Nhạc cụ cổ truyền VN – Đàn Tứ/Đoản

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Đàn Tranh/Thập Lục, mình giới thiệu đến các bạn Đàn Tứ/Đoản của Việt Nam hôm nay.

Đàn Tứ là một nhạc cụ cổ truyền của Việt Nam. Đàn có tên Đàn Tứ vì có bốn dây (Tứ là Bốn). Tuy nhiên đàn còn nhiều tên gọi khác như Đàn Đoản (Đoản là Ngắn, bởi cần đàn ngắn hơn Đàn Nguyệt), Đàn Nhật (Nhật là Mặt Trời) vì thùng đàn hình tròn như Mặt Trời nên tạo thành một đôi với Đàn Nguyệt (Nguyệt là Mặt Trăng).

Đàn Tứ có 2 loại:

* Đàn Tứ Thùng (loại mới)
* Đàn Tứ Tròn (Đàn Đoản – loại cổ truyền).

Đàn Tứ có những bộ phận chính như sau:

Bầu vang (bộ phận tăng âm): hình hộp tròn, dẹt như đàn Nguyệt. Đường kính mặt đàn và hậu đàn bằng nhau, khoảng 35 cm. Thành bầu xấp xỉ 7 cm (thành bầu vang của các loại tương tự của người dân tộc mỏng hơn).

Mặt đàn: Bằng gỗ để mộc. Trên mặt đàn, ở phần dưới có bộ phận móc dây, còn được coi là ngựa đàn.

Cần đàn: Bằng gỗ cứng, ngắn và to bản. Các phím đàn hơi cao, có khoảng hơi đều nhau trên suốt cần đàn và mặt đàn.

Đầu đàn: Có 4 trục mắc dây, mỗi bên 2 trục.

Dây đàn: Tuy có 4 trục mắc dây nhưng gần đây chỉ sử dụng có 2 trục (để móc 2 dây trên mỗi trục). Trước đây dây đàn làm bằng tơ se, ngày nay thường dùng dây nilon.

Đàn Tứ/Đoản.
Đàn Tứ Tròn/Đoản.
Đàn Tứ Thùng.
Đàn Tứ Thùng.

Đàn Tứ có âm vực rộng 2 quãng tám. Loại Đàn Tứ cổ truyền có 4 dây (2 dây to đồng âm, 2 dây nhỏ đồng âm) nên ngày nay các nghệ nhân chỉ mắc dây trên 2 trục. Tuy nhiên có người lại gắn 4 dây với 4 âm khác nhau theo kiểu đàn Mandoline. Đây là sự cách tân đáng chú ý.

Đàn Tứ Thùng là cây đàn cải tiến mới xuất hiện khoảng 40 năm nay ở Việt Nam. Đàn được tạo dáng với thùng đàn hình thang như đàn đáy và gắn bốn dây nilon. Nhìn chúng các dây đàn được chỉnh khá căng trên hàng phím tương đối cao, thích hợp để sử dụng ngón vê. Cần đàn được gắn phím theo hệ thống 12 bán âm như hệ thống thang âm Tây phương. Vì lẽ đó Đàn Tứ Thùng rất thuận tiện trong việc trình tấu những sáng tác lấy chất liệu từ âm nhạc dân gian, truyền thống nhưng lại mang phong cách âm nhạc hiện đại.

Đàn Tứ có âm sắc tươi sáng, thích hợp để diễn tả những giai điệu sôi nổi, mạnh mẽ. Tuy nhiên nên dùng dây tô hay dây nilon, Đàn Tứ có khả năng diễn đạt tính chất trữ tình.

Đàn Tứ có 10 phím, gắn theo hệ thống thất cung chia đều (không có những quảng nửa cung), nghĩa là không hoàn toàn giống hệ thống thất cung của phương Tây. Trong lúc diễn nghệ sĩ dùng cách nhấn dây để tạo âm thanh thích hợp với các loại bài bản.

Đàn Đoản (Tứ Tròn).
Đàn Đoản (Tứ Tròn).

Khi biểu diễn, tay phải sử dụng những kỹ thuật chính như ngón vê, ngón phi, còn tay trái thường dùng ngón vuốt, ngón nhấn, ngón luyến và đánh chồng âm (tương tự đàn tỳ bà).

