Nhạc cụ cổ truyền VN – Kèn Xaranai/Saranai & các nhạc cụ của người Việt/Chăm

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo “Kèn Lá”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Kèn Xaranai/Saranai và bộ nhạc cụ dùng trong các lễ hội của người Việt/Chăm.

Kèn Xaranai/Saranai là nhạc cụ định âm duy nhất trong các nhạc cụ khác nhau của người Việt/Chǎm. Xaranai/Saranai thuộc họ hơi chi dǎm kép. Loa kèn thân tròn, hơi bầu ở giữa, loe ở đầu, dài khoảng 10 – 11 cm, làm bằng ngà voi, sừng trâu hoặc gỗ quí (trắc, cẩm lai). Thân kèn là một ống rỗng ruột làm bằng gỗ quí (lim xanh, mun), dài 20 – 21 cm lớn dần về phía tiếp giáp với loa kèn.

Kèn Saranai của người Việt/Chăm.
Kèn Saranai của người Việt/Chăm.

Thân kèn có 8 lỗ bấm,7 lỗ bấm trên cách đều nhau khoảng 2 cm (lỗ số 1 kể từ loa kèn trở xuống),1 lỗ bấm dưới (nằm giữa lỗ 6 và 7, sát phần tiếp giáp với cọc dǎm). Cọc dǎm dài 6 cm, làm bằng bạc hoặc đồng thau uốn thành hình tổ sâu. Phần lớn cắm vào thân kèn, phần nhỏ dùng để gắn dǎm kèn. Dǎm kèn (lưỡi gà) làm bằng lá nón hoặc lá buông.

Kèn Xaranai/Saranai có các âm: Đô – Mi – Fa – Sol – La – Si. Khi thổi kèn Xaranai/Saranai người thổi không được ngắt hơi. Để đạt được kỹ thuật này người ta ứng dụng cách luồn hơi (dùng một phần hơi nhỏ ở khoang miệng đẩy vào dǎm kèn, cùng lúc lấy hơi đằng mũi chứa đầy phổi). Kèn Xaranai có vai trò lớn trong dàn nhạc truyền thống của người Chǎm vì âm thanh của kèn vang, khoẻ và thường đi giai điệu khi hòa tấu.

Trống Ghì Nằng/Ghi Năng.
Trống Ghì Nằng/Ghi Năng.

Trống Ghì Nằng (Ghi Năng) – cặp nhạc cụ họ màng rung chi gõ vỗ – là nhạc cụ độc tấu, hòa tấu có vai trò rất quan trọng trong sinh hoạt nghệ thuật đời thường và sinh hoạt tín ngưỡng của người Việt/Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận.

Trống Ghì Nằng (Ghi Năng) dáng hình trụ, ở giữa hơi phình. Tang trống liền được chế tác từ một khúc gỗ lim hoặc gỗ cà chí có chiều cao từ 75 -80 cm và đường kính từ 26 – 28 cm. Trống có hai mặt, mặt lớn bưng bằng da trâu, mặt nhỏ hơn đôi chút bịt bằng da Dê hoặc da Hoẵng. Âm thanh của Trống Ghì Nằng trầm ấm, sôi nổi, hấp dẫn.

Trống Paranưng.
Trống Paranưng.

Trống Paranưng là một loại nhạc cụ họ màng rung, chi gõ vỗ của người Việt/Chăm ở Ninh Thuận, Bình Thuận Việt Nam.

Trống Paranưng chỉ có một mặt bịt bằng da hoẵng hoặc da dê, đường kính khoảng 44–50 cm. Tang trống sử dụng gỗ lim hoặc gỗ cà chỉ liền khối đục rỗng có độ cao chỉ khoảng 9 cm. Mặt trống được cǎng bằng hai đai tròn làm từ một đoạn mây song và một hệ thống dây chằng đan chéo nhau để cǎng mặt trống. Từ giữa tang đến vành phía dưới là những con nêm để cǎng trống khi bị trùng.

Trống được sử dụng trong các lễ hội của người Việt/Chăm, thường vỗ nhịp đệm cho hát. Trong các lễ hội, trống được hòa âm cùng kèn Xaranai và trống Ghì Nằng (Ghi Năng). Nghệ nhân đánh trống được gọi là “ông thầy vỗ” do khi diễn tấu trống được đặt trước bụng rồi sử dụng các ngón của hai bàn tay vỗ chứ không sử dụng dùi trống. Tùy theo vị trí của mặt trống, tiếng trống thường tạo 3 sắc âm được miêu tả bằng tên: Tìn (âm vang rền), Tin (âm cao hơn âm Tìn) và Tắc (âm ngắt và đục).

– Tìn: Dùng các đầu ngón tay phải khép lại, vỗ vào mặt trống cách vành khoảng 12 cm, rút tay lên ngay tạo âm vang rền.

– Tin (hoặc Tâm): Dùng các đầu ngón tay phải mở ra vỗ vào mặt trống cách vành 5 -6 cm, rút tay lên ngay tạo âm cao hơn Tìn.

– Tắc: Dùng các đầu ngón tay trái khép lại vỗ vào mặt trống cách vành 5 – 6 cm, nhưng ấn giữ nguyên tạo âm ngắt và đục.

