Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Xơ Đăng/Xê Đăng

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo dân ca Xinh Mun, mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Xơ Đăng của tộc Xơ Đăng hôm nay.

Dân tộc Xơ Đăng hay Xê Đăng, còn có tên gọi khác là Xơ Đeng, Ca Dong, Cà Dong, Tơ-dra, Hđang, Mơ-nâm, Hà Lăng, Ka Râng, Bri La Teng, Con Lan, là một trong số những dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Tiếng Xơ Ðăng thuộc ngôn ngữ Môn – Khmer (ngữ hệ Nam Á).

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Xơ Đăng ở Việt Nam có dân số 169.501 người, có mặt tại 41 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Xơ Đăng cư trú tập trung tại các tỉnh:

Kon Tum(104.759 người, chiếm 24,4% dân số toàn tỉnh và 61,8% tổng số người Xơ Đăng tại Việt Nam)
Quảng Nam (37.900 người, chiếm 22,4% tổng số người Xơ Đăng tại Việt Nam)
Quảng Ngãi (17.713 người)
Đắk Lắk (8.041 người)
Gia Lai (705 người).

Cho đến nay chưa có tư liệu nào trình bày rõ về những cuộc chuyển cư của các nhóm thuộc dân tộc Xơ Đăng. Có thể do những xung đột nội bộ của các cư dân Môn – Khmer, những cuộc xung đột với người Chăm, người Lào, người Xiêm và sự tràn lấn của các nhóm Môn – Khmer, như Cơ tu, Bru, Ta ôi… từ Lào sang nên người Xơ Đăng đã di chuyển tới sinh sống tại một số địa điểm ở miền Bắc Tây Nguyên hiện nay.

Người Xơ Đăng làm rẫy là chính. Nhóm Mơ-nâm làm ruộng nước nhưng không cày bừa mà lại dùng sức trâu, sức người để giẫm nát đất. Họ chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắn, hái lượm, đánh bắt cá, đan lát, dệt, rèn. Nhóm Tơ-dra có nghề rèn từ quặng sắt rất phát triển và nổi tiếng.

Mỗi làng người Xơ Đăng đều có nhà rông, nóc và mái được tạo dáng như cánh buồm lớn hoặc lưỡi rìu khổng lồ ngửa lên trời. Có hình chim chèo bẻo hay hình sừng thú chót vót ở hai đầu đốc. Nhà rông được dân làng tạo dựng nên hoàn toàn bằng thảo mộc có sẵn ở địa phương. Kỹ thuật xây dựng chỉ là lắp ghép và chằng buộc, không hề dùng đến đinh sắt, dây thép… Nhà rông thực sự là công trình kiến trúc, một sản phẩm văn hóa, là trụ sở và câu lạc bộ trong làng của người Xơ Đăng. Nhà cửa của dân làng quây quần bên nhau, mọi người gắn bó giúp đỡ nhau. Ông “già làng” được trọng nể nhất, là người điều hành mọi sinh hoạt chung trong làng và đại diện của dân làng.

Tên của người Xơ Đăng không có họ kèm theo, nhưng có từ chỉ định giới tính: nam là A, nữ là Y (ví dụ như là A Nhong, Y Hên). Trai gái lớn lên, sau khi đã cưa răng theo phong tục (ngày nay ít người còn theo phong tục này), được tìm hiểu, yêu nhau. Lễ cưới xin đơn giản. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng ở luân chuyển với từng gia đình mỗi bên ít năm, rất ít trường hợp ở hẳn một bên.

Người Xơ Ðăng tin vào sức mạnh siêu nhiên, các “thần” hay “ma” được gọi là Kiak (Kia) hoặc “Ông”, “Bà”, chỉ một số nơi gọi là “Yàng”. Các thần quan trọng như thần sấm sét, thần mặt trời, thần núi, thần lúa, thần nước… Thần nước hiện thân là thuồng luồng, hoặc con “lươn” khổng lồ, hoặc con lợn mũi trắng. Thần lúa có dạng bà già xấu xí, tốt bụng, thường biến thành cóc. Trong đời sống và canh tác rẫy có rất nhiều lễ thức cúng bái đối với các lực lượng siêu nhiên, tập trung vào mục đích cầu mùa, cầu an, tránh sự rủi ro cho cộng đồng và cá nhân.

Quan trọng nhất là lễ cúng thần nước vào dịp sửa máng nước hàng năm, các lễ cúng vào dịp mở đầu năm làm ăn mới, mở đầu vụ trỉa lúa, khi lúa đến kỳ con gái, khi thu hoạch, các lễ cúng khi ốm đau, dựng nhà rông, làm nhà mới, khi con cái trưởng thành… Nhiều dịp sinh hoạt tôn giáo đồng thời có tính chất hội hè của cộng đồng làng, tiêu biểu là lễ trước ngày trỉa, lễ cúng thần nước, lễ đâm trâu của làng cũng như gia đình. Tết dân tộc tổ chức trước sau tuỳ làng, nhưng thường trong tháng Giêng (dương lịch), kéo dài 3-4 ngày. Trong số các lễ cúng, lễ hội truyền thống của người Xơ Đăng, lễ đâm trâu được tổ chức long trọng nhất, đông vui nhất.

Người Xơ Đăng thích hát múa, tấu chiêng cồng, chơi đàn, kể chuyện cổ. Đàn ông không chỉ có tinh thần thượng võ, mà còn tài nghệ trong kiến trúc, điêu khắc và hội họa, tạo nên những sản phẩm tiêu biểu, đó là ngôi nhà rông và cây nêu trong lễ đâm trâu.

Người Xơ Ðăng có nhiều loại nhạc cụ: Đàn, Nhị, Sáo dọc, đàn K’lông Pút, Trống, Chiêng, Cồng, Tù và, Ống gõ, Đàn nước (giàn ống hoạt động nhờ sức nước)… Có loại dùng giải trí thông thường, có loại dùng trong lễ hội. Các loại nhạc cụ cụ thể và điệu tấu nhạc có sự khác nhau ít nhiều giữa các nhóm. Những điệu hát phổ biến là: hát đối đáp của trai gái, hát của người lớn tuổi, hát ru. Trong một số dịp lễ hội, đồng bào trình diễn múa: có điệu múa riêng cho nam, riêng cho nữ, cũng có điệu múa cả nam, nữ cùng tham gia.

Truyện cổ Xơ Ðăng rất phong phú và đặc sắc. Riêng về Sử thi thì tộc Xơ Đăng cũng có cả một kho tàng không kém chi các tộc Ê Đê, M’Nông, Ba Na như:

Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ
Dăm Duông cứu nàng Bar Mă
Dăm Duông hóa cọp
Dăm Duông trong lớp ông già
Duông đi theo thần Tung Gur
Duông làm nhà rông
Duông làm thủ lĩnh
Duông ở trên trời
Ông Gleh làm lễ bỏ mả Duông…

Bài dân ca “Ru em” khá phổ biến của tộc Xơ Đăng do nhạc sĩ Nguyễn Đình Nghĩa ký âm:

Ru Em

Em ơi , em ngũ cho ngoan
để Mẹ đi chặt cây chuối nơi xa
Em nằm ngũ cho ngoan
Ngoài rừng xa , cha đang đi kiếm măng non
Nín đi ơi , em ơi
Em ngũ đừng khóc
Ngoài rừng xa đang đi hái măng non
Ngũ ngoan ơi, em ơi
Nơi xa Mẹ tìm được nhiều ngọn rau non
Đừng khóc nữa ơi, em ơi.

NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.
NS Nguyễn Đình Nghĩa ký âm.

Dưới đây mình có các bài:

– Nghệ Thuật Diễn Xướng Dân Gian Của Người Ca Dong
– Nhạc Cụ Của Dân Tộc Xơ Đăng Tại Tỉnh Kon Tum
– Âm thanh của tre nứa còn mãi với thời gian
– Đàn nước của dân tộc Xơ-đăng
– Người lưu giữ “linh hồn” đàn Klông-pút của dân tộc Xơ-Đăng
– Điệu múa “Chiêu” độc đáo của người Xơ Đăng, Kon Tum
– Peng Chu–Phi – lễ hội độc đáo của dân tộc Xơ-đăng
– Lễ hội Mừng lúa mới – nét văn hóa đặc sắc dân tộc Xơ Đăng, Đắk Lắk
– Bộ trang phục bằng vỏ cây của người Xơ Đăng xưa
– Nhà sàn của người Xơ Đăng
– Nhận diện sử thi Xơ Đăng

Cùng với 6 clips tổng thể văn hóa tộc Xơ Đăng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia & DTV & VOV)

Nghệ nhân trẻ dân tộc Xơ Đăng (xã Trà Nam) diễn tấu đàn Prong ló.
Nghệ nhân trẻ dân tộc Xơ Đăng (xã Trà Nam) diễn tấu đàn Prong ló.

Nghệ Thuật Diễn Xướng Dân Gian Của Người Ca Dong

Các loại hình dân ca

Cũng như người Hrê, người Cor, người Ca Dong ở Quảng Ngãi cũng bảo lưu được những làn điệu dân ca khá phong phú và đa đạng. Tiêu biểu có các làn điệu: ca lêu, ra nghế, plét, a hội, dê ô dê.

* Ra nghế

Ra nghế là lối hát đối đáp, tự sự, có tính chất ứng khẩu, thường diễn ra vào những đêm trăng sáng, hoặc cũng có khi lên nương, lên rẫy. Người Ca Dong còn dùng ra nghế để hát kể về công lao của con trâu trước khi làm lễ hiến sinh, hát kể về các thành phần cũng như hoa văn họa tiết của cây nêu… Trong các lễ tết, người Ca Dong cũng dùng ra nghế, ca lêu, a hội… để hát vui với nhau.

* A hội

A hội là lối hát theo một giai điệu và những bài có sẵn được lưu truyền trong dân gian, như về sự tích các con sông, các ngọn núi, chuyện về các anh hùng và những người đẹp huyền thoại, về tình yêu trai gái…

* Plét

Plét là điệu hát có giai điệu trong sáng, nhưng có thể thay lời mới cho phù hợp với hoàn cảnh, thường có những âm kết ề hế…, được sử dụng trong hội mùa, trong lễ tết…

* Dê ô dê

Dê ô dê là điệu hát có giai điệu ngắn gọn nhưng trong sáng, có thể hát một mình, cũng có thể hát đối đáp, thường mở đầu bằng 3 âm dề ô dê… Nhiều nhạc sĩ đã sử dụng giai điệu của dê ô dê đặt lời mới, nói về công cuộc xây dựng cuộc sống mới hiện nay, hoặc ca ngợi cảnh đẹp của núi rừng, con người vùng miền Tây Quảng Ngãi.

Các loại nhạc cụ

Nhạc cụ của người Ca Dong rất đa dạng và phong phú. Ngoài các loại nhạc cụ phổ biến, giống như các loại nhạc cụ của người Hrê, người Cor, như các loại đàn brook (người Ca Dong gọi là vrook), vrook krâu, vrook a khung, rơ đoang, tà lía, a băm, ra ngoái, đàn nước, đàn gió… còn có các loại nhạc cụ riêng, như kloong pút, chiêng hlênh, chiêng hnăng… Về các loại nhạc cụ của người Ca Dong giống với nhạc cụ của người Hrê, người Cor, xin không miêu tả thêm, vì cơ bản cách chế tác, cách biểu diễn, môi trường biểu diễn là giống nhau, chỉ khác nhau về các làn điệu được sử dụng. Dưới đây là một số nhạc cụ có chút ít khác biệt:

* Đàn kloong pút

Đàn kloong pút là loại đàn giống như đàn và pút (pênh pút) của người Hrê, nhưng có từ 2 – 5 ống nứa. Cách chơi kloong pút của người Ca Dong cũng giống cách chơi đàn và pút hay đàn a khung của người Hrê. Đây là loại đàn dành cho nữ giới, chủ yếu chơi trong những lúc rỗi rãi hoặc hội hè.

* Đàn vrook t’ru

Đàn vrook t’ru là loại đàn chỉ có 3 dây (khác với vrook krâu thường có 9 – 11 dây). Tiếng đàn vrook t’ru không sôi động, hơi trầm lắng, nên ngoài việc diễn tấu để bày tỏ tâm tình, hòa tấu với các nhạc cụ khác, đôi khi còn được sử dụng trong lễ tang.

* Đàn vrook krâu

Về cấu tạo, tính năng cũng giống như đàn brook krâu của người Hrê, người Cor, nhưng cách chơi đàn vrook krâu của người Ca Dong chủ yếu là mô phỏng tiếng chiêng hlênh, vì thế nó có thể thay thế một dàn chiêng hlênh khi không có dàn chiêng hlênh tham gia diễn tấu. Cấu trúc thang âm của đàn vrook krâu giống như thang âm của từng chiếc chiêng hlênh (theo loại chiêng hlênh 9 chiếc). Ngoài ra, vrook krâu còn được dùng để chơi các giai điệu dê ô dê, a hội, plét…

* Chiêng

Người Ca Dong có hai bộ chiêng là chiêng hnăngchiêng hlênh.

Chiêng hnăng là bộ chiêng gồm 7 chiếc, có âm trầm vang, không có núm (chiêng bằng). Chiêng được đánh bằng dùi ở mặt trong, chỉ dùng trong lễ ăn trâu, ít khi dùng trong những trường hợp khác, là loại chiêng do đàn ông lớn tuổi sử dụng.

Chiêng hlênh là bộ chiêng gồm 9 đến 14 chiếc, có thang âm hết sức phong phú, dành cho trẻ em hoặc thanh niên. Loại hlênh 9 chiếc, từ nhỏ đến lớn, là loại chiêng có 7 chiêng chính gõ từng nốt một, 1 chiêng núm đệm nhịp, 1 chiêng núm giữ nhịp. Ngoài ra còn 1 trống hòa tấu. Loại chiêng hlênh 13 chiếc, cũng có kích thước từ nhỏ đến lớn, trong đó 3 nốt cao nhất có 3 chiếc, 4 nốt còn lại có hai chiếc, 2 chiếc còn lại dùng để giữ nhịp. Loại chiêng 14 chiếc, về cấu tạo cũng giống chiêng 13 chiếc, nhưng có 3 chiếc chiêng núm để đệm và giữ nhịp cùng với trống (pơtao).

