Dân ca dân nhạc VN – Hát Lái

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Hát Đúm“, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn giai điệu “Hát Lái” trong dân ca Việt Nam chúng ta.

Nói Lái (còn gọi là Nói Trại) là một cách nói kiểu chơi chữ của dân Việt. Đối với từng vùng miền khác nhau thì do cách nói của tiếng địa phương nên tiếng nói lái sẽ có thay đổi một chút.

Nói lái trong thơ

Ví dụ 1:
Dòng châu lai láng, đĩa dầu chong
Công khó đợi chờ, biết có không?
Nhắc bạn thêm thương người nhạn bắc
Trông đời ngao ngán giữa trời đông

Ví dụ 2:
Một bài thơ của Thảo Am viết sau khi nghe tin giặc Pháp chiếm lại đồn Mang Cá, 1946:
Lũ quỷ nay lại về luỹ cũ
Thầy tu mô Phật cũng thù Tây.

Ví dụ 3:
Làng vọng còn hơn cái lọng vàng
Mang sơ tấm áo, chớ mơ sang
Nhắn bạn lên non đừng bắn nhạn
Hang lỗ tìm vào bắt hổ lang

Ví dụ 4:
Nguyễn Khoa Vy mất năm 1968, cùng với cụ Ưng Bình Thúc Giạ thuộc thế hệ cuối cùng của Quốc tử giám. Cụ làm bài thơ Nhớ Bạn thế này:

Nhớ Bạn (dị bản)

Nhắc bạn những thương tình nhạn bắc
Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông
Đêm thâu tiếng dế đâu thêm mãi
Công khó chờ nhau biết có không

Hoặc một bài thơ khác:

Đời chua, bậu cứ thử đùa chơi
Chơi ngổ xong rồi, kiếm chỗ ngơi
Bến đậu thênh thang, mời bậu đến
Ngồi đây say tít, ngất ngây đời.

hatlai24

Ví dụ 5:
Ở bài thơ sau đây, khi đọc nhớ lái ở ba từ cuối mỗi câu:

Mỗi độ xuân sang chả có gì (chỉ có già)
Giàu sang, keo kiệt để mà chi? (đĩ mẹ cha)
Vui xuân chúc tết cầu gia đạo (cạo da đầu)
Cạn chén tiêu sầu tiễn người đi (đĩ người tiên).

Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi,
Chiến khu đông lúa chú khiên rồi
Thi đua sao cứ thua đi mãi
Kháng chiến lâu rồi khiến chán thôi

Thầy giáo tháo giày, tháo giáo án dán áo
Nhà trường nhường trà, nhường cả hoa, nhòa cả hương
Làm giáo chức, phải giứt cháo
Thảo chương, rồi để được… thưởng chao.

Nhường luôn hết cả nhà xe, nhè luôn hết cả xương
Nhường luôn miếng đất, nhất luôn cả miếng đường
Nhường tới tận rau, nhàu luôn tới tận xương
Nhường tới cái túi, nhúi…tới cái tường
Lấy lương hưu, để lưu hương

Ví dụ 6:
(BÔNG Ế)
Ông Đồn chợ sáng chẳng ồn đông
Bông giữa rằm giêng gặp bữa giông
Cổng đá hàng bày còn cả đống
Mông khua đít tét hỏi mua không
Cọc mòn hoa cắt đâu còn mọc
Hồng trết bùn trây cũng hết trồng
Cố lãi vô thời ôm cái lỗ
Đồng Kho về sớm kẻo đò không!
(Tố Mỹ)

hatlai37

Câu đối

Ví dụ 1:
Vua Tự Đức cũng có câu đối chỉnh mà đến nay chưa chắc ai giải được.

Vế đối ra:
Kia mấy cây mía

và vế đối lại của vua Tự Đức là:
Có vài cái vò

Ví dụ 2:
Chàng trai xưa kia có râu, cạo râu xong, cô gái nhận không ra. Chàng bèn làm thơ nói lái:
Xưa tê câu ró ngó xinh… Bây giờ câu rạo vô tình ngó lơ…
Ở đây câu ró, câu rạo không dính líu xa gần với chuyện đi câu. (Theo Wikipedia)

Bài Hát Bai Hai Bát kinh điển trong văn hóa Nói Lái của người miền Bắc:

Hát Bai Hai Bát

Hát tang tình cho chó cắn bò rông…
Cô gái trong phòng mang trống chứ mà theo… ì i i í i…
Hát tang tình cho chó cắn bò kêu…
Ông lão trong lều ôm điếu chứ bò ra… ì i i í i…

Hát bai hai bát không no, còn một miếng cháy kéo co vỡ nồi
Hát bai hai bát không no, thì thêm bát nữa hát cho vui nhà

Hát tang tình cho ngỗng cắn vịt la…
Ông phó xây nhà gỡ lá chứ ngồi chơi… ì i i í i…
Hát tang tình cho ngỗng chết vịt toi…
Ông lái yêu đời khăn gói chứ quả dưa… ì i i í i…

Hát bai hai bát không no, còn một miếng cháy kéo co vỡ nồi
Hát bai hai bát không no, thì thêm bát nữa hát cho vui nhà.

Nghệ sĩ Linh Phượng trong màn trình diễn Hát Bai Hai Bát
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Hát Bai Hai Bát. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Ca sĩ Tuyết Lan.

Bài Đối Lái kinh điển trong văn hóa Nói Lái của người miền Nam:

Hò Đối Lái

Nữ:
Hò ơ…Con cá đối nằm trong cối đá…
Mèo đuôi cụt nằm mụt đuôi kèo…
Ai mà đối được dầu khổ nghèo em cũng ưng.

Nam:
Hò ơ…
Chim mỏ kiến(g).. đậu trên miếng cỏ…
Chim vàng lông đậu cạnh vồng lang…
Anh đây đà đối đặng e nàng chẳng ưng.

Dưới đây mình có bài “Nét đặc sắc văn hóa bị bỏ quên: Nói lái” của Hòa Đa, và bài “Tìm hiểu hiện tượng nói lái trong nghệ thuật chơi chữ tiếng Việt” của Nguyễn Hoàng sẽ giúp hướng dẫn các bạn tham khảo thêm về truyền thống nghệ thuật chơi chữ đặc sắc của người xưa để rồi nghệ thuật này được sáng tác thành những bài hát, câu hò đầy thú vị để đời cho chúng ta thụ hưởng.