Người sử dụng Paranưng là ông Mưtuồn chủ lễ, có lẽ vì thế trống Paranưng trở thành một nhạc cụ quan trọng trong các lễ hội của người Việt/Chǎm.

Ca ngợi văn hóa Chăm với chiếc khăn Mat’ra, tiếng ca Atidza và tiếng trống Paranưng, Nhạc sĩ Trần Tiến đã sáng tác bài hát “Tiếng trống Paranưng” với những câu như sau:

Pa ra paranưng, ôi tiếng trống ru lòng tôi
Ru êm ru êm con thuyền
mênh mông bờ sông vắng
Pa ra paranưng,
ôi tiếng trống những chàng trai
thương ai thương ai đợi chờ
thoi đưa bóng dừa xa
Tôi yêu tiếng em ca
Tôi yêu paranưng

Đàn Kanhi.
Đàn Kanhi.

Đàn Kanhi có hình dáng gần giống với Đàn Nhị của người Việt/Kinh, chỉ khác bầu cộng hưởng của nó làm bằng mai con rùa. Vì vậy còn gọi là “Nhị Mai Rùa”.

Cần bằng tre dài khoảng 84 cm, một đầu cắm xuyên qua bầu cộng hưởng, đầu trên lắp hai trục để lên dây.

Dây đàn: Hai dây đàn bằng dây tơ se lên theo quãng 4.

Cữ đàn: Một sợi dây tơ néo 2 dây vào sát cần. Cữ đàn có tác dụng điều chỉnh độ cao thấp của âm thanh. Khi đưa cữ đàn xuống làm ngắn quãng dây phát âm, đàn có âm thanh cao. Đẩy cữ đàn lên làm dài quãng phát âm, đàn có âm thanh trầm.

Cung kéo bằng tre hay mây uốn cong hình cánh cung, dây kéo làm bằng lông đuôi ngựa dài khoảng 65 cm được luồn vào giữa hai dây đàn.

Bầu đàn nhất thiết phải làm bằng mai rùa. Bầu đàn (mai rùa) to hay nhỏ sẽ tạo thành đàn Kanhi trầm (Kanhi Prông), cao (Kanhi Sít).

Khi diễn tấu nghệ nhân kéo, đẩy cọ sát dây kéo vào hai dây đàn để phát ra âm thanh.

Mặt đàn làm bằng gỗ xốp, nhẹ, ở giữa gắn một bộ phận gọi là “ngựa đàn” dùng để mắc dây.
Âm thanh của Kanhi ấm, nhẹ nhàng hơi huyền bí, bi ai nên người Việt/Chǎm thường dùng nó trong các đám tang và hát lễ.

Theo truyền thuyết người Việt/Chăm, Đàn Kanhi là biểu tượng cho 4 đứa con của thần mẹ xứ sở – Po Inư Nưgar có tên là: Jakak, Jakan chuyên trông coi việc trên trời và Jalo, Jalai trông coi ở trần gian (Dun Ya). Do vậy Đàn Kanhi người Chăm sử dụng trong hai trường hợp sau:

Kanhi dùng trong đám tang gọi là “Kanhi Đam”. Người Việt/Chăm thường sử dụng 2 Đàn Kanhi cho đám tang 2 thầy Paseh và sử dụng 4 cái cho đám tang 4 thầy Paseh. Kanhi trong nghi lễ này do nghệ nhân biểu diễn phục vụ cho công việc trần gian là nhằm để phụ họa với bài hát lễ tiễn đưa hồn người quá cố về thế giới bên kia.

Dưới đây mình có các bài:

– Bộ nhạc cụ trong các lễ hội của người Chăm
– Quan Hệ Giữa Nhạc Cụ Truyền Thống Tộc Người Chăm Và Các Tộc Người Mã Lai – Đa Đảo Ở Tây Nguyên

Cùng với 5 clips tổng thể âm giai các nhạc cụ của người Việt/Chăm để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia & Viện Âm Nhạc VN)

kenxaranai1

Bộ nhạc cụ trong các lễ hội của người Chăm

(Nga Anh-VOV5)

Âm nhạc và ca múa có vai trò rất quan trọng trong đời sống tinh thần của người Chăm. Tại các lễ hội truyền thống, những buổi biểu diễn ca múa dân gian của người Chăm, không thể thiếu bộ nhạc cụ, yếu tố làm nên nét riêng, mang đậm màu sắc văn hóa dân tộc Chăm. Nhạc cụ truyền thống của người Chăm rất phong phú, đa dạng, bao gồm các nhạc cụ thuộc bộ gõ như: trống Ghi- năng, trống Paranưng; các nhạc cụ thuộc bộ hơi như kèn Saranai và các nhạc cụ thuộc bộ dây như kèn Ca nhi, nhị Mu rùa…