Nhìn chung, kho tàng dân ca và dân nhạc của người Hrê, người Cor, người Ca Dong ở Quảng Ngãi hết sức đa dạng, không chỉ thể hiện ở số lượng, loại hình, giai điệu, tiết tấu mà còn ở nội dung, đề tài, chủ đề. Về cơ bản, nhiều loại hình dân ca, dân nhạc có những điểm giống nhau, nhưng cũng có nhiều loại hình khác nhau, như một số làn điệu dân ca, một số nhạc cụ, đặc biệt là các bộ chiêng, như bộ chiêng của người Hrê có 3 chiếc (và 1 trống), bộ chiêng Cor có 2 chiếc (và 1 trống), chiêng của người Ca Dong thì có 2 bộ, một bộ 7 chiếc, một bộ có khi đến 14 chiếc (và 1 trống), vv…

xd_Nghệ nhân Hồ Văn Thập (xã Trà Cang) diễn tấu đàn tơ rưng

NHẠC CỤ CỦA DÂN TỘC XƠ ĐĂNG TẠI TỈNH KON TUM

(Tạ Thâm)

Người Xơ đăng (nhóm M’Nâm) yêu thích ca hát. Họ có lối Acheo h’nụ đ’bo để nam nữ hát đối đáp với nhau khi đi làm, khi vui chơi hội hè. Nội dung thường là những bài hát giao duyên để nam nữ thanh niên bày tỏ tình cảm với nhau. Để tiếp tục giúp các bạn hiểu hơn về đời sống âm nhạc của các dân tộc ít người tại tỉnh Kon Tum, trong bài viết này, Tạ Thâm xin giới thiệu với các bạn các nhạc cụ của dân tộc Xơ đăng tại tỉnh Kon Tum. Bài viết có tham khảo tư liệu của nhà nghiên cứu âm nhạc Tạ Quang Động và Hoàng Anh Thái.

Bo đô là một loại trống có hai mặt bịt bằng da sơn dương. Tang trống được chế tác từ một khúc gỗ liền có chiều dài 50cm, đường kính khoảng 22cm. Đường kính khoảng 22cm. Dọc theo tang trống, người ta néo các sợi dây mây để giữ căng hai mặt da. Khi diễn tấu, nghệ nhân ôm hoặc đeo trống, hai bàn tay vỗ trên mặt trống. Bo đô là nhạc cụ dành cho nam giới, dùng để hòa tấu cùng các nhạc cụ khác trong những dịp hội hè và sinh hoạt thường ngày của người Xơ đăng.

Kvôh là nhạc cụ hơi, chi lưỡi gà rung tự do. Sáo được làm từ một ống nứa rỗng hai đầu có chiều dài 15cm, đường kính 1,5cm. Trên thân ống có khoét một lỗ thổi hình chữ nhật để gắn lưỡi gà bằng cật tre. Khi diễn tấu, miệng ngậm kín vào lỗ thổi, hai tay úp mở vào hai đầu sáo để tạo ra những âm thanh khác nhau. Kvôh là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng, dùng để độc tấu hoặc hòa tấu cùng với các nhạc cụ khác trong những dịp hội hè và sinh hoạt thường ngày của người Xơ đăng. Trong lễ đâm trâu, chàng tri Xơ đăng thường vừa thổi kvôh vừa hát đối đáp giao duyên với cô gái.

Ka lieu là nhạc cụ hơi, chi lỗ vòm. Sáo được chế tác từ một ống nứa dài 45cm, đường kính 1,5cm, một đầu có mấu, một đầu rỗng. Ở phía đầu có mấu, người ta khoét một lỗ nhỏ hình tròn và gắn lên đó một miếng nứa tạo thành khe hở để lùa hơi. Trên thân sáo có khoét 3 lỗ bấm tạo cao độ. Trong sinh hoạt thường ngày của người Xơ đăng, trai gái đều có thể thổi ka lieu.

Chinh, Guông: người Xơ đăng gọi chiêng bằng là chinh, chiêng núm là guông. Chinh, guông là nhạc cụ tự thân vang, chi gõ, đấm. Dàn chinh gồm có 5 chiếc, đường kính chiếc to nhất là 42cm, thành cao 6cm và đường kính chiếc nhỏ nhất là 25cm, thành cao 4,5cm. Dàn guông gồm 4 chiếc, đường kính chiếc to nhất là 52cm, thành cao 8cm và đường kính chiếc nhỏ nhất là 23cm, thành cao 3cm. Khi trình diễn, mỗi người cầm một chiêng, tay trái xách, tay phải cầm dùi làm bằng cây sum lỗ (một loại cây thân gỗ) có chiều dài khoảng 12cm để gõ. Đánh guông thì gõ vào núm còn đánh chinh thì gõ vào mặt trong của chinh, riêng chiếc guông to nhất, nghệ nhân dùng nắm tay để đấm vào núm guông làm cho âm thanh hay hơn là dùng dùi gõ. Chinh, guông là nhạc cụ dành cho nam giới sử dụng và thường chỉ dùng trong những gày lễ của cộng đồng.

Kô klẹh là nhạc cụ tự thân vang, chi gõ. Để làm nhạc cụ này, nghệ nhân chọn những ống nứa già, thẳng, đẹp, một đầu để mấu kín, một đầu hở. Sau đó người ta gọt vát từ khoảng giữa của ống về phía đầu hở để điều chỉnh âm thanh. Kô klẹh là nhạc cụ gồm có 5 ống (mỗi ống cho một cao độ) chia làm 2 bộ, mỗi bộ do một người sử dụng. Để liên kết các ống đàn trong một bộ lại với nhau, người ta đặt các ống đàn đó. Khi diễn tấu, tay trái cầm vào thanh tre, tay phải dùng dùi gõ. Cao độ và kích thước của các ống đàn như sau:

Bộ 2 ống:

– Nốt d1: dài 58cm, đường kính 4,5cm
– Nốt gl: dài 53cm, đường kính 4,5cm

Bộ 3 ống:

– Nốt e1 (hơi già): dài 56cm, đường kính 4,5cm
– Nốt a1 (hơi già): dài 49cm, đường kính 3,5cm
– Nốt h1: dài 41cm, đường kính 3,3cm

Kô klẹh là nhạc cụ do nam giới sử dụng, thường dùng để hòa tấu cùng với các nhạc cụ khác trong những dịp hội hè và sinh hoạt thường ngày của người Xơ đăng.

Brâng là nhạc cụ dây, chi gẩy. Thân đàn là một ống nứa dài 90cm, bầu cộng hưởng làm bằng vỏ quả bầu khô, cao khoảng 25cm, đường kính 15cm. Đàn gồm có 10 dây bằng sắt, được mắc dọc xung quanh ống đàn. Mỗi dây cho một âm thanh. Khi diễn tấu, người ta dùng các đầu ngón tay gẩy vào dây đàn. Nhạc cụ này dành cho nam giới sử dụng, thường dùng để độc tấu hoặc đệm cho hát trong sinh hoạt thường ngày của người Xơ đăng.

Trong các lễ ăn lúa mới, mừng nhà mới, ăn trâu, người Xơ đăng thường có mua kết hợp với hòa tấu chính, guông và các nhạc cụ.

Vỗ đàn K'lông Pút.
Vỗ đàn K’lông Pút.

Âm thanh của tre nứa còn mãi với thời gian

(Trần Vĩnh)

Anh vào rừng sâu tìm những ống lồ ô. Anh chọn ống to căng no gió núi. Anh lựa ống nhỏ chứa tròn tiếng suối. Về làm đàn Ting gling. Anh treo thành dàn trên rẫy. Anh giăng thành dãy trên nương. Nước suối kéo cần đung đưa ống đàn. Cho những âm thanh vui rừng ấm núi ….