Cùng lúc mình còn có 1 clip “Hát Bai Hai Bát” và 1 clip “ Đối Lái” do mình (Linh Phượng) hát với nghệ sĩ Tuyết Lan & nghệ sĩ Xuân Thưởng để các bạn cùng tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

oOo

Nghệ sĩ Linh Phượng trong màn trình diễn Hò Đối Lái.
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Hò Đối Lái. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)

Nét đặc sắc văn hóa bị bỏ quên: Nói lái

(Hòa Đa)

Tôi không phải là một nhà ngôn ngữ học, nhưng có nhận xét này, mà khi chia xẻ với nhiều người Việt Nam, tôi luôn có sự đồng tình: Nói lái là một hình thức vô cùng độc đáo của ngôn ngữ Việt.

Bạn có bao giờ nghe giai thoại giải thích đại phong là lọ tươngchưa? – Chuyện thế này: hai anh hề trên sân khấu tuồng ngoài Bắc, trong lúc diễu giúp vui, anh này đố anh kia: đại phong là gì?

– Thì đại là lớn, còn phong là gió, đại phong là gió lớn, anh kia giải thích.

Anh này bảo đại phong là lọ tương kìa: đại phong là gió lớn, gió lớn thì chùa đổ, chùa đổ thi tượng (Phật) lo, tượng lo là lọ tương.

Một giai thoại khác, ở trong Nam. Lúc ấy, vào buổi tàn thời của nho học, người ta bỏ bút lông, giắt bút chì; một số chạy theo thực dân Pháp. Trong số ấy có Nguyễn văn Tâm, một lòng cúc cung với mẫu quốc, được người Pháp cất nhắc làm quan lớn; trên dưới trong ngoài, ai cũng biết nhờ bợ đỡ quan thầy mà làm quan to. Tâm lấy làm tự đắc lắm. Phú quí sinh lễ nghĩa, quan lớn nhà ta cũng muốn tỏ ra mình phong lưu, muốn có những bức hoành, trướng để trang trí. Có người dâng lên quan bốn chữ đại tự Đại Điểm Quần Thần, viết chân phương, rất đẹp và giải thích Quần thần là người bề tôi, Đại điểm là điểm lớn, ý nói quan lớn là người bề tôi có vị trí to lớn, quan trọng trong triều. Quan lấy làm thích thú đem treo bức liễn trong phòng khách; ai đến thăm quan cũng đem khoe và giải thích như trên. Ít lâu sau có người đến ngắm bức liễn, rồi xin quan lớn dẹp đi. Quan ngạc nhiên hỏi, người ấy xin đừng bắt tội, đuổi hết tả hữu rồi giải thích: người viết liễn đã cố ý bỡn quan lớn, mà quan không biết. Bốn chữ trên dịch từng chữ: Đại điểm là chấm to; Quần thần là bề tôi, nói theo kiểu trong Nam là bầy tôi. Đại Điểm Quần Thần là Chấm To Bầy Tôi nói lái lại là Chó Tâm Bồi Tây. Chẳng nghe chuyện kể nói quan có tìm tác giả bốn chữ nói trên để trị tội hay vì không muốn làm vỡ chuyện mà ỉm luôn.

hatlai36

Trong đời sống hàng ngày, chẳng hiếm khi chúng ta gặp những câu nói lái, đôi khi chỉ để bỡn cợt, châm biếm hay tránh những tiếng thô tục.

Ở Nam Bộ, có câu:

Con cá đối nằm trên cối đá,
Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo
anh mà đối được, dẫu nghèo em cũng ưng.

Người Việt, đối với những người lớn tuổi hay trưởng thành ở Việt Nam chẳng có ai là không biết cách nói lái, tùy theo gốc gác hay sinh hoạt ở Bắc, Trung hay Nam mà cách nói lái có khác nhau; nhưng tựu chung, khi nói lái, người ta tránh không nói thẳng chữ muốn nói; mà người nghe, vì không tinh ý, nhất thời không nhận ra như trong giai thoại Đại Điểm Quần Thần kể trên.

Đi sâu hơn vào chi tiết: một chữ gồm hai phần: phụ âm và âm. Chữ tranh chẳng hạn gồm phụ âm tr và âm anh. Chúng ta lại có thêm sáu thanh: sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng và không dấu tạo tiếng Việt thành giàu âm sắc, chỉ cần khác dấu, chữ được phát âm khác nhau: tranh, tránh, trành (trong tròng trành) trạnh (trạnh lòng) và tất nhiên có nghĩa khác nhau, và đây cũng là nét độc đáo của ngôn ngữ Việt, người nước ngoài bảo người Việt nói chuyện nghe giống như hát.

Cũng có chữ không có phụ âm mà chỉ có âm, như trong ảnh ương hay ảo ảnh

1. Nói Lái theo cách ngoài Bắc

Trở lại câu chuyện đại phong là lọ tương nói trên. Tượng lo nói lái lại là lọ tương, người miền Bắc đổi chỗ cho hai chữ, đồng thời đổi luôn hai dấu (nghĩa là đổi âm sắc): lo đổi chỗ cho tượng, lấy dấu nặng thành lọtượng đổi chỗ cho lo, mất dấu nặng thành tương.

Ta lấy vài thí dụ khác:

đấu tranh nói lái lại là tránh đâutranh đổi chỗ cho đấulấy dấu sắc của đấu thành tránh, đấu đổi chỗ cho tranh, mang dấu của tranh(không dấu) thành đâu.

hải phòng nói lái lại là phỏng hàihải đổi chỗ cho phòng lấy dấu huyền của phòng thànhhàiphòng đổi chỗ cho hải lấy dấu hỏi của hải thành phỏng

Cứ theo cách ấy thì:

 

Sầm Sơn

sờn sâm
Thái Bình nói lái là bính thài
Hà Nội nồi hạ

vv.. và vv..