Trong các lễ hội của người Chăm không bao giờ thiếu tiếng trống Paranưng. Đây là loại trống tròn, một mặt được căng bằng da và gắn vào tang trống bằng những sợi dây dẻo, đan chéo nhau. Trống thường được hòa âm cùng kèn Saranai và trống Ghi-năng. Khi chơi trống, những ông thầy đặt trống trước bụng,vành trống tì vào đùi, dùng các ngón tay vỗ vào mặt trống để tạo ra những âm thanh vang rền, trầm bổng khác nhau. Theo quan niệm của người Chăm, bộ ba trống Paranưng, kèn Saranai và trống Ghi-năng tượng trưng cho 1 con người. Ông Quảng Dựng, một nghệ nhân của Trung tâm Văn hóa thông tin huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, cho biết: “Kèn Saranai là đại diện cho cái môi. Còn Paranưng đại diện cho bụng. Còn trống Ghi- năng là 2 đầu gối. Kèn Saranai, trống Ghi- năng, trống Paranưng thì chơi trong những ngày lễ hội của dân tộc. Đám ma cũng dùng kèn Sananai nữa. Cái đó là những ông thầy sắp xếp. Khi lễ hội, ông thầy mưng-tồn mới được đánh. Không phải ông Tồn là không được đánh. Trống Ghi-năng và kèn Saranai thì ai thuộc đều được đánh”.

Trống Ghi-năng có hình dạng tương tự như trống cơm của người Việt nhưng lớn hơn. Khi diễn tấu, bao giờ trống ghi năng cũng đi thành 1 cặp và được đặt chéo nhau, một mặt tiếp đất, một mặt hướng lên trời. Những tiết tấu sôi động của trống Ghi-năng góp phần làm cho không khí buổi lễ thêm tưng bừng, rộn ràng.

Trống ghinăng là loại nhạc cụ không thể thiếu trong các dịp lễ hội của người Chăm.
Trống ghinăng là loại nhạc cụ không thể thiếu trong các dịp lễ hội của người Chăm.

Còn kèn Saranai là là nhạc cụ thổi bằng hơi, gồm 3 phần: phần chuôi làm bằng đồng, bên trong có gắn lưỡi gà dùng để thổi, phần thân bằng gỗ và loa kèn. Các nghệ nhân thường ví kèn Saranai là phần đầu của bộ ba trống Paranưng, kèn Saranai, trống Ghi-năng, bởi tiếng kèn Saranai thường mở đầu cho mỗi điệu thức hay chuyển từ điệu này sang điệu khác.

Tiếng trống Paranưng, kèn Saranai và trống Ghi-năng luôn làm say đắm lòng người nghe. Thế nhưng, để sử dụng được những nhạc cụ này không phải là dễ. Đó là những kỹ thuật khó, đòi hỏi phải dày công tập luyện. Những người tập đánh trống, thổi kèn phải tìm một nơi xa làng, để khi thổi kèn hay khi vỗ trống, âm thanh không vang về tới làng. Ông Quảng Dựng cho biết: “Trống Paranưng, kèn Saranai không được thổi trong làng. Khi học đánh trống Paranưng, kèn Saranai thì phải ra nương rẫy nào đó xa để đánh, cho khỏi âm vang to, sợ ông già ngủ không được. Nghe nói là đừng có đánh trong làng không thì ma quỷ sẽ về làng”.

Người Chăm ở Bình Thuận, Ninh Thuận không chỉ chú trọng vào việc chơi nhuần nhuyễn nhạc cụ truyền thống của dân tộc mình mà họ còn biết làm ra trống, kèn. Để làm một bộ 3 nhạc cụ đó, người lành nghề cũng phải mất một tháng ròng. Ở Ninh Thuận có nghệ nhân Thiên Sanh Thềm, là người biết chơi và biết làm các loại nhạc cụ. Ông Thềm cho biết: “Tôi nhận đào tạo các con cháu còn trẻ đến khi có kết quả. Giờ nghệ nhân làm được trống, kèn ở đây không còn nhiều và đều già nên tôi làm để truyền lại cho con cháu. Những người được học đều đã làm được còn vài người vẫn đang học”.

Trống Paranưng, kèn Saranai và trống Ghi-năng là bộ ba nhạc cụ không thể thiếu trong các dịp lễ hội của người Chăm. Nếu thiếu một trong 3 nhạc cụ này sẽ không tạo được bản độc tấu âm thanh đặc sắc và người Chăm cũng không bao giờ chơi nhạc khi thiếu 1 trong 3 loại nhạc cụ độc đáo này. Trống Pananưng hay kèn Saranai, trống Ghi -năng của người Chăm chỉ xuất hiện trong các lễ hội, không phục vụ sinh hoạt đời thường của người dân. Đó là những nhạc khí thiêng, gắn kết con người với thế giới thần linh./.

Trống Ghì Nằng/Ghi Năng.
Trống Ghì Nằng/Ghi Năng.

QUAN HỆ GIỮA NHẠC CỤ TRUYỀN THỐNG TỘC NGƯỜI CHĂM VÀ CÁC TỘC NGƯỜI MÃ LAI – ĐA ĐẢO Ở TÂY NGUYÊN

(Quảng Đại Tuyên)

Trong thành phần 54 dân tộc Việt Nam hiện nay, có 5 tộc người thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo, bao gồm các tộc người: Chăm, Êđê, Giarai, Raglai, Churu. Các tộc người này thuộc loại hình nhân chủng Indônesien, có tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô – Pôlynesien trong họ ngôn ngữ Nam Đảo. Hiện nay dân số của 5 tộc người này có trên 600.000người, chiếm tỷ lệ gần 1% dân số của Việt Nam và trên 0,23% tổng số dân các tộc người Mã Lai – Đa Đảo ở Đông Nam Á.

