Tân Nhạc Việt Nam – Nhạc Phản Chiến Trịnh Công Sơn và Khánh Ly

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Tình Ca Lê Uyên – Phương”, mình giới thiệu đến các bạn Nhạc Phản Chiến Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.

Nói đến Nhạc Phản Chiến Trịnh Công Sơn thì hầu như thế hệ học sinh, sinh viên thập niên 1960s, đầu 1970s không thể phủ nhận rằng dòng nhạc này của anh đã nuôi dưỡng cả một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam thời chiến bằng những ý thức nhức nhối về chiến tranh, đổ vỡ, hủy diệt, chết chóc, đau khổ, để rồi những ý thức này không ít thì nhiều ảnh hưởng đến Chiến tranh Việt Nam ở Miền Nam.

Trịnh Công Sơn (28 tháng 2 năm 1939 – 1 tháng 4 năm 2001), cùng với NS Phạm Duy và NS Văn Cao, được xem như ba nhạc sĩ lớn nhất của Tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến. Hiện nay chưa có thống kê về số tác phẩm để lại của anh (ước đoán con số không dưới 600 ca khúc), phần lớn là tình ca. Tuy nhiên số ca khúc của anh được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc). Nhiều ca khúc của anh có thông điệp phản chiến trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam và phần lớn bị cả hai chính thể đối nghịch cấm đoán. Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly. Ngoài ra, anh còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ không chuyên.

Anh quê ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Anh lớn lên tại Huế. Lúc nhỏ anh theo học các trường Lyceè Francais và Provindence ở Huế, sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lycée Jean Jacques Rousseau Sài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây.

tcson_Trịnh Công Sơn & Khánh Ly 1966

Năm 1957, khi 18 tuổi, anh bị một tai nạn, khi đang tập judo với người em trai, anh bị thương nặng ở ngực, suýt chết và phải nằm liệt giường gần hai năm tại Huế. Thời gian nằm bệnh, anh đọc nhiều sách về triết học, văn học, tìm hiểu dân ca. Anh từng thổ lộ: “Khi rời khỏi giường bệnh, trong tôi đã có một niềm đam mê khác – âm nhạc. Nói như vậy hình như không chính xác, có thể những điều mơ ước, khát khao đó đã ẩn chứa từ trong phần sâu kín của tiềm thức bỗng được đánh thức, trỗi dậy”.

Theo anh cho biết, anh sáng tác bài “Sương Đêm” và “Sao Chiều” vào năm 17 tuổi. Nhưng tác phẩm được công bố đầu tiên của anh lại là “Ướt Mi”, do nhà xuất bản An Phú in năm 1959 và qua giọng ca Thanh Thúy.

Năm 1961 vì muốn tránh thi hành nghĩa vụ quân sự (trốn lính) nên anh thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Quy Nhơn. Sau khi tốt nghiệp anh dạy tại một trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng.

Tên tuổi của anh được nhiều người biết đến hơn, từ khi anh cùng ca sĩ Khánh Ly hát tại Quán Văn, một quán cà phê đơn sơ dựng trên bãi đất cỏ sau Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn do nhóm sinh viên mang tên Khai Hóa trong phong trào phục vụ thanh niên xã hội chủ trương, từ cuối năm 1966. Trong những năm sau đó, nhạc của anh được phổ biến và được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt là Khánh Ly. Anh kể: “Gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly là một may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly. Lúc gặp Khánh Ly đang hát ở Đà Lạt, lúc đó Khánh Ly chưa nổi tiếng nhưng tôi nghe qua giọng hát thấy phù hợp với những bài hát của mình đang viết và lúc đó tôi chưa tìm ra ca sĩ nào ngoài Khánh Ly. Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình. Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa. Đó cũng là lý do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly”, còn Khánh Ly kể lại giai đoạn cơ cực đói khổ nhưng đầy hạnh phúc những năm 60 ấy: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết tới ai cả, mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn”.

tcson1

Một số bài hát của anh đã đến với công chúng Nhật Bản năm 1970 như “Diễm Xưa” (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt), “Ca Dao Mẹ”, “Ngủ Đi Con”. Riêng bài “Ngủ Đi Con” đã phát hành trên hai triệu đĩa nhựa. Vì lời lẽ trong nhiều bài hát của anh có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa đã cấm lưu hành vài tác phẩm của anh. Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn “Trịnh Công Sơn – vết chân dã tràng” (đã bị UBND tỉnh Bình Định đình chỉ phát hành được xác định “có nội dung xuyên tạc sự thật lịch sử chiến tranh VN”), Mặt Trận Dân tộc Giải Phóng miền Nam Việt Nam cũng không tán thành cách nhìn phản chiến của anh về chiến tranh, vốn mang tính “chủ hòa, ủy mị”, vì quan điểm của họ cho rằng đây là cuộc “chiến tranh chống xâm lược và thống nhất đất nước”. Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn “Trịnh Công Sơn – vết chân dã tràng”, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thì có những người gạt anh sang bên lề vì coi anh là “thiếu lập trường chính trị”, có những người cực đoan đòi sau khi tiến về Sài Gòn sẽ “xử tử” anh.

Trịnh Công Sơn sáng tác được khoảng hơn 600 ca khúc, những tác phẩm có ca từ độc đáo, mang hơi hướng triết. Tuy nhiên, còn một đánh giá khá phổ biến cho rằng phần nhạc của Trịnh Công Sơn quá đơn điệu. Đánh giá này trùng khớp với lời lý giải của anh về sự sáng tác của mình: “Tôi chỉ là 1 tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo…”. Hai mảng đề tài lớn nhất trong âm nhạc Trịnh Công Sơn là Tình Yêu và Thân Phận Con Người.

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.
Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.

Nhạc Tình

Tình yêu là đề tài lớn nhất trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn. Những bản tình ca chiếm đa số trong danh mục nhạc phẩm. Khả năng viết nhạc tình của Trịnh Công Sơn tưởng chừng không biết mai một theo năm tháng, theo thời đại: từ 1958 với “Ướt Mi” đã nổi tiếng cho đến thập niên 1990 vẫn có những bản tình ca thấm thía: “Như Một Lời Chia Tay”, “Xin Trả Nợ Người”…

Nhạc tình của anh đa số là nhạc buồn, thường nói lên tâm trạng buồn chán, cô đơn như trong “Sương Đêm”, “Ướt Mi”, những khúc tình ngầm mang sầu ly biệt như “Diễm Xưa”, “Biển Nhớ”, hay tiếc nuối một cái gì đã qua: “Tình Xa”, “Tình Sầu”, “Tình Nhớ”, “Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên”, “Hoa Vàng Mấy Độ”… Ngoài ra còn những bài triết lý tình, mang một bóng dáng ngậm ngùi, lặng lẽ của người tình từng trải: “Cỏ Xót Xa Đưa”, “Gọi Tên Bốn Mùa”, “Mưa Hồng”…

Những bài hát này có giai điệu nhẹ nhàng, dễ hát, thường được viết với tiết tấu chậm, thích hợp với điệu Slow, Blues hay Boston. Phần lời được đánh giá cao nhờ đậm chất thơ, bề ngoài trông mộc mạc nhưng rất thâm trầm sâu sắc, đôi khi mang những yếu tố tượng trưng, siêu thực.

