việt. Hôn nhân giữa người Việt và người Khmer cũng ít diễn ra so với giữa người Khmer và người Hoa. Mặc dù sống rải rác khắp Campuchia, người Việt cũng tập trung đông đúc tại các trung tâm đô thị; số khác tham gia làm nông nghiệp hoặc nghề chài lưới truyền thống, họ sống trong những làng nổi. Người Việt Nam ăn Tết Nguyên Đán vào khoảng tháng Giêng hay tháng hai, đây cũng là một trong những ngày lễ quan trọng nhất ở Campuchia.

viet_VN girl

Dân số tộc Việt tại Việt Nam năm 2012 là 88,78 triệu người, dự kiến dân số năm 2015 sẽ là 91,3 triệu người.

Theo truyền thống ngàn đời thì người Việt/Kinh sống theo làng. Nhiều làng họp lại thì thành một xã. Mỗi làng có thể có nhiều xóm. Nếu tính ra một thôn của miền Bắc thì bằng với một ấp của miền Nam. Trong các làng và xã đều có luật lệ riêng mà mọi người đều phải thi hành. Các làng miền Bắc thường được che chắn bằng cách trồng tre hoặc xây cổng kiên cố. Mỗi làng đều có nơi hội tụ và thờ lạy chung. Một số làng có đình thờ thành hoàng làng, là người được coi là thần bảo hộ của làng. Vào thời xưa thì phụ nữ bị cấm không được đến đình làng.

Có thể nói nền kinh tế mạnh nhất của tộc này là nền nông nghiệp lúa nước. Nền văn minh lúa nước đã được khai sinh từ rất ngàn đời xưa và đạt được trình độ nhất định. Nền nông nghiệp phát triển cũng nhờ một phần vào sự đào đê, đào nương. Ngoài nghề nông nghiệp, người Việt/Kinh cũng làm một số các nghề khác ví dụ như chăn nuôi gia súc, làm đồ thủ công… Là những nghề đòi hỏi sự khéo léo cao!

Phong cách và hình dạng nhà cửa của họ tùy theo từng vùng và miền tại Việt Nam. Chủ yếu là nhà được xây dựng bằng những vật liệu sẵn có như cỏ khô, rơm rạ, tre nứa. Nhà điển hình là nhà lá 3 gian hoặc 5 gian. Tuy nhiên do điều kiện thời tiết khí hậu nên nhà cửa ở miền Trung và miền Nam có chút ít khác biệt nhưng nhìn chung vẫn là kết cấu nhà 5 gian. Hiện nay, do nhiều nguyên nhân nên nhà ở đã có sự thay đổi cả về kết cấu và vật liệu xây dựng. Hầu như nhà nào cũng có phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn và nhà bếp (đôi khi phòng ăn và nhà bếp là một).

viet_family1

Theo truyền thống thì người đàn ông là trụ cột gia đình. Các đứa con đều lấy họ cha và được coi là nối nghiệp tông đường. Dòng họ của cha là “họ nội” còn dòng họ bên mẹ là “họ ngoại”. Đứa con trai đầu thường là người giao cho trọng trách nhiều nhất trong gia đình. Mỗi họ đều có chỗ thờ họ và người trưởng họ sẽ lo việc chung. Cháu trai của đời con trai đầu được gọi là “cháu đích tôn”. Hôn nhân chỉ được chấp nhận dưới dạng một chồng một vợ. Việc cưới xin thì thường phải đi qua các nghi thức truyền thống của người Việt/Kinh. Người Việt/Kinh coi trong sự trinh trắng và đức hạnh của người con gái và còn quan tâm đến gia thế của họ.

Trang phục tộc Việt/Kinh đa dạng và muôn màu qua khăn áo, váy, quần, khố, mũ, nón, trang sức… Dù ở Bắc, Trung hay Nam đều có cách mặc gần giống nhau. Các loại quần áo như áo ngắn mặc với quần lá tọa ống rộng, quần có cạp hoặc dùng dây rút. Thời xưa thì đàn ông để tóc dài, búi tó, hoặc thắt khăn đầu rìu,… Vào các lễ hội đặc biệt thì mặc áo dài khăn đống, mùa áo đơn giản không có văn hoa. Chân đi guốc mộc. Thời nay phần đông phái nam thường mặc những bộ âu phục cùng với áo sơ mi và thắt cà vạt cho những sinh hoạt mang tính chất cộng đồng xã hội.

Thời xưa phụ nữ tộc Việt/Kinh ai cũng mặc yếm. Váy thì váy dài với dây thắt lưng. Các loại nón thông thường như thúng, ba tầm… Trong những ngày hội thì người phụ nữ thường mặc áo dài. Các thiếu nữ thì hay làm búi tóc đuôi gà. Các đồ trang sức truyền thống như trâm, vòng cổ, hoa tai, nhẫn, vòng tay mang phong cách tùy theo từng vùng. Phụ nữ miền Nam vùng thôn quê thường mặc áo bà ba với các kiểu cổ như tròn, trái tim, bà lai với các khăn trùm đầu trong sinh hoạt thường ngày và mặc áo dài trong những dịp quan trọng. Nón lá có thể nói là nón được sử dụng rộng rãi nhất cho phụ nữ thời xưa do nó có thể tự làm và che nắng rất tốt.

Trang phục truyền thống trong đám cưới của người Việt.
Trang phục truyền thống trong đám cưới của người Việt.

Những đánh giá về người Việt Nam hiện đại (thế kỷ 20-21) đã được một số học giả trong và ngoài nước đưa ra trong các tác phẩm báo chí, tác phẩm văn học, các tiểu luận hay các công trình nghiên cứu xã hội học và dân tộc học. Các đánh giá này được nêu tại những thời điểm lịch sử khác nhau, trong đó có một phần đáng kể về vai trò và tính hai mặt, ưu và nhược điểm trong tư duy, tính cách, tâm lý và tập quán người Việt trong tiến trình phát triển của dân tộc.

Các tổng kết dựa trên các nghiên cứu còn một số khác là nhận định cá nhân hay suy diễn logic của các học giả nổi tiếng. Tính hai mặt của người Việt Nam đã được đa số các học giả thừa nhận và khẳng định trong các công trình nghiên cứu về tâm lý, văn hóa, xã hội và lịch sử dân tộc. Những đặc điểm phổ biến trong tư duy, tính cách, tâm lý và tập quán của người Việt mà các tác giả đã chỉ ra cũng không bất biến mà thay đổi theo sự thay đổi của những điều kiện xã hội cùng với sự giao lưu kinh tế, văn hóa, tư tưởng, học thuật với thế giới.

Khoảng sau Công nguyên, người Kinh bị Bắc thuộc nên đã dùng chữ Hán nhưng sau này tự tạo chữ viết riêng là chữ Nôm. Tuy nhiên chữ Hán vẫn là ngôn ngữ chính thức được dùng trong hành chính và giáo dục.

Cha Đắc Lộ.
Giáo sĩ Alexandre de Rhodes.
Giáo sĩ Francisco de Pina.
Giáo sĩ Francisco de Pina.

Từ khoảng thế kỷ thứ 16 các giáo sĩ truyền giáo đến từ phương Tây thấy cần dùng chữ cái Latin để ký âm tiếng Việt. Từ đó xuất hiện chữ Quốc Ngữ được sử dụng rộng rãi ngày nay. Năm 1945, 95% dân số Việt Nam mù chữ nhưng đến năm 2010 tỷ lệ biết chữ ở người lớn là 97,3%. Tuy nhiên tỷ lệ đọc sách của người Việt khá thấp ở mức 0,8 cuốn sách/người/năm. Với mức này, có thể nói người Việt chưa có được văn hóa đọc.

Ngoài các giá trị vật chất, người Việt còn có những giá trị tâm linh như việc thờ cúng tổ tiên, thần hoàng, giỗ, và các lễ hội như Tết. Các tôn giáo phổ biến như Phật giáo, Công giáo Rôma…

Văn học của tộc Việt/Kinh là cả một kho tàng đồ sộ qua nhiều thời kỳ văn hóa cổ đại và hiện đại đã từng tồn tại từ bao thế kỷ và đã được truyền miệng qua truyện cổ, ca dao, tục ngữ, thơ ca… Nghệ thuật phong phú như ca hát, âm nhạc, nhạc cụ, điêu khắc, hội họa, múa, diễn xướng, phim ảnh… thường xuyên được tổ chức sinh hoạt trong cộng đồng. Cùng lượt theo truyền thống, các làng đều tổ chức hội làng và các lễ hội lớn cấp quốc gia tưởng niệm tổ tiên của họ hàng năm.

Dưới đây mình có các bài:

– Dân tộc Kinh ở Quảng Tây
– Việt kiều sưu tầm bản đồ Hoàng Sa được tặng bằng khen
– Khoa Do – đạo diễn Việt kiều thành công tại Australia
– Giáo sư người Việt đầu tiên làm trưởng khoa ở ĐH Mỹ
– Nguyễn Khoa Nam đậu thủ khoa tại Úc
– Những người Việt thành danh tại Nhật

Cùng với 26 clips tổng thể các sinh hoạt văn hóa truyền thống của tộc Việt/Kinh trên khắp thế giới để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức. Trong phạm vi bài này mình chỉ giới thiệu với các bạn những clips sinh hoạt văn hóa truyền thống thuần túy của các cộng đồng người Việt/Kinh ở các nước ngoài. Để xem toàn bộ các bài trong kho tàng “Dân Ca Dân Nhạc” của tộc Việt/Kinh ở Việt Nam mời các bạn click vào đây và tùy nghi lựa chọn.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Phòng Thành các tộc tự trị huyện, Địa đồ trích từ Quảng Tây Tráng tộc tự trị khu địa đồ sách – Quảng Tây nhân dân XBX, 1990.
Phòng Thành các tộc tự trị huyện, Địa đồ trích từ Quảng Tây Tráng tộc tự trị khu địa đồ sách – Quảng Tây nhân dân XBX, 1990.

Dân tộc Kinh ở Quảng Tây

(Bài: Vương Văn Quang) – (Dịch: Phạm Hoàng Quân)

Lời người dịch: Người Kinh là dân tộc chủ yếu trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Một bộ phận dân tộc Kinh hiện đang sinh sống ở Khu Tự trị dân tộc Choang, Quảng Tây, Trung Quốc; là một trong 56 dân tộc của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nhằm góp một mảng tư liệu về cộng đồng dân tộc Kinh ở hải ngoại này, chúng tôi trích dịch phần viết về “Dân tộc Kinh” [1] trong quyển Trung Quốc Nam phương dân tộc sử [2], công trình nghiên cứu của Tiến sĩ Sử học Vương Văn Quang, Giáo sư chuyên ngành Lịch sử dân tộc Đại học Vân Nam, Trung Quốc. Tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử các dân tộc ở Trung Quốc như:Bách Việt đích nguyên lưu dữ phân bố [3], Trung Quốc cổ đại đích dân tộc thức biệt [4], Trung Hoa dân tộc phát triển giản sử [5], Vân Nam dân tộc đích do lai dữ phát triển. [6]

Chúng ta không hẳn sẽ chấp nhận mọi ý kiến của tác giả, nhất là ở phần viết về nguồn gốc dân tộc Kinh. Tuy nhiên, với thái độ xem đây là đối tượng tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi khách quan chuyển ngữ để đông đảo bạn đọc cùng tham khảo. Mặt khác, vì nhận thấy phần khảo về dân tộc Kinh ở Quảng Tây là một nguồn tài liệu cần thiết, qua đó chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về đời sống, phong tục, tín ngưỡng… của một bộ phận đồng bào đã định cư và lập nghiệp ở hải ngoại gần 500 năm qua.

Ngoài các chú thích của tác giả kí hiệu –TG, là chú thích của người dịch.

I. Xuất xứ và phân bố

Vào đời Minh, một nhóm người từ vùng Đồ Sơn, Việt Nam di cư sang đất Quảng Tây. Nhóm người này thuộc tộc Kinh, dân tộc chủ yếu của Việt Nam, trong quá khứ còn gọi là tộc Việt. Người Kinh còn gọi là “người Việt Nam” hoặc “người An Nam”; người Miêu [7], người Dao thì gọi là “người Giao Chỉ”. [8]

Hiện vật đồ đồng sớm nhất châu Á của người Việt Cổ.
Hiện vật đồ đồng sớm nhất châu Á của người Việt Cổ.