Như vậy thì hai chữ có cùng dấu không nói lái được, như nhân dân, anh em, Sài Gòn, thánh thót, thực vật…. Cũng vậy, những tiếng láy như xanh xanh, hơ hớ, đo đỏ, lăng xăng….không thể nói lái được và nếu chúng ta cố tình theo qui luật trên thì cũng chỉ đổi vị trí cho nhau thôi.

hatlai4

2. Nói lái theo kiểu trong Nam

Trong Nam người ta nói lái theo cách khác: cá đối nói lái lại thành cối đá.

Ta nhận thấy theo cách nói lái trong nam, âm trong hai chữ đổi chỗ cho nhau, phụ âm giữ nguyên vị trí, phụ âm c ghép với âm ối của đối thành cốivà phụ âm đ ghép với âm á thành đá. Như vậy:

Sài gòn sòn gài
Cần thơ nói lái là cờ thân
Cầy tơ cờ tây
Cửu long cỏng lưu  

(dân nam kỳ phát âm giống như cỏng lu)

Thủ Đức thức đủ vv.. và vv..

 

Bút hiệu Thế Lữ (trong Tự Lực Văn Đoàn) chính là chữ nói lái của tên thật của ông: NguyễnThứ LễNgày trước đã có vế đối:

Ngày Tết, Thế Lữ đi hai thứ lễ: lê ta và lê tây

Trong vài trường hợp người ta nói lái cho cả ba chữ, bằng cách giữ nguyên chữ giữa như trong trường hợp mèo đuôi cụt thành mút đuôi kèo (dấu nặng trong cụt biến thể thành dấu sắc trong mút), như vậy hà thủ ô nói lái thành hồ thủ a.

Đôi khi người ta lại đổi chỗ hai phụ âm cho nhau (tuy ít thôi) để sau khi nói lái có nghĩa và dễ nghe hơn, thí dụ chiến binh thay vì nói lái thành chinh biến cũng có thể nói thành biến chinh, do đó với hai chữ tranh đấu có người đã đùa mà nói rằng: tranh đấu thì tránh đâu khỏi bị trâu đánh thì thế nào cũng phải đấu tranh.

Cũng như trong trường hợp trên, những chữ trùng âm như nhân dân, lù đù, lật đậtkhông nói lái được.

Ngoài ra còn một cách nói dựa trên nói lái kiểu trong Nam, không mấy người quen sử dụng. Trong cách này, người nói ghép từng chữ (trong nguyên câu) với một chữ (đã được qui ước trước giữa hai người) rồi nói lái hai chữ này với nhau. Cách này tương đối khó, và thường gặp trong giới bình dân lao động, ít học (không biết có phải vì vậy mà không được biết đến chăng?) Thí dụ với câu:

hôm qua tui đi ra đầu ngõ chờ em tới, mà đợi hoài không thấy... họ ghép từng chữ của câu trên với chữ ly (li) rồi nói lái lại, và do đó câu trên trở thành:

hi lôm (hôm li) qui la (qua li)ti lui đi li ri la đi lầu nghi lõ chi lờ i lem ti lới, mi là đi lợi hi loài khi lông thi lấy…”

họ nói chuyện với nhau rất nhanh và hiểu nhau dễ dàng, như thể đã được mã hóa người khác không nhận ra được. Đây là cách vô cùng độc đáo mà chưa được khai thác đúng mức.

hatlai5

3. Vài giai thoại – câu đối – câu đố

Chúng ta đã thấy giai thoại về Đại điểm quần thần, Đại phong ở trên. Chúng ta cũng thường nghe nói đến câu tiếng lóng hạ cờ tây là hạ cầy tơ của dân nhậu trong Nam và mộc tồn (= cây còn, nói lái thành con cầy) ở ngoài Bắc, hay những lối nói lái rất quen thuộc: con chín bến đò (con chó bến đình) Hương bên đèo (heo bên đường) theo con Hương (thương con heo)…

Trong Nam, mấy bạn nhậu thường hay nói chữ : “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu” cũng đừng vội tưởng họ sính nho, thật ra họ đùa “rượu gặp tri kỷ có trời mới biểu (bảo) thôi” (thiên = trời, bôi thiểu = biểu thôi)….

Về câu đối, xin trở lại câu ca dao trên:

Con cá đối nằm trên cối đá.
Con mèo đuôi cụt nằm mút đuôi kèo.
Anh mà đối đặng dẫu nghèo em cũng ưng.

được đối là:

Chim mỏ kiến(g) nằm trong miếng cỏ
Chim vàng lông đáp đậu vồng lang
Anh đà đối đặng hỏi nàng ưng chưa?

Phải công nhận là câu đố và câu trả lời không chê vào đâu được, chắc gì chúng ta tìm được câu trả lời nào hay hơn cho cô gái tinh nghịch này.

Một câu khác, nghe chừng như xuông miệng nói chơi, nhưng lại đối rất chỉnh, trong cả hai vế đều dùng cách nói lái:

Kia mấy cây mía
Có vài cái vò

Một câu đối khác, nghe được sau 75, lúc người dân trong Nam không còn gì để sinh sống, đặc biệt là giới thầy cô thuộc chế độ cũ được lưu dụng. Dầu gì chăng nữa, trước đó họ là lớp người tuy sống nhờ đồng lương cố định, nhưng cũng có cơm ăn áo mặc đầy đủ. Người ta nghe thấy hai câu đối tết, nhại theo Tú Xương ngày trước, nhưng rất đặc sắc và chua xót:

Chiều ba mươi, thày giáo tháo giày ra chợ bán
Sáng mùng một, giáo chức dứt cháo đón xuân sang.

Thực tế là giày không còn là một phần trong y phục của thày giáo, nhưng cháo đã là phần lương thực thường thấy trong bữa ăn hàng ngày.

Trong một đám cưới, chú rể người Hóc Môn, cô dâu ở Gò Công; có người rắn mắt đọc đùa câu đối:

Trai Hóc Môn vừa hôn vừa móc – Gái Gò Công vừa gồng vừa co

Trong văn chương bình dân Việt Nam, câu đố chiếm một vị trí tuy khiêm nhường nhưng có sức sống tuơng đối mạnh mẽ so với hò đối đáp chẳng hạn. Ngày nay ta vẫn thường nghe những câu đố trong khi không còn thấy hò đối đáp trong sinh hoạt hàng ngày của người bình dân. Trong các dạng câu đố, cách dùng nói lái để đánh lừa người khác là một trong những cách tuy dễ nhưng cũng làm khó cho người bị đố không ít. Sau đây là vài câu đố dùng nói lái, lời giải có ngay trong câu đố:

Tổ kiến, kiển tố, đố là chi? – (đáp: tổ kiến)

Khoan mũi, khoan lái, khoan khứ, khoan lai, Bò la, bò liệt đố ai biết gì? – (đáp: khoai lang).