Đấy là những ca từ mở đầu của ca khúc Ting gling – Đàn suối khá nổi tiếng của Nhạc sỹ A Đủh phổ thơ của Tạ Văn Sỹ. Ca khúc này đã được Đoàn nghệ thuật dân tộc Kon Tum dàn dựng đi tham gia và giành được Huy chương vàng tại Hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc. Ting gling – là tên gọi theo tiếng đồng bào Ba Na về một loại đàn nước (thủy cầm), ngoài Ting gling, ở Kon Tum còn có Klong put của người Xơ Đăng, Đing Tut của người Giẻ-Triêng – ba loại nhạc cụ dân gian truyền thống được làm từ những ống lồ ô, ống nứa đơn giản, khiêm nhường, mọc hoang dã tự nhiên ở các cánh rừng, với ba cách sử dụng khác nhau là gõ, vỗ và thổi tạo ra những âm thanh vô cùng quyến rũ làm nên bản sắc độc đáo của các tộc người bản địa ở Kon Tum – những tiếng vọng trường tồn của thời gian từ đại ngàn hùng vĩ.

Đi điền dã về văn hóa các dân tộc thiểu số ở các làng, bản của Đăk Tô, Tu Mơ Rông những năm trước đây, qua những nương rẫy của đồng bào dân tộc bản địa, có khá nhiều những dàn ống nứa được cột lại với nhau bằng dây mây đang đung đưa phát ra những âm thanh thánh thót, vang vọng trong không gian yên ả của núi rừng- đấy là những dàn đàn nước của bà con bản địa đặt ở các khoảnh nương rẫy để đuổi chim, thú phá lúa. Suốt dọc con đường mòn đi tắt từ các làng Măng Rương, Đăk Xanh xã Văn Lem (Đăk Tô) cắt qua các nương rẫy nối nhau cho đến các thôn Mô Pá, Kon Pia xã Đăk Hà (Tu Mơ Rông)… những dãy đàn nước bằng ống nứa được đặt ở ven nương rẫy khá nhiều, to nhỏ đủ loại.

Đi qua những khoảnh nương rẫy ở đây là được song hành cùng với một suối âm thanh như những bản hòa tấu bất tận không ngừng nghỉ, tiếng binh, tiếng boong như tiếng cồng, chiêng, tiếng thanh, tiếng trầm…đủ loại vô cùng vui tai, tạo ra cảm giác rất sảng khoái, khỏe khắn, lâng lâng rất khó tả…Ở những rẫy lúa sát chân núi, âm thanh đàn nước va đập vào vách núi vọng ra nghe như có cả trăm chiếc khèn bè cùng đều đều hòa nhịp…đúng như những vần thơ của của anh bạn nhà thơ “rừng rú” Tạ Văn Sỹ, lời bài hát trong ca khúc của “gã” nhạc sỹ đại ngàn A Đủh…Nước suối kéo cần, đung đưa ống đàn…cho những âm thanh vui rừng ấm núi…nước suối kéo cần…đung đưa đêm ngày…âm thanh trầm bổng lội suối xuyên rừng…

Đàn nước ở Kon Tum phổ biến nhất là ở hai dân tộc Ba Na và Xơ Đăng, người Ba Na gọi là Ting Gling,người Xơ Đăng gọi là Tơ rưng nước. Nó gồm 3 bộ phận hoạt động theo dây chuyền. Bộ phận thứ nhất gồm nhiều ống nứa kích cỡ khác nhau, được treo thẳng đứng, phân bổ theo thứ tự âm thanh phát ra từ trầm đến vừa và thanh cao. Bộ phận thứ hai gồm nhiều thanh gỗ, bố trí gắn với hệ thống truyền chuyển động, sao cho dây chuyền hoạt động, các thanh gỗ này chuyển động nhịp nhàng qua lại và gõ vào ống nứa phát ra âm thanh. Bộ phận thứ ba là máng hứng nước từ nguồn nước tự nhiên. Nước xối vào máng đến khi đầy, máng sẽ tự động trĩu xuống, kéo theo cả hệ thống thanh gõ hoạt động, lần lượt gõ vào các ống nứa làm các ống này phát ra âm thanh. Khi máng trĩu xuống, nước trong máng bị đổ hết ra ngoài, máng chuyển động trở về vị trí ban đầu, cũng lại làm cho hệ thống thanh gõ hoạt động gõ vào các ống nứa. Cứ thế, máng nước trĩu xuống, nâng lên, làm cho hệ thống thanh gõ chuyển động qua lại liên tục gõ vào ống nứa suốt ngày đêm và đàn nước cứ thế liên tục phát ra âm thanh theo chu kỳ chuyển động như trên. Sự độc đáo của đàn nước là nó được tạo ra có âm thanh, tiết tấu gần giống như một dàn cồng chiêng của đồng bào. Chỉ với những ống nứa, những đoạn gỗ, vậy mà đàn nước có đầy đủ các âm thanh trầm, bổng như các nốt nhạc.

Tuỳ theo nguồn nước, lớn hay nhỏ mà người ta làm đàn nước lớn hay bé. Ở nơi nguồn nước ít, thì là loại có 15-20 ống nứa, với nguồn nước lớn hơn thì làm 30-35 ống nứa. nguồn nước lớn hơn nữa thì làm đến 45-50 ống nứa hoặc làm 2 đàn nước loại vừa (30-35 ống nứa). Âm thanh đàn nước hàng ngày vừa đuổi chim, thú để giữ rẫy lại vừa là phương tiện để giúp vui cho bà con khi cả ngày làm lụng trên nương rẫy, người Ba Na và người Xơ Đăng ở Kon Tum đều có truyện cổ dân gian khá hay về nguồn gốc của loại đàn nước này.

Cùng với Ting gling đàn nước- loại đàn gõ, cũng làm từ ống lồ ô là loại đàn Klong put truyền thống của người Xơ Đăng, nhưng cách sử dụng lại khác là vỗ bằng hai tay vào miệng các ống lồ ô để tạo ra âm thanh khá độc đáo. Loại đàn dân gian này được cho là có xuất xứ ở các làng người Xơ Đăng ở xã Đăk Sao, Đăk Na (Tu Mơ Rông), người sử dụng đều là phụ nữ, khi khảo cứu về loại đàn này ở xã Đăk Sao chúng tôi được các cụ cao tuổi người Xơ Đăng ở đây cho biết là đàn Klong put cũng bị quên lãng nhiều năm do chiến tranh, người có công phục chế lại loại đàn này là cụ A Để ở làng Đăk Giá, xã Đăk Sao trong những năm kháng chiến ở vùng căn cứ cách mạng, về sau trở thành rất phổ biến ở các làng trong xã và các xã bên cạnh. Từ những năm 2000, đã nhiều lần chúng tôi trực tiếp đưa chị em người Xơ Đăng xã Đăk Sao (Tu Mơ Rông) vác bó ống lồ ô của bộ đàn Klong put này ra Thủ đô Hà Nội để diễn tấu. Không cần cột dây, chẳng cần giá đỡ, chỉ với hai cây lồ ô già để ở hai đầu tạo khoảng cách với mặt đất, chị em người Xơ Đăng cứ thế đặt các ống lồ ô lên và ngồi vỗ say sưa trước sự thán phục của khán giả Thủ đô, của nhiều nghệ sỹ có tiếng ở trung ương và nhất là khách nước ngoài. Không chỉ diễn tấu riêng Klong put mà chị em người Xơ Đăng còn hòa tấu chungKlong put với cả một dàn cồng, chiêng, trống tạo ra những bản giao hưởng nhạc cụ dân gian truyền thống hết sức đặc sắc, mặc dù họ chả biết nó là nốt nhạc gì.