Những tộc người này vốn được hình thành và phát triển lâu đời trên các địa bàn của núi rừng nam Trường Sơn – Tây Nguyên và vùng đồng bằng ven biển Trung bộ.

Trong quá trình sinh sống, các dân tộc này ngoài đặc điểm chung về nền tảng văn hóa và nguồn gốc Mã Lai – Đa Đảo thì các dân tộc này đã có sự giao lưu rất rõ rệt về kinh tế – văn hóa – xã hội. Chính vì vậy, các tộc người này có sự tương đồng rất lớn về nhiều mặt, đặc biệt là về văn hóa. Tuy nhiên mỗi tộc người lại có những thang bậc khác nhau về trình độ phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội. Mặc dù vậy nhưng các tộc người Mã Lai – Đa Đảo cũng đã có sự đóng góp đáng trân trọng vào quá trình dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.
Các tộc người Mã Lai – Đa Đảo có tiềm năng và sự phát triển nghệ thuật rất to lớn. Họ là những người có năng khiếu về nghệ thuật mang dấu ấn đặc trưng của tộc người Mã Lai – Đa Đảo.

1. Nhạc cụ truyền thống tộc người Chăm

Người Chăm là một tộc người có nền âm nhạc rất phong phú và đa dạng. Trải qua những bước thăng trầm của lịch sử nền âm nhạc của tộc người Chăm cũng phát triển một cách đặc biệt, vừa mở rộng phạm vi ảnh hưởng sang các vùng, các tộc người xung quanh, vừa học hỏi, tiếp nhận nền âm nhạc của các tộc người khác. Chính điều này đã tạo nên một kho tàng âm nhạc dân gian Chăm vô cùng độc đáo và giàu bản sắc.

Trong nền âm nhạc Chăm, nhạc cụ truyền thống đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng Chăm. Hầu hết các lễ hội, lễ nghi, tín ngưỡng tôn giáo của tộc người Chăm đều không thể thiếu nhạc cụ truyền thống.

Hệ thống nhạc cụ truyền thống Chăm được chia làm 2 loại:

Một là, các nhạc cụ đã thất truyền như đàn champi, kaping, đàn rabap…các nhạc cụ này chỉ còn được ghi nhận qua các văn bản cổ của người Chăm và trong các ký ức người già.

Hai là, nhạc cụ hiện đang tồn tại như đàn kanhi, kèn xaranai, trống baranưng, trống ginơng… những nhạc cụ này hiện được người Chăm sử dụng rất phổ biến trong các sinh hoạt văn hóa của mình.

Dựa trên các tiêu chí về về hình dáng, nguyên tắc phát âm, cấu trúc, tính năng âm nhạc… mà người Chăm đã có sự phân loại theo hệ thống cụ thể như sau:

– Nhóm gõ: bao gồm những nhạc cụ có màng rung và nhạc cụ tự thân vang:

Ginơng: trống đôi 2 mặt, Baranưng: trống 1 mặt, Hagar praung: trống lớn 2 mặt, Hagar xit: trống nhỏ 2 mặt, Ceng đap (sar): chiêng bằng, Ceng tathuw: chiêng có núm, Grong: lục lạc, Chụm chọe

– Nhóm hơi: Kèn xaranai, Axơng: tù và, Waw: sáo, Kadait: tù và sừng trâu

– Nhóm dây: Đàn kanhi: làm bằng mai rùa, Đàn champi, Đàn kaping, Rabap: đàn bầu.

Trong hệ thống nhạc cụ trên, có 3 loại nhạc cụ được cộng đồng Chăm thường được sử dụng và xem như chủ đạo là kèn saranai, trống paranưng, trống ginăng.

2. Nhạc cụ truyền thống của các tộc người Mã Lai – Đa Đảo ở Tây Nguyên

Có thể nói mỗi dân tộc ở Tây Nguyên có những nét đặc trưng riêng dựa trên nền tảng văn hoá bản địa. Nhạc cụ truyền thống của các tộc người ở Tây Nguyên cũng như vậy. Trước tiên đó là sự tương đồng về một số loại nhạc cụ, đồng thời cũng có những nhạc cụ truyền thống đặc trưng của tộc người mình. Các tộc người theo ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo cũng không phải là ngoại lệ. Hều hết những sáng tạo về nhạc cụ truyền thống của người Tây Nguyên đều dựa vào môi trường tự nhiên. Các chất liệu để chế tác nhạc cụ thường được lấy từ tự nhiên như tre nứa, lá, da thú, gỗ, đất, vỏ bầu khô… Các vật liệu để chế tác nhạc cụ ở Tây Nguyên cũng có sự tương đồng mang yếu tố quốc gia và khu vực Đông Nam Á. Những nhạc cụ này là nhạc cụ dân gian nên chưa có một chuẩn rõ ràng, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm của người đi trước.

Nói đến âm nhạc Tây Nguyên, người ta thường nhắc đến nhạc cụ gõ. Nhạc cụ gõ cũng là hiện tượng âm nhạc hoá âm thanh và tiết tấu của cuộc sống lao động , mà đặc trưng ở đây là giã gạo chày tay, cây đàn tơrưng nước, tơrưng gió, klong pút…đều có gốc gác từ những dụng cụ đuổi thú trên nương rẫy.