Những chữ mũi, lái, khứ, lai chỉ cốt để đánh lừa người bị đố

– Con gì ở cạnh bờ sông,
cái mui thì nát cái cong thì còn – (đáp: con còng – cong còn nói lái thành con còng)

– Cái gì bằng ngón chưn cái mà chai cứng – (đáp: ngón chưn cái)

– Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn – (đáp: con ngựa)

– Miệng bà ký lớn, bà ký banh

Tay ông cai dài, ông cai khoanh – (đáp: canh bí, canh khoai)

Một vài người cũng câu nệ về nói lái, tránh đặt tên con những chữ có thể nói lái thành thô tục như Thái (dễ ghép với chữ có phụ âm d: thái dọt, thái dúi, thái dòng…) Lài (dễ ghép với chữ có âm ồn như lài dồn, lài cồn, lài mồn…) Côn, Tôn, Đôn (ghép với chữ có phụ âm l) v.v.. và v.v..

hatlai6

4. Vài suy nghĩ

Qua những phân tích trên, ai cũng công nhận nói lái quả là một đặc thù của tiếng Việt. Chúng ta dùng nói lái để châm biếm, để gài người khác trong các câu đố, câu đối, để tránh những thô tục khi cố ý ghép chữ dể hạ thấp người khác.

Bỏ qua một bên những cái độc đáo, lắt léo của nói lái trong câu đố, câu đối; để chỉ chú ý đến phần đông các trường hợp chúng ta sử dụng nói lái như là một hình thức hạ thấp người khác. Trong phần trên chúng ta đã thấy nhà nho nào đó đã dùng sự uyên bác của mình để chửi một quan to mà quan chẳng những đã không biết mà còn hoan hỉ chấp nhận trong giai thoại Đại Điểm Quần Thần.

Chúng ta đã dùng nói lái như một thứ vũ khí của người muốn dùng tiểu xảo để chống đối, để chứng tỏ mình hơn người, như một thứ vũ khí của kẻ yếu, kẻ bị trị để bôi bác, nhạo báng, ám chỉ… để hạ phẩm cách của kẻ mạnh, kẻ thống trị.

Vấn đề nêu ra để chúng ta phải suy gẫm là tại sao chúng ta có những cách rất tiêu cực như vậy? – Phải chăng vì hoàn cảnh dân tộc Việt Nam đã đắm chìm quá lâu trong cảnh bị trị, dù của ngoại bang hay của chính người đồng chủng. Người dân phải tìm cách tránh né, che đậy để sinh tồn trước sức mạnh của kẻ thống trị. Vấn đề đặt ra cho chúng ta cùng suy nghĩ là chúng ta có nên duy trì mãi những tiêu cực tương tự trong những sinh hoạt thường ngày của chúng ta không? Ai cũng thấy rõ một điều là sức sống của người Việt vô cùng to lớn, mãnh liệt, nhưng đồng thời cũng thể hiện những tiêu cực vô cùng tai hại . Chính vì chỉ muốn sống còn bằng bất cứ giá nào, người Việt đã mất đi những tích cực của tập thể cần phải có, điều này đã giúp cho kể thống trị tồn tại lâu trong vị trí và là một cách giải thích tại sao dân tộc chúng ta bị trị lâu đến như vậy.

Dù vậy, nói lái vẫn là một hình thức vô cùng đặc sắc của ngôn nhữ Việt, với khả năng nhạy bén về tính trào phúng, tính châm chọc… (và chúng ta chỉ nên khai thác khía cạnh tích cực này), chúng ta tin rằng nói lái sẽ tồn tại với người Việt.

hatlai19

Tìm hiểu hiện tượng nói lái trong nghệ thuật chơi chữ tiếng Việt

(Nguyễn Hoàng)

I. Khái niệm về chơi chữ

1. Chơi chữ là gì & đòi hỏi của nghệ thuật chơi chữ

Chơi chữ là thủ pháp tạo giá trị biểu cảm cho lời nói, trên cơ sở những từ 2 âm tiết nào đó, trong đó người ta sử dụng những từ hay âm tiết khác (có sẵn hay vừa được tạo ra trong thời điểm giao tiếp) mà có nét tương đồng với chúng vể vỏ âm thanh hay có quan hệ nhất định với chúng về ý nghĩa nhằm tạo ấn tượng cho người nghe, người đọc.

Như vậy, có thể thấy chơi chữ cũng là lợi dụng các hiện tượng đồng âm, đa nghĩa, trái nghĩa, cải biên, nói lái … trong ngôn ngữ nhằm gây một tác dụng nhất định (như bóng gió, châm biếm, hài hước) trong lời nói, một biện pháp tu từ, trong đó có ngữ âm, ngữ nghĩa, văn tự, văn cảnh, … được vận dụng một cách đặc biệt nhằm đem lại những liên tưởng bất ngờ, lí thú.

Một số thí dụ:

Đồng âm: Con ngựa đá con ngựa đá, con ngựa đá không đá con ngựa
Đồng âm đa nghĩa: Sao chỉ ông sao (1), tại sao(2), sao thuốc nam(3): gặp ông Sao hỏi tại sao không sao thuốc nam?
Trái nghĩa: Trời sinh ông Tú Cát – Đất nẻ con bọ hung (Cát hung là cặp chữ trái nghĩa nhau)
Cải biên: Gần mực thì đen gần đèn thì cháy
Nói lái: Đấu tranh rồi biết tránh đâu

Chơi chữ thể hiện chất trí tuệ, tài hoa trong văn chương.Muốn vậy, nó đòi hỏi người chơi phải thông minh, có tài liên tưởng nhanh nhậy và sắc sảo. Càng thông minh, sắc sảo thì càng tạo ra được sản phẩm chơi chữ độc đáo.

