Nhạc cụ cổ truyền VN – Trống

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn một nhạc cụ đặc biệt, chuyên làm nền cho mọi dàn nhạc, trong bộ nhạc cụ gõ của Việt Nam – Trống

Trống là một nhạc cụ quan trọng trong bộ gõ, nó quyết định khá nhiều về nhịp nhạc, làm cho nhạc sinh động hơn cũng như giữ nhịp cho nhạc. Nhiều bài nhạc chỉ cần Trống thôi cũng đủ tạo nên bản nhạc. Trống thường to và tròn, cân đối, được chia làm ba phần:

* Mặt trống
* Thân trống
* Đế trống

Để tạo ra âm thanh người ta có thể dùng ngón tay hoặc dùng dùi trống.

Trống là nhạc cụ lâu đời và phổ biến nhất trên thế giới, và thiết kế của nó về cơ bản vẫn hầu như không thay đổi trong bao ngàn năm.

Nghệ sĩ Linh Phượng biểu diễn Trống VN tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế, USA.
Nghệ sĩ Linh Phượng biểu diễn Trống Đại (Đại Cổ), Trống Văn & Trống Võ (Trống Nhạc), Trống Bản, và chị Lê Thị Nga (Giám đốc Nhà Việt Nam, Florida) biểu diễn Cồng Việt Nam tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế, USA.

 

Một bộ Trống hoàn chỉnh thường có:

1. Trống Cái/Trống Đại/Đại Cổ là Trống truyền thống Việt Nam âm trầm. Trống Cái không có kích thước chuẩn mực, loại trống nào người ta thấy có đường kính từ 50 cm trở lên thì có thể gọi là Trống Cái (Trống Lớn) để phân biệt với loại Trống Vừa có kích thước trung bình và loại Trống Nhỏ (dùng làm đồ chơi như Trống Bỏi). Trống được chế tác bằng gỗ, hình thể như thùng rượu, phát ra âm vực trầm, mạnh. Trống Cái/Trống Đại/Đại Cổ thường được treo hoặc đặt trên một khuôn trống trong các dàn nhạc tuồng cổ như Hát Bội, Cải Lương, Chèo, Dàn Nhạc Dân Tộc… với nhiệm vụ giữ âm chính. Trống Cái/Trống Đại/Đại Cổ luôn dùng để hổ trợ trong các dàn nhạc và các giọng hát. Vào thế kỷ 15 và 16, Trống Cái/Trống Đại/Đại Cổ đã xuất hiện trong các dàn nhạc như Đường Thượng Chi NhạcNhã Nhạc. Đến thế kỷ 18 người ta nhận thấy sự có mặt của nó trong Dàn nhạc lễ và trong các Ban nhạc sân khấu để tạo không khí kịch tính.

Trống Cái/Trống Đại/Đại Cổ cũng còn là nhạc cụ chính trong Dàn nhạc Múa Lân và thường được cộ đi trước trong đoàn.

2. Trống Con đủ cở được cấu tạo khác nhau với âm vực thấp và vừa.

Trần Đình Hoành biểu diễn Trống tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế, USA.
NS Trần Đình Hoành biểu diễn Trống Đại (Đại Cổ) Việt Nam tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế, USA.

 

Trống Cái và Trống Con.
Bộ Trống dân tộc VN hoàn chỉnh: Trống Cái và Trống Con.

 

Số lượng của một dàn trống tùy thuộc theo khả năng diễn tấu của mỗi nghệ nhân.

Thường trong một dàn trống hiện đại có cả Trống Bongo, Timpani và Cymbals tạo tiếng kim loại hay được gọi là Não Bạt hay Chũm Chọe.

Một bộ Trống hiện đại hoàn chỉnh.
Một bộ Trống hiện đại hoàn chỉnh.

Trống thường được diễn tấu bằng cách đánh bằng tay, hoặc với một hoặc hai dùi trống. Trong nhiều nền văn hóa truyền thống, Trống có chức năng biểu tượng và được sử dụng trong các nghi lễ tôn giáo. Trống thường được sử dụng trong liệu pháp âm nhạc, đặc biệt là trống tay, vì bản chất xúc giác của chúng và khả năng dễ sử dụng.

Trống Karyenda.
Trống Karyenda.

 

Trong âm nhạc phổ thông, “Trống” thường dùng để chỉ một bộ trống với một số chũm chọe, còn “Tay Trống” là để chỉ nghệ nhân đánh trống.

Trống thậm chí được coi là biểu tượng của Chúa Trời ở những nơi như Burundi, tại đó trống ”Karyenda” là một biểu tượng về sức mạnh của nhà vua.

Mặt của Trống hầu hết là hình tròn, nhưng hình dạng của phần còn lại của thân trống rất khác nhau. Trong truyền thống âm nhạc phương Tây, hình dạng thông thường nhất là một hình trụ, ngoại lệ là Timpani có hình cái bát. Các hình dạng khác bao gồm một thiết kế khung vuông (Tar, Bodhrán), hình nón cụt (trống Bongo, Ashiko), hình cái cốc (Djembe), và hình nón cụt nối ghép (Trống Nói – Talking Drum).

Trống Timpani.
Trống Timpani.

 

Anatomy of a Timpani Drum
Anatomy of a Timpani Drum

 

Trống Tar, Bodhrán.
Trống Tar.

 

Trống Bodhráns.
Trống Bodhráns.

 

Trống Bongo.
Trống Bongo.

 

Trống Ashiko.
Trống Ashiko.

 

Trống Djembe.
Trống Djembe.

 

Trống Nói (Talking Drum).
Trống Nói (Talking Drum).

 

Trống Conga.
Trống Conga.

 

Trống Tabla, Ấn Độ.
Trống Tabla, Ấn Độ.

 

Trống có cấu tạo khá đơn giản, nhưng chỉ một chút khác biệt cũng đủ để tạo ra âm thanh khác nhau. Trống thường dành cho những loại nhạc R&B, dance, jazz có cấu tạo trầm ấm sâu sắc và có tiếng vang lâu và xa. Khác với những loại Trống dành cho rocker thì có cấu tạo âm sắc lạnh, bổng và rõ hơn Trống thường.

Mặt Trống được cấu tạo từ nhiều loại da khác nhau và được căng lên và được đóng chặt trên thành trống. Càng cứng thì âm thanh rõ hơn và trầm hơn.

Trống với vỏ hình trụ có thể được mở ở một đầu (như trong trường hợp với Timbales), hoặc có thể có hai đầu trống. Trống duy nhất đầu thường dùng da phủ trên một mặt kín, hoặc trên một ống tròn rỗng. Trống có hai đầu bao gồm cả hai đầu của một vỏ hình trụ, với một lỗ nhỏ nằm giữa hai đầu. Lớp vỏ trống tạo thành hộp cộng hưởng cho âm thanh phát ra. Trường hợp ngoại lệ bao gồm khe trống châu Phi, còn được gọi là một Trống Gỗ, vì nó được làm từ một thân cây rỗng ruột, và Trống Thép Caribbean được làm từ một cái thùng kim loại. Trống có hai đầu cũng có thể có một bộ dây, gọi là Snare, được buộc từ trên xuống dưới, ở một đầu, hoặc cả hai đầu.

Trống Thép (Steel Drum).
Trống Thép (Steel Drum) Caribbean.

 

Diễn tấu Trống Thép.
Diễn tấu Trống Thép Caribbean.