Nhạc tình của Trịnh Công Sơn rất phổ biến tại Việt Nam, nhạc sĩ Thanh Tùng từng gọi Trịnh Công Sơn là “người Việt viết tình ca hay nhất thế kỷ”.

Nhạc về thân phận con người

Trịnh Công Sơn từng nói từ khi còn trẻ anh đã luôn ám ảnh bởi cái chết nên âm nhạc của anh mang trong đó một sự mất mát của những số phận con người. Anh cũng ảnh hưởng bởi Phật giáo của phương Đông và chủ nghĩa siêu thực của phương Tây, nhạc Trịnh Công Sơn thấm đượm màu sắc hiện sinh của các tác giả văn học phương Tây thập niên 60 như Jean Paul Sartre, Albert Camus,… Tiêu biểu là các ca khúc “Cát Bụi”, “Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ”, “Chiếc Lá Thu Phai”, “Một Cõi Đi Về”, “Phôi Pha”,…. Trong đó nhiều bài mang hơi hướng thiền như “Một Cõi Đi Về”, “Giọt Nước Cành Sen”.

tcson3

Nhạc Phản Chiến

Tên tuổi của Trịnh Công Sơn còn gắn liền với một loại nhạc mang tính chất chống lại chiến tranh, ca ngợi hòa bình mà mọi người thường gọi là “Nhạc Phản Chiến”, hay còn gọi là “Ca Khúc Da Vàng” theo tên các tập nhạc của anh phát hành cuối thập niên 60. Những ca khúc da vàng thường nói lên thân phận của những người dân một nước nhỏ (nhược tiểu) bị lôi kéo vào chiến tranh và nằm trong vòng toan tính, giành giật ảnh hưởng của những nước lớn (thường là khác màu da).

Theo Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác dạng nhạc này vào khoảng năm 1965- 1966. Năm 1966, anh cho ra đời tập “Ca khúc Trịnh Công Sơn”, trong đó có manh nha một xu hướng chính trị yếm thế. Đến năm 1967, nhạc Trịnh Công Sơn lên đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng tập “Ca Khúc Da Vàng”. Năm sau, anh cho ra tiếp tập “Kinh Việt Nam”. Từ năm 1970 tới 1972 anh tự ấn hành được hai tập “Nhạc Phản Chiến” là “Ta Phải Thấy Mặt Trời” và “Phụ Khúc Da Vàng”. Trong các băng nhạc “Hát Cho Quê Hương Việt Nam” của Khánh Ly, những ca khúc phản chiến được bố trí khéo léo đan xen với các ca khúc trữ tình. Những tập ca khúc vừa kể đều được phát hành hợp pháp tại miền Nam trước 1975. Chính vì thế các ca khúc phản chiến của anh được phổ biến khá rộng rãi, có ảnh hưởng lớn đến công chúng nhất là giới trí thức, học sinh, sinh viên miền Nam.

Nhạc Phản Chiến của Trịnh Công Sơn phần lớn viết bằng điệu Blues, cộng với lời ca chân tình thống thiết, trở nên những bài hát rất cảm động nhưng không hề yếu đuối, ủy mị. Những bản nhạc này được anh cùng Khánh Ly đem đi hát ở nhiều nơi tại miền Nam, được nhiều người nhất là giới sinh viên nhiệt tình ủng hộ. Đây cũng là loại nhạc làm cho danh tiếng của Trịnh Công Sơn lan ra thế giới: nhờ nhạc phản chiến anh được một Đĩa Vàng (giải thưởng âm nhạc) tại Nhật và có tên trong tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp.

tcson2

Nhạc Phản Chiến Trịnh Công Sơn được cho là có vai trò không nhỏ trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Việt Nam. Cũng vì loại nhạc này mà anh đã bị tẩy chay nhiều lần từ cả hai phe đối địch. Nhưng về phía Trịnh Công Sơn, không thể phủ nhận rằng anh đã trở thành một tên tuổi đặc biệt nhờ vào dòng nhạc này.

Cho đến nay, sau hơn 40 năm chấm dứt chiến tranh, rất nhiều bài hát “da vàng” của anh chưa được phép lưu hành chính thức tại Việt Nam hiện nay dù đã từng rất phổ biến (và được Khánh Ly phát hành băng nhạc) tại miền Nam trong thời chiến tranh Việt Nam (như bài “Gia Tài Của Mẹ”, “Cho Một Người Vừa Nằm Xuống”, “Đi Tìm Quê Hương”, “Chính Chúng Ta Phải Nói Hòa Bình”, “Chưa Mất Niềm Tin”, “Chờ Nhìn Quê Hương Sáng Chói”, “Hát Trên Những Xác Người”, “Ta Đi Dựng Cờ”, “Ta Quyết Phải Sống”.

Nhạc Phản Chiến của Trịnh Công Sơn bao gồm các tác phẩm của anh viết về cuộc Chiến tranh Việt Nam dưới các góc nhìn khác nhau. Trong tác phẩm Gia Tài Của Mẹ (1965), anh gọi cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một cuộc “nội chiến”, vì đối với anh “cái chết nào cũng là cái chết đau lòng với dân tộc”. Nhạc chiến tranh của anh bắt nguồn từ tình yêu thương, là những bài tự tình dân tộc, nói về thân phận khổ ải của con người trong chiến tranh. Các ca từ trong các ca khúc phản chiến ca tụng tình yêu thương, chống bạo lực và chiến tranh, kêu gọi sự đoàn kết và xóa bỏ lòng hận thù. Các tác phẩm của anh chủ yếu được lưu truyền trong giới sinh viên, và phần lớn bị cả hai bên đối nghịch cấm đoán. Sau chiến tranh một số tác phẩm được phép lưu hành ở Việt Nam, nhưng một số tác phẩm bị cấm lưu hành. Sau khi mất, năm 2004 anh được trao Giải Thưởng Âm Nhạc Hoà Bình Thế Giới (WPMA).

Ca sĩ Khánh Ly.
Ca sĩ Khánh Ly.

Nói về nhạc Trịnh Công Sơn thì không thể không nói đến giọng hát Khánh Ly. Hình như cô sinh ra là chỉ để hát nhạc Trịnh Công Sơn. Những người yêu nhạc Trịnh đều đồng ý với nhau rằng nếu như không có Trịnh Công Sơn thì sẽ không ai biết đến Khánh Ly. Ngược lại cũng vậy, nếu như không có Khánh Ly thì sẽ không ai biết đến Trịnh Công Sơn.