Ngôn ngữ là cái vốn sẵn có ở mỗi người nhưng làm sao sử dụng ngôn ngữ đó đạt hiệu quả cao nhất thì phải “mài dũa” “và sáng tạo” rất nhiều, để nó có thể trở thành một lối chơi nghệ thuật gọi là chơi chữ.

hatlai8

2. Các hình thức chơi chữ trong văn chương hay là cơ sở khoa học của việc chơi chữ

Theo tác giả Lê Trung Hoa trong Thú chơi chữ thì có tất cả là 14 cách chơi chữ như sau:

– Nói lái
– Đảo từ, Đảo ngữ
– Đồng âm
– Trùng điệp
– Mô phỏng (nhại từ, ngữ, câu)
– Đồng âm và đồng nghĩa
– Tạo hiện tượng nghịch nghĩa, nói ngược
– Liên nghĩa (thật, giả)
– Hiện tượng nghĩa phái sinh (thật và giả)
– Tả chữ, xóa chữ
– Chiết từ và Tách từ
– Hạn vận, hạn từ
– Dùng thành ngữ, tục ngữ, ca dao
– Dùng truyện Kiều để chơi chữ.

Đây cũng có thể coi là cơ sở khoa học của việc chơi chữ.
Bài viết này chỉ dừng lại ở cách chơi chữ thứ nhất là nói lái.

II. Hình thức nói Lái

1. Khái niệm & điều kiện nói lái

Khái niệm

Nói lái (spoonerism) là một trong những biện pháp tu từ trong tiếng việt. Khi nói lái người ta tráo đổi vị trí của các thành phần của từ (âm đầu, âm cuối, thanh điệu, …) để tạo ra từ mới thường có nghĩa bất ngờ, dí dỏm, khi hiểu ra thường làm bật cười. Nói lái thường đưọc dùng trong văn nói, khẩu ngữ và trong văn học dân gian đê trêu đùa, đả kích hay thông báo với ai đó một điều gì bí mật hoặc để tránh những tiếng thô tục. Có thể kể một câu chuyện nói lái khá nổi tiếng về thời Pháp thuộc: Ông Nguyễn Văn Tâm khi đó giữ chức thủ hiến, được một tay thâm nho tặng bốn chữ lớn “Đại điểm quần thần”. Ông ta có vẻ vừa ý, đem khoe với nhiều người. Chẳng bao lâu có người giải thích: Đại là to, điểm là chấm, quần thần là bầy tôi. Vậy Đại điểm quần thần là Chấm to bầy tôi, nói lái thành chó Tâm bồi Tây.

Như vậy nói lái là một hình thức vô cùng độc đáo của ngôn ngữ Việt với khả năng nhạy bén về tính trào phúng và châm chọc.

hatlai9

Điều kiện để nói lái

Tiếng Việt có 2 điều kiện rất thuận lợi cho việc nói láy, một là ranh giới giữa các âm tiết (hay tiếng) rất rõ ràng, Hai là hầu hết các phụ âm đầu đều có thể kết hợp với bất kỳ vần nào có mang thanh điệu (còn gọi là thanh), và trong đa số trường hợp đã tạo nên những tiếng có nghĩa. Nhiều ngôn ngữ khác không có đủ hai điều kiện này nên không thể hoặc khó có thể có hiện tượng nói lái.

Một vài ví dụ sau đây cho thấy các phụ âm đầu đều có thể hoán chuyển để tạo ra từ mới khác nghĩa:

1. Chày đứng = đừng cháy (Theo cụ Nguyễn Khuyến)
2. Sợ gà = gạ sờ
3. Vấn đề đầu tiên là vấn đề tiền đâu
4. Hoảng chưa = chửa hoang

2. Các hình thức và kỹ thuật nói lái

Mỗi âm tiết có 3 bộ phận: âm, vần và thanh. Nói lái được thực hiện khi một hoặc hai trong ba bộ phận ấy của hai âm tiết hoán vị cho nhau.

2.1 – Hoán vị âm:
Thay đổi thành đay thổi (hoán vị âm tiết chuyển đổi dấu thanh)
Con ngựa thành cưa ngọn

2.2 – Hoán vị vần:
Thay đổi thành Thôi đảy
Cái bằng thành bắng cài

2.3 – Hoán vị thanh:
Thay đổi thành Thảy đôi
Cái thân thành cấn thai

2.4 – Hoán vị âm và vần:
Thay đổi thành đôi thảy

2.5 – Hoán vị âm và thanh:
Thay đổi thành đảy thôi

2.6 – hoán vị vần và thanh:
Thay đổi thành thổi đay
Cối đá thành cá đối

hatlai10

3. Tác dụng của nói lái

3.1 – Có thể làm câu tiếng Việt khi phát âm giống như tiếng nước ngoài. Như câu: “Quýt sơ măng bông sên” giống như tiếng Pháp nhưng thực ra là “quăng sơ mít bên sông”

3.2 – Để nói lên một ẩn ý nào đó như “Em nó đi chống lầy rồi” (lấy chồng)

3.3 – Để tránh nói thẳng những từ ngữ tục tĩu như “củ chi, đá bèo….”
3.4 – Để đánh đố như:
• Lái một lần: “Mau co” là Mo cau
• Lái hai lần: “Mộc tồn=cây còn-con cầy”; “Đại phong”=gió lớn= tượng lo=lọ tương

3.5 – Tránh điều bất tiện nên khó nói:
Cam sành nhỏ lá thanh ương (anh thương)
Ngọt mật thanh đường nhắm lớ (nhớ lắm) bớ anh
Thanh ương là tuổi mong chờ
Một mai nhái lặn (nhắn lại) chà quơ (chờ qua) , quơ chà (qua chờ)
(“Qua” và “bậu” là những tiếng xưng hô của những đôi trai gái ngày xưa)

3.6 – Châm biếm những hiện tượng tiêu cực: do nguyên nhân tâm lý bị ức chế không thể nói thẳng được mà phải nói một cách gián tiếp mang tính tế nhị.
Một thí dụ về sự túng thiếu của giáo chức: “Giáo chức” bây giờ ụ “dứt cháo” thôi.