Về lịch sử nguồn gốc tộc Kinh, hiện nay đang còn nhiều tranh luận. Có người cho rằng, “trong tiếng Kinh có thành phần tiếng Khmer mà cho rằng tộc Kinh là một bộ phận của tộc Môn-Khmer” [9] Lý Can Phân cho rằng: “Nguồn gốc tộc Kinh không phải trực tiếp xuất phát từ tộc Bách Việt, mà là một dân tộc mới, chủ yếu có quan hệ nhân chủng với chủng Australoid-Negroid. [10]” Tuy nhiên, đa số các luận điểm thì cho rằng, tộc Kinh có nguồn gốc phát triển trực tiếp từ tộc Bách Việt. [11] Tác giả Trung Nam Bán đảo Dân tộc cho rằng: “Tổ tiên của tộc Kinh ngày nay là tộc Âu Việt, Lạc Việt trong dân tộc Bách Việt cổ đại” [12] Trong Trung Quốc Đại Bách khoa Toàn thư, phần Dân tộc, mục Việt Nam biên rằng: “…còn gọi là người Việt Nam, người Kinh… hậu duệ của người Lạc Việt cổ đại, ban đầu ở Bắc Bộ Việt Nam, sau dần tiến về phương Nam, đến đầu thể kỷ XIX thì ở khắp cõi Nam.” Giáo sư Vương Dân Đồng – chuyên gia nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á – cho rằng: “Dân tộc chủ thể ở Việt Nam là tộc Việt (tộc Kinh) thuộc Lạc Việt, nguyên là một chi của Bách Việt. Từ thời Đồ Đá Mới đã định cư ở vùng tam giác châu thổ sông Hồng, Bắc Việt; đến thế kỷ II, III tr. CN, người Lạc Việt ở Trung và Hạ du sông Hồng đã trồng lúa nước [13], gọi là Lạc dân.” Sau đó người Lạc Việt dần biến chuyển thành người Kinh hiện nay. Vào năm 969 [14], (họ) dựng nền độc lập, xưng là Đại Cồ Việt.” [15]

Bộ phận khóa nỏ máy bắn tên.
Bộ phận khóa nỏ máy bắn tên.

Thuyết thứ nhất khó mà đứng vững được bởi thấy từ đời Hán đã thiết lập 3 quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam. Đương nhiên, Lạc Việt và tổ tiên của tộc Môn-Khmer là láng giềng; trong lịch sử lại thường xảy ra các cuộc giao chiến, một bộ phận người Môn-Khmer bị đồng hóa bởi tộc Kinh và tất nhiên về văn hóa có sự ảnh hưởng lẫn nhau, trong đó có ngôn ngữ. Trong tiếng của tộc Kinh có nhân tố của tiếng Môn-Khmer là lẽ tự nhiên; không như người Khmer bị ảnh hưởng rất lớn của người Kinh. Hiện tại, rất nhiều người Khmer nói tiếng của người Kinh và ăn mặc theo kiểu của người Kinh. [16]

Thuyết của ông Lý Can Phân cũng khó khiến người ta tin được. Bởi nhìn theo góc độ Cổ Nhân loại học, thì từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 tới nay, các nhà Cổ Nhân loại học, dựa vào các nguồn tư liệu mới để nghiên cứu, đều cho rằng: từ Người Vượn Java đến người Soloensis và người Wadjakensis [17]phát triển thành chủng người Australoid-Negroid; còn Người Vượn Bắc Kinh [18] đến người Sơn Đính Động thì phát triển thành chủng người Mongoloid.[19]

Vào thời thượng cổ, chủng người Australoid-Negroid sơ khai, chủ yếu phân bố ở quần đảo Malaysia và Australia; sau đó, có thể họ thông qua “chiếc cầu lục địa” mà đến khu vực quần đảo Đông Nam Á. Cũng trong lúc ấy, chủng người Mongoloid không ngừng từ phía Bắc đi về Nam; chẳng những ức chế về địa bàn cư trú đối với chủng người Australoid-Negroid mà còn nắm chắc sự đồng hoá và dung hợp. [20] Đối với giới học thuật Việt Nam, trước mắt, họ thường nhìn nhận là: “Vào thời đại Đồ Đá Cũ, đất của tộc Kinh ngày nay là vùng phân bố của người Melanesia; đến thời Đồ Đá Mới, chủng người Mongoloid đến và lại dung hợp với nhau. Vì thế, người Melanesia hoặc người Indonesia không phải là tổ tiên nguyên thủy của người Kinh.” [21]

Bình gốm có vòi bằng đất nung, văn hóa Óc Eo.
Bình gốm có vòi bằng đất nung, văn hóa Óc Eo.

Còn như nói rằng tộc Kinh từ Lạc Việt phát triển mà thành thì dễ rơi vào phiến diện, đi đến đơn giản hoá, cũng giống như coi Giáp rồi đến Ất, Ất rồi đến Bính, Bính rồi đến Đinh ắt sẽ dẫn đến chỗ quay lại Giáp. Vậy mà những người theo thuyết này cứ vội vàng kết luận, phần lớn họ không đưa ra quá trình luận chứng mà chỉ đưa ra kết quả.

Trong quá trình phát triển, tổ tiên tộc Kinh từng có sự hấp thu các nhân tố từ người Chăm, người Môn-Khmer và người Hán, mà chủ thể là quần thể người Việt. Nếu nói người Kinh hoàn toàn do sự phát triển của người Lạc Việt mà thành thì đó là một kiểu lý luận thiên lệch. Phải nói rằng, người Kinh đã hấp thu từ nhiều thành phần dân tộc, trên nhiều phạm vi khác nhau (trên cơ sở người Lạc Việt là chủ thể), đến thế kỷ X về sau thì tổ hợp ấy mới trở thành một dân tộc.

Người Giao Chỉ cổ đại là chủ thể chủ yếu của người Kinh. Sách Văn hiến thông khảo – tứ duệ [22] có biên: “Giao Chỉ, lúc đầu thời Hán là đất Nam Việt, Hán Võ đế bình Nam Việt, chia đất thành Đam Nhĩ, Châu Nhai, Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, gồm 9 quận, đặt Giao Châu Thứ sử thống lĩnh. Hậu Hán đặt Giao Châu; Tấn, Tống, Tề cũng theo đó. Tùy dẹp Trần, bỏ quận, đặt châu; [Tùy] Dượng đế những năm đầu, bỏ châu, đặt quận. Khoảng niên hiệu Võ đế [nhà Đường] đổi làm Giao châu Tổng quản Phủ; khoảng niêu hiệu Chí Đức [nhà Đường] đổi làm An Nam Đô hộ Phủ. Niêu hiệu Chính Ninh [nhà Lương-Chu], thổ hào Khúc Thừa Mỹ chuyên quyền một cõi” [23] . Đoạn văn trên khái quát rõ sự diên cách trong lịch sử của đất Giao Chỉ, dừng ở đời Lương, và sau đó là sự xuất hiện của một quốc gia có chính quyền độc lập, cũng vừa lúc người Kinh thực hiện vai trò nối trước mở sau, dựa vào điều kiện khách quan ngoại tại mà thiết lập nền chính trị, kinh tế.

Lẫy nỏ.
Lẫy nỏ.

Xem thấy cư dân chủ thể trên đất Giao Chỉ từ cổ đại đến thời Tần-Hán vốn theo chế độ của vương triều Trung nguyên [24] ; trồng tỉa lúa nước, dân gọi là Lạc dân; cai quản Lạc dân là Lạc hầu, Lạc vương. Ngụy-Tấn về sau, thành một đặc khu Lạc Việt, gọi là Liêu [25] hoặc gọi Lạc Việt. Năm 679, nhà Đường lập An Nam Đô hộ Phủ tại đất Giao Chỉ, dân thì gọi là người An Nam. Đến lúc ấy, tộc Kinh vẫn chưa hình thành, mà chỉ đang ở trong giai đoạn tích hợp.

Bắt đầu từ cuối thế kỷ IX, nhân lúc thế lực nhà Đường suy yếu, thế lực chính trị ở An Nam bắt đầu khởi động. Năm 906, địa chủ An Nam Khúc Thừa Mỹ nhân lúc nhà Đường hỗn loạn tự lập làm Tiết độ sứ [26] . Năm 939, tướng lĩnh An Nam là Ngô Quyền đánh bại quân đội Nam Hán ở sông Bạch Đằng, tự xưng Vương, lập triều Ngô, đóng ở đô Cổ Loa, thực sự là một nước độc lập. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh đánh bại các thế lực phong kiến, xưng Đế ở Hoa Lư, lập nước Đại Cồ Việt. Năm 979, cha con Đinh Bộ Lĩnh bị giết, Tổng chỉ huy quân đội là Thập đạo tướng quân Lê Hoàn lên thay, lập triều Lê (980-1009), sử gọi là nhà Tiền Lê. Triều Ngô, triều Đinh và triều [Tiền] Lê cộng tám đời vua, thống trị được 70 năm, An Nam bước vào thời kỳ thoát ly vương triều Trung nguyên. Năm 1009, Điện tiền chỉ huy sứ của nhà Tiền Lê là Lý Công Uẩn lên ngôi Đế, mở ra nhà Lý, thống trị hơn 200 năm (1009-1225). Trong giai đoạn này, chính trị nhà Lý ổn định, sức dân tăng trưởng, tộc Kinh bắt đầu hình thành, bộ phận tổ thành gồm có: Lạc Việt-Liêu là bộ phận chủ thể; người Chăm từ nước Champa; bộ phận người Môn-Khmer và một phần nhỏ người Hán.

Bát bồng gốm cách nay 2.500-2.000 năm.
Bát bồng gốm cách nay 2.500-2.000 năm.

Trong quá trình hình thành, tộc Kinh hấp thu tộc Chăm chủ yếu thông qua việc tiến hành chiến tranh. Theo lịch sử ghi lại, các cuộc chiến xảy ra rất nhiều lần: năm 982, Lê Hoàn công hãm thủ đô Champa, chiếm lấy 3 châu: Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh (nay là tỉnh Quảng Bình và phía Bắc tỉnh Quảng Trị, Việt Nam). Năm 1312 [27], Trần Anh Tông lại công hãm Champa, bắt phải làm nước phụ thuộc [28]. Năm 1471, Lê Thánh Tông lại công hãm kinh thành Champa, thu Chiêm Động, Cổ Lũy Động và lập làm Quảng Nam Đạo; sau đó đến năm 1697 thi diệt nước Champa, khiến toàn bộ người Chăm phải ở trong phạm vi quản lý của Việt Nam ngày nay. Trong quá trình lịch sử, đại bộ phận người Chăm nhập vào tộc Kinh. Do vậy, giới sử học Việt Nam nói: “Từ thế kỷ XVIII về sau, dân tộc Việt Nam trong xu thế Nam tiến dần dần hấp thu hết cả một vùng (chỉ Champa – tức Lâm Ấp thời Tần-Hán) thành một chỉnh thể đất đai và cư dân. [29]” Như người Chăm, thời cổ đại dõng hoạt như thế mà đến nay chỉ còn tám vạn dân bên trong nước Việt Nam [30]; bao nhiêu người còn lại đi đâu hết vậy? Đương nhiên là tuyệt đại bộ phận đã đồng hóa với tộc Kinh.

Tộc Kinh còn chứa thành phần người Khmer. Người Khmer từng kiến lập các vương quốc hùng mạnh như Phù Nam, Chân Lạp; trong lịch sử từng cùng với Việt Nam tranh đoạt Champa, từ thế kỷ XIV về sau, người Khmer kiến lập quốc gia và không ngớt bị An Nam dung kế tàm thực [31] để lấn chiếm [32]. Năm 1658, Chúa Nguyễn mở rộng biên giới, đưa quân đánh chiếm Mỗi Tuệ [33] (nay là tỉnh Biên Hòa, Việt Nam); năm 1689, lại chiếm Sài Côn (nay là Sài Gòn, Việt Nam) mở đất ngàn dặm. Cuối thế kỷ XVIII, An Nam chiếm lĩnh toàn bộ vùng tam giác châu thổ sông Mekong, sống dung hợp với người Khmer.