 

Tại các dàn nhạc hiện đại, mặt trống được đặt trên phần trên Trống, được dùng niềng giữ chặt vào sườn trống, với một số vít điều chỉnh sức căng đặt đồng đều xung quanh mặt tròn của Trống. Độ căng của mặt trống có thể được điều chỉnh bằng cách nới lỏng hay thắt chặt các vít trên. Nhiều Trống có sáu đến mười vít điều chỉnh. Âm thanh Trống phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm hình dạng, kích thước và độ dày vỏ trống, vật liệu vỏ trống, vật liệu niềng giữ, vật liệu mặt trống, sức căng mặt trống, vị trí trống, vị trí, vận tốc và góc của dùi trống khi chạm vào Trống.

Trước khi phát minh của vít chỉnh sức căng mặt trống, Trống Da được gắn và điều chỉnh bởi hệ thống dây như ở Trống Djembe hoặc chốt và dây như trên Trống Ewe. Những phương pháp này hiện nay ít được sử dụng, mặc dù đôi khi xuất hiện trên các dàn trống của ban nhạc dùng trong diễn hành. Đầu Trống Nói (Talking Drum) có thể được thắt chặt tạm thời bằng cách xiết chặt các dây kết nối hai đầu trên và dưới. Tương tự như vậy, Trống Tabla được điều chỉnh bằng cách gõ vào miếng sắt tròn được buộc chặt vào Trống bằng dây nối từ trên xuống dưới. Trống Timpani trong dàn nhạc có thể điều chỉnh nhanh chóng để có được nốt nhạc chính xác bằng cách sử dụng một bàn đạp chân.

Diễn tấu Trống Djembe.
Diễn tấu Trống Djembe.

 

Trống Ewe.
Trống Ewe.

 

Trống là nhạc cụ xuất hiện sớm nhất, từ những lúc còn sơ khai, người xưa đã biết làm Trống để tạo nên âm thanh có nhịp điệu đầu tiên trong lịch sử, Trống ngày xưa chỉ là một cái thùng rỗng và được phủ lớp da cứng và căng để tạo âm thanh.

Trống được làm từ da cá sấu được tìm thấy ở Trung Hoa, khoảng giai đoạn 5500–2350 TCN. Trong các ghi chép, Trống của người Trung Hoa được dùng trong các nghi lễ để tạo không khí thần thánh.

Trống có mặt bằng da cá sấu.
Trống có mặt bằng da cá sấu.

 

Trống Taiko (Đại Cổ/Trống Lớn), của Nhật có truyền thuyết huyền thoại trong văn hóa cổ truyền, nhưng các tài liệu lịch sử có khuynh hướng nói rằng Trống Taiko của Nhật du nhập vào Nhật từ Triều Tiên và Trung Hoa từ thế kỷ VI – CE.

Trống Taiko của Nhật.
Trống Taiko của Nhật.

 

Diễn tấu Trống Taiko.
Diễn tấu Trống Taiko.

 

Trống đồng Đông Sơn được chế tác từ văn hóa Đông Sơn thời đại đồ đồng ở phía Bắc Việt Nam, bao gồm cả trống Ngọc Lũ I được trang trí tỉ mỉ hơn.

Trống đồng Đông Sơn, trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.
Trống đồng Đông Sơn, trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.

 

Trống đồng Ngọc Lũ thuộc loại nguyên vẹn nhất, hoa văn dày đặc nhất từng được phát hiện.
Trống đồng Ngọc Lũ thuộc loại nguyên vẹn nhất, hoa văn dày đặc nhất từng được phát hiện.

 

Trống Sấm là loại trống to có tiếng vang như tiếng sấm, mặt trống có đường kính khoảng 1.50m tang trống cao khoảng 1.70m. Hai mặt trống bịt da của hai con trâu mộng, được đóng vào tang trống bằng đinh tre. Tang trống làm bằng gỗ mít, hình thùng rượu, có ba đai bằng dây cật tre kết vòng quanh thân trống. Trong Cung Đình Trống Sấm được treo trên giá gỗ sơn son. Nghệ nhân dùng dùi gỗ găng khi diễn tấu trống. Trống Sấm tham gia các Dàn Nhạc Cung Ðình: Ðường Thượng Chi Nhạc (thời Hậu Lê), Ðại Nhạc (thời Nguyễn). Trống Sấm còn được sử dụng cùng với Trống Ðồng đánh xen kẽ nhau trong các đại lễ của các vương triều.

Trống Sấm.
Trống Sấm.

 

Trống Chiến/Trống Phó Sư là nhạc cụ hòa tấu tham gia trong dàn nhạc lễ, có âm thanh rộn ràng vang xa. Khi diễn tấu nghệ nhân đặt trống lên giá đỡ, gõ vào mặt trống sao cho một mặt có tiếng trầm, một mặt có tiếng bổng (tùng và tang) được gọi là mặt âm và mặt dương. Đặc biệt, Trống Chiến còn có tên là Trống Phó Sư, và là trụ cột trong Dàn Nhạc Sân Khấu Tuồng/Hát Bội, dùng đánh chấm câu, mở câu, thôi thúc nhịp điệu, tạo nên tiết tấu múa hát tuồng.

Trống Chiến.
Trống Chiến.

 

Trống Phong Yêu phổ biến ở Việt Nam, đồng thời các nước khác ở Châu Á cũng có, được nhập vào Việt Nam và trở thành nhạc khí Việt Nam. Tang trống bằng gỗ, dài khoảng 45cm, giữa tang trống thắt lại, một đầu hình cầu, đầu kia loe ra như miệng phểu. Hai mặt trống được bịt da, một mặt nhỏ đường kính khoảng 15cm, một mặt to đường kính khoảng 20cm, buộc chằng với nhau bằng những sợi dây mây để căng da trống. Hai mặt trống với hai âm đối nhau: âm trầmâm bổng. Khi diễn tấu trống được đặt ngang, nghệ nhân dùng hai tay vỗ lên hai mặt trống tạo nên hai âm trầm bổng đối nhau. Trống Phong Yêu được sử dụng hòa tấu trong Dàn Nhã Nhạc và trong Ban Nhạc Ty Giáo Phường ngày xưa.

Trống Phong Yêu.
Trống Phong Yêu.

 

Trống Nhạc là loại trống đặc biệt của người miền đồng bằng Nam Bộ. Trống Nhạc là một đôi trống mang tên Trống Văn, Trống Võ hay Trống Đực, Trống Cái.

Trống Nhạc được chế tác bằng gỗ mít có đường kính khoảng 50cm, tang trống cao khoảng 20cm, hai mặt trống hình tròn bằng nhau đều được bịt bằng da. Đường kính ở tang trống đoạn giữa lớn hơn đường kính mặt trống khoảng 6cm. Khi diễn tấu nghệ nhân đặt trống trên khung trống và dùng hai dùi bằng gỗ gõ vào nhiều vị trí khác nhau trên mặt trống & tang trống tạo ra nhiều âm thanh trầm bổng khác nhau.

Âm thanh Trống Nhạc rất to, vang. Trống Nhạc thường được dùng trong các Dàn Nhạc Lễ của người Miền Nam.

Trống Nhạc cũng được dùng trong Ban Đại Nhạc (triều Nguyễn).

Ban Nhạc Lễ Miền Nam với hai Trống Văn, Trống Võ.
Ban Nhạc Lễ Miền Nam với hai Trống Văn & Trống Võ (Trống Nhạc).

 

Nghệ sĩ Linh Phượng biểu diễn Trống tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế, USA.
Nghệ sĩ Linh Phượng biểu diễn Trống Văn & Trống Võ (Trống Nhạc) cùng với Trống Bản Việt Nam tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế, USA.