Loại nhạc cụ dân gian đặc trưng thứ ba là Đing Tut của nhánh người Triêng dân tộc Giẻ-Triêng ở huyện Ngọc Hồi. Cũng làm từ ống nứa nhưng khác với Ting gling đàn nước- loại gõ và đàn Klong put- loại vỗ, Đing Tut là những ống thổi hơi với 6 ống nứa, ngược lại với Klong put- người vỗ là phụ nữ thì người thổi Đing Tutlại là 6 người đàn ông với trang phục khoác chiếc váy truyền thống trên người và đội những chiếc mũ rất đẹp, nhiều họa tiết, hoa văn và màu sắc cầu kỳ của người Triêng. Trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Triêng ở Kon Tum, Đing Tut có vai trò đặc biệt nhất trong các sinh hoạt diễn xướng dân gian.

Xuân Giáp Ngọ đang về. Bước vào năm con Ngựa tưởng chừng vội vã phi nước đại, như lúc bước vào Xuân Quý Tỵ 2013 với dấu mốc Kon Tum tròn 100 năm tuổi đầy sôi động cả năm, nhưng có vẻ không phải thế, Kon Tum đang vào xuân cũng với nhịp điệu rộn ràng và náo nức, nhưng không hối hả, vội vàng gì lắm, thấy xuân đến chầm chậm, từ từ và tĩnh lặng hơn. Đường phố, bản làng tràn ngập sắc xuân, đầy ắp nắng vàng trong yên ả, xuân đến cũng là mùa của lễ hội dân gian, đây đó tiếng cồng chiêng, tiếng Klong put, tiếng Đing Tut đã bắt đầu thánh thót, âm vang- những tiếng vọng của thời gian, của núi rừng đang chậm rãi chuyển mình trong thời khắc giao hòa của khí thiêng đất trời sông núi vào xuân.

xd_Đàn nước tộc Xơ Đăng.

Đàn nước của dân tộc Xơ-đăng

(Phan Thanh Minh)

Là một trong 54 cộng đồng dân tộc Việt Nam sống tập trung ở quần sơn Ngok Linh – ngọn núi cao nhất của dãy Trường Sơn (2598m) bao gồm tỉnh Kon Tum, Nam Trà Mi (Quảng Nam), số ít khác sống rải rác ở Bắc Trà Mi, Phước Sơn (Quảng Nam), Sơn Tây (Quảng Ngãi)… Tuỳ theo tên gọi địa phương, dân tộc Xơ-đăng có tên gọi khác nhau theo từng nhóm như: Ca-dong, Xơ-teng, Tơ-Drá, Mơ-mân, Tha-lăng, Con-lăng, Tà-trĩ (còn gọi là Tà-trẽ),… hiện nay dân tộc Xơ-đăng có số dân khoảng 10 vạn người, riêng tại địa bàn tỉnh Quảng Nam có hơn 3 vạn người. Tiếng Xơ-đăng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer.

Hầu hết các loại nhạc cụ của dân tộc Xơ-đăng tương tự với các loại nhạc cụ của đồng bào Nam Trường Sơn và Tây Nguyên như: Cồng chiêng (Arap), trống (Hơgơl Dash, Kơr pát), đàn Klôngpút, đàn nước… theo nhà nghiên cứu dân tộc học Nguyễn Tri Hùng (hiện nay là Phó trưởng Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam) cho biết: Các tộc người ở miền núi Trường Sơn và Tây Nguyên đều biết làm đàn nước, tuy nhiên độc đáo hơn cả là đàn nước của người Xơ-đăng. Người Xơ-đăng gọi loại đàn này là Coan (do cách ghi âm mà nhiều người viết tên gọi khác nhau như: Cong, Koan, Quang, Quan, H’cuan…).

Giống như các dân tộc khác, người Xơ-đăng quan niệm tạo ra Coan là để giữ nương rẫy, play (làng) yên bình; xua đuổi thú giữ, chim muông phá hoại mùa màng…; đồng thời họ còn tin rằng, có được tiếng Coan hay là để mời gọi các thần núi, thần suối, thần đá, thần cây… (nói chung là các vị thần tốt) về sống với dân làng và không để cho các con ma sông, ma suối, ma nước… (nói chung là tà ma) quấy nhiễu đời sống và con người trong cộng đồng của họ. Vì lẽ đó, Coan trở thành vừa là vật thiêng trong đời sống tâm linh, vừa là nhu cầu thiết yếu trong đời sống văn hoá tinh thần của người Xơ-đăng.

Chất liệu để tạo nên loại đàn này là nhóm cây họ tre: Tre, nứa, giang, lồ ô, le… Cách thức để tạo ra đàn gồm nhiều thanh tre, được sắp xếp xen kẽ thanh đặc ruột ở giữa thanh rỗng ruột để khi có dao động thì thanh đặc ruột gõ vào thanh rỗng ruột (nên nhiều nhạc sĩ xếp Coan vào bộ gõ); tất cả các thanh tre này được kết lại với nhau bằng dây mây hoặc dây leo trong rừng. Một sợi dây được kéo dài từ đầu đến cuối cây đàn và buộc vào máng nước được kéo đến con suối gần đó. Khi nước chảy, máng nước dao động kéo sợi dây, và như thế các thanh tre va vào nhau mà tạo nên những tiếng động. Với những thanh tre được kết nối với nhiều kích cỡ to, nhỏ, dài, ngắn và độ rỗng ruột của nó mà tạo nên tiếng trầm, tiếng bổng hoà với tiếng thánh thót của chim hót, tiếng xào xạc lá rơi, tiếng róc rách suối chảy, tiếng đong đưa gió về… và cả tiếng thầm thì của các chàng trai, cô gái ngỏ lời yêu đương. Do nhờ sức nước kéo dây buộc đàn để tạo nên âm thanh mà người ta gọi chung là đàn nước. Nhờ nguồn nước tự nhiên mà khúc nhạc của Coan khi tấu lên lúc thì khoan thai hiền hoà, lúc thì hối hả thúc giục và có lúc dữ dội… (chỉ có điều lúc dữ dội, người ta biết được bão tố sẽ về và thần linh đang giận dữ).

Tuỳ theo sức chảy của từng dòng suối, khả năng của từng làng và sự sáng tạo của nghệ nhân mà đàn nước khắp núi rừng Ngok Linh có kích thước to, nhỏ, rộng, hẹp, cao, thấp khác nhau. Cũng theo lời dẫn của ông Nguyễn Tri Hùng, trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cụ Sáu Do (tức Phạm Xuân Thông) đã tìm thấy không ít Coan khắp núi rừng Trà My có diện tích đến hàng trăm mét vuông được kết nối đến vài trăm thanh tre rỗng ruột. Đã gọi là đàn, tất nhiên Coan phải hội tụ đủ các yếu tố của loại nhạc cụ: tiết tấu, cường độ âm thanh, nhịp điệu… âm sắc của Coan tương tự như tiếng đàn Tơ-rưng của các dân tộc vùng Tây Nguyên. Tuy nhiên, khúc nhạc của Coan khi tấu lên phức tạp hơn tiếng Tơ-rưng, bởi lẽ có rất nhiều thanh tre được gõ cùng một lúc, tạo nên tiết tấu bè. Và đặc biệt hơn các loại nhạc cụ khác, Coan không cần nhạc công hay người biểu diễn. Chính vì thế mà tiếng Coan là tiếng vô tận, không có giới hạn về thời gian; chỉ khi nào một thanh tre nào đó bị hỏng thì nghệ nhân được dân làng tín nhiệm tìm một thanh khác thay thế.
Ngày nay, do nhiều yếu tố mà Coan ít còn hiện diện ở khắp núi rừng Ngok Linh.