Tộc Kinh dung hợp với tộc Hán chủ yếu từ thời Tần-Hán: quan lại và binh lính người Hán sang đóng ở đấy Giao Chỉ, nhiều người không trở về bản quán, đây là điều hiển nhiên, không cần phải kể…

Tóm lại, thành phần chủ thể của tộc Kinh là tộc Lạc Việt-Liêu hậu duệ của Bách Việt; đồng thời thêm vào nhân tố ngữ hệ Malay-Polynesia (Nam Đảo), ngữ tộc Indonesian (người Chăm); ngữ hệ Nam Á, ngữ tộc Môn-Khmer của người Khmer và một phần nhỏ người Hán. Các nhân tố này hợp thành một quần thể dân tộc mới, trong quá trình phát triển của lịch sử, chịu ảnh hưởng và tiếp thu mạnh nhất là văn hóa Hán; kế đến là văn hóa của người Chăm và người Khmer. Vì trong ngôn ngữ, cùng lúc tồn tại nhiều nhân tố nên các nhà ngôn ngữ học gặp nhiều khó khăn trong việc xác định thuộc tính gốc.

Dao găm Đông Sơn có trang trí hình người ở chuôi dao.
Dao găm Đông Sơn có trang trí hình người ở chuôi dao.

Trên đây là nói chung về nguồn gốc tộc Kinh, giờ nói riêng về người Kinh ở Trung Quốc. Người Kinh từ Đồ Sơn, Việt Nam sang Trung Quốc vào khoảng đời Minh. Khoảng những năm triều Thanh, người Kinh ở thôn Hà Vĩ [34] có lập hương ước để làm phép tắc cho dân trong thôn, trong hương ước từng minh xác rằng họ đến đây từ thời Hậu Lê (Đại Việt) niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 tức triều Minh đời vua Võ Tông niên hiệu Chính Đức năm thứ 6 (1511), tức cách nay hơn 400 năm [35] . Người Kinh ở đây đa số mang họ Lưu, họ Nguyễn, tổ tiên họ nguyên cư trú vùng Cát Bà, sau dời đến dùng duyên hải Đồ Sơn, sống bằng nghề đánh cá. Có một dịp, họ đuổi theo đàn cá ở vùng vịnh Bắc Bộ mà lạc đến đảo Vu Đầu, nay thuộc thành phố Phòng Thành, khu tự trị dân tộc Choang [36] Quảng Tây, thấy làng xóm vắng vẻ không người ở, lại thấy nơi này thuận tiện trong việc đánh bắt cá, họ bèn định cư hẳn mà không về nữa, đến nay đã qua 16, 17 đời, nếu tính mỗi đời là 25 năm thì đến nay đã hơn 400 năm, đối chiếu với bản hương ước nói trên thì thấy rất hợp lý.

Người Kinh hiện phân bố chủ yếu ở 3 khu: Sơn Tâm, Hà Vĩ, Vu Đầu và một số nơi khác như Hoàn Vọng, Đàm Cát, Hồng Khảm, Trúc Sơn… thuộc Phòng Thành, Quảng Tây.

Phòng Thành các tộc tự trị huyện, Địa đồ trích từ Quảng Tây Tráng tộc tự trị khu địa đồ sách – Quảng Tây nhân dân XBX, 1990.

II. Văn hóa tập tục

Tập tục phục sức, hôn nhân và ẩm thực

Đàn bà, con gái người Kinh thường mặc áo ngắn, cổ tay hẹp, áp bó sát thân, cổ không có bâu, trước ngực che tấm vải hình củ ấu, quần rộng và dài, màu đen hoặc màu nâu, khi ra ngoài thì mặt thêm một áo dài màu trắng, tóc bới như hình tấm thớt. Đàn ông mặt áo dài, tay hẹp, thân áo dài ngang đầu gối, thắt dải dây ngang eo.

Việc gả cưới phần lớn do cha mẹ lo liệu, hôn nhân theo chế độ một vợ một chồng, phổ biến là nuôi cháu và nuôi dâu, cá biệt cũng có trường hợp con trai ở rể. Cùng họ thì không lấy nhau, con cô con cậu cũng cấm lấy nhau, nếu vi phạm thì bị phạt [37].

Nam nữ kết thân thường do người làm mai chọn ngày tháng tốt, bên nhà trai thỉnh người có uy vọng nhất ở trên đảo hoặc thân hữu lo giúp sắp đặt mâm lễ. Lễ phẩm gồm có trầu cau, táo đỏ [khô] và táo đen, đường phèn, trà; trên mặt mâm lễ thì xếp các loại bánh in thành đồ án hỷ khánh để trang trí. Một đội nam nữ chèo thuyền biết ca hát sẽ đưa lễ phẩm đi đến nhà gái; bên nhà gái cũng cử một đội nam nữ chèo thuyền biết ca hát ra đón. Trong quá trình đưa và nhận lễ phẩm, hai bên đều lấy lời ca thay lời nói, một bên xướng một bên họa lại, khi hai bên đến hồi hứng thú nhất thì người bên nhà gái sẽ thâu nhận lễ phẩm, việc hôn sự đến lúc này, coi như sắp hoàn tất. Sau đó, nhóm ca hát sẽ đưa chú rể đến nhà gái để ra mắt, nhà gái đãi trầu cau và trà, những vật phẩm tượng trưng cho sự tốt đẹp, hạnh phúc [38] .

Phụ nữ tộc Kinh múa hoa đăng, trích Trung quốc dân tộc, Nxb Trung Quốc Dân tộc Nhiếp ảnh Nghệ thuật, Bắc Kinh, 1989.
Phụ nữ tộc Kinh múa hoa đăng, trích Trung quốc dân tộc, Nxb Trung Quốc Dân tộc Nhiếp ảnh Nghệ thuật, Bắc Kinh, 1989.

Người Kinh chủ yếu sinh sống bằng nghề đánh cá, và lại chịu ảnh hưởng lâu đời của truyền thống văn hóa dân tộc, biểu hiện qua tập tục ăn uống lấy gạo [cơm] làm thức ăn chính, khoai núi và khoai nước làm thức ăn giậm; tính thích ăn cá, tôm, cua, nước mắm và cơm rượu; phụ nữ thì khoái nhai trầu cau[39].

Nước mắm là thức điều vị [nêm nếm] truyền thống của người Kinh. Cách làm như sau: trước tiên chọn loại cá nhỏ rửa sạch, cho vào vò sành hoặc thùng gỗ, phân thành lớp rồi rải muối và đậy kín lại. Sau vài tháng, cá từ từ tan rã, rỉ ra chất dung dịch màu hồng, đó là nước mắm. Sau khi lọc kỹ, nước mắm có hương vị nồng nàn, tinh thơm. Qua lần lọc thứ hai thì màu và mùi vị kém đi, qua lần lọc thứ ba thì lẫn nhiều xương và cặn bã của cá, chỉ để cho gia súc ăn hoặc để bón ruộng. Nước mắm vừa là chất để nêm nếm trong việc chế biến thức ăn, vừa để làm nước chấm khi ăn cơm.

Trong các dịp ăn mừng năm mới, tiết mới người Kinh thường làm món bánh cơm rượu và chè gạo nếp, họ rất thích ăn món bánh dầy, loại bánh này dùng bột gạo nếp nấu chín, rồi cho vừng trộn vào, để lên lửa nướng, trước khi ăn thoa một lớp váng sữa mỏng, rồi chấm nước mắm và ăn, đây là món ăn quý để đãi khách.

Trống đồng Ngọc Lũ loại I.
Trống đồng Ngọc Lũ loại I.

Tông giáo

Người Kinh theo tín ngưỡng đa thần, vừa tin theo Phật giáo vừa tin theo Đạo giáo, có một số ít theo Thiên chúa giáo. Linh Quang Thiền Tự là ngôi chùa lớn nhất của người Kinh ở ba đảo [40] . Trong chùa có một chuông đồng đúc năm 1787, chùa thờ Quán Thế Âm Bồ Tát. Ngoài ra còn có Tam Bà Miếu (trong thờ Quán Thế Âm, phụ nữ thường đến để cầu sinh con), Ưu Bà Miếu (trong thờ Phục Ba Tướng quân Mã Viện đời Hán). Đặc biệt là ở các chùa miếu này không có hòa thượng hay ni cô trụ trì, chỉ có “Tự đầu” [41] do người dân trong thôn chọn cử lo việc đèn nhang. Được cử làm việc này là người có phẩm hạnh đoan chính, chồng vợ đề huề, con gái con trai đầy đủ. Thù lao cho Tự đầu trích từ nguồn thu của chùa hoặc họ được nhận hoa lợi từ một hai mẫu đất công [42].

Tín ngưỡng của người Kinh ở Quảng Tây khác với tín ngưỡng của người Kinh ở Việt Nam. Người Kinh ở Quảng Tây bị ảnh hưởng nhiều bởi văn hóa của người Hán. Các cuộc hành lễ có tính chất tông giáo trong dân gian được điều khiển bởi Pháp sư và Sinh đồng. Pháp sư và Sinh đồng phần nhiều do cha truyền con nối, họ tự xưng thuộc phái Chính nhất của Đạo giáo [43] . Cùng với tín ngưỡng Quán Thế Âm Bồ Tát của Phật giáo, họ còn thờ phụng các vị thần của Đạo giáo như Thiên quan, Thổ địa và thờ cả các vị thần dân gian như Trấn hải Đại vương, Hưng Đạo Đại vương, Hậu Thần, Điền Đầu Công… dung hòa Phật, Đạo và tín ngưỡng dân gian thành một thể. Khác với các dân tộc khác, khi thực hiện lễ cúng họ chỉ niệm chú chớ không dùng vũ điệu.

Trong sinh hoạt hàng ngày, có nhiều việc liên hệ với Pháp sư. Pháp sư thực hiện các lễ cúng chủ yếu là: Lễ Rằm tháng Giêng, lễ Rằm tháng Bảy cúng “Thí U” tức cúng thí xả quần áo, thức ăn cho du hồn dã quỷ; lễ “Quá Du Oa” trừ yêu trị bệnh cho người và yểm tà cho gia súc được yên ổn, làm cho sự đi biển đánh bắt được bình an; làm phép chiêu hồn trị bệnh “Ma làm”; làm phép “Thập bảo” để kéo dài tuổi thọ cho người già yếu bệnh hoạn, làm phép “Tẩy uế” cho sản phụ. Trong lúc làm lễ cúng cho cộng đồng hoặc các cá nhân, đồng thời treo hình tượng Phật và Thần (Đạo giáo) biểu thị sự dung hợp Phật, Đạo của người Kinh.

Trống đồng Sông Đà trưng bày tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp.
Trống đồng Sông Đà trưng bày tại Bảo tàng Guimet, Paris, Pháp.

Sinh đồng, còn gọi “Giáng sinh đồng” là Vu sư dân gian, tự bảo là được thần linh dựa vào người nên có khả năng liên lạc với quỷ thần. Thông thường, tại nhà riêng thiết lập bàn thờ thần, cúng bái Tổ sư thần, thổ nhưỡng, Thổ địa thần… phần nhiều là làm phép đuổi tà trị bệnh [44] .

Ngư dân người Kinh ngoài việc rước Pháp sư, Sinh đồng để làm phép, họ còn cúng tế tại nhà theo tục lệ dân gian, cầu phước tiêu tai. Vào các dịp đan lưới vừa xong, trước khi hạ lưới đánh cá, cuối mùa đánh cá, các thời điểm mở đầu hoặc kết thúc một số sự việc khác họ đều bày tế phẩm ven bờ biển để cúng Hải Công, Hải Bà [Ông biển, Bà biển]. Mỗi năm từ ngày 20 đến 28 tháng Chạp âm lịch, nghề cá cùng nhau tổ chức lễ bái thần. Võng đầu (chủ lưới, chủ ghe) họp lại dẫn hết các võng đinh (thợ đánh bắt) đi lạy cầu thần ban phúc cuối năm, cầu cho năm sau mặt biển bình yên, nghề cá thu hoạch lớn.

Ngày lễ có tính tông giáo lớn nhất của người Kinh là lễ Cáp Tiết [45] , nội dung chủ yếu là tế thần, tổ chức ăn nhậu vui vẻ, đây là một hình thức đổi khác của lễ Xã tiết (tế Thổ địa, Thành hoàng).

Rìu gót vuông có trang trí hình chó săn hươu.
Rìu gót vuông có trang trí hình chó săn hươu.