Khánh Ly (tên thật: Nguyễn Thị Lệ Mai, sinh ngày 6 tháng 3 năm 1945 – theo mẹ di cư vào miền Nam năm 1956). Bắt đầu sự nghiệp ca hát từ những năm 1960, gắn liền với các ca khúc của Trịnh Công Sơn, Khánh Ly là một trong những tiếng hát tiêu biểu nhất của Tân Nhạc Việt Nam. Khánh Ly cũng rất thành công với các nhạc phẩm tiền chiến, tình ca của nhiều nhạc sĩ khác như Phạm Duy, Trầm Tử Thiêng, Vũ Thành An, Nguyễn Đình Toàn… nhưng thành công nhất vẫn là khi cô hát nhạc Trịnh Công Sơn. Nghệ danh Khánh Ly được cô ghép từ tên hai nhân vật Khánh Kỵ và Yêu Ly trong truyện Đông Chu Liệt Quốc.

Khi còn ở Hà Nội, dù chưa tới 9 tuổi nhưng Khánh Ly đã tham dự một cuộc thi hát với bài “Thơ Ngây” của nhạc sĩ Anh Việt nhưng không được giải gì. Cuối năm 1956, mới 11 tuổi, Khánh Ly một mình đi nhờ xe chở rau từ Đà Lạt về Sài Gòn tham dự cuộc thi tuyển lựa ca sĩ nhi đồng do đài Pháp Á tổ chức tại rạp Norodom. Khánh Ly hát bài “Ngày Trở Về” của nhạc sĩ Phạm Duy và đoạt giải nhì, sau “thần đồng” Quốc Thắng.

tcson_Khánh Ly1

Năm 1962, Khánh Ly thực sự bước chân vào sự nghiệp ca hát, cô hát cho phòng trà Anh Vũ trên đường Bùi Viện, Sài Gòn. Cuối năm đó cô chuyển lên sống tại Đà Lạt và hát cho các phòng trà ở đó. Năm 1964, Khánh Ly gặp anh Trịnh Công Sơn, lúc đó còn chưa nổi tiếng, anh mời cô về Sài Gòn biểu diễn. Lúc đó, vì không muốn rời Đà Lạt nên Khánh Ly từ chối lời đề nghị của người nhạc sĩ trẻ đó.

Năm 1967, do tình cờ cô gặp lại Trịnh Công Sơn tại Sài Gòn và từ đó, Khánh Ly cùng Trịnh Công Sơn đã trở thành một hiện tượng của Tân Nhạc Việt Nam.

Khánh Ly và Trịnh Công Sơn đã có những buổi trình diễn ngoài trời không công và không thù lao cho sinh viên tại Quán Văn (mà theo Khánh Ly, đó là một quán lá sơ sài dựng trên một nền gạch đổ nát) nằm trên bãi đất rộng sau trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Họ tiếp tục trình diễn khắp nơi ở miền Nam Việt Nam, nhất là trong sân cỏ trường đại học, nơi Khánh Ly được mệnh danh là “Nữ Hoàng Chân Đất” hay “Nữ Hoàng Sân Cỏ”. Khánh Ly chính là ca sĩ Việt Nam đầu tiên tổ chức show diễn riêng của mình.

Về biệt danh “Nữ Hoàng Chân Đất”, theo lời thuật lại của Khánh Ly trong băng Video Một Đời Việt Nam thực hiện năm 1991, khi chưa có kinh nghiệm ca hát và lần đầu tiên xuất hiện trước một đám đông khoảng một ngàn người, Khánh Ly đã không giữ được bình tĩnh và đứng không vững, phải vịn vào vai Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn nói “bỏ tay ra và đứng hát cho nghiêm chỉnh”, vì run quá, nên Khánh Ly cởi bỏ đôi giày cao gót và đứng chân đất và nhờ đó, đã có thể bình tĩnh để trình bày hết bài hát của Trịnh Công Sơn trong suốt một đêm đó, khoảng 30 đến 40 bài hát trong 1 đêm. Khánh Ly kể về thời kỳ những năm 60 cơ cực, đói khổ nhưng đầy hạnh phúc ấy: “Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào. Thời ấy, tôi phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết đến ai cả, mà vẫn cảm thấy mình cực kỳ hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn”.

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.
Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.

Từ năm 1967 đến 1975, Khánh Ly hợp tác với nhiều hãng đĩa tại Sài Gòn, thâu âm nhiều bài hát trong các dĩa nhạc của các hãng dĩa Việt Nam, Sóng Nhạc, Tình Ca Quê Hương, Dư Âm, Nhạc Ngày Xanh, Continental và thâu vào băng Akai của Chương trình Phạm Mạnh Cương, Trường Sơn, Sơn Ca, Họa Mi, Jo Marcel… Năm1968, Khánh Ly mở Hội Quán Cây Tre ở Đakao, số 2bis đường Đinh Tiên Hoàng, Sài Gòn. Đây là nơi tụ họp của các văn nghệ sĩ và các sinh viên học sinh yêu văn nghệ yêu tiếng hát Khánh Ly, và đây cũng là nơi tổng phát hành những cuốn băng nổi tiếng Trịnh Công Sơn – Khánh Ly “Hát Cho Quê hương Việt Nam”.

Trong hai năm 1969 và 1970, được sự tài trợ của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, Khánh Ly đã có nhiều cuộc trình diễn cho các sinh viên Việt Nam ở châu Âu, Mỹ và Canada. Năm 1970, nhận được lời mời của đài truyền hình NHK, Khánh Ly sang biểu diễn ở Nhật Bản. Khánh Ly đã ghi âm và trình diễn các ca khúc bằng cả hai thứ tiếng Việt và Nhật.

Năm 1970, Chiến tranh Việt Nam lan rộng, Trịnh Công Sơn viết nhiều ca khúc phản chiến và được Khánh Ly hát trong những cuốn băng “Hát Cho Quê Hương Việt Nam”. Khánh Ly cũng tham gia hát trong những buổi ca nhạc gây dựng quỹ của các hội đoàn, hội Công Giáo Việt Nam để xây chùa, nhà thờ, trại mồ côi, trại tỵ nạn. Năm 1972, cô mở một phòng trà ca nhạc mang tên Khánh Ly trên đường Tự Do, số 1214 tại thành phố Sài Gòn.