Một thí dụ khác về tình trạng chán nản, không muốn làm việc của các công chức, cán bộ; khi bàn cải chuyện gì họ cứ muốn bài lui hay giữ tình trạng cũ do đó mà có danh tánh “Vũ Như Cẫn”, hay “Bùi Lan” (= vẫn như cũ, hay bàn lui)

Hay một số từ mang tính châm biếm thời cuộc như:
-Hiện đại chỉ tổ hại điện -Đấu tranh rồi biết tránh đâu
-Đầu tiên là tiền đâu…

hatlai35

III. Các hình thức nói lái trong văn chương

Nói lái được dùng làm biện pháp tu từ nên nó xuất hiện khá nhiều trong ngôn ngữ hàng ngày cũng như trong các tác phẩm dân gian và văn học.

1. Nói lái trong ngôn ngữ hàng ngày

Loại này có tác dụng gây cười vì tính chất ngộ nghĩnh của nó:
• Hạ cờ Tây (cầy tơ), Mống chuồn (muốn chồng), đồng chòi (đòi chồng), chin bến đò ( chó bến đình), con cháu nhà giò (con chó nhà giàu)

• Nói lái về các loại canh ăn uống trong dân gian:
Về thức ăn, trong bửa cơm của VN thường có ba món chánh: món mặn, món xào và món canh.

Sau đây là câu lái đùa về canh:
Anh Câu Bành đánh lộn với anh Kí Banh, ông Cai Cảnh làm biên bản, giải lên ông Cai Khoanh để thụ lý. Các câu trên thật ra là tên của bốn loại canh: canh bầu, canh bí, canh cải và canh khoai.

• Nói lái về các địa danh:
Chợ Thủ Đức năm canh thức đủ;
Chợ Đồng Tranh năm canh đành trông
Đi chợ Búng coi chừng chúng bợ
Đến Hạ Long rát cổ họng la

2. Nói lái trong thơ ca

Nói lái thành thơ có lẽ là nghệ thuật chơi chữ tuyệt diệu và độc đáo trong tiếng Việt:

“Dòng châu lai láng, đĩa dầu chong
Công khó đợi chờ, biết có không?
Nhắc bạn thêm thương người nhạn bắc
Trông đời ngao ngán giữ trời đông”

Một dị bản khác:

“Nhắc bạn thêm thương tình nhạn bắc
Trông đời chỉ thấy cảnh trời
Đêm thâu tiếng dế đau thêm mãi
Công khó chờ nhau biết có không?”

hatlai38

3. Nói lái trong ca dao

Kỹ thuật nói lái trong ca dao chủ yếu theo cách hoán vị âm tiết rồi chuyển đổi dấu thanh:

(a) Cơm ăn chẳng hết thì treo, Việc làm chẳng hết thì meo mặt vào.
(b) Tưởng rằng ô máy mà sang, Ai ngờ ô máy che ngang mặt trời.
(c) Con dê con ngựa khác dòng, Ai cho con ngựa lộn cùng con dê.
(d) Tam hòang ngũ đế chi thư, Thầy ngồi thầy để củ từ thầy ra.
Tam hoàng kỉ rước đĩ về nhà, Tam hoàng cương kê giường cho chặt

“Meo mặt vào” tối nghĩa, nhưng khi lái lại”vao mặt mèo” thì lại là một so sánh có sức tạo hình cao (a).

“Ô máy” có khả năng là tên gọi buôi đầu của ô(ô có thể chống lên,sụp xuống,không cố định về hình dạng như cái nón hay cái ô trước đó; tương tự cách gọi “xe máy”,”bàn máy” để chỉ “xe đạp”,”máy khâu” vào thời kì mới tiếp xúc với hai phương tiện này). Dẫu vậy, đặt vào ngữ cảnh của bài ca dao, nó không phù hợp bằng khi hiểu lái”ô máy” thành”mây ố”(b).

Với bài(c),thì lái của “lộn cùng”chỉ là một cách hiểu, còn giữ nguyên hai từ “lộn cùng”và hiểu theo cấu trúc tổ hợp bình thường, ý nghĩa của chúng cũng đã rất rõ ràng.

Bài(d) kể chuyện về một ông thầy (thầy đồ), với những sách vở ghi lại sự nghiệp của các bậc thánh hiền (Tam Hoàng: Thiên Hoàng, Địa Hoàng và Nhân Hoàng; Ngũ Đế: Thái Hiệu, Hoàng Đế ,Thần Nông, Thiếu Hiệu và Chuyên Húc, hoặc Phúc Hy, Thần Nông, Hòang Đế, Dương Nghiêu và Ngu Thuấn). Đó là những tấm gương lớn để cung kính học tập và dạy dỗ lớp con em của thầy. Nhưng ngồi bên số sách vở qúy ấy mà thầy lại “để củ từ thầy ra”, thì chúng đã bị thầy làm ô uế! Nói chính xác hơn, thầy rao giảng đạo lý của các bậc hiền nhân quân tử trong lúc chính thầy lại có hành động đi ngược lại với đạo lí ấy (rước đĩ về nhà).

hatlai39

4. Nói lái trong câu hát

Nói lái cũng có thể thấy trong những câu hát dân gian, chẳng hạn như:
“Con cá đối bỏ trong cối đá.
Con mèo cái nằm trên mái kèo
Trách cha mẹ em nghèo, anh nỡ phụ duyên em”

Hoặc:

“Cái con cá đua là con cua đá”
“Xứ thủ đức năm canh thức đủ
Kẻ cơ thần trở lại cần thơ”

Hay:

“Một ông đẽo đá trên cây
Hai ông đá đẽo dưới này rồi chưa”

5. Nói lái trong câu đố

Trong câu đố, nói lái được sử dụng nhiều hơn, một số câu đố có kết cấu giản dị, chỉ cốt đưa từ ngữ cần nói lái vào mà vẫn đảm bảo ý nghĩa của câu đố là được.