III. Quan hệ dân tộc và chính trị

Người Kinh ở Quảng Tây có mối quan hệ rất tốt với các dân tộc khác cùng sống trên địa bàn. Thuở ban sơ, họ cư trú tại đảo Vu Đầu, thị trấn Giang Bình, nhà Thanh đã từng thiết lập địa khu Giang Bình, đặt Ty Tuần phủ Giang Bình.

Trong lịch sử, về tổ chức xã hội, người Kinh có đặt chức “Ông Thôn” đứng đầu. “Ông Thôn” có vai trò cũng như Hương trưởng hoặc Hương chính, phụ trách và xử lý các sự vụ trong thôn, coi sóc và giám sát việc thực hiện thôn ước, chủ trì nghi thức tế lễ và lo liệu các việc công ích. Dưới “Ông Thôn” thì có “Ông Quản” lo phụ “Ông Thôn” chấp hành việc xử phạt, quản lý núi rừng, ngoài ra còn có “Ông Ký” lo việc văn thư trương mục. Đối với các sự vụ trọng đại thì các bậc cao tuổi trong thôn sẽ họp lại bàn bạc quyết định, rồi giao cho “Ông Thôn” [46] theo đó mà làm.

Người dịch bổ sung:

• Trung Quốc Đại lục phân tỉnh địa đồ [47] ghi: Kinh tộc có 4.000 nhân khẩu, phân bố tại vùng phụ cận trấn Đông Hưng, địa khu Hợp Phố, tỉnh Quảng Đông.
• Encyclopedia Britannica [48] ghi: Kinh tộc là một dân tộc thiểu số của Trung Quốc, trước gọi là Việt tộc, năm 1958 đổi gọi là Kinh tộc… chưa định được hệ ngôn ngữ, phần lớn nói giọng Quàng Đông, viết chữ Hán… thanh niên nam nữ có tục nhuộm răng, làm nghề biển là chính, nghề nông là phụ… Năm 1958 Kinh tộc cùng các dân tộc thiểu số khác liên hợp thành “Đông Hưng các tộc tự trị huyện”, năm 1978 đổi gọi là “Phòng Thành các tộc tự trị huyện”, nhân khẩu 11.900 người (thống kê 1982).
• Từ Hải [49] ghi: Kinh tộc có 19.000 nhân khẩu (thống kê 1990).
• Quảng Đông lịch sử địa đồ tập [50] ghi: Địa bàn phân bố của Kinh tộc từ thời Minh, Thanh, Dân quốc cho đến năm 1958 thuộc tỉnh Quảng Đông, từ năm 1959 tới nay thuộc Quảng Tây Tráng tộc Tự trị Khu.

© 2005 talawas

[1] Nguyên văn: Kinh tộc.
[2] Vương Văn Quang – Trung Quốc Nam phương dân tộc sử, Dân tộc xuất bản xã (XBX), Bắc Kinh 1999, 370tr.
[3] Bách Việt – nguồn gốc và phân bố.
[4] Minh xác vấn đề dân tộc Trung Quốc thời cổ đại.
[5] Sơ lược sử về tiến trình dân tộc Trung Hoa.
[6] Nguồn gốc và sự phát triển các dân tộc Vân Nam.
[7] Miáo (苗) Tên Trung Quốc của tộc người H’mông. BT
[8] Tần Khâm Trĩ – Trung Nam Bán đảo Dân tộc, Vân Nam nhân dân XBX 1989, tr. 242- TG. Không rõ tác giả Tần Khâm Trĩ căn cứ vào đâu vì có một điều vô lý là tên Giao Chỉ có, muộn nhất, từ thời Hán (đầu Công nguyên) còn các tộc người Dao, H’mông vào Việt Nam sớm nhất là thế kỷ XI (người Dao) hoặc chỉ mới khoảng 300 năm lại đây (người H’mông). BT
[9] Hoắc Nhĩ – Đông Nam Á sử (tài liệu nội bộ), Vân Nam Lịch sử nghiên cứu Sở, 1979, tr.292. Tiếng Kinh vốn ảnh hưởng phần lớn bởi tiếng Hán, số từ trong tiếng Kinh có hơn một nửa là mượn ở từ Hán; ngoài ra, trong tiếng Kinh còn có một số nhân tố của tiếng Khmer, tiếng Indonesia. Bởi vậy, các nhà ngôn ngữ học có nhiều ý kiến khác nhau, đến nay vẫn chưa quy thuộc được. TG
[10] Lý Can Phân – Luận Bách Việt dân tộc dữ Tráng-Đồng ngữ tộc đích quan hệ – Kiêm luận Kinh tộc đích luận nguyên vấn đề – Tây Nam dân tộc nghiên cứu – Vân Nam đại học – Tây Nam biên cương nghiên cứu sở biên, tập VI, tr. 41.TG
[11] Tần Khâm Trĩ, sđd, tr.242. TG
[12] Bách Việt: Tên gọi tộc dân gồm nhiều chi tộc trước thời Tần, Hán phân bố ở phía Nam Trường giang, khu vực Trung và Hạ du; là liên minh gồm nhiều bộ lạc nên gọi là Bách Việt; chuyên nghề đánh cá, săn bắt, trồng lúa và hoa màu; nổi tiếng về nghề đúc đồng và đóng thuyền đi biển. Sau đời Hán, dần dần có sự dung hợp với người Hán; các tộc Tráng, Lê, Thái ngày nay còn giữ nhiều quan hệ với nguồn gốc hơn cả. Các tộc Việt chính là Vu Việt ở Triết Giang, Mân Việt ở Phúc Kiến, Dương Việt ở Giang Tây, Nam Việt ở Quảng Đông, Lạc Việt ở Việt Nam… và nhiều tộc Việt khác ở rải rác như: Âu Việt, Can Việt, Việt Chương, Điền Việt, Việt Tủy, Ngoại Việt, Sơn Việt, Việt Thường, Phiên Việt, Giao Chỉ, Đam Nhĩ, Tang Kha, Thả Lan, Lệnh, Quế, Dư… Tên gọi Bách Việt xuất hiện đầu tiên trong sách Sử ký của Tư-mã Thiên, được kê cứu khá nhiều trong sách Lộ Sử của La Tất, đời Tống. (tổng hợp từ: Từ Hải, Từ Nguyên, Encyclopedia Britannica tiếng Hoa)
[13] Nguyên văn viết Lạc Điền và chú thích là Thủy đạo Điền. TG
[14] Theo Lịch sử Việt Nam của Đào Duy Anh và Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim thì là năm 968.
[15] Vương Dân Đồng – Đông Nam Á dân tộc đính lai nguyên hoà phân bố, Côn Minh sư phạm học viện học báo, 1984, Kỳ II, tr.23-TG.
[16] Trung Quốc Đại Bách khoa Toàn thư – Dân tộc, Trung Quốc Đại Bách khoa Toàn thư XBX, 1986, tr.128. TG
[17] Wadkakensis: một đại biểu của người hóa thạch, do nhà giải phẫu học/ địa chất học Hà Lan Eugène Dubois phát hiện năm 1889. Qua phân tích hai bộ xương sọ ông quy giống người này thuộc người tinh khôn băng kỳ, có nét tương đồng với người bản dịa Autraloid và có quan hệ với người châu Âu hiện đại (theo Nhân Loại học từ điển. Thượng Hải từ thư, Xbx, 1991); Sơn Đính Động: người hóa thạch thuộc cuối kỳ người tinh khôn, tổ tiên người Mông Cổ. Được phát hiện năm 1933 tại Sơn Đính Động thuộc vùng núi Long Cốt, phía tây nam Chu Khẩu Điếm, Bắc Kinh. C14 xác định cách nay 18.000 năm. (Theo Từ Hải, 2003)
[18] Homo erectus pekinensis. BT
[19] Ngô Nhữ Khang – Nhân loại phát triển sử, Khoa học XBX, 1987, tr.253-254. TG
[20] Vương Dân Đồng – Đông Nam Á dân tộc đích lai nguyên hòa phân bố, Côn Minh sư phạm học viện học báo, 1984, Kỳ II, tr.23. TG
[21] Đào Duy Anh – Việt Nam cổ đại sử, Thương vụ ấn thư quán, 1976, tr.14. TG
[22] Sách do Mã Đoan Lâm (1254-1323) người cuối đời Tống biên soạn, hoàn thành năm 1307, nội dung ghi chép về lịch sử, điển chương, chế độ… phân khảo 24 lĩnh vực, 348 quyển.
[23] Văn hiến thông khảo-tứ duệ thất – Trung Hoa thư cục ảnh ấn bản, 1986, tr.2519. TG
[24] Chỉ nước Trung Hoa phong kiến. BT
[25] Lão (có chứa bộ Khuyển) là tên phong kiến Trung Hoa gọi một tộc người thuộc Tây nam Di (các dân tộc ít người ở Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu, Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam ngày nay). Hoa Lục ngày nay thay bộ Khuyển bằng chữ Nhân, đọc là Liêu. BT
[26] Theo Đào Duy Anh và Trần Trọng Kim thì Khúc Thừa Dụ xưng Tiết độ sứ vào năm 906 còn Khúc Thừa Mỹ được nói đến là cháu nội Khúc Thừa Dụ, làm Tiết độ sứ từ năm 917 -923.
[27] Theo Trần Trọng Kim thì sự kiện này xảy ra vào năm 1311: “Chế Chí hay phản trắc, không giữ những điều giao ước, cho nên năm Tân Hợi (1311) Anh Tông cùng Trần Quốc Chẩn, Trần Khánh Dư phân binh làm 3 đạo sang đánh Chiêm Thành” (Việt Nam Sử lược).
[28] Chu Hoàn – Thế giới cổ đại sử, Cát Lâm văn sử XBX, 1986, tr.360. TG
[29] Đào Duy Anh – Việt Nam cổ đại sử, Thương vụ ấn thư quán, 1976, tr.495. TG
[30] Trung Quốc Đại Bách khoa Toàn thư – Dân tộc, Trung Quốc Đại Bách khoa Toàn thư XBX, 1986, tr.534. TG. Số liệu của Tổng cục Thống kê Việt nam năm 1999 là 132.873 người. BT
[31] Tằm ăn lá dâu.
[32] Thế giới các dân tộc khái lãm, Thế giới tri thức XBX, 1986, tr.68. TG
[33] còn gọi là Mỗi Xoài (Gia Định thành thông chí, Viện Sử học dịch) hoặc Mỗi Xuy (Lịch sử Việt Nam, Đào Duy Anh).
[34] Hà Vĩ: Theo địa đồ Phòng Thành các tộc tự trị huyện trong tập Quảng Tây Trang tộc tự trị khu địa đồ sách, Quảng Tây nhân dân XBX, 1990 thì địa danh này là Vạn Vĩ. Britannica cũng ghi là Vạn Vĩ (chỉ khác là chữ Vạn có bộ Thủy). Bài viết “Ba làng Việt tộc trong nội địa biên thùy Trung Quốc” (Lê Văn Lân, VietMecury 1/12/2000) cũng viết là Vạn Vĩ. Có lẽ tác giả nhầm nhưng chúng tôi vẫn dịch theo nguyên tác.
[35] Từ 1511 tới nay, lẽ ra câu này phải viết là: gần 500 năm.
[36] Choang (Zhuàng): trước kia gọi là (tộc) Đồng -獞 (Hán-Việt). Sau 1949, Hoa Lục đổi là (tộc) Đồng -僮 (Hán-Việt). Từ 1965, Hoa Lục lại đổi là Tráng -壯 (Hán-Việt). Ở Việt Nam, người Tráng có tên là Tày. BT
[37] Trung Quốc Đại Bách khoa Toàn thư – Dân tộc, Trung Quốc Đại Bách khoa Toàn thư XBX, 1986, tr.209. TG
[38] Trung Hoa dân tộc ẩm thực phong tục đại quan – Thế giới tri thức XBX, 1992, tr.336 –TG. Đoạn văn này tác giả chỉ mô tả giai đoạn đầu của nghi lễ hôn nhân. Lễ này gọi là lễ “Nhận thân” tức chú rể chính thức ra mắt nhà gái. Theo tác giả Nguyễn thị Phương Châm trong bài “Sự biến đổi nghi lễ hôn nhân của người Kinh ở Vạn Vĩ (Quảng Tây, Trung Quốc)” trên tạp chí Văn hóa Dân gian số 1/2005 thì, lễ “Nhận thân” được tổ chức vào tối ngày hôm trước lễ cưới.
[39] Trung Hoa dân tộc ẩm thực phong tục đại quan – Thế giới tri thức XBX, 1992, tr.335 –TG.
[40] Ba hòn đảo: Vu Đầu, Vạn Vĩ và Sơn Tâm, nơi có số đông người Kinh sinh sống.
[41] Cách gọi này cũng giống như ở ta gọi “ông Từ”. Tuy nhiên, trong trường hợp này “Tự đầu” còn có vai trò như vị Trưởng ban Hộ tự.
[42] Trung Hoa các dân tộc tông giáo dữ thần thoại đại từ điển – Học Uyển XBX, 1990, tr. 354-347. TG
[43] Chính nhất Phái do người đời Hán Trương Lăng (còn gọi là Trương Đạo Lăng) sáng lập; thờ Chính nhất kinh. Phái này còn có tên là Thiên sư đạo và cùng với Toàn chân đạo là 2 phái lớn của Đạo giáo. Năm 1304, Nguyên Thành tông phong hâu duệ đời thứ 38 của Trương Lăng, tên là Trương Dữ Tài làm “Chính nhất giáo chủ”. Chính nhất phái chuyên trị về bùa chú. Đạo sĩ cũng có thể cưới vợ (theo Đạo giáo tiểu từ điển – Thượng Hải Từ thư XBX 2001)
[44] Trung Quốc Đại Bách khoa Toàn thư – Dân tộc, Trung Quốc Đại Bách khoa Toàn thư XBX, 1986, tr.208. TG
[45] Encyclopedia Britannica ghi là “xướng cáp”.
[46] Các từ “Ông Thôn”, “Ông Quản”, “Ông Ký” viết trong nguyên tác như hình thức chữ Nôm.
[47] Trương Kỳ Quân giám biên, Thượng Hải, 1966, mục V – Trung Quốc đại lục thiểu số dân tộc.
[48] Encyclopedia Britannica bản tiếng Hoa, Taipei, 1987, Qu.VII, tr.420.
[49] Thượng Hải Từ thư XBX, 2003
[50] Quảng Đông tỉnh địa đồ XBX, 1995.