 

Trống Bản là loại trống dẹt, hai mặt được bịt da, đường kính khoảng từ 30cm trở lên, tang trống bằng gỗ cao khoảng 10cm trở lên.

Âm thanh Trống Bản to, vang. Nghệ nhân diễn tấu bằng 2 dùi gỗ. Trống Bản thường được dùng hòa tấu trong Ban nhạc Tang lễ, Ban nhạc tế thần…

Bộ trống Cà Rùng gồm 4 Trống Bản hòa với một Trống Khẩu, 1 Thanh La, và một Trống Cái dẫn nhịp với âm thanh “rinh, tùng, rinh” thường sử dụng trong các đám rước, các ngày Lễ hội.

Trống Bản.
Trống Bản.

 

Trống Chùa chỉ có một mặt được bịt bằng bong bóng lợn, đường kính khoảng 20cm, tang trống bằng gỗ, cao khoảng 3cm, có một tay cầm dài khoảng 12cm.

Trống Chùa cùng với Mõ, Chuông, Trống Ðế… điểm nhịp cho việc tụng Kinh trong Chùa…

Trống Chùa.
Trống Chùa.

 

Cùng loại trống có tay cầm như trống Chùa là Trống Khẩu (còn gọi là Trống Tiểu Cổ) của dân tộc Việt. Trống Khẩu có hai mặt bịt da, đường kính 18cm, tang Trống Khẩu cao 8cm (trong khi tang trống Chùa chỉ cao 3cm), có một chuôi cầm dài khoảng 12cm cắm vào giữa tang trống. Trống Khẩu đánh một dùi. Trống Khẩu tham gia trong bộ trống Cà Rùng, cùng với Trống Bản, Thanh La, Trống Cái, sử dụng trong đám rước kiệu với chức năng điều khiển đi nhanh, chậm, giữ thăng bằng. Với những hiệu lệnh, tiết tấu được quy định, có trường hợp đánh theo các điệu hát, chỉ huy các điệu múa.

Trống Khẩu.
Trống Khẩu.

 

“Với cái tên là Trống Lệnh, tại vùng của người miền xuôi, trống này cũng giống như Trống Khẩu về hình dáng và ứng dụng. Người ta dùng tiếng trống này để ra lệnh cho việc lễ nghi hay trong đám rước.” (trích NS Phạm Duy)

Trống Lệnh.
Trống Lệnh.

 

Từ thế kỷ 10 (đời nhà Lý), Trống Cơm đã xuất hiện ở Việt Nam. Trước khi đánh trống người ta thường lấy cơm nghiền nát, trét vào giữa mặt trống để định âm, do đó trống này gọi là Trống Cơm.

Tương tự ở Miền Nam Ấn Độ có trống Mridangam, trên mặt trống có một ít cơm nghiền – hoặc miếng bột mì trộn nhuyễn như miếng bánh – dán lên làm cho tiếng trống êm ái hơn.

Trống Mridangam của Ấn Độ.
Trống Mridangam của Ấn Độ.

 

Trống Cơm có 2 mặt trống hình tròn bằng nhau, đường kính khoảng 15 – 17 cm. Mặt trống bịt da, đường viền buộc bằng sợi mây hay da (dây xạ) kéo từ đầu trống này sang đầu trống kia để chỉnh độ căng giữa 2 mặt trống. Tang trống bằng gỗ hình ống tròn dài khoảng 56 – 60 cm, hai đầu hơi khum lại, đường kính ở tang trống đoạn giữa lớn hơn đường kính mặt trống. Tang trống để mộc hoặc sơn đỏ.

Có loại Trống Cơm đường viền đóng bằng đinh tre vào tang trống. Người ta trét cơm (thường là cơm nóng) vào giữa để định âm. Nếu trét nhiều cơm thì âm thanh phát ra trầm, ít cơm thì âm thanh sẽ cao hơn. Mặt trầm gọi là mặt thổ, mặt cao là mặt kim.

Hai mặt trống cách nhau một quãng năm đúng.

Trống Cơm có âm thanh vang nhưng mờ đục, diễn tả tốt tình cảm buồn, sâu sắc. Tiếng Trống Cơm nghe gần giống tiếng đàn hồ lớn bật dây nên đôi lúc người ta sử dụng nó thay âm thanh đàn hồ lớn trong những âm trầm nhất định nào đó. Tùy theo chất cơm trét mặt trống âm thanh phát ra sẽ có chất lượng tốt hay xấu tương ứng.

Để diễn trống này người ta đeo trống bằng 1 dây da quàng qua cổ, đặt trống ngang trước bụng rồi dùng 2 tay vỗ vào 2 mặt trống. Tay trái vỗ vào mặt thổ phát ra âm trầm, tay phải vỗ vào mặt kim phát ra âm cao.

Trống Cơm có kỹ thuật diễn chính như đánh chập (tay trái vỗ mặt thổ, tay phải bịt mặt kim), ngón vê (dùng ngón tay hoặc bàn tay chạm liên tục thật nhanh trên mặt trống).

Trống Cơm.
Trống Cơm.

 

Trống Cơm đã đi sâu vào đời sống âm nhạc dân gian người Việt qua bài dân ca Trống Cơm khá phổ biến.

Trống Cơm là nhạc cụ quan trọng trong Nhạc Lễ Nam BộTuồng. Còn trong Chèo thì Trống Cơm chỉ đóng vai trò đánh luồn vào đàn chứ không có bài bản riêng. Nhiều ban nhạc ngày nay cũng sử dụng Trống Cơm.

Trống luôn được sử dụng trong các lễ hội của 54 sắc tộc người Việt và dân tộc Việt Nam dùng Trống để khích lệ quân lính trước khi ra trận cũng như huấn luyện quân binh.

Trống Nói (Talking Drum): Trống được dùng như một công cụ truyền tin vượt qua những khoảng cách xa. Tại châu Phi, các Trống Nói mô phỏng các âm thanh con người phát ra. Trong lịch sử Sri Lanka, Trống đã được sử dụng để liên lạc giữa chính quyền và người dân, với một lịch sử trải dài hơn 2500 năm.

Trống Nói (Talking Drum).
Trống Nói (Talking Drum).

 

Trống dùng trong quân sự: Thời cổ đại người Trung Hoa sử dụng Trống Tàigǔ để động viên quân đội, giúp tạo nhịp hành quân và chỉ đạo binh lính. Ví dụ, trong một cuộc chiến tranh giữa Qi và Lu năm 684 trước Công nguyên, tác dụng của Trống cổ vũ tinh thần người lính đã thay đổi kết quả của một trận đánh lớn.

Trống Tàigǔ.
Trống Tàigǔ.

 

Quân đoàn của lính bộ binh đánh thuê Thụy Sĩ cũng sử dụng Trống. Họ đã sử dụng một phiên bản đầu của Trống Snare treo trên vai phải của người lính bằng dây đeo khi chơi với một tay. Tương tự trong Nội chiến Anh, Trống buộc dây thừng sẽ do các quân lính cấp thấp mang đi để chuyển lệnh của các sĩ quan cấp cao, tránh tiếng ồn của trận chiến đấu. Trống được treo trên vai của nghệ nhân mang trống và thường diễn tấu với hai dùi trống. Các đơn vị lính khác nhau sẽ có nhịp đập Trống khác nhau riêng biệt. Vào giữa thế kỷ 19, quân đội Scotland bắt đầu kết hợp các nhóm chuyên gia Trống vào Quân đoàn Highland của họ.