Sau năm 1975, Khánh Ly rời Việt Nam và định cư tại Cerritos, California, Hoa Kỳ. Năm 1979, một lần nữa Columbia Nippon lại mời Khánh Ly đến Nhật để thâu băng nhạc của Trịnh Công Sơn. Năm 1982, đài Bunka Honso Radio mời Khánh Ly tham gia Liên hoan Âm Nhạc Châu Á với nhiều nghệ sĩ nhiều nước Châu Á. Năm 1985, Khánh Ly cùng chồng là nhà báo Nguyễn Hoàng Đoan mở hãng thu riêng Khánh Ly Productions. Năm 1987, Khánh Ly trở lại Nhật để thâu băng cho phim Thuyền Nhân (Boat Man).

Khánh Ly viếng mộ Trịnh Công Sơn.
Khánh Ly viếng mộ Trịnh Công Sơn.

Năm 1988, là một tín đồ Công Giáo mộ đạo, Khánh Ly được mời đến Vatican trong lễ tuyên phong các thánh tử đạo Việt Nam. Trong sự kiện này, Khánh Ly đã gặp Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Năm 1989, sau khi bức tường Berlin bị phá bỏ, Khánh Ly và Thanh Tuyền đã hát trong chương trình nhạc đầu tiên ở Đông Đức. Năm 1992, Khánh Ly được mời đến Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới ở Denver, Colorado (Hoa Kỳ), và là lần thứ hai cô được gặp Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Năm 1996, Đài truyền hình NKH ở Nhật Bản đã chọn Khánh Ly là một trong 10 nhân vật nổi tiếng để làm phim tài liệu về cuộc đời và gia đình Khánh Ly.

Trong dịp kỷ niệm 50 năm ca hát, Khánh Ly và bạn hữu đã tổ chức 1 buổi văn nghệ miễn phí tại Nhà Thờ Chính Tòa Pha Lê (Crystal Cathedral) tại Garden Grove, California, vào ngày 30 tháng 11 năm 2012, và sau đó kéo dài trong nhiều tháng, cô “đồng hành với nhiều ca sĩ trẻ đến nhiều nhà thờ trên khắp nước Mỹ để hiến tặng CD Thánh Ca”.

Hiện nay Khánh Ly vẫn tiếp tục sự nghiệp ca hát của mình trong các công tác từ thiện.

Dưới đây mình có các bài:

– Rút từ Hồi Ký III: Thời Phân Chia Quốc Cộng
– Khánh Ly: Tôi luôn đau đáu khôn nguôi về Trịnh Công Sơn
– Khánh Ly: “Trịnh Công Sơn không yêu ai ngoài mẹ anh đâu”

Cùng với 6 clips tổng hợp tiêu biểu “Nhạc Phản Chiến” và “Tình Ca” Trịnh Công Sơn để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.
Trịnh Công Sơn và Khánh Ly.

Rút từ Hồi Ký III: Thời Phân Chia Quốc Cộng

(Phạm Duy)

Ðầu thập niên 70 là lúc Nhạc Việt, trong phạm vi ca khúc, phát triển đến tột độ. Có sự thành công của những bài hát thông thường và chỉ được coi là nhạc thương phẩm — mệnh danh là nhạc vàng — với những tình cảm dễ dãi phù hợp với tuổi choai choai, với em gái hậu phương và lính đa tình, tuy không được coi trọng nhưng lại rất cần thiết cho vài tầng lớp xã hội trong thời chiến. Rồi có phong trào du ca và tâm ca với những bài hát phi-thương-mại, đi kèm với tình ca quê hương và trường ca, nói lên được phần nào tâm thức của thời đại và được thanh niên sinh viên công nhận.

Trong phạm vi giải trí, phòng trà trở thành cái mốt của mọi người: thương gia, công chức, tư chức, quân nhân, thương phế binh và cả các bà nội trợ nữa… ai ai cũng thích đi nghe nhạc và giúp cho ca sĩ chuyên nghiệp, nhạc sĩ sáng tác, nhạc công đánh đàn thăng tiến trong nghề mình. Cánh tay nối dài của phòng trà là quán cà phê có nghe nhạc, thu hút đông đảo sinh viên, học sinh. Nhạc trẻ ra đời, đem lại cho nhạc Việt một số bài hát mới, sôi nổi, đậm sắc hơn trước. Một rừng nhân tài trẻ trung xuất hiện qua những ban nhạc bốn người (gọi là combo), sử dụng nhạc khí điện tử với âm thanh mới lạ.

Mười năm về trước, ở trong nước chỉ có ba nhà sản xuất đĩa hát. Bây giờ, rất nhiều người — từ Ngọc Chánh (SHOTGUNS) qua Duy Khánh (TRƯỜNG SƠN) tới những người của các hãng khác (NHÃ CA, HOA MI, SƠN CA, SÓNG NHAC)… làm nghề sản xuất băng nhạc, mỗi tháng tung ra những chương trình nhạc rất hấp dẫn, kể cả cổ nhạc lẫn tân nhạc, nhạc trẻ lẫn nhạc già (nhạc tiền chiến). Hàng trăm, hàng ngàn (hàng vạn, nếu kể cả Saigon và các tỉnh) cửa hàng sang băng, càng làm cho băng nhạc phát triển dữ dội.

Trong bối cảnh sinh động như vậy, phần chính yếu là sáng tác phẩm phải rất phong phú. Vào lúc này, ngoài những người đi trước như Vũ Thành, Cung Tiến, Phạm Ðình Chương, Lâm Tuyền, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Văn Giảng, Ngọc Bích, Hoàng Thi Thơ, Trần Ngọc, Y Vân, Lê Dinh, Anh Bằng, Trúc Phương, Duy Khánh, Trần Thiện Thanh tức Nhật Trường, Lam Phương, Ðỗ Lễ, Phạm Thế Mỹ… đã xuất hiện một số người mới như Thanh Trang, Trầm Tử Thiêng, Anh Việt Thu, Lê Uyên Phương, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng, Vũ Thành An, Nguyễn Ánh 9, Lê Hựu Hà, Nguyễn Trung Cang… Tân Nhạc đã có tới bốn đời nhạc sĩ và có hàng trăm, hàng ngàn ca khúc được soạn ra và hát lên. Trong Hồi Ký này, tôi chỉ nhắc tới những người đánh dấu thời đại một cách sâu đậm bằng tác phẩm của mình.

Người nổi nhất là Trịnh Công Sơn. Trước tiên, người ta biết tới anh nhờ Quán VĂN. Quán do nhóm sinh viên mang tên KHAI HOÁ chủ trương. Nhóm này đã làm nhà xuất bản (QUẢNG HÓA) rồi khi phong trào phòng trà thịnh hành, nhóm mở quán cà phê ở ngay trung tâm Saigon, trên nền Khám Lớn cũ trong khu Ðại Học Văn Khoa, sinh viên tới uống cà phê nghe băng nhạc và nghe Khánh Ly hát.