Các nhạc cụ truyền thống thường thấy ở các tộc người Tây Nguyên nói chung và tộc người Mã Lai – Đa Đảo nói riêng đều là những sáng tạo của chính tộc người đó. Riêng duy nhất nhạc cụ cồng – chiêng không phải là sản phẩm do chính những tộc người ở đây sản xuất. Những cồng – chiêng này thường được mua từ người Việt ở miền trung, người Khmer ở Campuchia, người Lào… Tuy cồng – chiêng không phải do tộc người ở đây sản xuất nhưng họ lại là những bậc thầy về khả năng chỉnh âm của chiêng. Và họ (pô ching) chính là những người có khả năng cảm nhận và điều chỉnh tiếng chiêng cho phù hợp với sắc thái, tâm lý và sở thích của tộc người mình.

Cồng – chiêng được xem là nhạc cụ tiêu biểu nhất không chỉ của riêng tộc người Nam Đảo mà ở tất cả tộc người ở Tây Nguyên. Phải nói là trong bất cứ nghi lễ, lễ hội hay sinh hoạt nào của tộc người Tây Nguyên lại không thể không có âm vang của cồng – chiêng. Điều này cho thấy tuy không trực tiếp sáng tạo ra cồng chiêng nhưng những tộc người ở đây có khả năng cảm nhận cồng chiêng, và cồng chiêng có vai trò, vị trí đặc biệt trong các sinh hoạt, lễ hội, lễ nghi của các tộc người ở đây.

Ngoài những nhạc cụ truyền thống trên thì ở Tây Nguyên còn được biết đến bởi những bộ đàn đá cổ xưa. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bộ đàn đá mới được phát hiện ở Tây Nguyên có cấu trúc hoàn toàn phù hợp với cấu trúc phổ biến của dàn cồng chiêng các tộc người Êđê, Raglai, Mnông, Bana… .

Như vậy, có thể thấy các nhạc cụ truyền thống của tộc người Nam Đảo nói riêng và các tộc người ở Tây Nguyên nói chung khá đa dạng, tận dụng mọi điều kiện sẵn có của tự nhiên để tạo ra các nhạc cụ có tính năng và hiểu quả cao.

3. Mối quan hệ giữa nhạc cụ truyền thống của tộc người Chăm với nhạc cụ truyền thống của các dân tộc Mã Lai – Đa Đảo ở Tây Nguyên

Các dân tộc Mã Lai – Đa Đảo trong quá trình sống đã có sự giao lưu, tiếp biến văn hóa lẫn nhau kể cả văn hóa vật chất lẫn văn hóa tinh thần. Tuy nhiên trong số các dân tộc nói trên, tộc người Chăm có trình độ cao hơn về nhiều mặt từ cách thức xã hội, nghệ thuật, chữ viết… Do đó, văn hóa Chăm có sự ảnh hưởng mạnh mẽ sang các vùng, các tộc người xung quanh và lẽ dĩ nhiên, trong đó có thể có sự ảnh hưởng qua lại của các nhạc cụ truyền thống giữa các tộc người.

Hệ thống nhạc cụ của người Chăm khá đa dạng. Tuy nhiên, trải qua quá trình sử dụng thì đã có một số ít nhạc cụ đã thất truyền và chỉ còn tồn tại ở các tộc người như Raglai, Êđê, Giarai, Churu…

Trong các loại nhạc cụ hơi của các tộc người Raglai, Êđê… đáng chú ý là loại kèn bầu mà người Raglai gọi là rơkle, loại lớn hơn gọi là kuwach, còn người Êđê gọi là đinh năm, người Churu gọi là rơkel. Rơkle được cấu tạo từ 6 ống nứa nhỏ, có lưỡi gà, được gắn vào quả bầu khô và hàn kín bằng sáp mật ong. Rơkle cho 6 âm thanh tương ứng với các âm như: đô, rê, mi, son, la, si. Kèn của người Raglai, Giarai, Êđê…giống nhau ở chỗ có 6 ống: 4 ống hàng trên đảm nhiệm phần giái điệu, 2 ống ở phần dưới đảm nhiệm phần bè, đệm. Ngoài ra, còn phải kể đến tawao (Raglai), tawao còn thấy ở người Êđê với tên là đinh buôt chôc (ống khóc) hoặc đinh buôc mu-ing (ống hát), người Giarai gọi là vô-ông, người Chăm gọi là wao, người Churu gọi là kwao. Đó là chiếc sáo dọc có 4 lỗ, tiếng tawao trong sáng, mượt mà, bay bổng rất thuận lợi cho việc diễn tả tình cảm con người.

Một nhạc cụ hơi khác là kèn awach (tên gọi theo của người Raglai), người Chăm gọi là kadait. Awach là loại nhạc cụ được làm bằng sừng trâu, bò hay dê rừng. Sừng được cắt thủng hai đầu, đầu nhọn được dùi bằng lỗ nhỏ thông với phần rỗng của sừng để làm lỗ thổi, đầu lớn dùng sáp mật ong để đắp thành cái bầu nhỏ, có tác động cộng hưởng. Tiếng awach rất trầm, có độ vang xa. Awach không tham gia vào diễn tấu với các nhạc cụ khác mà chủ yếu vào công việc kêu gọi, ra hiệu lệnh hoặc gây không khí huyên náo.