Đàn Tứ thường xuyên xuất hiện trong một số ban nhạc cổ truyền như cải lương hoặc hát bội (bộ). Nhiệm vụ chính của Đàn Tứ là hòa tấu.

Dưới đây mình có các bài:

– Đàn Đoản
– Kỹ thuật chơi Đàn Đoản

Cùng với 7 clips tổng hợp độc tấu, hòa tấu Đàn Tứ/Đoản do các nghệ nhân ưu tú của Việt Nam & Trung Hoa diễn tấu để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

dantu

ĐÀN ĐOẢN

(Tạ Thâm)

Đàn Đoản là nhạc khí truyền thống của dân tộc Việt và một số dân tộc ít người ở miền Bắc Việt Nam. Tương tự với đàn Đoản, người H’Mông có Thà Chìn, người Lô Lô có Gièn Xìn, hộp đàn mỏng hơn, có vẽ hoa và khoét lỗ thoát âm.

Đàn Đoản là nhạc khí dây gảy loại có dọc (cần đàn), một số các nước khác ở Châu Á cũng có, đàn Đoản được nhập vào Việt Nam và trở thành đàn Việt Nam.

Bài viết hôm nay, mời các bạn cùng Tạ Thâm tìm hiểu về đàn Đoản.

I. Hình thức cấu tạo

Đàn Đoản là nhạc khí dây gảy (cần ngắn) có 4 dây.

1. Thùng đàn
2. Mặt đàn
3. Dọc đàn (cần đàn)
4. Dây đàn
5. Bộ phận lên dây
6. Phím gảy đàn

Thùng đàn: hình tròn dẹt, đường kính 35cm, thành đàn dầy 7cm, bằng gỗ cứng, đáy đàn bịt gỗ, không khoét lỗ thoát âm.

Mặt đàn: mặt đàn làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc trên mặt đàn có ngựa đàn.

Dọc đàn (cần đàn): rất ngắn khoảng 20cm, làm bằng gỗ cứng, chỉ gắn được 2 phím, còn 8 phím gắn ở mặt đàn, chiếm giữa hình tròn của mặt đàn. Các phím đều cao, được gắn dựa theo thang âm bảy cung chia đều.

Dây đàn: bằng tơ se nay thay bằng nylông, hai dây to cùng một âm, 2 dây nhỏ cùng một âm, được lên cách nhau một quãng 5 đúng: Sol 1 – Rê2

Bộ phận lên dây: có 4 trục gỗ để lên dây, một trục gỗ xuyên ngang hai bên thành đàn (ở phía cuối thân đàn) để mắc dây và lên dây. Bộ phận lên dây được cải tiến để dây không bị chùng xuống.

Phím gảy đàn: nhạc công gảy đàn bằng miếng nhựa với những ngón gảy, hất, vê…

dantu4

 

II. Màu âm, tầm âm

Màu âm đàn Đoản trong sáng, tươi tắn. Tầm âm rộng hơn 2 quãng 8 từ Sol1 đến Mi 3 (g1 – e3).

Khoảng âm dưới: tiếng đàn ấm, vang và tình cảm.
Khoảng âm giữa: tiếng đàn trong sang.
Khoảng âm cao: tiếng đàn đanh, khô, ít vang, gây căng thẳng.

dantu5

dantu6

 

dantu7

 

dantu8

 

dantu

 

Kỹ Thuật Chơi Đàn Đoản

(Tạ Thâm)

Cũng như đàn Nguyệt, đàn Đáy…, để chơi được đàn Đoản, người chơi cần có kiến thức căn bản về kỹ thuật chơi. Và trong bài viết này, Tạ Thâm xin giới thiệu với các bạn Kỹ thuật chơi đàn Đoản.

I. Tư thế đàn

1- Ngồi thấp: xếp chân trên chiếu
2- Ngồi thẳng trên ghế, đàn được đặt ngang tầm tay
3- Đứng: đàn được đeo vào vai bằng dây, nghệ nhân đàn với tư thế đứng.

Kỹ thuật tay trái: có ngón vê, ngón vuốt, ngón nhấn, ngón láy, đánh chồng âm. Đàn Đoản có khả năng diễn tấu nhanh, rất linh hoạt.

Kỹ thuật tay phải: nghệ nhân để móng tay dài, sử dụng ngón cái và ngón trỏ để gảy, hiện nay phổ biến nhất là sử dụng miếng gảy.