Đầu năm 1987, nghệ nhân Piêu ở thôn 3, xã Trà Cang, huyện Trà Mi đã thiết kế một cây đàn nước và được trưng bày tại Trung tâm Văn hoá – thông tin tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng làm không ít người sững sờ. Hiện nay cây đàn này được lưu giữ tại Bảo tàng thành phố Đà Nẵng (cây đàn chiếm diện tích khoảng 20 m2 gồm 71 thanh tre rỗng ruột).

Đến cuối năm 2005, Việt Nam đã có hai di sản văn hoá phi vật thể thế giới được UNESCO công nhận là Nhã nhạc cung đình Huế và Cồng chiêng Trường Sơn – Tây Nguyên, thế mà có rất nhiều loại hình văn hoá phi vật thể khác chưa được các ngành có chức năng đưa vào danh sách cần được bảo tồn, trong đó có Coan (ít nhất là di sản văn hoá cấp tỉnh).

Mong sao các tổ chức văn hoá, bảo tồn, bảo tàng, du lịch… có phương án phục dựng Coan tại các làng của người Xơ-đăng như phục dựng các Gươl ở các làng người Cơtu; và nếu có thể, Coan sẽ hiện diện tại các điểm du lịch trong tỉnh như Hội An, Mĩ Sơn, Tam Kì, Chu Lai… nhằm giới thiệu loại nhạc cụ độc đáo này với bạn bè trên khắp thế giới.

Đàn Klông-pút của người Xơ-Đăng.
Đàn Klông-pút của người Xơ-Đăng.

Người lưu giữ “linh hồn” đàn Klông-pút của dân tộc Xơ-Đăng

Trước nguy cơ thất truyền văn hóa truyền thống, chị Y Sinh đang miệt mài giữ “linh hồn” dân tộc mình.

Niềm vui càng lớn hàng ngày đến với chị Y Sinh mỗi khi có khách đến thăm và hỏi về đàn Klông-pút. Trong ngôi nhà cấp 4 ở khối phố 3, thị trấn Đăk Tô (huyện Đăk Tô – Kon Tum), chị nhiệt tình trả lời mọi thắc mắc và nhu cầu cần biết của chúng tôi về nhạc cụ này.

Để chúng tôi hiểu, vừa nói, chị vừa hướng dẫn tỷ mỷ cho đứa cháu gái ở làng xuống học phổ thông học đàn đàn Klông-pút. Ngồi cạnh chiếc đàn Krông-pút, chị khom người, mặt hướng về phía cây đàn vỗ tay tạo thành những âm thanh trầm bổng, thánh thót của những bài dân ca Tây Nguyên .

Diễn tấu xong, chị Y Sinh giới thiệu: “Ngày xưa, phụ nữ thích chơi đàn này trong những đêm ở trên chòi canh rẫy. Nghe ở gần thì ngỡ âm của nó nhỏ nhưng càng về khuya, tiếng đàn càng vọng xa. Người bên kia quả đồi nghe người bên này chơi cũng mang đàn ra “vỗ’’, rồi kéo theo 5-7 chòi cùng chơi theo một bản nhạc làm cho không khí của núi rừng sống động hẳn lên.

Thú dữ nghe âm thanh rộn ràng của tiếng đàn thì sợ nên cảnh giác tránh xa. Không chỉ thế, tiếng đàn Klông- pút cũng là một phương tiện thổ lộ tâm tư, tình cảm của một cô gái đã đến tuổi lấy chồng, nhưng chưa có chàng trai nào vừa ý đến cầu hôn. Vì âm thanh của nó nghe tưởng mộc mạc nhưng vô cùng sâu lắng và thiết tha…”.

Cũng như tiếng sáo Đinh-tút của người Rẻ Triêng, tiếng đàn Goong của người Bah Nar, đàn Đing-năm của người Êđê thì đàn Klông-pút là một loại nhạc cụ truyền thống của người Xơ-Đăng thường được sử dụng vào các dịp lễ hội tổ chức trong làng hay trong gia đình.

Đàn Klông-pút cấu tạo rất đơn giản, chỉ 2 hoặc 3 ống lồ ô (tre loại lớn), sau này người ta chế tác ra nhiều cây đàn có tới từ 7 đến 10 ống tuỳ theo cách chơi của mỗi người để đánh những bản nhạc mang nhiều âm điệu hơn. Ống ngắn nhất cũng phải 70-80 cm, dài nhất đến 1,5 mét, đều có đường kính từ 5-8 cm được kết bằng những sợi dây me vóc (mây rừng) thành một ‘’chuỗi’’ như chiếc đàn T’rưng cho thuận tiện trong việc di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác.

Đàn Klông pút chủ yếu để phụ nữ chơi bằng cách: Đặt đàn lên trên một phiến đá hoặc gác hai đoạn cây cao ngang bụng rồi cúi hơi khom người khum hai bàn tay lại cách xa miệng ống khoảng 10 cm và vỗ để luồng hơi từ hai bàn tay phát ra lùa vào miệng ống, hơi sẽ làm chuyển động cột khí bên trong ống bật ra ngoài tạo thành những âm “bụp… bum…’’.

Âm điệu cao, thấp khác nhau tuỳ cách vỗ mạnh hay nhẹ. Chỉ một chiếc đàn Klông-pút 5 ống thôi người chơi cũng đã “vỗ’’ trọn vẹn một bài hát trữ tình với đủ tiết tấu mà không hề gượng ép. Song, muốn chơi được như vậy đòi hỏi các nghệ nhân phải tốn khá nhiều thời gian học cách “vỗ’’ và thường xuyên tập luyện.

Đàn Klông-pút có thể độc diễn những bài dân ca, hát Ayray (dạng nói thơ vần) trong lễ Mừng lúa mới, cúng Mùa làm đất, cúng lễ giọt nước.., còn muốn đệm cho một bài hát có những âm điệu trầm bổng, luyến láy dài thì phải cần tới 3 bộ đàn và cả 3 nghệ nhân đều đã từng diễn tấu ăn ý một cách thuần thục.

Trước kia cứ gần đến mùa thu hoạch, ở khắp các mảnh rẫy thường vang lên tiếng đàn Klông-pút, bởi người Xơ-Đăng thường dùng những ống lồ ô để đựng những hạt giống. Trong đó, có lúa nên bà con quan niệm trong những ống ấy “có hồn của mẹ lúa”, đánh Klông-pút vào mùa sắp thu hoạch thì “mẹ lúa” sẽ giúp cho các công việc được thuận lợi.

Ngay cả đàn ông nghe tiếng đàn Klông-pút cũng rất thích, nhiều người cũng đã say mê làm đàn và chơi đàn. Làm đàn Klông-pút rất dễ, chỉ cần đốn những ống lồ ô thật thẳng, vỏ mỏng, một đầu bít kín, đầu kia cắt vát mỗi ống mỗi khác để không cho trùng âm là được.