Trống Snare.
Trống Snare.

 

Trong chiến tranh thời tiền Columbo, các quốc gia Aztec đã sử dụng Trống để gửi tín hiệu đến các chiến binh đang chiến đấu. Tên của Trống được tạm dịch là Huehuetl.

Trống Huehuetl và Trống Teponaztle.
Trống Huehuetl và Trống Teponaztle.

 

Rig Veda, một trong những tôn giáo lâu đời nhất ở kinh thế giới, chứa một số tài liệu tham khảo để sử dụng Dundhubi (Trống dùng trong chiến tranh). Bộ lạc Arya tiến vào trận theo nhịp của Trống này và tụng bài thánh ca có trong Sách VI của kinh Veda và Atharva Veda. Tên của bài thánh ca đó gọi là “Nhịp trống của trận chiến”.

Các loại trống trên thế giới:

• Aburukuwa
• Ashiko
• Bass drum
• Batá
• Bedug
• Bodhrán
• Bongo drums
• Bougarabou
• Cajón
• Candombe drums
• Chalice drum
• Chenda
• Cocktail drum
• Conga
• Darbuka
• Damphu
• Davul
• Dayereh
• Dhak
• Dhimay
• Dhol
• Dholak
• Djembe
• Trống đồng Đông Sơn
• Doumbek
• Dunun
• Ewe Drums
• Frame drum
• Goblet drum
• Hand drum
• Ilimba drum
• Karyenda
• Kpanlogo
• Lambeg drum
• Log drum
• Madal
• Mridangam
• Repinique
• Side drum (Marching snare drum)
• Slit drum
• Snare drum
• Steelpan (Steel drum)
• Surdo
• Tabor
• Tamborim
• Tambourine
• Taiko
• Tabla
• Talking drum
• Tapan
• Tar
• Tavil
• Tenor drum
• Timbales
• Timpani
• Tombak
• Tom-tom drum
• Tongue drum

Dưới đây mình có các bài:

– Thùng thùng trống đánh ngũ liên
– Độc đáo Trống Sấm và Trống Chiến
– Trống Tại Vùng Cao

Cùng với 59 clips tổng hợp nghệ thuật diễn tấu các loại Trống trên thế giới để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Đôi uyên ương Trần Đình Hoành & Linh Phượng cùng với chị Lê Thị Nga (Giám đốc Nhà Việt Nam, Florida) diễn tấu Trống và Cồng VN tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế, USA.
Anh Trần Đình Hoành, nghệ sĩ Linh Phượng, chị Lê Thị Nga hòa tấu Trống Đại, Trống Văn & Trống Võ (Trống Nhạc), Trống Bản, và Cồng Việt Nam tại Hội Chợ Sắc Tộc Quốc Tế, USA.

Thùng thùng trống đánh ngũ liên

(GS TS Trần Văn Khê)

Trống là một nhạc khí dùng chia thời gian thành những quãng đều nhau hay không đều để tạo ra nhịp điệu, tiết tấu. Trên thế giới người ta chia trống thành hai loại: một mặt da và hai mặt da. Bộ phận quan trọng nhất là thùng trống có nhiều hình thức khác nhau (ống dài, tròn dẹp, lưng ong, thùng rượu) với cách đánh khác nhau (đánh bằng dùi hay vỗ bằng tay).

Kỹ thuật chế tạo trống: dán mặt da, đóng đinh, đóng cút, căng dây, và phong cách biểu diễn ở phần lớn các nước đều tương tợ nhau, chỉ khác nhiều về chức năng của trống.

Đặc sắc nhất có thể nói là Ấn Độ với những cách đánh từng loại trống rất tinh vi về nghệ thuật. Trống ở châu Phi thể hiện như ngôn ngữ trò chuyện, thậm chí đối thoại với nhau từ hai bên bờ sông.

Trống Ấn Độ.
Trống Ấn Độ.
Trống Phi Châu.
Trống Phi Châu.

Riêng trống của Việt Nam có một số điểm đặc biệt hơn ở các nước khác, với sự đa dạng về hình thức, độc đáo về màu âm và phong phú về chức năng mà trên thế giới ít nơi nào sánh bằng.

Hình thức đa dạng

Một trong những loại trống độc đáo của chúng ta là cái bồng, một nhạc cụ có vị trí rất đặc biệt trong Đại Nhạc của Nhạc Cung Đình và Nhạc Lễ ở Miền Nam.

Bồng là loại trống một mặt, thân trống bằng gỗ hay đất nung hình dáng như cái bình, phía dưới bịt kín, phía trên miệng xoè có bịt miếng da trăn. Chung quanh vành da trăn xoi hơn 20 lỗ để lòn dây mây qua căng thẳng mặt trống và thắt chặt ở bên dưới. Một sợi dây mây khác cột miết các sợi dây chằng, khi siết mạnh mặt trống được căng ra và tiếng bồng cao hơn, khi buông thả ra thì tiếng trống trầm. Người sử dụng hoặc ngồi trên ghế kẹp bồng giữa hai đùi, hoặc ngồi xếp bằng để chiếc bồng thắt đáy lưng ong giữa hai chân, hai tay vỗ bồng.

Trống hai mặt thì Việt Nam có rất nhiều, thông thường chia ra hai loại tiểu cổ (trống nhỏ) và đại cổ (trống lớn).

Tiểu cổ tuy gọi là trống nhỏ nhưng bao gồm nhiều loại từ nhỏ cho đến vừa và hơi lớn.

Trống chầu trong Ca trù thuộc loại tiểu cổ, không có kích thước cố định mà chiều cao và đường kính khoảng chừng 20 phân, sử dụng một roi chầu dài để đánh theo phong cách rất riêng, roi trống song song với mặt trống và một tay vịn một tay đánh.

Trống đế trong Chèo cũng là tiểu cổ có hai mặt với đường kính từ 17 đến 20 phân, cao từ 22 đến 24 phân, sử dụng hai dùi và đánh cả trên bề mặt, ở mé trống và cả tang trống.

Nhỉnh hơn một chút có loại dùng trong Rỗi bóng là cái trống dẹp với phong cách đánh đặc thù được bà bóng sử dụng vừa đánh trống vừa hát trong các buổi lên đồng.

Lớn hơn nữa có trống chiến trong Hát bội (Hát tuồng), một tiểu cổ hình ống hai da, cao 45 phân, mặt trống có đường kính khoảng 50 phân và đánh bằng hai dùi.

Một loại trống đặc biệt không phải tiểu cổ cũng chẳng phải đại cổ là trống võ có mặt trong Dàn Đại Nhạc của Nhạc Cung Đình hay Nhạc Lễ ở Miền Nam, đường kính từ 40 đến 45 phân, cao chưa đến 20 phân, đặt trên giá ba chân bằng gỗ.

Thông thường trống trong dàn Đại Nhạc hơi cao hơn trống của Nhạc Lễ, nhưng đường kính bề mặt lại nhỏ hơn đôi chút. Dàn Nhạc Lễ trong đám tang có một cặp trống nhạc gọi là trống văn và trống võ (hay trống đực và trống cái) bề cao 15 phân, đường kính 40 phân làm bằng da trâu, chính giữa mặt trống có vẽ vòng tròn âm dương, đặt trên một cái giá ba chân. Người đánh trống là nhạc công chánh nên lúc nào cũng phải mặc áo dài đen, quần trắng và sử dụng một cặp dùi đầu nhọn.