Ngón gảy: là dùng miếng gảy đánh vào dây từ trên xuống, ký hiệu là chữ U ngược.

Ngón hất: là sử dụng miếng gảy hất từ dưới lên, ký hiệu chữ V.

Ví dụ: (160-3)

dantu9

Ngón vê: dùng miếng gảy đánh xuống và hất lên lien tục, nhanh và đều, ký hiệu gạch 3 chéo ở đuôi nốt. Vê làm cho tiếng đàn vang đều từ đầu đến hết độ ngân của nốt nhạc, làm cho nốt nhạc thêm sinh động, giàu sức biểu hiện, đực sử dụng rất nhiều.

dantu10

Ngón nhấn: tạo cho hai âm nối liền nhau, luyến với nhau nghe mềm mại như tiếng nói với nhiều thanh điệu, tình cảm. Khi đánh ngón tay phải chỉ gảy một lần, ký hiệu ngón nhấn là mũi tên đi vòng lên hay vòng xuống đặt từ nốt nhấn đến nốt được nhấn tới.

Ví dụ: (163-10)

dantu11

Ngón láy: còn gọi là ngón vỗ, thường dung ngón 1 bấm cug pím, tay phải gảy đàn, khi âm thanh vừa phát lên sử dụng ngón 2 hoặc cả hai ngón 2 và ngón 3 vỗ vào dây trên cùng một cung phím liền bậc ở ngay dưới cần đàn, âm mới này sẽ cao hơn âm chính một cung liền bậc (điệu thức ngũ cung). Âm thanh ngón láy nghe gần như tiếng nắc, diễn tả tình cảm xao xuyến.

Ngón láy rền: là tang cường động tác của ngón láy cho nhanh và nhiều hơn với sự phối hợp vê dây của tay phải, sử dụng chữ tắt của Trille và hai gạch chéo ở trên hoặc ở dưới nốt nhạc (nếu là nốt tròn) hay trên đuôi nốt nhạc.

Ví dụ: (165-6)

dantu12

Ngón vuốt: là cách vuốt dây của tay trái trong khi tay phải không gảy, không vê, không phi, âm thanh các ngón vuốt xuống phát ra nhỏ, yếu nhưng không thể dung trong hòa tấu. Do vậy các âm vuốt thường xen kẽ với các âm gảy, vê hay phi để có thể thừa hưởng dư âm của các âm ấy. Ký hiệu ngón Vuốt là dùng gạch nối giữa hai nốt.

Ví dụ: (166-7)

dantu13

Vuốt có vê: dùng gạch nối giữa hai nốt đồng thời gạch hai gạch chéo ở nốt nhạc có đuôi, nếu nốt nhạc không có đuôi thì gạch hai gạch chéo ở trên hoặc dưới nốt.

Ví dụ: (167-8)

dantu14

Chồng âm – Hợp âm của đàn Đoản rất thuận lợi, đặc biệt những thế bấm phím dưới cần đàn. Đàn có phím nên có thể đánh được nhiều kiểu chồng âm, hợp âm, nếu đàn bằng miếng gảy đánh được cùng một lúc trên các dây cách nhau. Khi viết chồng âm, hợp âm cho đàn Đoản nên tận dụng.

Ví dụ: (168-11)

dantu15

Chồng âm có vê:

Ví dụ: (169-12)

dantu16

Đàn Đoản thường được tham gia trong Phường bát âm, dàn nhạc sân khấu Tuồng, Cải Lương, ngày nay đàn Đoản đã được đưa vào dàn nhạc Dân tộc Tổng hợp hòa tấu.

oOo

Yueqin – Song of the Oil Workers:

 

Yueqin – A Million Bold Warriors Crossing the Yangtze River:

 

Yueqin – Charm of Manchu – Dance of Fire:

 

Lý Ngựa Ô – (Đàn Tranh + Sáo Trúc + Đàn Tứ):

 

Câu hò bên bờ Hiền Lương [LIVE] – đàn Bầu, đàn Tứ, đàn Tranh, Sáo trúc và Trống:

 

Trống Cơm [LIVE] – đàn Bầu, đàn Tứ, đàn Tranh, Sáo trúc và Trống:

 

Đoản Ca Xuân – Thầy Đinh Linh – Ngẫu hứng Đàn Tứ:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s