Bài hát của Trịnh Công Sơn đươc nghe tại quán VĂN lúc đầu là Lời Buồn Thánh. Cũng như nhạc Ðặng Thế Phong, bài hát tân lãng mạn (néo-romantique) này nói về nỗi buồn. Bài Lời Buồn Thánh thật là buồn, như bài hát buồn làm cho người Âu Châu phải tự tử là Chủ Nhật Buồn tôi đã nói tới trong một chương sách. Trong bài hát của mình, họ Trịnh cũng nói tới ngày chủ nhật buồn:

Chiều chủ nhật buồn
Nằm trong căn gác đìu hiu
Ôi tiếng hát xanh xao của một buổi chiều
Trời mưa, trời mưa không dứt
Ô hay mình vẫn cô liêu…

Thoạt nghe đã thấy ngay là tiếng hát đau đớn, thấy mưa ảm đạm trong lòng (như thơ Verlaine), thấy sự cô đơn, hoang vắng. Sinh ra ở Ban Mê Thuột (hay Pleiku?), sống ở Huế, mưa ám ảnh Trịnh Công Sơn rất nhiều cho nên cũng vẫn là nỗi buồn của ngày chủ nhật mùa mưa trong bài Tuổi Ðá Buồn:

Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang
Từng ngón tay buồn em mang em mang
Ði về giáo đường, ngày chủ nhật buồn…

Nhạc Trịnh Công Sơn là nhạc nói về QUÊ HƯƠNG, TÌNH YÊU, và THÂN PHẬN CON NGƯỜI. Hãy nói về tình khúc Trịnh Công Sơn, nói về thân phận Người Tình trong giai đoạn quê hương đổ nát này.

Từ khi Tân Nhạc Việt Nam ra đời đầu thập niên 40, đã có những tình khúc của Lê Thương, Lê Yên, Hoàng Giác, Dzoãn Mẫn… Lúc đó là thời bình, khi tình còn xanh và yêu chưa lo sợ. Ngôn ngữ tình yêu thật là bình dị, đối tượng là cô hái mơ, cô láng giềng, cô lái đò, cô hái hoa hay anh Trương Chi. Từ khi nước Việt bị chia đôi, nhạc tình miền Nam đậm sắc hơn và trong mười năm đầu, vì cuộc đời chưa thực sự bị đe doạ, người ta vẫn có những bài hát hữu tình hay thất tình, xinh xinh, hiền lành, lúc đầu còn mới mẻ, dần dà ngôn ngữ tình yêu trở thành sáo ngữ. Tới lúc đời sống trở nên bấp bênh, thanh niên được gọi đi lính rất nhiều (chết trận cũng nhiều) biết bao nhiêu đôi lứa phải xa nhau (có khi vĩnh viễn xa nhau) tình khúc miền Nam thay đổi ngôn ngữ.

Nhạc tình không còn là nhạc lãng mạn, nhạc cảm tính với câu hát đắm đuối hay hờn dỗi nữa ! Bây giờ là những bài hát nhức nhối của những tình nhân yêu nhau trong cơn mê sảng. Nhạc trở thành não nề và đánh vào não tính. Nhạc tình bây giờ là tình ca của người mất trí.

Tình khúc Trịnh Công Sơn ra đời, từ giàn phóng là Quán VĂN được hoả tiễn Khánh Ly đưa vút vào phòng trà, rồi vào băng cassette và chỉ trong một thời gian ngắn chinh phục được tất cả người nghe. So với tình khúc của ba bốn chục năm qua, ngôn ngữ trong nhạc Trịnh Công Sơn rất mới, chất chứa những hình ảnh lạ lùng, quyến rũ như cơn mưa hồng, thuở hồng hoang, dấu điạ đàng, cánh vạc bay…

Tình yêu trong nhạc của anh là những cảm xúc dữ dội như trái phá con tim mù loà, như nỗi chết cơn đau thật dài, như vết thương mở rộng… Cuộc đời là hư vô chủ nghĩa, con người sống trong cảnh Chúa, Phật bỏ loài người. Cuộc đời còn là đám đông nhưng cũng là quán không. Con người là cát bụi mệt nhoài, bao nhiêu năm làm kiếp con người, chợt một chiều tóc trắng như vôi… Tất cả nói lên sự muộn phiền, đau đớn… Buồn tủi cho thân phận con người nên nhánh cỏ cũng xót xa, phiến đá cũng ưu phiền, và chỉ còn những mưa và mưa để xoa dịu vết thương mở lớn! Hãy nghe thêm những câu hát về mưa trong Diễm Xưa:

Mưa vẫn hay mưa cho đời biển động
Làm sao em biết bia đá không đau ?
Xin hãy cho mưa qua miền đất rộng
Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau…

Diễm Xưa cho thấy rõ tiếng hát đứt đoạn của nội tâm về nỗi đau con người trong tình yêu, thấy thêm sự hoang vắng của tâm hồn. Bị ám ảnh bởi mưa đến độ còn nhìn ra mầu sắc của mưa — mưa hồng — Trịnh Công Sơn nói lên nỗi bàng hoàng của con người khi thấy cái chết nằm ngay trong sự sống:

Người ngồi xuống xin mưa đầy
Trên hai tay cơn đau dài
Người nằm xuống nghe tiếng ru
Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ ?

Nguyễn Ðình Toàn gọi nhạc Trịnh Công Sơn là những bản tình ca không có hạnh phúc, những bài hát cho quê hương đổ vỡ. Cũng là phản ứng của người đau đớn trước hoàn cảnh đất nước, nhưng nó là sự chịu đựng và chết lịm hơn là sự nổi sùng và chửi bới. Có lẽ vì tác giả là người lớn lên ở Huế, một thành phố nên thơ, hiền hoà, không chấp nhận bạo động. Tôi vẫn cho người Việt ở ba miền đất nước có những phản ứng khác nhau trước những hoàn cảnh khó khăn. Ví dụ người con gái miền Bắc thất tình thì phản ứng bằng sự điên giả — CHÈO có vở Vân Dại Giả Ðiên — hay điên thật rồi nguyền rủa, chửi bới cuộc đời (như ông giáo ở Phú Nhuận nói ở chương trên). Sự phản ứng của người gái Huế là buông xuôi (fatalisme), mất người tình là nàng có thể đâm đầu xuống sông tự tử. Còn ở miền Nam à ? Không oong đơ gì cả, người thất tình sẽ đốt chồng như cô Quờn.

Về phần nhạc, toàn thể ca khúc Trịnh Công Sơn không cầu kỳ, rắc rối vì nằm trong một số nhạc điệu đơn giản, rất phù hợp với tiếng thở dài của thời đại. Bài hát chỉ cần một chiếc đàn guitare đệm theo, nếu hoà âm phối khí rườm rà thì không hợp với những bài hát soạn theo thể ballade này.