Đại cổ là trống chầu, có trong Hát Chèo, Hát Bội, Nhạc Cung Đình và trong tất cả các đền thờ miếu mạo ở miền Nam.

Ngoài ra có một loại trống khác mà ít người để ý là trống cơm, nguồn gốc từ miền Nam Ấn Độ gọi là trống Mridangam, trên mặt trống có một ít cơm nghiền hoặc miếng bột mì trộn nhuyễn như miếng bánh, dán lên làm cho tiếng trống êm ái hơn. Trống cơm là nhạc cụ quan trọng trong Nhạc Lễ và Hát Bội. Còn trong Hát Chèo thì trống cơm chỉ đóng vai trò đánh luồn vào đàn chớ không có bài bản riêng.

Trong âm nhạc truyền thống, trống hiện diện nhiều nhứt là trong Dàn Đại Nhạc của Nhạc Cung Đình với đủ các loại từ đại cổ, tiểu cổ, cặp trống võ (trống lễ), đến bồng và trống cơm.

Độc đáo màu âm

Trống trong truyền thống Việt Nam có màu âm hết sức đa dạng, sự phối hợp cũng độc đáo với nhiều chức năng phong phú mà ít ai ngờ.

Trong Hát Bội cũng như trong Nhạc Lễ, màu âm của tiếng trống được sử dụng hết sức tinh vi, màu âm khác nhau thì mang ý nghĩa khác nhau.

Tong, thờn, tùng, thùng khi đánh vào giữa mặt da dùng để đánh nhịp hay để chấm câu. Tang, táng, tỏng khi đánh vào vành da, đây là cách đánh sáng. Khi đánh âm táng hay tong liên hồi diễn tả sự sôi động của tâm hồn hoặc tâm trọng giận dữ, hốt hoảng. Tịch là một dùi chặn, một dùi đánh vào giữa mặt da, cũng gọi là cách đánh tối, khi nhân vật biểu lộ sự ngạc nhiên, suy nghĩ hay do dự, có khi nghẹn ngào, uất ức. Cắc là đánh vào tang trống hay vào dăm gỗ khiến màu sắc của tiếng trống tươi tắn hơn, linh động hơn. Rù là hai dùi đánh mau và không mạnh lắm vào mặt trống. Khi đánh mau trong một chỗ gọi là tà roong, tà rờn, tà rùng, tà ráng …

Về kỹ thuật biểu diễn, trong các tiếng trống luôn luôn có tiếng âm và dương trộn lẫn với nhau chớ không đơn thuần một tiếng trống âm hay dương mà thôi. Phong cách này phù hợp với triết lý của dân gian quan niệm rằng vũ trụ có được do sự phối hợp của hai yếu tố âm và dương, tuy khác nhau nhưng không đối chọi mà bổ sung cho nhau.

Trong Hát Bội và Nhạc Lễ có các bài bản dành riêng cho trống với đầy đủ công thức như câu thủ (mở đầu), câu vĩ (kết thúc). Ngoài những nhịp điệu cơ bản, trống Việt Nam còn có những biến tấu, một khi nắm vững công thức đánh mở đầu và kết thúc thì đoạn giữa có thể ứng tác ứng tấu được. Vì vậy khi học đánh trống thì phải học chân phương, nhưng khi biểu diễn phải có thêm hoa thêm lá, thêm nhưn thêm nhuỵ cho đẹp hơn. Trong yếu tố về mỹ học cho phép người biểu diễn không cần giữ những công thức cố định mà có thể thay đổi cho sinh động.

Cách đánh này chỉ có trong truyền thống Ấn Độ và Việt Nam, còn các nước khác hầu hết đều phải cố định.

Chức năng đa dạng

Ở các nước, đa phần tiếng trống chỉ để phụ hoạ theo nét nhạc, làm thành tiết tấu của bản nhạc mà không có nhiều chức năng như trong truyền thống Việt Nam.

Trước đây, trống đại cổ không chỉ dùng trong các dịp lễ tế thần mà còn sử dụng trong đời sống hàng ngày như trống điểm canh để báo hiệu từng canh giờ trong đêm; hay dùng ở trường học những lúc khai trường, nhập học và tan lớp.

Ngoài ra, chiều về hễ nghe tiếng trống thùng thùng diễu qua các con đường làng thì mọi người đều nôn nao:

Ăn no rồi lại nằm khoèo
Nghe tiếng trống chèo vác bụng đi xem

Mặt khác, mỗi khi có tiếng trống vang lên hồi một chính là để báo động các tai biến xảy ra trong làng xóm (cháy nhà, tai nạn, chết người …).

Thời chinh chiến, “thùng thùng trống đánh ngũ liên” ban hiệu lệnh xuất quân thúc giục người chiến sĩ lên đường ra trận giữ yên bờ cõi.

Điểm đặc sắc nhứt là vai trò quan trọng của trống trong các bộ môn nghệ thuật truyền thống như Ca trù, Hát bội, Chèo.

Chèo

Trống đóng vai trò không thể thiếu trong bộ môn nghệ thuật chèo, gồm một trống đại cổ gọi là trống cái (trống chầu) và cái trống đế.

Trống chèo có những chức năng khác như khi khai tràng (mở đầu) có tiếng trống chầu, trống đế (chèo). Đánh những bài đầu thì tiếng trống nổi lên hợp với tiếng mõ và tiếng la tạo ra một không khí sôi động để cho mọi người chú ý để mở màn.

Trống đế dùng hai dùi, khi đánh mau vào hai bên tang trống là róc tang; đánh vào giữa mặt trống là lên mặt; tay trái đè mặt trống, tay phải gõ dùi lên mặt trống la bịt mặt; hai dùi đánh mau trên mặt trống là đổ trống. Đánh theo nhịp gọi là đánh khổ trống với nhiều cách đánh từ đổ 2 nhịp, 4 nhịp, 6 nhịp đến 8 nhịp. Không phải chỉ đánh chân phương mà thường đánh hoa lá, thay đổi theo tình tiết của vở diễn, không khí trầm lắng hay rộn rịp của lớp trò và diễn tả được tâm trọng vui buồn của nhân vật.

Do trống đế là nhạc khí chủ đạo nên người đánh trống đế gần như là chỉ huy dàn nhạc. Người đánh trống càng tinh tế tài hoa thì diễn viên và dàn nhạc càng hứng thú và hiệu quả buổi diễn sẽ càng cao.

Trống Chầu.
Trống Chầu.

 

Hát Bội

Trong Hát Bội nhạc khí đặc biệt nhứt là trống chầu, một chiếc đại cổ đặt bên cạnh sân khấu kế bên dàn nhạc. Người đánh trống chầu không thuộc thành phần nhạc công trong dàn nhạc mà là người am hiểu nghệ thuật Hát Bội để vừa đại diện khán giả, vừa hướng dẫn người xem trong việc phê phán, khen chê một cách chính xác.

Người đánh trống chầu giỏi cũng phải am hiểu văn chương của tuồng để điểm trống cho đúng vì tiếng trống chầu cũng tựa như dấu chấm, dấu phết trong một câu văn. Đánh đúng cách, nói theo giọng nhà nghề là không “đánh lọt vào trong họng” của diễn viên, mà đôi khi còn “đỡ giọng” giúp cho đào kép bằng cách dùng tiếng trống phụ với dàn nhạc gây không khí sôi động cho sân khấu. Đánh một tiếng là điểm câu, hai tiếng là khen vừa, ba tiếng là khen nhiều.