Với nét độc đáo của đàn Klông-pút , vậy mà, nhiều năm qua, bà con dân tộc Xơ Đăng ở huyện Đăk Tô ít được nghe tiếng Klông-pút, nhiều người lo ngại rằng cây đàn sẽ dần bị rơi vào quên lãng bởi hình như nó không còn hợp với cuộc sống tất bật trong thời buổi hiện tại này.

Để bảo tồn và phát huy truyền thống các dân tộc bản địa chị Y Sinh, dân tộc Xơ-Đăng, ở tổ dân phố 3, thị trấn Đăk Tô đã dành những thời gian rảnh rỗi hướng dẫn, truyền đạt cách chơi đàn Klông-pút cho con cháu trong gia đình.

Chị Y Sinh (ngồi bên trái) đang hướng dẫn học viên học chơi đàn Klông-pút tại nhà mình.
Chị Y Sinh (ngồi bên trái) đang hướng dẫn học viên học chơi đàn Klông-pút tại nhà mình.

Chị tâm sự: “Qua tìm hiểu thực tế ở các làng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đăk Tô và Tu Mơ Rông tôi chỉ còn thấy ở một số làng trong xã Đăk Sao, Đăk Na (huyện Tu Mơ Rông) còn dùng nhạc cụ này. Người chơi nhạc cụ này chủ yếu là người già còn thanh niên họ không mặn mà, thiết tha lắm.

Tôi sợ cây đàn này sẽ dần dần bị lãng quên. Bằng kinh nghiệm của bản thân và lòng tự hào dân tộc tôi đã tìm cách truyền đạt cách chơi cây đàn này nhằm giữ gìn nét văn hóa đặc trưng của dân tộc mình. Ksiu Ước, người con thứ 2 đã được tôi truyền đạt, hướng dẫn cách chơi đàn từ nhỏ. Vì vậy, khi học xong phổ thông Trung học cháu đã thi đậu vào trường Cao đẳng nghệ thuật Quân đội và hiện nay đang công tác tại Đoàn nghệ thuật ca múa nhạc dân tộc tỉnh.

Tuy nhiên, để chơi được nhạc cụ dân tộc đúng, hay và giữ gìn được nó thì người chơi phải có niềm đam mê, lòng tự hào dân tộc và phải có năng khiếu bẩm sinh….”.

Được biết, thời gian tới chị dự định sẽ dành thời gian đi sưu tầm thêm một số nhạc cụ dân tộc khác như sáo Đinh-tút, đàn Goong, đàn Ting Ning, đàn môi và xây dựng xưởng tại nhà để truyền đạt kinh nghiệm , bày cách làm, sử dụng nhạc cụ dân tộc cho con, cháu và thanh niên ở các làng đồng bào dân tộc trên địa bàn.

Mùa xuân là mùa khô ở Tây Nguyên, mùa lễ hội của bà con các dân tộc ở Tây Nguyên. Mùa phát rẫy làm nương, những cây đàn Klông-pút được đem ra rẫy để chơi. M ỗi dân tộc đều có nét văn hóa riêng, n hư người Rẻ Triêng có tiếng sáo Đinh-tút, người Bah Nar có tiếng đàn Goong thì đàn Klông-pút là một loại nhạc cụ truyền thống của người Xơ-Đăng.

Sử dụng nhạc cụ dân tộc là nét văn hóa độc đáo và là truyền thống gắn liền với đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số bản địa. Ngày nay, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống từ ngàn xưa để lại là một không gian văn hóa tốt đẹp, đó thực sự là một yêu cầu bức thiết hiện nay.

Người Xơ Đăng (Kon Tum) luôn gắn với môi trường lễ hội.
Người Xơ Đăng (Kon Tum) luôn gắn với môi trường lễ hội.

Điệu múa “Chiêu” độc đáo của người Xơ Đăng, Kon Tum

(TH-Cinet-DTV)

“Chiêu” là điệu múa nghi lễ độc đáo, một loại hình văn hóa phi vật thể vô cùng quý giá, góp phần tạo nên bản sắc của người Xơ Đăng ở Kon Tum.

Cũng giống như các dân tộc thiểu số khác ở Tây Nguyên, cuộc sống tinh thần của người Xơ Đăng, huyện Sa Thầy (Kon Tum) luôn gắn với môi trường lễ hội, chứa đựng nhiều yếu tố văn hóa đậm đà bản sắc. Trong đó “Chiêu” là điệu múa nghi lễ độc đáo đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ.

Theo các già làng nơi đây, “Chiêu” là điệu múa nghi lễ từ thời xa xưa, biểu hiện sự thành kính của dân làng đối với các vị thần linh. Nó chỉ xuất hiện ở những lễ hội có ăn trâu, dê, heo và lễ tang ma. Các đội múa “Chiêu” được hình thành trên cơ sở chọn lọc nghệ nhân khá chặt chẽ theo cùng độ tuổi, mỗi đội có từ 8- 16 người tham gia và luôn là số chẵn.

“Chiêu” là điệu múa nghi lễ từ thời xa xưa, biểu hiện sự thành kính của dân làng đối với các vị thần linh.
“Chiêu” là điệu múa nghi lễ từ thời xa xưa, biểu hiện sự thành kính của dân làng đối với các vị thần linh.

Nhịp chiêng trong múa “Chiêu” không dồn dập, rộn rã thúc giục mà khoan thai, đĩnh đạc. Từng cặp nghệ nhân trong vòng “Chiêu” đối diện nhau, nhún theo nhịp chiêng, xoay từ từ đến 180 độ rồi xoay trở lại về vị trí ban đầu. Vòng “Chiêu” di chuyển chậm quanh cây nêu hoặc nơi đặt người quá cố, theo hướng ngược chiều kim đồng hồ. Bàn chân của nghệ nhân “Chiêu” gần như không bước, không rời mặt đất, mà dùng gót chân và mũi bàn chân nhích dần theo hướng dịch chuyển.

Trong các bài “Chiêu”, động tác của chân cơ bản giống nhau, nhưng nhìn vào động tác tay, người ta có thể phân biệt đó là lễ hội hay lễ tang ma. Khi “Chiêu” lễ hội, dù xoay về hướng nào thì hai cánh tay của nghệ nhân cũng giữ nguyên tư thế đưa vòng ra trước ngực, lòng bàn tay hướng vào trong, các đầu ngón tay chạm nhau với vẻ mặt luôn cung kính, mời thần linh nhận những vật hiến tế như trâu, dê, heo…đồng thời cầu xin được che chở, giúp đỡ để “thóc lúa đầy kho, trâu bò đầy chuồng”. Sự thành kính trong động tác “Chiêu” của nghệ nhân làm tăng thêm yếu tố tâm linh, huyền bí của lễ hội.

Trong các lễ hội của người Xơ Đăng, Cồng- Chiêng- Xoang- Chiêu là những thành tố có mối quan hệ chặt chẽ, hòa quyện không thể tách rời.
Trong các lễ hội của người Xơ Đăng, Cồng- Chiêng- Xoang- Chiêu là những thành tố có mối quan hệ chặt chẽ, hòa quyện không thể tách rời.