Từ nhạc tình yêu, thân phận con người, Trịnh Công Sơn chuyển qua nhạc thần thoại quê hương. Âm nhạc ở miền Nam trong thời gian này thật phong phú. Vẫn có những bài hát soạn cho tuổi choai choai: Em 16, Em Mới Biết Yêu Ðã Biết Sầu, Túp Lều Lý Tưởng, Người Tình Chung Vách, Người Tình Chung Thủy và cho người lính Cộng Hoà: Lính Mà Em, Lính Dù Lên Ðiểm, Lính Nghĩ Gì, Lính Xa Nhà, Lời Người Lính Xa, Lính Trận Miền Xa, Anh Là Lính Ða Tình, Người Lính Chung Tình, Ðám Cưới Nhà Binh… Và có thêm những bài hát phản ứng trước cảnh tang thương của đất nước. Như đã nói trong chương trước, nhạc tâm ca, du ca lúc này là sự phẫn nộ của thanh niên khi thấy mình bị đưa lên giàn hoả thiêu hoặc phải đi vào quê hương bằng cuộn dây thép gai… rồi xuống vỉa hè và trở thành tục ca.

Bây giờ, ngoài những ca khúc đi vào tình nhớ, tình xa, tình sầu… với cơn chết lịm, với nỗi muộn phiền và niềm xót xa trong cảnh cô đơn mà ta đã biết, nhạc Trịnh Công Sơn phản đối nghịch cảnh bằng cách khác. Nhạc anh đi vào quê hương bằng bước chân của người con gái da vàng, của em bé loã lồ suốt đời lang thang…

Sống cùng thời với những người đi vào quê hương qua nhiều nẻo đường, Trịnh Công Sơn cũng nhận diện lại quê hương. Ði tìm quê hương, phải sống những ngày dài trên quê hương thì phải hát bài quê hương, phải nhỏ giọt nước mắt cho quê hương khi thấy quê hương hình hài nát dấu bom với xác người chết hai lần… Phải gặp những người tình có người yêu chết trận Pleime hay chết ở chiến khu D, gặp thêm người già em bé, chị gái anh trai, người phu quét đường, đồng hoá họ là người nô lệ da vàng, ngủ im trong căn nhà nhỏ… chờ ngày quê hương sáng chói, đứng dậy hò reo, chờ Hoà Bình đến tiếng bom im, cho những bước đi trên những con đường không chông mìn, cho đường giao thông chắp nối chuyến xe qua ba miền, ngày Thống Nhất tới cho những tình thương vô bờ…

Nhạc thần thoại quê hương, nhạc tình yêu và thân phận con người của Trịnh Công Sơn có một tư tưởng chỉ đạo khá rõ, dù toàn bộ âm nhạc của anh đẹp như một bức hoạ trừu tượng hơn là tả thực. Cả nhạc lẫn lời, cả xác chữ lẫn hồn thơ, nghe bảng lảng, mơ hồ khó phân định cho đúng nghĩa, nhưng nếu nghe kỹ cũng tìm ra ý chính: Trịnh Công Sơn muốn nói lên nỗi đau con người trong cuộc sống hiện đại, có tình yêu, có chiến tranh, có hận thù, có cái chết dễ dàng như chết trong mơ. Anh ca tụng tình yêu và — cũng như bất cứ nghệ sĩ nào ở trên đời này — anh chống bạo lực và chống chiến tranh.

Một, hai năm trước biến cố 30-4-1975, nhạc Trịnh Công Sơn đi vào Thiền, có lẽ cũng giống như tôi đi vào Ðạo Ca, vì lũ chúng tôi, khi nhập cuộc khi xuất thế … như thể sống lửng lơ giữa thiên đường và điạ ngục.

(Phạm Duy – trích Hồi Ký – Thời Phân Chia Quốc Cộng)

Khánh Ly luôn nhớ về Trịnh Công Sơn.
Khánh Ly luôn nhớ về Trịnh Công Sơn.

Khánh Ly: Tôi luôn đau đáu khôn nguôi về Trịnh Công Sơn

(Quốc Huy tổng hợp)

Với danh ca Khánh Ly, cho đến bây giờ bà vẫn luôn đau đáu khôn nguôi về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Sau nhiều năm đi diễn và ấp ủ, danh ca Khánh Ly đã cho ra mắt cuốn tự truyện “Đằng sau những nụ cười” với khán giả quê nhà.

Theo tin tức được biết, nội dung cuốn tự truyện là câu chuyện cuộc đời ca sĩ Khánh Ly với chuỗi những chuyến lưu diễn xách va li đi hết sân bay này đến phi trường kia. Đó cũng là chuyện đời của một người đàn bà bình thường với gia đình và những vấn đề thường nhật. Đặc biệt, thấm đẫm trong từng câu chuyện của cuốn nhật ký còn là nỗi đau đáu khôn nguôi của bà với người bạn lớn đời mình – nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

Danh ca Khánh Ly tâm sự trong chương trình “Cuộc sống thường ngày”: “Anh Sơn là người bạn, người anh và người cha. Có nhiều người thắc mắc về mối quan hệ giữa tôi và anh Trịnh Công Sơn vì không ai tin là có tình bạn giữa một người đàn ông và người đàn bà. Nhưng nó có đó.

Tôi gặp anh Trịnh Công Sơn có lẽ là định mệnh, bởi không dễ dàng để người ta gặp nhau giữa dòng đời như vậy. Tôi không phải là người có tài năng. Tôi có được tất cả những điều đó chỉ là nhờ sự may mắn và cái may mắn nhất trong cuộc đời tôi là gặp được Trịnh Công Sơn. Đó là định mệnh” – nữ danh ca nói tiếp – “Định mệnh đó không phải là ai muốn cũng được. Đó cũng là lý do tôi tự nhủ lòng mình phải chung thủy với Trịnh Công Sơn cho đến khi nào lìa xa đời này. Tất cả mọi người trong đời sống này đã cho tôi nhiều lắm, tôi chỉ sợ mình không đáp lại được”.

Giữa Khánh Ly và Trịnh Công Sơn có một mối lương duyên không thể nào chia lìa. Có một thời, Trịnh sáng tác chỉ để Khánh Ly ca. Mười năm gắn bó “duyên tình âm nhạc” để làm nên một “nữ hoàng chân đất”, một Khánh Ly hát nhạc Trịnh mãi về sau khó có giọng ca nào vượt qua…

Hai người đi với nhau tạo thành hình ảnh “lứa đôi”, một đôi trai gái trong tình bạn trong sáng, hồn nhiên. Khánh Ly – Trịnh Công Sơn tạo thành một đôi bạn trẻ muốn phá vỡ quan niệm xưa cũ. Trong dư luận khi ấy, không ít người tò mò, định kiến, nhưng Trịnh là người tiếng tăm mà không tai tiếng, ngay từ thời đó, Trịnh khẳng định: “Tôi và Khánh Ly chỉ là hai người bạn. Thương nhau vô cùng, trên tình bạn”.