Chính vì vậy ngày xưa trong làng hễ đêm nào nghe tiếng trồng chầu nhiều mọi người bảo nhau: “Chà, hôm nay tiếng trống chầu đánh nhiều, chắc là đoàn này diễn hay lắm, mai phải đi xem mới được”.

Ca Trù

Trong Ca Trù, ngoài đào nương ca, kép đờn đáy phụ hoạ còn có người đánh trống chầu, không chỉ thuần tuý đánh nhịp mà còn nhằm nhận xét, khen chê. Người đánh trống chầu phải là người thật am hiểu Ca Trù và thông thạo lề lối đánh trống, hễ đoạn nào ả đào (diễn viên) hát hay sẽ ngợi khen bằng cách gõ một bên tang trống gọi là Chát, hoặc đánh giữa mặt trống gọi là Tom (vì thế dân gian còn gọi việc đi nghe hát Ca Trù là thú Tom Chát). Có nhiều khổ trống dùng để khen giọng hát hát, tiếng đàn mang tên đầy thi vị như Song Châu, Liên Châu, Xuyên Tâm, Phi Nhạn …

Tóm lại, trên thế giới không có nơi nào có tiếng trống có nhiều cách đánh để bày tỏ sự khen ngợi như vậy, với nhiều công thức khác nhau như khen trước khi dứt câu khác với sau khi dứt câu, cách khen tiếng đàn cũng khác với khen giọng hát…

* * *

Có thể nói, xưa nay người Việt Nam khi thưởng thức âm nhạc ít lưu tâm đến tiếng trống, không cảm nhận được tầm quan trọng của trống trong âm nhạc truyền thống. Rõ ràng nhìn vào bề sâu mới thấy trống có vai trò chủ đạo, dẫn dắt trong sự biểu diễn của một số bộ môn chớ không chỉ đơn thuần đi theo, phụ họa.

Đáng tiếc là một số thanh niên chúng ta ngày nay chỉ mê trống Jazz mà chưa hiểu hết những nét đa dạng, phong phú, sinh động của tiếng trống Việt Nam. Một khi đã biết rồi chắc chắn chúng ta sẽ phải xem đó là một niềm hãnh diện, bởi tiếng trống và cách sử dụng tiết tấu là một trong những ưu thế của âm nhạc truyền thống Việt Nam.

Tiết mục song tấu “Nhịp phách tương giao” do 2 nghệ sĩ Đào Trung Nghĩa và Đinh Văn Công biểu diễn - Ảnh: TL
Tiết mục song tấu “Nhịp phách tương giao” do 2 nghệ sĩ Đào Trung Nghĩa và Đinh Văn Công biểu diễn – Ảnh: TL

Độc đáo Trống Sấm và Trống Chiến

(Gia Nguyễn)

Nghệ thuật sân khấu tuồng Việt Nam là một bộ môn nghệ thuật mang đậm chất bi hùng, bạo liệt với những tình huống mâu thuẫn xung đột căng thẳng. Chính vì thế, âm nhạc của sân khấu tuồng cũng mạnh mẽ và hùng tráng, trong đó có các nhạc cụ gõ giữ vai trò chủ yếu. Nổi bật hơn hết trong dàn gõ là trống sấm và trống chiến.

Sức hấp dẫn của hai loại trống này đã được dân gian ca ngợi:

“Nghe tiếng trống chiến
Không khiến cũng đi
Nghe tiếng trống chầu
Đâm đầu mà chạy”

Trống chầu ở đây chính là trống sấm – loại trống to nhất trong dàn nhạc nói chung và dàn nhạc tuồng nói riêng.

Gọi là trống sấm vì tiếng của nó vang to như sấm, âm thanh vang rền, hùng tráng. Trống sấm thường được dùng mở đầu các bài nhạc lễ, mở đầu các hội hè và mở đầu các vở diễn tuồng. Tùy theo tình tiết của vở tuồng, trống sấm còn có khả năng diễn tả mưa gió, lửa cháy, sấm sét, thúc trống lệnh trong chiến đấu, mở đầu và kết thúc lớp hội triều… Có thể nói, trong dàn nhạc không thể thiếu vắng âm thanh của trống sấm. Tuy không quán xuyến như trống chiến nhưng những âm thanh của trống sấm làm sinh động và tạo khí thế sôi nổi, hùng tráng cho vở tuồng.

Trống sấm còn được gọi là trống cái, có thể hiểu là trống mẹ, trống lớn nhất… Tuy nhiên, khi ngoài dàn nhạc, khán giả dùng trống sấm để gõ khen thưởng, chê diễn viên thì lúc đó người ta gọi là trống chầu. Người đánh trống chầu thường là người có chức phận và kiến văn thưởng thức nghệ thuật nổi trội trong khán giả, thông qua tiếng trống chầu để bình phẩm nghệ thuật biểu diễn của nghệ sĩ. Phép đánh trống chầu có thể điểm qua như sau: Đánh một tiếng “tùng” là chấm câu, chấm động tác cho diễn viên. Đánh hai tiếng là khen, đánh ba tiếng là dồn hồi ngắn, là tán thưởng nhiệt liệt. Đánh tiếng “cắc” là chê diễn viên hát dở.

Trong một đêm diễn, tùy theo địa điểm sân khấu, lượng khán giả, ban tổ chức bố trí từ một đến ba trống chầu đánh hòa hợp với diễn xuất của diễn viên và tạo nên không khí rất sôi động cho đêm diễn. Ở Bình Định còn có câu: “Hát bội Nhưng Sung/ Đánh chầu Bá Ý” để ngợi ca những tâm hồn tri âm tri kỷ của nghệ thuật tuồng thời kỳ trước giải phóng miền Nam.

Nếu như trống sấm to lớn với đường kính ít nhất 70cm, cao cũng khoảng đó thì trống chiến – được mệnh danh là “phó sư” của dàn nhạc tuồng – lại có cấu tạo nhỏ hơn, đường kính khoảng 20 đến 25cm, dăm bằng gỗ mít, bịt da trâu, dùi trống bằng gỗ xay tạo nên âm thanh rất phong phú và đa dạng. Theo các nhạc sư âm nhạc cổ điển Việt Nam, trống chiến có bốn âm chính: tùng (gõ vào mặt trống), tang (gõ vào giữa cạnh mặt trống), rụp (gõ 2 dùi ấn giữa mặt trống), cắc (gõ vào dăm trống). Những âm đó có thể được biến hóa thành nhiều âm khác nhau.

Trống chiến với nhiều âm hình tiết tấu có thể diễn tả mọi tình cảm bi, hùng, hài, nộ và có khả năng diễn tả thời gian (trống khắc canh, trống thu âm), đồng thời diễn tả không gian, tiếng sóng, tiếng gió, ngựa phi, lửa cháy, trận chiến ác liệt và tiếng vó ngựa đi lúc bình thường. Chỗ dừng của trống chiến trong nghệ thuật tuồng là bất tận. Từng lời nói, lời hát, điệu bộ, bước đi của diễn viên đều có sự tham gia hỗ trợ diễn xuất của trống chiến. Bởi vậy, trống chiến không chỉ giữ vai trò tiết tấu trong dàn nhạc mà còn dẫn dắt dàn nhạc và là cầu nối giữa diễn viên và dàn nhạc. Thông thường, người đánh trống chiến là người rất giỏi nghề và được đồng nghiệp tôn trọng.

Tin rằng mọi điều hay, nét đẹp của bộ gõ trong nghệ thuật tuồng sẽ thanh xuân mãi mãi với sân khấu truyền thống.