(Nguồn: Trích dịch từ Trung Quốc Nam phương dân tộc sử, Chương V, Tiết 8, Dân tộc xuất bản xã (XBX), Bắc Kinh 1999)

Anh Trần Thắng, người tặng gần 200 bản đồ Trung Quốc không có Hoàng Sa dành tặng cho Đà Nẵng. (Ảnh Nguyễn Đông)
Anh Trần Thắng, người tặng gần 200 bản đồ Trung Quốc không có Hoàng Sa dành tặng cho Đà Nẵng. (Ảnh Nguyễn Đông)

Việt kiều sưu tầm bản đồ Hoàng Sa được tặng bằng khen

(Nguyễn Đông)

Ngày 19/6/2013 UBND TP Đà Nẵng tặng bằng khen cho ông Trần Thắng (43 tuổi, Việt kiều Mỹ) vì đã dày công sưu tầm những bản đồ lịch sử, góp phần khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Phó chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Phùng Tấn Viết đánh giá cao tinh thần hướng về quê hương cũng như tâm huyết của ông Thắng, giúp Đà Nẵng nói riêng và Việt Nam nói chung có thêm những chứng cứ pháp lý trong việc tuyên truyền, đấu tranh đòi lại chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa. Đồng thời, mong ông Thắng tiếp tục công việc sưu tầm và phối hợp quảng bá tư liệu ra cộng đồng quốc tế.

(ảnh Ông Thắng trao tặng bản đồ khẳng định chủ quyền Trung Quốc dừng lại ở đảo Hải Nam cho chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa Đặng Công Ngữ. (Ảnh Nguyễn Đông)

Nhân dịp này, ông Thắng cũng tận tay trao tặng Đà Nẵng 10 ảnh và bản gốc 2 bản đồ cổ “Đông Ấn Độ”, xuất bản tại London, do nhà bản đồ học người Đức Herman Moll vẽ chỉ rõ Hoàng Sa và Trường Sa nằm trong lãnh hải Việt Nam; và bản đổ “Đế chế Trung Hoa” xuất xứ từ phương Tây khẳng định lãnh thổ Trung Quốc chỉ kéo dài đến đảo Hải Nam.

Trước đó, ông Thắng đã lên mạng tìm mua 3 tập Atlas, 135 bản đồ và 170 ảnh bản đồ do nhiều quốc gia trên thế giới xuất bản, trong đó có cả Trung Quốc, để tặng cho Viện Nghiên cứu và phát triển kinh tế – xã hội Đà Nẵng.

Ông Thắng trao tặng bản đồ khẳng định chủ quyền Trung Quốc dừng lại ở đảo Hải Nam cho chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa Đặng Công Ngữ. (Ảnh Nguyễn Đông)
Theo ông Đặng Công Ngữ, Chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng), số bản đồ do ông Trần Thắng tặng đã được trưng bày cho người dân, du khách nước ngoài xem. Bộ Thông tin và Truyền thông cũng có kế hoạch triển lãm những tư liệu liên quan đến chủ quyền Hoàng Sa ở 10 tỉnh thành trên cả nước, trong đó 60% tư liệu do ông Trần Thắng tặng.

Đạo diễn Khoa Do.
Đạo diễn Khoa Do.

Khoa Do – đạo diễn Việt kiều thành công tại Australia

Chỉ với kinh phí 20.000 USD, phương tiện quay phim không phải là chuyên dụng, nhưng bộ phim “The finished people” đã được đề cử giải Tinh thần độc lập cho đạo diễn trẻ. Người làm nên thành công này là một thanh niên gốc Việt mới 24 tuổi – đạo diễn Khoa Do.

Giám đốc rạp hát Dendy ở Sydney (Australia) tuyên bố ngay trong ngày phim chiếu ra mắt: “Khoa Do sẽ kể cho chúng ta một câu chuyện đáng nghe như Rabbit Proof Fence của Phillip Noyce”.

Một trang web của những nhà làm phim độc lập ở Australia thì khẳng định: “Nếu bạn nghĩ rằng làm phim với kinh phí thấp là điều bất khả thi, hãy đến gặp những người thực hiện The finished people, họ không chỉ được giới phê bình đánh giá cao mà còn thành công về mặt doanh thu”.

The finished people dài 80 phút, nói về những khó khăn mà trẻ em đường phố phải đối mặt, đặc biệt là tệ nạn ma tuý, phạm pháp. Bộ phim cũng nói lên ước mơ của trẻ em là muốn được yêu thương và cảm thông. Những diễn viên trong phim đều đượcđạo diễn tuyển chọn từ chính những đứa trẻ lang thang. Vì vậy, tác phẩm điện ảnh này đã mang lại cho người xem ấn tượng sâu sắc bởi lối diễn xuất chân thật.

Khoa Do không phải là tên tuổi quá xa lạ với công chúng yêu thích phim ảnh ở xứ sở kangaroo. Năm 2001, anh được đề cử giải biên kịch Tinh thần độc lập của điện ảnh Australia cho bộ phim ngắn “Ngày giao hàng”. Nội dung phim là những trải nghiệm thơ ấu của chính anh do đạo diễn Jane Manning dàn dựng.

“Ngày giao hàng” nói về cuộc sống của các thế hệ người Việt di cư đến Australia qua cặp mắt của cô bé Trang mới 11 tuổi. Khoa Do nhớ lại: “Khi mới 10 tuổi, tôi đã nằm ở thùng sau một chiếc xe tải để đi giao hàng từ tỉnh này sang tỉnh khác. Tôi cố gắng làm bài tập ở nhà trong lúc xe chạy với tốc độc 120 km/h. Những buổi họp phụ huynh, tôi không bao giờ báo cho mẹ đi dự vì bà không biết tiếng Anh, tôi vô cùng bối rối nếu bạn bè phát hiện ra điều đó”.

GS Charles Nguyễn Cường khai mạc một ngày lễ của Catholic University of America - Washington D.C.
GS Charles Nguyễn Cường khai mạc một ngày lễ của Catholic University of America – Washington D.C.

Giáo sư người Việt đầu tiên làm trưởng khoa ở ĐH Mỹ

(Đỗ Quyên-Canada)

Làm việc cho NASA trong 10 năm, sáng chế một tay người máy đầu tiên để xây dựng trạm không gian vũ trụ; từng được Tổng thống Mỹ bổ nhiệm vào Ban giám đốc Quỹ Giáo dục Việt Nam , GS Charles Nguyễn Cường vừa nhận giải thưởng Di sản châu Á năm 2014. Người đàn ông 43 năm xa xứ chia sẻ những yếu tố chính cho các thành công của mình ở xứ người là sự cần cù, tính thành thật và lòng vị tha.

13 năm qua, ông là trưởng khoa ở Trường ĐH Công giáo Hoa Kỳ -Catholic University of America (CUA) – tại thủ đô Washington. Ông cũng người Mỹ gốc Việt đầu tiên (và hiện là một trong hai người) giữ chức Khoa trưởng tại một trong những đại học của Mỹ.

Từng nhận nhiều giải thưởng về ngành công nghệ kỹ thuật, GS Nguyễn Cường đóng góp ở các lĩnh vực vũ trụ, toán học, y khoa… mà một trong các công trình quan trọng là kiểm soát người máy trong công nghệ chế tạo.

Mới đây nhất, cuối tháng 11/ 2014, tại California GS Nguyễn Cường đón nhận Giải thưởng Di sản châu Á năm 2014 (The 2014 Asian Heritage Award).

Lời giải thích của Hội đồng xét thưởng nói rõ “vì người được giải thưởng không những vượt thắng các hậu quả chiến tranh VN mà còn dùng những cơ hội đó để làm tấm gương về thành tựu của riêng mình, và giúp những người khác cũng được các cơ hội thành công như mình.”

Giải thưởng này vinh danh những đóng góp của GS Cường trong các chương trình giáo dục giữa Hoa Kỳ với các nước châu Á như Đài Loan, Hồng Kông, Ấn Độ, và đặc biệt là Việt Nam.

Đây là lần thứ hai ông nhận giải thưởng của cộng đồng khoa học và giáo dục Hoa Kỳ dành cho các nhà khoa học, nhà giáo dục có cống hiến đặc sắc trong lĩnh vực của mình, tạo ảnh hưởng trong và ngoài nước Mỹ.

GS Charles Nguyễn Cường (ngồi, trái) trong lễ ký chương trình hợp tác giữa Đại học CUA và Đại học Đà Nẵng.
GS Charles Nguyễn Cường (ngồi, trái) trong lễ ký chương trình hợp tác giữa Đại học CUA và Đại học Đà Nẵng.

“Di sản” của Charles Nguyễn Cường

Sinh trưởng ở Đà Nẵng, ngay từ nhỏ cậu bé Cường đã nổi danh về thành tích học hành. Năm 1971, chàng thanh niên 16 tuổi vừa tốt nghiệp trung học đã được nhận học bổng du học ở Đức, rồi tốt nghiệp cử nhân Điện tại đó. Năm 1978, anh sang Mỹ định cư, và vượt lên từng nấc thang học vấn: học Cao học; Tiến sĩ hạng ưu Đại học George Washington.

Kể từ 1982 đến nay, ông làm việc tại Đại học CUA, lần lượt các cương vị: Trợ lý giáo sư, Phó giáo sư, Giáo sư; và từ 2001 tới nay với nhiệm kỳ thứ tư là Khoa trưởng Trường Kỹ sư (Dean of School of Engineering).

Giải thưởng Di sản châu Á năm 2014 dành cho GS Nguyễn Cường ở hai lãnh vực khoa học và giáo dục tại Hoa Kỳ, nhất là về trao đổi giáo dục, hợp tác khoa học công nghệ với VN trong nhiều năm qua. Điều đó thể hiện qua hai chương trình chính như sau…

Chương trình 2+2 cho phép sinh viên VN, sau khi hoàn thành 2 năm đầu ở một trường đại học mà CUA cộng tác, sẽ đến CUA học tiếp 2 năm cuối và nhận bằng kỹ sư của CUA. GS Cường đã chủ trì nhiều hợp đồng với các trường như ĐH Bách khoa TP.HCM, ĐH Quốc tế, ĐH Bách khoa Đà Nẵng. Hiện đã có gần 70 sinh viên VN đã và đang hoàn tất chương trình này. Khoảng nửa số đó sau khi nhận bằng cử nhân của CUA đã ở lại CUA làm tiếp thạc sĩ, tiến sĩ. Số còn lại thì nhận được các học bổng rất tốt tại những đại học hàng đầu ở Mỹ như MIT, Stanford, Illinois, California, San Diego, và họ đang theo đuổi chương trình thạc sĩ, tiến sĩ tại đó.