Sau năm 1975, Khánh Ly ra hải ngoại, đi khắp thế giới với nghiệp cầm ca nhưng không bao giờ chị rời bỏ tên Trịnh Công Sơn bên cạnh cuộc đời của mình. Ngày 1/4/2001, khi Trịnh Công Sơn nằm xuống, Khánh Ly đã từng nói rằng: “Tôi đã chết nửa cuộc đời theo Trịnh Công Sơn!”.

Ca sĩ Khánh Ly bên cuốn sách và bộ đĩa nhạc mới ra mắt của cô.
Ca sĩ Khánh Ly bên cuốn sách và bộ đĩa nhạc mới ra mắt của cô.

Khánh Ly: “Trịnh Công Sơn không yêu ai ngoài mẹ anh đâu”

(VTV.vn)

“Người ta nói Trịnh Công Sơn yêu nhiều cô gái, nhưng không phải đâu. Anh không yêu ai cả. Tôi biết anh Sơn chỉ yêu mẹ mình mà thôi” – nữ ca sĩ Khánh Ly nói.

Chiều 12/6, Khánh Ly từ Mỹ về Việt Nam dự buổi ra mắt cuốn tạp văn Đằng sau những nụ cười và bộ 5 đĩa nhạc mới của bà tại Hà Nội. Sách do Phương Nam và NXB Văn học ấn hành, còn 5 đĩa nhạc gồm Bên đời hiu quạnh, Hạ Trắng, Biển nhớ, Tình nhớ, Chủ nhật buồn do công ty Phương Nam phát hành, độc quyền trong 15 năm .

Nữ ca sĩ sẽ giao lưu xuyên Việt từ Hà Nội vào Huế, TP.HCM và Cần Thơ từ 12 đến 15/6.

“Tôi là người đàn bà bình thường”

“Khánh Ly viết hay và giàu cảm xúc” – bà Phan Thị Lệ, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Phương Nam, lý giải việc xuất bản cuốn sách Đằng sau những nụ cười. Đây là lần đầu Khánh Ly ra mắt ở Việt Nam với tư cách tác giả sách. Bà có giọng văn rất tự nhiên, đôi khi như lời nói.

Cuốn sách có 2 phần chính: chuyện đời ca sĩ Khánh Ly với một chuỗi những chuyến lưu diễn xách va li đi hết sân bay này đến phi trường kia, và thứ hai là chuyện đời của một người đàn bà bình thường với gia đình và những vấn đề thường nhật.

Với nhiều độc giả, phần thứ hai đáng tò mò hơn. Như Khánh Ly nói: “Tôi cũng giống như tất cả mọi người. Tôi cũng biết vui, buồn, sợ, ghen tuông, yêu chồng, yêu con, biết khóc, biết cười. Vấn đề là khóc nhiều hay cười nhiều, vui nhiều hay buồn nhiều thôi. Tôi là một người đàn bà bình thường như thế thôi”. Trở lại Việt Nam đã nhiều lần, bà ngày càng đến gần với công chúng hơn, không còn là mơ hồ như trong huyền thoại nữa.

“Tôi trở về Hà Nội sau 60 năm ở tuổi như thế này, mọi người thường nói, còn làm gì được nữa chứ?” – nữ ca sĩ chia sẻ. “Nhưng tuổi tác chỉ là con số mà thôi, quan trọng là trái tim, cảm xúc với cuộc đời còn không? Mình có đi tới hay không? Điều đó mới quan trọng”.

Hơn 100 khán giả đã đến dự buổi ra mắt sách, trong đó có nhà thơ Dương Tường, đạo diễn Trần Văn Thủy, vợ chồng họa sĩ Thành Chương… Khánh Ly chào riêng Dương Tường: “Tôi đang đọc một cuốn sách nhắc tới bác, không ngờ lại gặp bác ở đây. Ở Hà Nội có rất nhiều người tôi muốn gặp, nhưng có lẽ không bao giờ gặp được. Nhưng những gì không làm được ở kiếp này thì sẽ làm ở kiếp sau. Chắc kiếp sau, tôi sẽ không gặp bác Tường nữa”.

Khánh Ly khổ hay không khổ?

Chữ “khổ” nhắc đi nhắc lại trong cuốn Đằng sau những nụ cười. Rất nhiều lần ở mỗi chuyến đi, cứ ra khỏi nhà xách va li là bà lại kêu khổ. Vậy nhưng vẫn không dừng lại ở bất cứ hành trình nào, không có dấu hiệu gì mệt mỏi suốt hơn 40 năm qua. Không có dấu hiệu gì của người đàn bà đã 73 tuổi.

Vậy nhưng bà vẫn tự nhận: “Tôi là người may mắn khi ai cũng thương tôi. Người già, người trẻ, đàn ông, đàn bà… ai cũng thương tôi”. Xét theo khía cạnh đó, Khánh Ly không khổ chút nào.

Nhà thơ Dương Tường và đạo diễn Trần Văn Thủy đến từ rất sớm để chờ đợi Khánh Ly.
Nhà thơ Dương Tường và đạo diễn Trần Văn Thủy đến từ rất sớm để chờ đợi Khánh Ly.

Độc giả cũng sẽ ngạc nhiên khi Khánh Ly tiết lộ nhiều điều nhạy cảm về cuộc sống vợ chồng. Bà viết: “Đã là vợ chồng thì chuyện vợ chồng là đương nhiên, tại sao mình cứ phải né tránh? Cuối cùng qua nhiều ngày tháng thì đứa con mà cả hai đều không mong đợi ra đời”. Mặc dù vậy, về sau bà lại vô cùng thương yêu con cái mình.

Việc nhà văn Nguyễn Hoàng Đoan, chồng của Khánh Ly, qua đời tháng 1 năm nay, để lại cho bà nhiều hối hận. “Nói về người mình yêu, nói mãi cũng không hết chuyện, lúc nào trong lòng tôi cũng có một nỗi ân hận, tự thấy mình làm chưa đủ với chồng, mặc dù 40 năm mở mắt ra chỉ thấy chồng, trước khi nhắm mắt cũng chỉ thấy chồng”.

“Đến khi không còn thấy nhau nữa, tôi hối hận vì yêu chồng chưa đủ, đền bù cho anh chưa đủ, nhưng không phải vì thế mà tôi ngồi mãi trong căn phòng một mình. Tôi có một giọng hát không có gì xuất sắc nhưng nhờ tiếng hát đó mà tôi đi được khắp nơi, đến gần những người có cuộc sống không may. Đó cũng là ước muốn của chồng tôi. Tôi muốn dành những tháng ngày còn lại để làm những điều mình chưa làm trong đời”.