Trong bộ dây, có 1 nhạc cụ đáng chú ý là đàn goong rel (theo tiếng Giarai). Tùy từng vùng, từng tộc người có tên gọi khác nhau. Người Raglai gọi là chapi hoặc chaping, người Chăm gọi là champi. Ngoài ra còn có k’ny, loại nhạc cụ dây kéo của Giarai, Êđê tuy nhiên, k’ny không có bầu cộng hưởng như đàn kanhi của người Chăm. Khi chơi đàn để khuếch đại âm thanh, người ta dùng 1 sợi dây, 1 đầu dây buộc vào dây đàn, đầu kia buộc vào 1 mảnh mo măng tre có hình tròn. Nghệ nhân phải ngậm toàn bộ mảnh tròn này vào miệng sao cho 1 mặt của nó sát vào hàng răng cửa và giữ cho dây tơ căng. Ở loại nhạc cụ này, người nhạc công thay đổi khẩu hình của mình làm biến dạng âm sắc của cây đàn. Âm lượng của k’ny rất nhỏ, âm thanh được phát ra nghe rất độc đáo, gần giống giọng của con người.

Riêng bộ gõ của các tộc người Nam Đảo có rất nhiều nhạc cụ khác nhau. Cụ thể như hơgơr praung (tiếng gọi của người Raglai, Êđê), người Raglai gọi là sagar, người Chăm gọi là hagơr praung, người Churu gọi là sơgơr. Hagơr praung là lọai nhạc cụ có ống lớn thuộc loại nhạc cụ không định âm có âm thanh trầm, vang xa. Hầu hết các tộc người Nam Đảo dùng trống xưa kia đều tin rằng, tiếng trống mạnh mẽ, linh thiêng. Vì thế, nhiều nơi trống được cất giữ cận thận, chỉ đưa ra đánh vào các ngày hội và lễ.

Một loại nhạc cụ màng rung đáng chú ý khác là hơgơr tăk m’lia (hơgơr păk) là danh từ của tộc người Giarai để chỉ một loại trống nhỏ thường dành cho cá nhân sử dụng. Loại trống này không phổ biến ở các dân tộc Tây Nguyên. Đây là loại nhạc cụ giống hagơr xit của người Chăm. Hơgơr tăk m’lia có âm thanh 1 bên trầm có màu âm đục, 1 bên cao có màu âm vang thanh thoát hơn. Hai mặt có âm thanh khác nhau nên để diễn tả những tình cảm lắng đọng, sâu sắc.

Nói đến cồng – chiêng (theo cách gọi của người Việt) hoặc ching – ceng (người Raglai), knah – ching (người Êđê), hoặc ceng đap – ceng tathuw (người Chăm) có nghĩa là chỉ hai loại: cồng có núm và chiêng bằng không có núm. Tuy nhiên, cũng với hai loại nhạc cụ này người Chăm có cách gọi ngược lại, nếu như cồng có núm được gọi là ching hay knah thì người Chăm gọi là sar. Còn chiêng gọi là cheng.

Cồng và chiêng là hai loại nhạc cụ rất đặc thù ở Việt Nam và Đông Nam Á. Vùng Tây Nguyên được xem là một trong những trung tâm cồng chiêng của Đông Nam Á. Hầu hết các tộc người cư trú trên địa bàn Tây Nguyên đều có dàn cồng chiêng của riêng mình. Có tộc người có đến 2-3 dàn chiêng cho các nghi lễ khác nhau. Người Êđê có chiêng knah, gồm 6 chiêng không có núm, 3 chiêng có núm và 1 hơgơr. Người Raglai có 1 dàn chiêng aráp, người Giarai, Chăm H’roi… có dàn chiêng trum. Âm thanh của cồng – chiêng trầm, vang vọng. Ching – cheng được sử dụng rộng rãi trong đời sống của đồng bào Tây Nguyên, đặc biệt âm thanh của nó là ngôn ngữ giao tiếp với thế giới siêu nhiên.

Hệ thống nhạc cụ người Chăm rất đa dạng và phức tạp. Trong đó, có một số nhạc cụ có tên gọi, cấu tạo và chức năng tương tự như các nhạc cụ của các tộc người cùng ngữ hệ Nam Đảo ở Tây Nguyên. Đó là đàn bầu rabáp, kèn sừng kadait, sáo waw, trống hagơr, ceng – ching… nhưng đồng thời người Chăm cũng có những nhạc cụ rất độc đáo như kèn xaranai, trống ginơng, baranưng và đàn kanhi.

Các tộc người thuộc ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo có sự tương đồng rất lớn trong văn hóa nghệ thuật qua một số loại hình nhạc cụ truyền thống. Sự tương đồng này trước tiên do những mối quan hệ gần gũi về nguồn gốc văn hoá Mã Lai – Đa Đảo, tiếp đến là do môi trường sống ngày xưa của các tộc người này khá gẫn gũi và giống nhau. Đặc biệt là quá trình sống, sinh hoạt và giao lưu tiếp biến văn hoá chính là yếu tố đặc biệt tạo nên sự tương đồng này.