Như:

“Cục đo đỏ bỏ vô giường” là “Cục đường bỏ vô giỏ”
“Ở trong nhà cô ra cô nẩy” (cây nổ)
“Sào dài chống suối, sào ngắn chống khe (Chuối sống, ché không)
“Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn (con ngựa)
“Cái chi hình dáng tròn tròn, cung tay đấm gãy, chẳng còn hình dung” ( Đãy gấm).
“Khoang đầu, khoang cổ, khoang lai, bò la, bò liệt, đố ai biết gì” (Dây khoai lang)
“Lăng quằng lịt quịt … lăng quằng trứng là cái gì?” (lưng quần trắng)
“Lăng quằng lịt quịt … lăng quằng rừn là cái gì?” (lưng quần rằn)

hatlai29

6. Nói lái trong câu đối

Trong câu đối, người Việt cũng thích sử dụng nói lái:

“Tán vàng, lọng tía, che đầu nhau đỡ khi nắng cực
Thuyền rồng, mui vẽ, vén buồm lên rồi sẽ lộn lèo” (Hồ xuân hương)

“Bò lang chạy vào làng Bo”

Hay:

“Con cá đối bỏ trong cối đá
Chim vàng lông đậu tại Vồng lang”

7. Nói lái trong việc tạo bút danh

Một số các nhà thơ, nhà văn cũng sử dụng nói lái để tạo nên bút danh như:

(Nguyễn) Thứ lễ – Thế Lữ
Đặng Trần Thi – (Thị) Trần Đăng
(Nguyễn Hiểu Trường)- Hưởng Triều
Trương Đình- Trinh Đường

8. Nói lái trong ngôn ngữ nước ngoài

Nói lái tiếng Pháp: Ông Lãng nhân, trong quyển Chơi Chữ có nhắcchuyện nói lái bằng tiếng Pháp. Chuyện kể rằng có một cặp vợ Việt, chồng Pháp vào hàng tranh sơn mài. Vì chủ nhân nói thách quá nên vợ rỉ tai chồng: ‘très chaud, très chaud (nghĩa đen: nóng quá, nóng quá). Chồng lật đật chọn tranh, trả tiền nhanh để ra ngoài cho bà vợ được mát hơn, vợ trách chồng khi ra khỏi cửa ‘ đã bảo đắt quá mà còn mua? Chồng nói là có thấy vợ kêu đắt đâu. Vợ bảo có nói rồi ‘très chaud’ là ‘tropcher’ (mắc quá). Bà ấy đã nói lái theo kiểu VN, chắc chắn là ‘bố’ của anh chồng cũng không hiểu được.

Hoặc câu: « Le tailleur est submergé sous les amas de patentes » trở thành: «Le tailleur est submergé sous bằng cách thay đổi vị trí âm P v M Qas de ma tante» (http://fr.wikipedia.org/wiki/Journal)

hatlai30

Nói lái trong tiếng Anh (Spoonerism): chữ này có nghĩa là khuyết tật về phát âm, hoặc một cách chơi chữ bằng cách hóan chuyển các nguyên phụ âm giữa 2 từ. Spoonerism xuất xứ từ tên của Giám Mục William Archibald Spooner (1844 – 1930), Giám Thị ĐH New College thuộc Oxford, người rất nổi tiếng vì tật nói lái này: đôi khi còn được gọi là marrowsky, theo tên một Bá Tước Ba Lan, cũng bị khuyết tật phát âm này. Câu nói nổi tiếng nhất của Spooner là:

-Three cheers for our queer old dean! (3 lần (vổ tay) mừng Viện Trưởng Già Kỳ Cục của chúng ta). Thay vì là Our Dear Old Queen ( Nữ Hòang Kính Mến), khi cho sinh viên đón Nữ Hòang Victoria.
-A well-boiled icicle (một cục nước đá luộc kỹ): thay vì A well-oiled bicycle (một xe đạp bôi dầu nhờn kỹ lưỡng).
-You have hissed my mystery lectures (missed history). You have tasted the whole worm (wasted term). Please leave Oxford on the next town drain (down train).

Ngoài Spooner ra, người ta còn dùng lối nói lái này để hài hước (begbin is in London; begbin=cái ca của ăn mày thay vì Big Ben); đôi khi chỗ mà ngôn ngữ thô tục không thể dùng, người ta quay sang spoonerism (nucking futs). (Sources: en.wikipedia.org)

Khi bị cúp điện bất ngờ, hoặc chập chờn, và người Anh cũng hay chửi bằng spoonerism là Madam Doo power.

IV. Nói lái theo các miền ở Việt Nam

1. Nói lái theo kiểu miền Bắc

Trở lại chữ “đại phong” là “lọ tương”. “Tượng lo” nói lái lại là “lọ tương”, người miền Bắc đổi chỗ cho hai chữ, đồng thời đổi luôn hai dấu (nghĩa là đổi âm sắc): lo đổi chỗ cho tượng, lấy dấu nặng thành lọ, tượng đổi chỗ cho lo, mất dấu nặng thành tương.
Ta lấy vài thí dụ khác: đấu tranh nói lái lại là tránh đâu: tranh đổi chỗ cho đấu, lấy dấu sắc của đấu thành tránh, đấu đổi chỗ cho tranh, mang dấu của tranh (không dấu) thành đâu. Hải phòng nói lái lại là phỏng hài : hải đổi chỗ cho phòng lấy dấu huyền của phòng thành hài, phòng đổi chỗ cho hải lấy dấu hỏi của hải thành phỏng . Cứ theo cách ấy thì:

Sầm Sơn sờn sâm; Thái Bình nói lái là bính thài; Hà Nội nồi hạ…v.v…

Như vậy thì hai chữ có cùng dấu không nói lái được, như nhân dân, anh em, Sài Gòn, thánh thót, thực vật…. Cũng vậy, những tiếng láy như xanh xanh, hơ hớ, đo đỏ, lăng xăng… không thể nói lái được và nếu chúng ta cố tình theo qui luật trên thì cũng chỉ đổi vị trí cho nhau thôi.

2. Nói lái theo kiểu miền Nam

Trong Nam người ta nói lái theo cách khác: cá đối nói lái lại thành cối đá. Ta nhận thấy theo cách nói lái trong nam, âm trong hai chữ đổi chỗ cho nhau, phụ âm giữ nguyên vị trí, phụ âm c ghép với âm ối của đối thành cối, và phụ âm đ ghép với âm á thành đá. Như vậy:

Sài gòn – sòn gài
Cần thơ nói lái là cờ thân
Cầy tơ – cờ tây
Cửu long – cỏng lưu (dân nam kỳ phát âm giống như cỏng lu)
Thủ Đức – thức đủ vv.. và vv..