Bà nói, bây giờ nếu không đưa tiếng hát của mình đến với những người cần chia sẻ, hạnh phúc cũng như khổ đau, thì bà thấy những tháng ngày còn lại sẽ tẻ nhạt. Ca sĩ Quang Thành là người kéo Khánh Ly ra khỏi “một cái chết chậm rãi”, khích lệ bà đi hát để tiếp tục ước muốn của chồng. Họ bắt đầu bằng một đêm hát ở lễ Phục sinh vừa qua tại Mỹ.

“Không ai viết về mẹ hay như anh Sơn”

Cũng trong cuốn sách, Khánh Ly kể lại hoàn cảnh sáng tác ca khúc Để gió cuốn đi của Trịnh Công Sơn. “Thời đó tôi nghèo lắm” – bà kể – “Không có tiền, sống trong một ngôi nhà ngổn ngang cùng một đám bạn trai nhưng tôi chẳng để ý đến ai cả. Tôi chỉ cần tiền thôi vì quần áo hay một đôi giày cũng không có mà đi. Hỏi anh Sơn thì anh bảo trong cuộc sống chỉ cần một tấm lòng, lúc đó tôi không hiểu, tôi còn nghĩ “tấm lòng để ăn à?”. Nhưng sau đó tôi mới hiểu là hãy sống tử tế với nhau”. Câu nói đó của Trịnh Công Sơn theo Khánh Ly đi suốt cuộc đời.

Người ta hỏi, làm sao bà hát Diễm Xưa hay những bài Trịnh viết về một cô gái khác mà vẫn hay như hát về chính mình? Với bà, đơn giản bởi “Tôi thích cái đẹp, tôi yêu nhạc anh Sơn vì nhạc anh quá đẹp, quá hay. Tôi không thần thánh hóa đâu vì tìm được một người viết hay như vậy khó lắm. Dường như chẳng có bài nào anh Sơn viết cho tôi đâu. Ai nghe nhạc anh ấy cũng nghĩ thế hay sao ấy, thấy như bài hát đó viết cho mình”.

Khánh Ly lần lượt hát Quê hương, Để gió cuốn đi, Ca dao mẹ, Diễm xưa khiến khán giả xúc động.
Khánh Ly lần lượt hát Quê hương, Để gió cuốn đi, Ca dao mẹ, Diễm xưa khiến khán giả xúc động.

Có thể Trịnh Công Sơn khiến nhiều người lầm tưởng. Ai cũng nghĩ ông có nhiều nàng thơ, ông dành tình yêu cho họ, nhưng với Khánh Ly thì: “Tôi nghĩ rằng anh Sơn không yêu ai đâu. Tôi là người gắn bó với anh thì hoàn toàn có thể nhận vơ vào mình, nhưng không phải. Tôi biết anh Sơn chỉ yêu mẹ mình mà thôi. Không thể không yêu bà được, bà đẹp lắm. Bà sinh ra những đứa con ai cũng đẹp cả. Tình yêu lớn nhất của anh Sơn là dành cho mẹ anh đó”.

“Tôi cũng không thấy ai viết về mẹ hay như anh Sơn. Lời mẹ ru, Ca dao mẹ…”. Khánh Ly đặc biệt thích Ca dao mẹ, trong buổi ra mắt sách, bà hát cùng Quang Thành ca khúc này.

Ngoài Trịnh Công Sơn, Khánh Ly thích nhạc của Dương Thụ, Phú Quang, Đỗ Trung Quân. Ở Mỹ, khi đi xe, bà không thích chạy xa lộ mà chỉ thích chạy đường quê vì ghét khung cảnh bê tông lạnh lùng. Có lần ở Australia, từ Sidney đi Melbourne 1.000km, tôi khóc đủ 1.000km vì bài Quê hương của Đỗ Trung Quân.

Một Khánh Ly đầy tự trào

Nhạc Trịnh làm nên một Khánh Ly ma mị, đó là vẫn là ấn tượng về bà qua hàng thập kỷ nay. Nhưng ngoài đời và trong sách, Khánh Ly đầy tự trào.

“Chị hát như không có một dấu hiệu nào của tuổi già” – MC buổi ra mắt sách nhận xét.

“Chứ chẳng lẽ tôi để anh thấy cái già của tôi à? – nữ ca sĩ đối đáp lại. Trong sự kiện, không ít lần Khánh Ly khiến khán giả cười rộ lên như vậy.

Trong cộng đồng Việt ở Mỹ, Khánh Ly cũng nổi tiếng nhờ… muối cà ngon. Bà nói: “Muốn chia sẻ với người nghèo thì tôi phải có tiền chứ? Thế nên tôi muối cà tôi bán cho mọi người ăn. Mọi người nghĩ sao nếu tôi trở thành bà bán cà? Mọi người đừng ngạc nhiên nếu một ngày nào đó có thương hiệu Mắm cà bà Mai nhé”.

oOo

Ca Khúc Da Vàng Vol 1 (Pre 1975) – Khánh Ly – Trịnh Công Sơn:

 

Ca Khúc Da Vàng Vol 2 (Pre 1975) – Khánh Ly – Trịnh Công Sơn:

 

Ca Khúc Da Vàng Vol 3 (Pre 1975) – Khánh Ly – Trịnh Công Sơn:

 

Ca Khúc Da Vàng Vol 4 (Pre 1975) – Khánh Ly – Trịnh Công Sơn:

 

Những Tình Khúc Bất Hủ Của Nhạc Sĩ Trịnh Công Sơn – Khánh Ly:

 

20 Ca Khúc Trịnh Công Sơn hay nhất của Khánh Ly:

 

3 thoughts on “Tân Nhạc Việt Nam – Nhạc Phản Chiến Trịnh Công Sơn và Khánh Ly”

  1. Dear Chị Hai

    Em cảm ơn chị Hai qua chia sẻ giới thiệu của chị Hai em được biết nhiều về ca sĩ Khánh Ly.

    Em cũng có một vài lần thử nghe giọng ca của Khánh Ly hát những bài hát không phải của Trịnh Công Sơn như những bài thánh ca chẳng hạn và đúng là Khánh Ly hát không ngọt ngào sâu lắng như khi hát nhạc Trịnh.

    Em chúc chị Hai ngày mới hạnh phúc và an lành.

    Em M Lành

    Số lượt thích

  2. Không có chi Lành. Chị Hai rất vui có em chia sẻ.

    Đúng thế em ạ. Chỉ khi hát nhạc Trịnh Công Sơn thì giọng hát của Khánh Ly mới diễn đạt đúng mức để lấy hồn người nghe vì phù hợp. Chính vì điều này nên nhạc Trịnh mới làm nên tên tuổi của Khánh Ly thời đó đến giờ.

    Cám ơn em luôn chúc lành cho chị Hai. Bình an của Cha luôn ở cùng em. XO

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s