Ngày nay, để tìm hiểu về hệ thống nhạc cụ Chăm không thể không tìm hiểu qua nhạc cụ truyền thống của các dân tộc Mã Lai – Đa Đảo ở Tây Nguyên để có những so sánh, đối chiếu và trong tương lai cũng có thể phục hồi lại một số nhạc cụ đã thất truyền của người Chăm. Đây cũng là sự góp phần vào việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nghệ thuật dân tộc.

Như vậy, nhạc cụ truyền thống của người Chăm và các tộc người Mã Lai – Đa Đảo ở Tây Nguyên có mối quan hệ rất gần gũi nhau không chỉ về cấu trúc, hình dáng, chức năng mà cả âm thanh, thang điệu. Tuy nhiên, mỗi tộc người lại có những nhạc cụ đặc trưng của riêng mình. Điều này cho thấy được yếu tố thống nhất trong đa dạng về các loại nhạc cụ truyền thống của tộc người Chăm với các tộc người Mã Lai – Đa Đảo ở Tây Nguyên.
_______________________
Tài liệu tham khảo:

1. Đào Huy Quyền, Nhạc khí dân tộc Jrai và Bahnar, NXB Trẻ 1993.
2. Đào Huy Quyền, Nhạc khí dân tộc ở Gia Lai, NXB Giáo Dục, Hà Nội 1998
3. Đình Hy – Trượng Tốn, Nhạc cụ truyền thống tộc người Chăm, Sở Văn hóa – Thông tin tỉnh Ninh Thuận, 1996.
4. Hải Liên, Vai trò của âm nhạc trong lễ hội dân gian Chăm Ninh Thuận, NXB Âm Nhạc, Hà Nội 1999.
5. Lê Ngọc Canh – Tô Đông Hải, Nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội 1995
6. Ngô Đức Thịnh, Văn hóa vùng và phân vùng văn hóa ở Việt Nam, NXB Trẻ 2004.
7. Nguyễn Văn Huy (chủ biên), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam, NXB Giáo dục, 1997.
8. Nguyễn Tuấn Triết, Lịch sử phát triển xã hội các tộc người Mã Lai – Đa Đảo ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2000.
9. Phan Xuân Biên, Người Chăm ở Thuận Hải, Sở Văn hóa thông tin Thuận Hải, 1989.
10. Viện Dân tộc học, Các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1984.

Kèn Xaranai/Saranai.
Kèn Xaranai/Saranai.

TÌM HIỂU VỀ NHAC CỤ TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI CHĂM

(Thanh Vân)

Trong nghệ thuật biểu diễn truyền thống Chăm, âm nhạc và múa là những loại hình nghệ thuật quan trọng phản ánh những nhận thức, thể hiện những tình cảm, quan niệm về thẩm mỹ của người Chăm. Âm nhạc truyền thống Chăm với những bài ca nghi lễ, những làn điệu dân ca, những bài hát ru đã ăn sâu vào tâm hồn của mỗi người Chăm ngay từ tấm bé. Nền âm nhạc ấy đã đem lại một sức sống mãnh liệt cho các sinh hoạt của cộng đồng người Chăm.

Có thể nói rằng, nhạc cụ của tộc người Chăm đều là các nhạc cụ phục vụ cho lễ hội, chưa thấy nhạc cụ nào sử dụng riêng biệt cho các sinh hoạt vui chơi giải trí. Mỗi nhạc cụ, hoặc nhóm nhạc cụ lại được gắn với từng lễ hội hoặc người hành lễ của một lễ hội cụ thể. Hệ thống nhạc cụ truyền thống của người Chăm rất đa dạng và phong phú, bao gồm bộ gõ hay còn gọi là họ màng rung, bộ hơi và bộ dây. Bộ gõ bao gồm các loại trống: ghì nằng, paranung; bộ hơi có kèn saranai, tù và ốc biển; và bộ dây có đàn ca nhi, nhị mu rùa.

Họ đầu tiên trong hệ thống nhạc cụ của người Chăm là hệ trống vỗ mặt da. Hệ thống trống này bao gồm 3 loại trống khác nhau:

Thứ nhất là loại trống nhỏ giống như trống bỏi của người Việt gọi là trống hơgơsit, có hai dây buộc hai bên, khi quay phát ra tiếng kêu. Loại trống này người Chăm không dùng cho các hoạt động biểu diễn mà chỉ được các ông thầy sử dụng trong các nghi lễ của người Chăm. Trống hơgơsit không có tác dụng đệm cho hát nhưng nó tham gia vào động tác, tạo âm thanh, gây hiệu quả huyền bí cho những ông thầy làm lễ.

– Loại trống thứ hai là trống paranưng, trống paranưng là loại trống vỗ một mặt da, mặt trống
được làm bằng da nai với đường kính khoảng 50 cm. Mặt trống được căng và gắn vào tang trống bằng những sợi dây dẻo, chắc đan chéo nhau. Trống paranưng có hai âm chính là pink trầm và pik bổng. Khi sử dụng nghệ nhân đặt trống trước ngực, vành trống tỳ vào đùi trái trong tư thế ngồi xếp bằng hai chân, cánh tay trái đặt lên vành trống vừa để giữ trống, vừa để vỗ, tay phải để tự do. Với thủ pháp rung ngón và đôi khi dùng cả bàn tay trái bịt mặt trống tạo thành âm thanh ngắt, tay phải vỗ vào mặt trống với thủ pháp vỗ trọn bàn để tạo âm thanh trầm, đánh nửa bàn tay tạo âm thanh bổng Tuỳ theo điệu nhạc mà nghệ nhân phối hợp các thủ pháp trên một cách thích hợp để tạo sắc thái âm điệu trầm bổng khác nhau.