Trống Hơgơr.
Trống Hơgơr.

Trống Tại Vùng Cao

(Phạm Duy)

Có thể nói mọi dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều có trống bịt mặt đa. Do đó hình dáng và chủng loại rất phong phú, kể ra là mấy chục loại. Nếu lấy thước làm căn cứ ta có:

Trống rất lớn
Trống lớn
Trống nhỡ
Trống nhỏ

Nếu lấy hình dáng làm căn cứ ta có:

Trống viên trụ tròn
Trống hình trứng cắt phẳng hai đầu
(hay còn gọi là viên trụ khum)
Trống thắt eo cổ bồng
Trống dài
Trống ngắn
Trống mỏng
Trống dày

Nếu lấy chất liệu và phương pháp chế tạo, trống có:

Tang gỗ khoét
Tang gỗ tiện
Tang gỗ ghép
Tang bằng sành
Tang trống có mặt da đóng đinh cố định

Tang trống có mặt da căng bằng dây (để có thể lên dây trống).

Lại có cả :

Trống một mặt da
Trống hai mặt da

Tất cả các loại trống đều thuộc về họ nhạc cụ màng rung chi gõ (membranophone).

Thủ Pháp:

Đâm trống
Xoa trống
Đánh bằng dùi trần, dùi bọc vải
Đánh bằng nắm tay, lòng bàn tay và ngón tay.

Trống Rất Lớn và Trống Lớn

Khi gọi là trống lớn là nói đến những cái trống đường kính mặt da khoảng từ 50-60 cm trở lên, và điều quan trọng nhất là trống phải phát ra những âm thanh trầm, vang xa. Những thông số về đường kính mặt da và chiều cao tang trống nói trên có thể xem như số trung bình của trống. Vì loại trống có kích thước như vậy phổ biến ở hầu hết các dân tộc.

trong_Trống Lớn

Trống lớn nhất ở vùng Cao Nguyên có lẽ là một cái trống của người Thái vùng Yên Châu, tỉnh Sơn La, có chiều dài thân trống đến 287cm và mặt trống có đường kính 117 cm. Tang trống là một đoạn thân cây gỗ cứng, được khoét rỗng bằng lửa. Mỗi mặt trống là cả một tấm da trâu lớn còn sót lại nhiều lông. Tiếng trống rất trầm, vang xa đến vài kilômét. Trống lớn có hai mặt da và hầu hết tang trống có hình viên trụ khum.

trong_Trống Lớn1

Vì kích thước lớn nên khi đánh phải treo trống theo thế nằm ngang. Dùi trống gọt bằng gỗ, phần lớn để trần, âm thanh nghe rất nặng và rất đanh. Ở nhiều dân tộc, chỉ chủ làng mới có quyền đánh trống, Ở một số đân tộc khác như Thái, Mường, KhơMú không có quy định này.

Ở hầu hết các dân tộc, trống lớn luôn luôn có chức năng nghi lễ. Trống tham gia như một thành viên không thể thiếu trong các dàn cồng chiêng Tây Nguyên và Chàm vùng Khánh Hòa. Trống lớn cũng là biểu tượng quyền uy của các chủ làng.

trong_Trống Lớn2

Hầu hết các đân tộc thiểu số dùng trống xưa kia đều tin rằng trống có sức mạnh thiêng. Truyền thuyết về nạn hồng thủy ở người H’Mông còn coi trống là ân nhân, vì hai anh em một trai một gái, cùng với những cặp gia súc, gia cầm và giống má, đều nhờ chui vào trống mà thoát chết, rồi tái tạo sự sống trên thế gian. Rất phổ biến một niềm tin cho rằng trống là hiện thân của Thần Sấm, tiếng trống lâ tiếng của thần gọi mưa, dồn mây, đuổi gió. Đó cũng là niềm tin của nhiều dân tộc nông nghiệp trong vùng Đông Nam Á. Vì thế, nhiều nơi trống được cất giữ cẩn thận, chỉ đem ra đánh vào ngày hội, ngày lễ, nhất là các ngày hội, ngày lễ nông nghiệp.

Vì thế trong các dàn nhạc nghi lễ bao giờ cũng có trống như trong dàn chiêng cồng Tây Nguyên chẳng hạn. Ở người ÊĐê, trống lớn đặt ở cuối cái ghế dài KơPan (dài hàng chục mét) nơi dàn chiêng ngồi diễn tấu. Thông thường, trống lớn được đặt trên đầu hồi phía Đông của nhà người chủ làng hay trưởng họ. Chẳng phải chỉ vì treo ở đấy cho tiện việc dùng trống thông báo tin tức mà trong chiều sâu của quan niệm văn hóa dân tộc, chính là để tôn vinh sức mạnh và quyền uy của người lãnh đạo cộng đồng vì ông ta hay bà ta nắm giữ một “năng lượng thiêng” quan trọng bậc nhất cho sự thành bại của mùa màng. Vì trống là hiện thân của Thần Sấm.

trong_Trống Lớn3

Cũng do được thần thánh hóa nên trong các dân tộc, trống được kính trọng, gọi tên là: Oong Plổng (Mường), Oong Coọng (Thái), Book SơGơr (Bahnar), v.v…Ở hầu hết các dân tộc, trống lớn luôn luôn có chức năng nghi lễ. Trống tham gia như một thành viên không thể thiếu trong các dàn cồng chiêng Tây Nguyên và Chàm vùng Khánh Hòa. Trống lớn cũng là biểu tượng quyền uy của các chủ làng. Cần phải biết rằng trống SơGơr giống như trống bồng của người miền xuôi.

Trống Nhỡ, Trống Nhỏ

Gọi là trống nhỡ những cái trống có đường kính mặt da khoảng 35 cm. Tang trống thông thường khoảng 50-60 cm. Tuy nhiên cũng có những tang trống dài hàng mét như trống Salam của người Khơ Me Nam bộ.

Trống nhỡ rất đa dạng về hình thức và cấu tạo. Nhiều dân tộc có trống một mặt da như Jajam (Khơ Me Nam Bộ) và trống hai mặt da như trống SơGơr (Bahnar, RơnGao, SêDăng)…

Người Chàm có trống đôi GhiNăng, trống một mặt da Parinăng.

trong_Trống Lớn4

Trống GhiNăng cũng là loại trống như trống SơGơr hay trống bồng của người miền suôi, nhưng người Chàm không đeo trống trước bụng mà đặt lên một cái giá.

Cách đánh Trống GhiNăng.
Cách đánh Trống GhiNăng.

Còn khi họ đánh trống đôi, là khi họ muốn nói chuyện với nhau. Khi hai người song tấu, luôn luôn có một người nêu câu hỏi và người kia trả lời.

Ban nhạc Chàm.
Ban nhạc Chàm.

Họ bảo rằng hai người bạn ở xa, khi gặp nhau không cần nói gì cả, chỉ cần đánh trống độ vài giờ liền và như thế, họ hiểu một cách đầy đủ nhất, từ đời sống gia đình, con cái, sức khoẻ, tình cảm của nhau trong thời gian họ sống xa nhau.

Trống một mặt da Parinăng của ngưòi Chàm thì được dùng để đệm cho người hát kể truyện ca Chiêm Thành.