GS Cường và cộng sự của CUA cũng đã thăm một số trường đại học kỹ thuật ở Hà Nội và đang xúc tiến các chương trình cộng tác.

Còn Chương trình học bổng bán phần thì cho những sinh viên VN sau khi có bằng cử nhân các cơ hội đến học ở CUA để lấy bằng thạc sĩ, tiến sĩ.

3 nhược điểm của giáo dục Việt Nam

GS Cường chia sẻ sự khó khăn trong hơn 40 năm ở Đức và Hoa Kỳ: “Tôi thấy khó khăn nhất là vấn đề ngôn ngữ và khả năng hội nhập xã hội nước ngoài. Điều đó dẫn tới khó khăn cho việc thăng chức trong đại học và giữ vai trò lãnh đạo. Nói chung, người bản xứ thường nghĩ các việc đó khó có thể đến với người ngoại quốc. Trên thực tế, tôi phải làm việc gấp hai, thậm chí gấp ba, so với các đồng nghiệp”.

Theo ông, ba yếu tố chính cho các thành công của mình là sự cần cù, tính thành thật và lòng vị tha.
“Với chút kinh nghiệm cá nhân có được trong 10 năm làm việc với các đại học ở VN”, vị GS Việt kiều chỉ ra 3 nhược điểm:

“Giảng viên thường dạy theo phương pháp cách đây 20 năm; phần đông có thể là dạy bán thời gian nên không có thời gian soạn bài, nghiên cứu; Mức độ lương bổng cho giảng viên rất thấp nên không thể toàn tâm lo giảng dạy; Khác ở Mỹ, bắt buộc các giáo sư, giảng viên phải nghiên cứu, xuất bản bài báo các tạp chí, ở VN không đòi hỏi vậy dẫn đến trình độ chung của giảng viên không được tiến triển”. Giữ nếp nhà “thưa, gửi”

GS Charles Nguyễn Cường (trái) cùng phu nhân nhận Giải thưởng '2014 Asian Heritage Award'.
GS Charles Nguyễn Cường (trái) cùng phu nhân nhận Giải thưởng ‘2014 Asian Heritage Award’.

Từng tham gia những ban nhạc rock khi còn ở VN và ở Đức, ông hiện vẫn thích chơi guitar, thích ca hát. Ông còn chơi giỏi các môn thể thao như bóng bàn, trượt tuyết, bơi, quần vượt; riêng về bóng bàn thì đã giành giải vô địch trường Thiên Hựu năm 1971 và trường đại học ở Tây Đức năm 1977.

Với nhiều tài lẻ đó, cũng không lạ khi ông từng là Chủ tịch Hội Sinh viên Việt, hiện là thành viên Ban cố vấn Hội Văn hóa và Khoa học VN tại Houston, tham gia Ban cố vấn cho nhiều hội từ thiện Mỹ-Việt khác…
Về kinh nghiệm nuôi dạy con cái với một gia đình di dân ở Mỹ, người chồng từng ly dị và tái hôn, người cha của 7 người con (hai gia đình) vui vẻ kể:

“Việc giữ truyền thống Việt trong gia đình Việt ở Mỹ thường bị ‘xung đột’ do hai nền văn hóa quá khác nhau. Trong sinh hoạt gia đình, chúng tôi phải rất cố gắng nói chuyện bằng tiếng Việt với các con và thường xuyên nhắc nhủ để các con nhớ mình là người Việt. Chẳng hạn về sự kính trọng người lớn qua cách ăn nói, đối xử…”.

Một ví dụ khá độc đáo: trong nhà GS Cường, các con đều phải xưng hô “Anh/Chị” với những anh chị của mình, không được nói trống không xưng tên theo kiểu Mỹ. Ngay khi dùng tiếng Mỹ, vẫn phải thưa gửi qua tiếng Việt xen lẫn vào câu Anh văn. Ví như: “I agree, thưa dada.” (Con đồng ý, thưa ba.)

Trước ngày từ Washington D.C. đến California tham dự lễ nhận Giải thưởng Di sản châu Á năm 2014, GS Cường chia sẻ với chúng tôi:

“Xa quê hương thế là đã 43 năm, lúc nào tôi cũng nghĩ mình đang là người Việt Nam. Tôi tự thấy có bổn phận khi đã thành công thì phải trả ơn cho quê hương; đó là tìm kiếm đủ mọi cách giúp đỡ những người không được may mắn như mình, đặc biệt là giới trẻ ở VN có cơ hội qua Hoa Kỳ du học theo các chương trình hợp tác giáo dục Mỹ – Việt.”

Britannia Royal Navy College Dartmouth.
Britannia Royal Navy College Dartmouth.

Nguyễn Khoa Nam đậu thủ khoa tại Đại Học Võ Bị Liên Quân Hoàng Gia Hoàng Gia Úc

Ngày 12/12/2013 vừa qua Nguyễn Khoa Nam là một em Việt Nam được sinh ra và lớn lên tại Melbourne, Úc Châu, đã tốt nghiệp Đại Học Võ Bị Liên Quân Hoàng Gia Úc tại Canberra và Học Viện Hàng Hải Hoàng Gia Úc HMAS Creswell với cấp bực Trung úy.

Nhưng điều đáng nói là Khoa Nam đã tốt nghiệp với ngôi vị thủ khoa của khoá huấn luyện bốn năm. Khoa Nam được vinh dự đại diện khóa cầm kiếm dẫn đầu các tân sĩ quan tiến ra lễ đài và đại diện trường để chào đón bà Tổng Toàn Quyền, đại diện Nữ Hoàng Anh tại Úc, và giới thiệu các bạn đồng trang lứa với bà và các quan khách.

Thủ Khoa Nguyễn Khoa Nam - Đại Học Võ Bị Liên Quân Hoàng Gia Hoàng Gia Úc 2013.
Thủ Khoa Nguyễn Khoa Nam – Đại Học Võ Bị Liên Quân Hoàng Gia Hoàng Gia Úc 2013.

 

Nguyễn Khoa Nam được vinh dự đại diện khóa cầm kiếm dẫn đầu các tân sĩ quan tiến ra lễ đài.
Nguyễn Khoa Nam được vinh dự đại diện khóa cầm kiếm dẫn đầu các tân sĩ quan tiến ra lễ đài.

Điều ngạc nhiêu hơn nữa khi vị chưởng ấn của Đại Học Võ Bị Liên Quân Hoàng Gia Úc xướng tên Khoa Nam Nguyễn được nhận lãnh huy chương cao qúi “Commander-In-Chief’s Medal” dành cho sinh viên sĩ quan xuất sắc nhất trong mọi lãnh vực của toàn trường do Bà Tổng Toàn Quyền Quentin Bryce trao tặng.

Đặc biệt nữa là Khoa Nam cũng là người xuất sắc đã giữ được huy chương“Megan Anne Pelly Perpertual Memorial Award” dành cho sinh viên sĩ quan xuất sắc trong mọi lãnh vực của Học Viện Hải Quân trong hai năm liền, điều chưa từng xảy ra tại Học Viện.

Nguyễn Khoa Nam nhận lãnh huy chương cao qúi “Commander-In-Chief’s Medal” do Bà Tổng Toàn Quyền Quentin Bryce trao tặng.
Nguyễn Khoa Nam nhận lãnh huy chương cao qúi “Commander-In-Chief’s Medal” do Bà Tổng Toàn Quyền Quentin Bryce trao tặng.

Là con trai trưởng của anh Nguyễn Minh Khoa và chị Bạch Mai, Khoa Nam khi còn là học sinh tiểu học đã từng là sói con Hướng Đạo Thăng Long (West Footscray) và Hướng Đạo Hoa Lư (Broadmeadows), khi lên trung học đã tham gia Thiếu Sinh Quân trường Melbourne High School và cuối tuần em thường tới Giáo xứ St Margaret Mary’s North Brunswick tham gia sinh hoạt đoàn Thanh Thiếu Niên Salesian và Nam đã tỏ ra xuất sắc là một trưởng có tài chỉ huy trongĐoàn Thanh Thiếu Niên Salesian, và cũng là nơi mà ba mẹ của Khoa Nam có tên trong Ban Mục Vụ của Giáo xứ. Khoa Nam cũng đã từng theo ba mẹ giúp các cô chú bác rất tích cực trong các hội chợ Tết do Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt TựDo Victoria tổ chức.

Trong bốn năm huấn luyện tại Đại Học Võ Bị Liên Quân Hoàng Gia Úc tại Canberra và Học Viện Hàng Hải Hoàng gia Úc HMAS Creswell, Khoa Nam tuy là một sinh viên trẻ nhưng đã biết dấn thân trong nhiều lành vực xã hội và từ thiện, và sinh hoạt rất tích cực. Khoa Nam dù sinh ra và lớn lên tại Úc nhưng rất thông thạo tiếng Việt nên đã từng là thông dịch viên cho những cuộc gặp gỡ giữa quânđội Úc Việt. Khoa Nam cũng đã được bộ trưởng quốc phòng Stephan Smith và thủtướng đương nhiệm Tony Abbott, khi ông còn nắm giữ vai trò chủ tịch Liên Đảng trong cương vị là nhân vật đối lập tại Quốc Hội trước khi thắng cuộc bầu cửLiên Bang vào tháng 9/2013 và trở thành vị Thủ Tướng thứ 28 của nước Úc, đề cử làm đại diện Bộ Quốc Phòng Úc để tham gia Đại Hội An Ninh Toàn Cầu tại Slovakia và Singapore.

Nguyễn Khoa Nam và Thủ Tướng Tony Abott.
Nguyễn Khoa Nam và Thủ Tướng Tony Abott.

 

Nguyễn Khoa Nam và Cựu Thủ Tướng Kevin Rudd.
Nguyễn Khoa Nam và Cựu Thủ Tướng Kevin Rudd.

Vào tháng 7/2013 Khoa Namđã nghiên cứu về mối liên hệ và giao tiếp hỗ tương của Hải Quân các nước Á Châu trước việc tranh chấp tại vùng biển Đông Nam Á nên đã được mời tham dự cuộc họp bàn về các vấn đề biển đảo của Biển Đông tại Singapore.

Ước vọng của Khoa Nam là mong có được nhiều cơ hội nói chuyện, chia sẻ cùng các bậc phụ huynh để khuyến khích con em mình chọn con đường binh nghiệp cho tương lai, nếu đó là điều các em mơ ước, và có dịp khuyến khích các bạn trẻ và các em nhỏ tham gia dấn thân phục vụ đất nước và cộng đồng để nâng cao tinh thần yêu nước, làm rạng danh Con Rồng Cháu Tiên.

Vì sự mến mộ và cảm phục đối với Khoa Nam, một vị Trung Uý Hải Quân 22 tuổi, nên Học viện Hàng Hải Anh Quốc Britannia Royal Navy College Dartmouth đã gởi lời mời Khoa Nam tham dự buổi lễ tốt nghiệp vào 20/12/2013 này. Đây là một niềm vinh dự vô cùng lớn lao cho Khoa Nam, gia đình và cộng đồng Người Việt hải ngoại.

Nguyễn Khoa Nam cùng gia đình và Bà Tổng Toàn Quyền Quentin Bryce.
Nguyễn Khoa Nam cùng gia đình và Bà Tổng Toàn Quyền Quentin Bryce.

Khi được hỏi những yếu tố nào đã giúp Khoa Nam chọn con đường binh nghiệp và nguyên nhân nào đã giúp em đạt được thành qủa này, Khoa Nam cho biết ngoài cha mẹ và em gái mình, một trong những điều đã có ảnh hưởng lớn đến sự chọn lựa và nỗ lưc giúp em cố gắng trong 4 năm qua, còn có những yếu tố quan trọng không kém đó là sựtham gia các sinh hoạt cộng đồng, tôn giáo, hướng đạo, thiếu nhi, và học tiếng Việt. Qua những công việc này, Khoa Nam học được cách phục vụ, dấn thân từ các linh mục tu sĩ, các ông bà chú bác, những người luôn đóng góp vào những mục tiêu cao cả hơn bản thân, và nhờ đó Khoa Nam có được động lực giúp mình chọn con đường phục vụ có ý nghĩa cho một công cuộc chung.