– Loại trống thứ ba là trống ghinằng, trống ghinằng có hình dạng tương tự như trống cơm của người Việt nhưng lớn hơn. Trống này có tang trống làm bằng gỗ trắc hay bằng lăng khoét rỗng, một mặt bằng da nai, một mặt bằng da trâu. Trống gồm bộ hai chiếc mà tang trống của cả hai chiếc phải được làm bằng cùng một loại cây, tốt nhất là cùng một thân cây, và mặt trống cũng được làm từ một mảnh da. Như một nguyên tắc bất di bất dịch, trống ghinằng bao giờ cũng đi một cặp, (họ quan niệm như âm với dương) và khi chơi được đặt chéo với nhau, một mặt tiếp đất, một mặt hướng lên trời. Mặt tiếp đất bao giờ cũng đánh bằng tay phải, tay đánh dùi; còn mặt hướng lên trời bao giờ cũng đánh trống vỗ bằng tay trái với kỹ thuật biểu diễn thật điêu luyện.

Về chức năng nghệ thuật, trống ghinằng tham gia vào tất cả các lễ hội của người Chăm từ lễ hội thiêng cho đến hội vui. Và đặc biệt trống ghinằng tham gia vào đệm cho những điệu múa truyền thống của người Chăm, tạo những tiết tấu rất sôi động, giúp cho không khí của buổi lễ thêm vui vẻ, rộn rã.

Nhạc cụ họ hơi của người Chăm bao gồm kèn saranai, săng, tù và ốc biển nhưng tiêu biểu hơn cả vẫn là kèn saranai, nhạc cụ định âm duy nhất hiện hữu trong đời sống tín ngưỡng là sinh hoạt của người Chăm. Kèn gồm ba phần: thân kèn, loa kèn và chuôi kèn với bảy lỗ ở trên và một lỗ ở dưới. Theo quan niệm của người Chăm, bảy lỗ trên biểu thị thính giác, vị giác, thị giác và khứu giác. Lỗ bên dưới là đường thoát của hồn khi rời khỏi xác. Nghệ nhân Chăm ví cây kèn saranai là phần đầu của bộ ba nhạc cụ Chăm: Kèn saranai, trống ghinằng và trống paranưng.

Kèn saranai có chức năng thổi phần giai điệu dựa theo tiết tấu trống ghinằng và còn có vai trò biểu diễn mở đầu cho mỗi một điệu thức mới hay chuyển tiếp từ điệu thức này sang điệu thức khác theo hiệu lệnh của thầy vỗ. Với âm thanh to, vang xa thích hợp để hoà tấu với trống ghinằng và paranưng nên kèn saranai là nhạc cụ không thể thiếu trong các dàn nhạc lễ của người Chăm.

Ngoài hai họ nhạc cụ trống vỗ và họ hơi, hệ thống nhạc cụ truyền thống của người Chăm còn một họ nhạc cụ nữa là nhạc cụ dây rung chi kéo. Thứ nhất là đàn kanhi, đàn kanhi là loại đàn kéo tương tự như đàn nhị của người Việt. Là loại đàn có hai trục, cán dài làm bằng tre già cứng và thẳng, bầu vang làm bằng mai rùa hay xác con sam biển. Đàn được cấu tạo gồm 5 âm, có thể chơi được những âm cao, diễn tả được những tình cảm êm ái, ngọt ngào Nhạc đàn kanhi không ghi ra được bài bản nào mẫu mực, nó chỉ dùng để đệm giọng khi hát lễ. Bên cạnh đàn kanhi, người Chăm còn có hai cây đàn nữa cũng được gọi là kanhi. Khác hẳn với cây đàn nhị mu rùa, hai cây đàn này thường được sử dụng trong dàn nhạc tổng hợp Chăm cùng với nhạc cụ hơi, nhạc cụ trống vỗ và các nhạc cụ khác như mõ, lục lạc để đệm cho toàn bộ các điệu hát, điệu múa, điệu nhảy của người Chăm trong sinh hoạt lễ hội cũng như trong sinh hoạt nghệ thuật.

Phải nói rằng người Chăm có hệ thống nhạc cụ gắn liền với đời sống tín ngưỡng cũng như trong sinh hoạt đời thường của người Chăm như hát dân gian, vui chơi giải trí hệ thống nhạc cụ của người Chăm đã góp một phần không nhỏ tạo nên nét độc đáo cho nền âm nhạc của người Chăm cũng như đóng góp một vai trò rất lớn trong hệ thống âm nhạc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

oOo

Độc tấu Đàn Kanhi:

 

Độc tấu Kèn Xaranai:

 

Hát Mộc – Dân ca Chăm:

 

Hòa tấu Vui Đoàn Tụ với các nhạc cụ của người Việt/Chăm:

 

Dân ca Chamsaranai:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s