Hình Dáng và Chất Liệu

Tang trống phần lớn hình viên trụ khum, thắt eo ở giữa, hai đầu phình ra. Do tỉ lệ giữa đường kính mặt da và chiều dài của tang trống nên loại trống này có hình dáng dài. Người Khơ Me Nam bộ có trống Salam. Người Thượng ở vùng Tuyên Quang thì có trống Cao Lan. Tang trống thường làm bằng gỗ, riêng trống Cao Lan thì được làm bằng sành, có tráng men bên ngoài. Trống Cao Lan có vòng sắt chụp khít ra ngoài tang trống. Dây mắc vào các khoen đính trên vòng sắt mà kéo, vừa kéo dây vừa lôi phía rìa mảnh đa, vừa điều chỉnh độ căng của mặt da.

Trống Cao Lan.
Trống Cao Lan.

Trống của người Dao và trống của người Giáy, Thái Trắng, Lào, Lự… có chiều cao tang trống nhỏ hơn đường kính mặt da 15/35 cm nên hình dáng trống trở nên bẹt. Những trống này được dùng trong dàn nhạc lễ.

trong_Trống Lớn8

Trống của người Dao.
Trống của người Dao.

Da bịt trống thường đùng da dê thuộc, bào mỏng. Thỉnh thoảng mới gặp mặt trống da bò bào mỏng. Những trống có đường kính nhỏ khoảng 20 cm trở lại còn được bịt bằng da trâu. Phần lớn da được cố định vào mặt trống bằng đinh tre già, hơ lửa cho cứng. Một vài loại được cố định bằng các dây chằng. Dây này thường bằng da dê. Có hai cách mắc dây và căng da. Thông thường ngưỡi ta khoét một số lỗ xuống mặt da, nơi chờm ra ngoài mặt trống, xỏ dây vào để kéo. Dây mắc vào cả hai mặt da để điều chỉnh độ căng của cả hai mặt.

Trống nhỡ được khai thác nhiều tính năng hơn với trống lớn về mặt thông tin cũng như âm nhạc. Trong lúc trống lớn chỉ dùng giữ nhịp cho múa đông người thì trống nhỡ như trống Dao, trống Chàm, trống SơGơr (Bâhnar) là nhạc cụ cho các điệu múa.

Nhịp trống không còn là những mốc thời gian giữ cho các bước múa Nó trở thành môt bản nhạc nhịp điệu, không chỉ giữ vai đệm mà còn trở thành một bên đối thoại, một “nguời bạn đồng hành” với múa, hoàn thiện hình tượng của nghệ thuật múa.

Trống SơGơr, trống Chàm (Ghi Nâng) hay trống Dao Cấp Sắc là thuộc loại này. Cao hơn bước nữa là các bài độc tấu hay song tấu trống như trống đôi của Chàm.Trống nhỡ chỉ dành cho nam giới chơi.

Trống Skor của người KhơMe Nam Bộ.
Trống Skor của người KhơMe Nam Bộ.

 

Trống XaYam của người KhơMe Nam Bộ.
Trống XaYam của người KhơMe Nam Bộ.

Trống nhỡ cũng phong phú về thủ pháp, về các ngón kỳ sảo diễn tấu, Hầu hết các dân tộc dùng trống đều dùng bàn tay và ngón tay vỗ trống. Cũng hầu như mọi điểm trên mặt da đã được sử dụng bởi các kỹ sảo riêng rẽ hay phối hợp. Nhờ đó âm thanh của trống rất giầu màu sắc. Việc dùng dùi đánh trống cũng có, nhưng chỉ dùng hạn chế trong một số đoạn hay bài nhac. Chẳng hạn như trống nhỡ của người Giáy dùng dùi khi họ tham gia vào dàn nhạc lễ, hòa tấu cùng với sáo Pi Lê và vài cái thanh la.

Trống của người Nùng.
Trống của người Nùng.

Các dân tộc thiểu số gần như không có loại trống kích thước nhỏ.

(Phạm Duy)

oOo

Trống:

 

Trống Chiến (Trống Phó Sư):

 

Trống Mảnh

 

Trống trận Ngọc Hồi đại phá quân Thanh:

 

Nhạc cụ dân tộc – Trống trong Dàn nhạc nhà hát chèo:

 

Nhạc Cụ Dân Tộc – Độc tấu Trống bắt đầu ở phút 11:37:

 

Nhạc Cụ Dân Tộc Hòa Tấu ”Khúc Xuân Reo”:

 

Chương trình hòa nhạc Dân tộc:

 

Trống Mảnh trong hát Chèo:

 

This is a Japanese drum line!:

 

Kodo – Spirit of Taiko:

 

Japanese drum group “Tao”:

 

Japanese Drums:

 

Kodo – Japanese drumming @ München 25.10.2010 One World Tour

 

Timbal solo de “Betún”, con “El Panga” en la tumbadora, Buenavista Habana Lounge, Bukarest 2006:

 

Diễn tấu Dàn Trống Timbales – Philip Glass – Orquesta de Valencia: Concierto Fantasía para Timbales:

 

Best Drumline Marching :

 

African Drums Burundi Warriors Of the Drum:

 

African folk music in Prague:

 

The Drum rhyme of Dragen:

 

Vua Trống Múa Lân:

 

Manao Drums of China Power Girls:

 

Korean Traditional Drum and Dance:

 

Five drum dance, Korean Traditional Drum Dance:

 

Indian Drum:

 

Indian Drums – Jugalbandhi – Hari Narayanan LIVE:

 

Traditional Orchestra, Kerala, India:

 

Trống KARYENDA:

 

Tiếng trống Phi Châu:

 

Trống Thép – Steel Drum:

 

Ban nhạc Trống Thép – “The Lion Sleeps Tonight” by Dover Steel Drum Band:

 

Song tấu Trống Thép – Hang Drum Duo:

 

Độc tấu Trống Thép:

 

Trống Timpani:

 

Trống Timpani – Fear Cage:

 

Trống Tar Bodhráns:

 

Độc tấu Trống Tar Bodhrán:

 

Độc tấu Trống Tar Bodhrán:

 

Trống Djembe – Djembe players at GMD:

 

Tinariwen – Live at Womad:

 

Tinariwen & Red Hot Chili Peppers – “Cler Achel”:

 

Trống Djembe, Doumbec, Ashiko:

 

Trống Ashiko & Trống Djembe:

 

Độc tấu Trống Bongo:

 

Johnny “Dandy” Rodriguez with J. Delgado, Bongo Riffs:

 

Trống Bongos – Johnny “Dandy” Rodriguez and Friends performs Son Montuno:

 

Trống Ewe – Ewe Drumming:

 

Trống Ewe – Ewe Drumming from Ghana: Misagodzi:

 

Trống Nói – Ayan Bisi Adeleke – Master talking drummer – drum talks:

 

Trống Nói diễn tấu ở Frostburg State University (The talking drum-Donno.mpg-Kwame Ansah-Brew @ Frostburg State University):

 

Trống Nói – Kofo – The Wonderman Talking Drum Solo:

 

Trống Tabla – Ustad Zakir Hussain – Live in Concert – Masters of Percussion:

 

Trống Tabla – Ustad Zakir Hussain – FULL CONCERT – Festival Les Nuits de Fourvière:

 

Trống Tabla – Ustad Zakir Hussain – Tintal Tabla Solo – Kolkotta:

 

Anoushka Shankar – FULL CONCERT – Live at Festival Les Nuits de Fourvière:

 

Trống Batucada của Brazil và Trống Tàigǔ của Trung Hoa:

 

Trống Huehuetl:

 

Antonio Zepeda ~ Trống Huehuetl:

 

AZTEC Huehuetl & Teponaztle DRUM:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s