Tương lai Khoa Nam sẽ phục vụ trên những tầu chiến tại vùng biển Úc Á. Ước mong Khoa Nam sẽ mở ra một trang sử hào hùng làm rạng danh cho giới trẻ Việt Nam tại Úc và ở khắp năm châu.

viet_japan4

Những người Việt thành danh tại Nhật

Người Việt Nam tại Nhật Bản không nhiều, chỉ chưa đầy 8000 người – một con số vô cùng ít ỏi so với hàng chục, hàng trăm ngàn người Việt ở một số nước châu Âu, chứ chưa nói đến con số cả triệu người ở Mỹ.
Người Việt Nam ở Nhật cũng xuất phát từ nhiều nguồn gốc khác nhau: có người du học sang Nhật rồi ở lại, có người sang vì lý do đoàn tụ gia đình, và cả những người là thuyền nhân.

Có người cho rằng người Việt Nam không dễ thích nghi môi trường xã hội Nhật Bản, và vĩ lẽ đó không mấy người thành công tại đất này. Quả thực, trong số Việt kiều nằm rải rác tại Nhật Bản, có thể thấy một số lượng không nhỏ chỉ lao động chân tay, làm những việc nặng nhọc và cuộc sống không được đầy đủ. Song cũng có những người thành đạt và vươn tới những vị trí nhất định trong xã hội Nhật.

Một Việt kiều tại Nhật Bản, được người Việt Nam biết nhiều nên có thể kể trên ngay, là giáo sư Trần Văn Thọ. Ông không những là chuyên viên kinh tế cao cấp thuộc trung tâm nghiên cứu kinh tế NB, giáo sư kinh tế của trường đại học Obirin và có thời gian là giáo sư thỉnh giảng khoa kinh tế trường Đại học Quốc gia Hà Nội, mà từng là ủy viên chuyên môn ban cố vấn kinh tế cho nhiều nhiệm kỳ thủ tướng Nhật, và trước đây cũng là một trong những ủy viên ban cố vấn về cải cách kinh tế và hành chính cho thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt. Hiện tại, ông còn nằm trong ủy ban nghiên cứu các vấn đề kinh tế liên quan đến kế hoạch chuyển thủ đô của Nhật Bản.

Một Việt kiều thành đạt khác tại Nhật là Tiến sĩ Đặng Lương Mô. Thuộc lớp người đầu tiên được nhận học bổng của chính phủ Nhật Bản dành cho Việt Nam từ sau Thế chiến 2, ông tới Nhật Bản vào tháng 4/57 và học tiếng Nhật một năm trước khi vào học tại Đại học Tokyo – nơi ông đã đậu khóa đầu tiên của khoa Kỹ thuật điện tử là một khoa mới mở. Sau khi lấy bằng Tiến sĩ khoa học kỹ thuật, ông làm công tác nghiên cứu tại công ty Toshiba. Năm 1971, ông trở về Việt Nam, giảng dạy trong 5 năm tại Đại học Sài Gòn và Học viện kỹ thuật quốc gia, nay là Đại học bách khoa thành phố Hồ Chí Minh.

viet_japan1

Trở về Nhật Bản, ông tiếp tục làm việc cho Toshiba cho đến khi nhận về giảng dạy tại Đại học Hosei vào năm 1983 và hiện là trưởng khoa tin học điện tử tại trường này. Tiến sĩ Đặng Lương Mô là hội viên chính thức của nhiều hội học thuật danh tiếng ở Nhật và Mỹ, kể cả Hội kỹ sư điện tử, tin học và truyền thông Nhật Bản và hội kỹ sư Mỹ. Từ năm 1992, ông được bầu làm viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học New York.

Trả lời câu hỏi của tôi về cuộc sống và làm việc tại Nhật Bản, tiến sĩ Đặng Lương Mô nói: “Nói chung tôi thấy ở Nhật Bản khó thành công. Một lý do là ngôn ngữ Nhật rất khó. Người ngoại quốc qua đây 1 năm, 2 năm tưởng là mình đã nói thoát được tiếng Nhật. Nhưng thật ra đó là phiến diện. Hiểu sâu được tiếng Nhật phải mất nhiều năm, phải nỗ lực. Muốn thành công ở Nhật Bản, trước nhất phải biết rành rõi tiếng Nhật. Thứ hai là phải chịu khó làm quen, làm bạn với nhiều người Nhật. Tôi đã thấy nhiều nhóm người Việt Nam, qua đây biết đến một đoạn nào đó rồi không tìm hiểu thêm, chỉ tụ tập với nhau. Như vậy khó lòng có thể thành công ở Nhật Bản.”

Một người khác cũng cho rằng học giỏi tiếng bản địa là yếu tố quan trọng dẫn đến thành công tại Nhật Bản, là bác Nguyễn Văn Ngân, giám đốc công ty thương mại Đông Dương. Bác sang Nhật từ cuối năm 1941 và học kinh tế tại trường Đại học Tokyo. Ngay từ khi còn trẻ, bác từng được cử điều hành chi nhánh của một công ty xuất nhập khẩu Nhật, và năm 29 tuổi đã lập công ty riêng, rồi mở một nhà hàng tại khu Ginza của Tokyo từ năm 1950. Ba năm trước, bác mở nhà hàng thứ 2 và năm nay mở thêm nhà hàng thứ 3. Bác cho biết về công việc kinh doanh của mình: “Tôi xuất cảng đồ tạp hóa, máy khâu, máy dệt cho những hãng dệt lớn. Ngoài ra xuất cảng những đồ tạp hóa sang Mỹ. Những đồ đó giúp tôi có lãi nhiều. Cái tiệm cơm của tôi, 10 năm trước tôi không để ý đến nhiều lắm, do nhà tôi làm hết, chỉ coi là một phần trong hoạt động của mình thôi chứ không để nhiều công sức vào làm. Nhưng sau đó tôi đổi chính sách làm việc của tôi, để ý hơn về buôn bán trong nước. Vì thế nên trong 4 năm nay, chúng tôi mở thêm cửa hàng đây. Và cũng theo phong trào của người Nhật, chúng tôi lợi dụng phong trào đó nên mới mở thêm cửa hàng nhanh như thế”

Bác Ngân nằm trong số ít người nước ngoài đã trải qua cơn bĩ cực cùng cả nước Nhật Bản, đã chứng kiến những thăng trầm của Nhật. Bác cho rằng để thành công, ngoài việc phải học thấu đáo tiếng Nhật và nắm những kiến thức cơ bản, cần phải có sự nhanh chạy nắm bắt tình thế. Riêng đối với bản thân bác, bên cạnh nỗ lực bản thân còn có một yếu tố khác nữa là mối quan hệ thân thiện của những người bản xứ.

“Đối với tôi thì tôi làm việc như tất cả những người khác Nỗ lực của mình đã đưa tôi đến đây. Nhưng một phần lớn là ở sự tử tế của những người mà tôi đi lại, những người bạn của tôi sau chiến tranh…”

viet_japan2

Tôi gặp anh Nguyễn Quan Lữ, 51 tuổi, viên chức cấp cao của một công ty mậu dịch lớn của Nhật Bản. Anh sang Nhật vào năm 1970 theo diện học tự túc. Cũng như nhiều người Việt khác sang đây du học, cuộc sống ban đầu của anh không dễ dàng, một phần lớn vì mới bắt đầu học tiếng.

27 năm đã trôi qua kể từ ngày đầu đặt chân lên đất nước Nhật. Giờ đây, với học vị tiến sĩ nông nghiệp và nhiều năm kinh nghiệm, anh Nguyễn Quan Lữ đã được cử nắm một chức vụ quan trọng trong công ty. Anh phụ trách công tác thị trường nên thường phải đi công tác nước ngoài, bận bịu tham dự các hội nghị song phương, nghiên cứu các thông tin, quy định nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh của công ty. Đổi lại, anh có một vị trí mà chính nhiều người Nhật cũng nể trọng. Từ kinh nghiệm bản thân, anh rút ra những yếu tố đưa đến thành công tại Nhật Bản như sau:

“Tôi nghĩ rằng điều cơ bản là trong xã hội Nhật yêu cầu người ta phải có tính hòa đồng vào tập thể, nhẫn nại cần cù để làm quen với công việc. Đó là những yếu tố quan trọng. Nhưng vấn đề được hay không được còn tùy theo sự may mắn, ngoài ý muốn của mọi người. Nhiều người có năng lực hơn tôi nhưng có thể chưa gặp may mắn nên chưa đạt được ý muốn của mình. Chúng ta phải đánh giá sự nỗ lực của bản thân nhưng đồng thời phải thừa nhận yếu tố may mắn trong đó. Nhất là ở xã hội Nhật này, các điều kiện xã hội chưa phóng khoáng đầy đủ để tiếp nhận với người nước ngoài như với người bản xứ, nên sự may mắn đưa mình đến với 1 công ty hiểu và thông cảm và tạo điều kiện giúp đỡ mình là sự may mắn.”

Như phát biểu của anh Nguyễn Quan Lữ, sự hòa đồng là một yếu tố khá đặc trưng trong xã hội Nhật Bản. Vì thế, người ngoại kiều lại càng phải cố gắng nhiều hơn để thích nghi với lối sống và làm việc này, và họ cần có sự thông cảm và hỗ trợ của người bản địa.

Sự giúp đỡ của những người bạn Nhật cũng là yếu tố quan trọng để chị Nguyễn Thị Giang mở được nhà hàng Việt Nam của riêng mình cách đây hai tháng. Chị Giang không có được lợi thế của tuổi trẻ bởi khi sang Nhật vào năm 1988, chị đã cập kê tứ tuần. Nghe chị kể chuyện, chúng tôi cảm nhận được sự nỗ lực không mệt mỏi của người phụ nữ này. Để tăng thêm thu nhập cho gia đình 5 người, chị vừa tranh thủ học tiếng Nhật, vừa làm nhiều công việc – từ lắp ráp linh kiện điện tử cho đến dạy nấu ăn, phục vụ nhà hàng. Rồi chị được bạn bè, người quen giúp thêm về tài chính và đứng ra bảo lãnh để mở nhà hàng Việt Nam. Từng là giáo viên dạy nấu ăn tại Việt Nam trước khi sang Nhật nên chị rất tự tin với công việc của mình. Tuy nhiên, chị cho biết mục tiêu chính yếu khi mở nhà hàng chỉ là để giới thiệu văn hóa Việt Nam.

“Mình là người ngoại quốc mà sống ở nước ngoài, thành đạt rất là khó. Đầu tiên là vấn đề văn hóa, rồi ngôn ngữ khác biệt. Dù cho có thành công thì cũng chỉ tới giới hạn nào thôi. Thành công mà để mãn nguyện chắc không ai có. Tôi hài lòng vì bây giờ tôi đã giới thiệu dược văn hóa Việt Nam cho người Nhật. Mỗi người khách đến đây đi ra khen món ăn Việt Nam ngon. Đó không phải là khen bản thân tôi mà khen nước Việt Nam tôi có những món ăn ngon, điều đó khiến tôi rất mãn nguyện.”

Những người Việt Nam chắc chắn đều vui khi thấy Việt kiều ở hải ngoại thành đạt và nhiều việc làm của họ gắn liền với niềm tự hào đối với tổ quốc. Và càng vui khi nghe nhắc tới những người thuộc dòng giống Lạc Việt đã cống hiến nhiều thành tựu cho thế giới.

viet_japan3

Có lẽ không chỉ chúng tôi mà nhiều thính giả sẽ rất bất ngờ khi biết, nhiều kỹ thuật ứng dụng trong cuộc sống hàng ngày hiện nay, nhất là tại các nước tiên tiên, chính là nhờ phát minh của một người Việt Nam. Đó là cụ Lê Văn Quý, một trong những người Việt đến ở Nhật Bản lâu đời nhất. Cụ sang Nhật vào năm 1943 theo diện trao đổi sinh viên Việt-Nhật, đúng vào lúc đang xảy ra Thế chiến II. Cụ theo học ngành điện tử và nhờ chú tâm vào việc nghiên cứu, cụ đã có hàng chục phát minh đã đăng ký bản quyền và bán cho nhiều công ty Nhật cũng như trên thế giới, không kể một số phát minh chưa đăng ký. Có thể kể tên một số phát minh quan trọng của cụ như: cửa tự động, vòi nước tự động, tăng độ sáng của đèn xe, máy kiểm tra chỗ hỏng hóc của xe hơi,v.v… Nhiều phát minh của cụ góp phần không nhỏ trong sự phát triển của các hãng xe hơi Toyota, Nissan.