Nghệ sĩ Tuyết Lan và nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục Hát Chầu Văn trong chương trình Phong Châu Mở Hội do Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Dân Tộc Việt tổ chức.
Nghệ sĩ Tuyết Lan và nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục Hát Chầu Văn trong chương trình Phong Châu Mở Hội do Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Dân Tộc Việt tổ chức.

Trong vài trường hợp người ta nói lái cho cả ba chữ, bằng cách giữ nguyên chữ giữa như trong trường hợp mèo đuôi cụt thành mút đuôi kèo (dấu nặng trong cụt biến thể thành dấu sắc trong mút), như vậy hà thủ ô nói lái thành hồ thủ a. Đôi khi người ta lại đổi chỗ hai phụ âm cho nhau (tuy ít thôi) để sau khi nói lái có nghĩa và dễ nghe hơn, thí dụ chiến binh thay vì nói lái thành chinh biến cũng có thể nói thành biến chinh, do đó với hai chữ tranh đấu có người đã đùa mà nói rằng: tranh đấu thì tránh đâu khỏi bị trâu đánh thì thế nào cũng phải đấu tranh.Cũng như trong trường hợp trên, những chữ trùng âm như nhân dân, lù đù, lật đật…không nói lái được.

Ngoài ra còn một cách nói dựa trên nói lái kiểu trong Nam, không mấy người quen sử dụng.Trong cách này, người nói ghép từng chữ (trong nguyên câu) với một chữ (đã được qui ước trước giữa hai người) rồi nói lái hai chữ này với nhau. Cách này tương đối khó, và thường gặp trong giới bình dân lao động, ít học (không biết có phải vì vậy mà không được biết đến chăng?) Thí dụ với câu: “hôm qua tui đi ra đầu ngõ chờ em tới, mà đợi hoài không thấy…” họ ghép từng chữ của câu trên với chữ ly (li) rồi nói lái lại, và do đó câu trên trở thành: “hi lôm (hôm li) qui la (qua li) ti lui đi li ri la đi lầu nghi lõ chi lờ i lem ti lới, mi là đi lợi hi loài khi lông thi lấy…” họ nói chuyện với nhau rất nhanh và hiểu nhau dễ dàng, như thể đã được mã hóa người khác không nhận ra được. Đây là cách vô cùng độc đáo mà nó vẫn chưa được khai thác đúng mức.

Nghệ sĩ Linh Phượng và nghệ sĩ Xuân Thưởng trong tiết mục trình diễn Hò Đối Lái.
Nghệ sĩ Linh Phượng và nghệ sĩ Xuân Thưởng trong tiết mục trình diễn Hò Đối Lái.

V. Kết luận

Qua những phân tích trên, ai cũng công nhận nói lái quả là một đặc thù của tiếng Việt. Chúng ta dùng nói lái để châm biếm, để gài người khác trong các câu đố, câu đối, để tránh những thô tục khi cố ý ghép chữ để hạ thấp người khác. Hình thức này rất thông dụng và phổ biến trong dân gian cũng như trong thơ văn và câu đối, được áp dụng cho tất cả các tầng lớp xã hội từ những người dân ít học cho đến các nhà thơ văn trí thức đều sử dụng nó trong đời sống sinh hoạt của họ, như vậy có thể kết luận rằng trong các kiểu chơi chữ thì nói lái vẫn là một hình thức vô cùng đặc sắc của ngôn ngữ Việt, với khả năng nhạy bén về tính trào phúng, tính châm chọc… (và cũng chỉ nên khai thác khía cạnh tích cực này), tin rằng nói lái sẽ tồn tại mãi mãi và ngày càng phát triển mạnh mẽ trong đời sống văn hóa xã hội của người Việt nam. Qua những phân tích ở các phần trên, hy vọng rằng người đọc sẽ hiểu rõ và có thể vận dụng các kiểu nói lái trong sinh hoạt hằng ngày nhằm góp phần phát huy tính trong sáng và phong phú của tiếng Việt. Nhưng hiện nay với giới trẻ hiện tượng nói lái đã ít được sử dụng, nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này sẽ là vấn đề cần được nghiên cứu tiếp.

Tài liệu tham khảo:

1. Lãng Nhân- Chơi chữ NXB văn học 1992
2. Lê Trung Hoa- Thú chơi chữ NXB Trẻ 1995
3. Triều Nguyên- Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao người Việt NXB Thuận Hóa 2000
4. Một số bài viết trên mạng

oOo

Dân ca miền Bắc – Hát Bai Hai Bát – Nghệ sĩ Linh Phượng & Nghệ sĩ Tuyết Lan (Sáo: Thanh Hà, Guitar solo: Nguyên Thao, Guitar rhythm: Trần Lãng Minh, Guitar bass: Trần Đình Hoành. Hội Quán Văn Nghệ Nhà Nam – Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA) trình diễn:

 

Dân ca miền Nam – Hò Đối Lái – Nghệ sĩ Linh Phượng & Nghệ sĩ Xuân Thưởng (Sáo: Thanh Hà, Tranh: GS Kim Oanh. Hội Quán Văn Nghệ Nhà Nam – Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Truyền Thống Dân Tộc Việt – USA) trình diễn:

 

6 cảm nghĩ về “Dân ca dân nhạc VN – Hát Lái”

  1. Chị đẹp quá chị Phượng! Hát lại ngọt lịm nữa!

    Hôm nay em xem clip chị hát anh đàn, em thấy vui quá.

    Em cám ơn bài phân tích hát lái rất công phu của chị và cả chuỗi bài dân ca dân nhạc VN nữa. 🙂

    Liked by 1 person

  2. À há… Chỉ có mình Thu Hương là nhận diện được có anh Hoành đàn cho chị hát thôi đó. Chị đang vui lây với em. 🙂

    Mostly welcome em. Có em cùng đồng hành với chị là chị có thêm vây cánh tốt rồi. Rất cám ơn sự chia sẻ và khích lệ của em. XO

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s