Cụ tâm sự về những phát minh của mình: “Tôi có các bằng phát minh về máy móc động cơ, về đèn nê-ông, cách sơn xe hơi và nhiều phát minh về máy truyền hình. Ví dụ các máy CD, đầu pick-up không có kim, dùng ánh sáng, cái đó tôi nghĩ đã lâu, cả về máy ảnh nữa. Nhiều nhiều lắm, có 4-5 chục cái tôi bán ngay. Hiện còn khoảng 10 cái tôi chưa bán được. Không phải tôi thích gì chuyện phát minh đâu. Chính là vì đời sống. Phát minh cho một số tiền rất lớn và rất mau. Nhưng cạnh tranh với Nhật khó khăn lắm, phát minh không khéo thì họ nắm lấy và bắt chước ngay mà chẳng lấy được một xu nào cả.”

Năm nay, tuy không còn khỏe vì đã ở tuổi 80, cụ vẫn tiếp tục công việc nghiên cứu xe hơi chạy điện – một kỹ thuật cho tương lai. Với tư cách một nhà khoa học có nhiều phát minh, cụ khẳng định người Việt Nam không hề thua kém bất kỳ nước nào trên thế giới:

“Mới đầu sang đây tôi thấy đời sống vất vả khó khăn lắm, vì người Nhật làm việc khá nặng đấy cho nên khó lòng mà sống được bên này. Nhưng sau khi làm qua với các xưởng máy Nhật thì thấy người Việt mình không kém gì người Nhật cả nếu mình cố gắng. Cho nên tôi thấy anh em Việt Nam mà sang đây nhiều, mình theo các xưởng máy Nhật thì nước của mình không kém gì nước Nhật đâu.”

Bác Nguyễn Văn Ngân, giám đốc công ty thương mại Đông Dương, cũng nói nỗ lực chính là yếu tố giúp mọi người vươn lên và vượt qua chính mình.

“Số phận là một yếu tố trong cuộc đời người ta. Nhưng nói số phận ta chỉ có thế này thôi và ta bằng lòng với số phận của mình, sống một đời khó khăn. Trong một phần nào có thể đổi số phận đó bằng cách cố sức. Nghèo đi chăng nữa cũng phải cố, và cố gắng đó, trong chừng mực nào, có thể thay đổi được số phận của mình. Nỗ lực của mình có thể giúp một phần trong sinh sống và trong sự thành công của mình nó cũng là một yếu tố lớn”

Có thể có người vẫn bám lấy suy nghĩ, phải ra nước ngoài mới thành công. Song thực tế chính bản thân những người thành đạt thừa nhận, hoàn cảnh và sự may mắn chưa thể mang lại tiền của và danh vọng vững bền. Hai yếu tố quan trọng nhất chính là kiến thức và nỗ lực bản thân. Tiến sĩ Đặng Lương Mô có vài lời khuyên với giới trẻ Việt Nam: “Lẽ dĩ nhiên là cần phải mở rộng cửa để thanh niên Việt Nam đi ra nước ngoài để mở rộng tầm mắt, để biết hơn. ôi nghĩ tuổi trẻ nên có tham vọng. Đối với thanh niên Việt Nam, tôi khuyên là nên cố gắng. Tốt hơn hết là hãy cố gắng ở trong nước.”

Những người như cụ Quý, bác Ngân, anh Lữ, chị Giang, giáo sư Trần Văn Thọ, tiến sĩ Đặng Lương Mô, chỉ là một vài ví dụ về sự thành đạt của người Việt Nam ở Nhật Bản nói riêng và ở nước ngoài nói chung. Họ đã đạt tới địa vị nhất định trong xã hội, hoặc chí ít cũng có một cuộc sống ổn định trong một xã hội nhiều cạnh tranh. Họ là những cá nhân trong cả một cộng đồng người Việt ở trong nước cũng như nước ngoài, luôn nỗ lực để vượt lên mọi hoàn cảnh.

Do những lý do khác nhau, họ đã đến sinh sống làm ăn tại Nhật Bản, nhưng tấm lòng họ luôn hướng về đất Việt phương nam – nơi mới thực sự là quê hương, mới thực sự là nơi họ gửi gắm tâm hồn mình. Sau những giờ lên lớp, những khi tan sở, những lúc nghỉ tay giữa ca làm việc, sau khi trút bỏ những bộn bề, bon chen trong cuộc sống và trở về với mái ấm gia đình, họ luôn hướng về Việt Nam. Chúng tôi xin trích lời chị Nguyễn Thị Giang làm phần kết cho chương trình này:

“Tôi thấy ở đây có nhiều công ăn việc làm. Nếu đi làm thì cuộc sống ổn định, không phải lo lắng. Nhưng về vấn đề tinh thần chẳng hạn như láng giềng bạn bè thì những người Việt Nam ở Nhật Bản đều buồn chứ không phải mình tôi. Ở đây thấy bạn bè mệt, có những gì mình buồn, vất vả cũng không dám nói hết, nói ra bạn bè lo lắng rồi làm phiền người ta. Giữ kẽ với nhau nên lần lần tình cảm xa cách.

“Chẳng hạn những ngày Tết của Nhật Bản, chẳng nghe tiếng pháo, chẳng thấy gì về tết nhất, lúc đó có lẽ nằm mà khóc vì nhớ về quê hương, nhớ cha nhớ mẹ mình. Những ngày tết là vấn đề thiêng liêng, rồi còn những ngày giỗ chạp. Tôi sang đây ngày giỗ chạp không có thì giờ để làm, nhiều khi nghĩ cảm thấy buồn lắm ngoài ra không nghĩ được về quê hương được nữa. Những khi rảnh rỗi, trời mưa hay ngồi xe điện, nghĩ đến gia đình nhiều, buồn.”

Không ai có thể hiểu nỗi buồn xa xứ nếu không ở vào hoàn cảnh của những người phải sống xa Tổ quốc. Nhưng càng trân trọng hơn khi họ đã khẳng định chính mình và vươn lên trong một xã hội hoàn toàn xa lạ, trong lúc vẫn một lòng nhớ về quê hương.

oOo

Dân ca Kinh Tộc ở Trung Hoa – Part 1:

 

Dân ca Kinh Tộc ở Trung Hoa – Part 2:

 

Dân ca Kinh Tộc ở Trung Hoa – Part 3:

 

Dân ca Kinh Tộc ở Trung Hoa – Part 4 – Qua Cầu Gió Bay:

 

Dân ca Kinh Tộc ở Trung Hoa – Part 5:

 

Dân ca Kinh Tộc ở Trung Hoa – Part 6 – Lullaby:

 

Jingzu Folk Dance Traditional Minority Jing Zu People Ethnic (Múa truyền thống Kinh Tộc ở Trung Hoa):

 

Nghệ sĩ Việt ở Châu Âu:

 

“Nhà Việt Nam” USA – Trình diễn thời trang 3 miền tại “Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế”:

 

“Phong Châu Mở Hội” – NS Nga Mi, NS Trần Lãng Minh (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA):

 

“Quang Trung Đại Đế Ca” (Thơ Nhạc Cảnh) – NS Trần Lãng Minh, NS Nga Mi (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA):

 

“Hát Chầu Văn” – NS Nga Mi, NS TLM, Vũ Đoàn Việt Cầm (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA):

 

“Hát Ả Đào” – NS Nga Mi, NS Trần Lãng Minh, NS Lý Chính (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA):

 

“Còn Thương Rau Đắng Mọc Sau Hè” – NS Linh Phượng (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA):

 

“Con Thuyền Không Bến” – NS Thanh Hà độc tấu Sáo (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA):

 

“Hòn Vọng Phu 1, 2, 3” – NS Linh Phượng, NS Nga Mi, NS Trần Lãng Minh (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA):

 

“Lý Mười Thương” – NS Thái Ninh (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA):

 

“Hò Đối Miền Nam” – NS Linh Phượng, NS Xuân Thưởng, NS Thanh Hà [sáo] (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA):

 

“Trách Thân” – NS Nguyên Thao (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA):

 

“Đố Trái Cây” – NS Linh Phượng, NS Nga Mi (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA):

 

“Hát Bai Hai Bát” – NS Linh Phượng, NS Tuyết Lan (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA):

 

“Thằng Bờm” – NS Linh Phượng, NS Nga Mi, NS Trần Lãng Minh, NS Tuyết Lan (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA):

 

Người Việt Nam ở Mỹ đón Tết cổ truyền:

 

Cộng đồng người Việt tại Frankfurt, Offenbach (Đức) đón Tết cổ truyền:

 

Trình Diễn Áo Dài – Gala Tết Việt Ottawa:

 

Cộng đồng người Việt tại Calgary, Canada:

 

Một suy nghĩ 6 thoughts on “Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Việt/Kinh”

  1. Tam đại đồng đường nhà anh chị thật đông vui ạ. Và cả đại gia đình nhà chị nữa. 🙂

    Em đã nhận ra cây thông Noel và lò sưởi. Chị đã chụp góc này và có đố vui với cả nhà trong bài PPS về các cây thông Noel.

    Mỗi lần được thấy hình ảnh anh chị và các clip của anh chị, em thấy rất vui.

    Em cám ơn chị đã chia sẻ.

    Chúc anh chị và gia đình luôn an lành ạ.

    Số lượt thích

  2. wow, bài này thật là công phu chị Phượng. Cảm ơn chị đã làm bài này.

    Trong phần nói về ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại em thấy hình thầy Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes)

    Khi qua Bồ em mới biết là người VN chỉ biết nhiều đến tên Alexandre de Rhodes nhưng thực ra Alexandre de Rhodes là học trò học tiếng Việt từ một nhà truyền giáo người Bồ tên là Francisco de Pina.

    Và hầu như không ai nhắc đến Francisco de Pina và người Pháp cũng không hề nhắc tới ông. Gần đây có thêm một số tài liệu về liên hệ ngôn ngữ Bồ Đào Nha – Portuguese và tiếng Việt rất interesting

    http://vi.wikipedia.org/wiki/Francisco_de_Pina

    Portuguese Pioneers Of Vietnamese Linguistics: http://d30021575.purehost.com/book_reviews/port_pioneer.html

    Bài này bằng tiếng Bồ (tác giả là một người bạn của em và nhiều anh chị em người VN ở Bồ) http://jtm.com.mo/opiniao/contribuicao-dos-missionarios-portugueses-para-actual-lingua-vietnamita/

    e. Hằng

    Số lượt thích

  3. Công nhận Thu Hương rất tinh ý và có một trí nhớ thật khủng. 🙂

    Chị cũng thấy thật vui khi thấy em vui. Tạ ơn bề trên đã ban cho anh chị nhiều ơn phước được con cháu đề huề đầy yêu thương lúc nào cũng ở bên cạnh.

    Cám ơn em chia sẻ và luôn đồng hành cùng anh chị.

    Luôn an vui trong Cha em nhé. ❤ XO

    Số lượt thích

  4. Hi Thu Hằng,

    Phải công nhận bài này là bài “chăm” nhất trong chuổi bài Dân ca Dân nhạc VN của chị đó em ơi. 🙂

    Quả thật như em nói, người Việt mình ít có người biết rằng thầy Alexandre de Rhodes học tiếng Việt từ thầy Francisco de Pina vì điều này không thấy ai ghi chép ở đâu cho tới mấy lúc gần đây. Đề tài này cũng khá thú vị để mình tìm hiểu thêm đấy.

    Trời à, bài em giới thiệu bằng tiếng Bồ thì chị đành chịu vì chị không biết tiếng Bồ. 🙂

    Chị đã thêm ảnh của thầy Francisco de Pina vào bài cùng với thầy Alexandre de Rhodes. Cám ơn em đã nhắc nhở chị. Many thanks for your support em.

    Bình an của Cha luôn ở cùng em, Hằng nhé. ❤ XO

    Số lượt thích

  5. Oi phuc chi Phuong qua, that cong phu, va cam on chi that nhieu cung nhu Dao Thu Hang cho them thong tin ve thay Alexandre Rohdes va thay Francisco de Pina. Bo ich lam.

    Chuc ca nha DCN luon vui va binh an.
    Tiep

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s