Còn trong đám tang ma, hai tay nghệ nhân giang rộng tấm choàng, giống như cánh bướm dập dìu, bay lượn. Nửa thân người phía trên chao nhẹ theo nhịp chiêng tạo cảm giác lâng lâng, bay bổng. Theo quan niệm của người Xơ Đăng, lúc này người chết chưa về thế giới của ma, họ đang rong ruổi thăm bạn bè đâu đó ở xa. Ý nghĩ ấy được gửi vào điệu múa, biểu hiện sự quyến luyến đối với việc ra đi của một thành viên trong cộng đồng.

Trong các lễ hội của người Xơ Đăng, Cồng- Chiêng- Xoang- Chiêu là những thành tố có mối quan hệ chặt chẽ, hòa quyện không thể tách rời. Ở đó cồng chiêng làm nền, dẫn dắt, thổi sức sống vào nhịp xoang- chiêu. Ngược lại, xoang- chiêu tôn tạo, nâng giá trị của hồn cồng chiêng. Sự kết hợp đó tạo nên một môi trường diễn xướng hài hòa, làm cho mỗi thành tố đều thể hiện được sự độc đáo của mình. Nếu thiếu một thành tố, sự phong phú của lễ hội sẽ giảm đi rất nhiều.

Đặc biệt vai trò của “Chiêu”- vốn được xem như phương tiện giao tiếp của con người với thần linh. Nó phản ánh văn hóa ứng xử và chuyển tải tâm tư, nguyện vọng của con người với thế giới thần linh bằng động tác. Đồng thời “Chiêu” cũng mang tính nghệ thuật rất cao, đậm đặc ngôn ngữ múa. Yếu tố tạo hình được kết hợp với động tác vô cùng uyển chuyển, linh hoạt. Tất cả đều toát lên lời chào mời, dâng lễ.

xd_Peng Chu-Pi

Peng Chu–Phi – lễ hội độc đáo của dân tộc Xơ-đăng

(TH-Cinet-DTV)

Dân tộc Xơ Đăng có hơn 150 nghìn người cư trú trong vùng văn hóa Trường Sơn – Tây Nguyên. Cuộc sống gắn bó với núi rừng, nương rẫy của người Xơ Đăng đã hình thành nên những nét văn hóa độc đáo, giàu bản sắc. Trong đó, không thể không kể đến lễ hội Peng Chu –Pi.

Lễ Peng-Chu-Pi của người Xơ-đăng nói một cách dễ hiểu là giết heo, dê cúng Yàng, thần linh, ông bà, tổ tiên, Ma tốt… ăn mừng. Theo cách gọi của họ: Peng có nghĩa là bắn, Chu: Heo, Pi: Dê. Lễ cúng Yàng bằng cách bắn tên bằng ná được thực hiện.

Trước khi diễn ra lễ hội, Hội đồng già làng họp lại ở nhà rông (giớng). Tại đây, họ phân công một người lớn tuổi am hiểu về luật tục, phong tục-tập quán… của mình, sống có đạo đức, hiền lành, được mọi người kính trọng, thương mến, ông này bí mật vào rừng tìm cây Pa-geng, một loại cây có củ, lá đốm xanh bạc theo thời gian. Cây Pa-geng được chính ông này đem trồng ở Mo-Yàng (Vườn đất thiêng) dân làng cũng như người của những làng khác không hề hay biết. Khi cây Pa-geng đã lên xanh tốt, Mo-Yàng đã hình thành, đây chính là địa điểm để họ tổ chức lễ Peng Chu-Pi.

Khoảng hơn một tuần trước đó, Hội đồng già làng họp tại nhà rông, họ làm một con gà cúng để cho Yàng, thần linh, ông bà, tổ tiên, Ma tốt… biết cộng đồng làm lễ Peng Chu-pi. Tại đây, 6 thanh niên khỏe mạnh và một người lớn tuổi sẽ được phân công vào rừng tìm cây về làm cây nêu. Khi mặt trời vừa hé lộ ở hướng Đông, mọi người lần lượt tụ tập đến nhà rông, dàn trống, chiêng được lấy xuống và thử lại lần cuối, khách mời đã đến đông đủ, họ làm một con gà trống tơ chưa đạp mái, đem đến Mo-Yàng làm một bàn thờ cạnh cây Pa-geng và tiến hành làm lễ trồng cây nêu (có bao nhiêu heo, dê được giết thì có bấy nhiêu cây nêu được trồng). Họ lấy huyết gà bôi lên cây Pa-geng như báo với Yàng, thần linh, ông bà, tổ tiên, Ma tốt… rằng, lễ Peng Chu-Pi bắt đầu.

Trước khi diễn ra lễ Peng Chu-Pi, theo tập tục dân làng đến các thanh niên được chọn, lần lượt sờ vào lưng, vào đầu của từng người, sở dĩ làm như vậy là để lấy may và cầu mong hạnh phúc, khỏi ốm đau, bệnh dịch… Sau đó, những thanh niên được chọn và già làng đến khu vực trồng cây nêu, nơi cột các con vật hiến sinh heo, dê. Một tiếng hú lớn và dài của già làng như một hiệu lệnh vang vọng cả núi rừng đại ngàn trong sự im lặng của dân làng như thể hiện lòng kính trọng đối với thần linh. Tiếng hú vừa chấm dứt, trống nổi lên dồn dập mỗi người lần lượt bắn 3 mũi tên vào khu Mo-Yàng để báo hiệu lễ Peng Chu-Pi bắt đầu.

Sau nghi thức này, những thanh niên này bắn vào heo, dê nhiều mũi tên cho đến khi heo, dê lần lượt chết hết thì mới thôi. Đầu heo, dê được cắt ra đem treo ở nhà rông chờ ngày hôm sau. Heo, dê được giết mổ. Phần gan, tim, đem nướng để cúng Yàng. Tiết, thịt được chế biến và rượu dùng để cúng Mo-Yàng. Phần thịt đem nướng và chế biến nấu dùng để cúng mời Thần trời ăn trước (Pay Chim Yang). Lễ cúng Yàng, lễ cúng Mo-Yàng, cúng mời Thần trời (Pay Chim Yang) ăn trước đã xong, dân làng, khách mời tụ hết về nhà rông ăn uống, nhảy múa, các điệu trống, chiêng vang lên cho đến hết cả ngày và đêm đó thì mới thôi.

Vào ngày cuối của lễ hội, chủ yếu là lễ tại Mo-Yàng. Lễ vật cúng cho lễ này là một con gà luộc chín được đặt tại bàn thờ thiêng cạnh cây Pa-geng. Già làng chỉ huy những thanh niên hôm trước, đọc câu thần chú, cùng lúc, những thanh niên này bắn lần lượt vào rừng 3 mũi tên. Đến đây, lễ Peng Chu-Pi kết thúc. Đầu heo, dê hôm trước lấy xuống xẻ thịt chế biến các món ăn, họ mời nhau ăn, uống rượu với những lời sẻ chia chân thành, thắm tình, đạt ý. Trống, chiêng được đem treo vào chỗ cũ của nhà rông. Dân làng, khách mời, bà con anh em lần lượt ra về và chờ đợi một mùa Peng Chu-Pi năm sau.

Lễ Peng Chu -Phi từ lâu đã ăn sâu vào cuộc sống và tiềm thức của cộng đồng dân tộc Xơ-đăng. Nét văn hoá cổ truyền, độc đáo này luôn được người Xơ-đăng gìn giữ và trân trọng.

Lễ hội Mừng lúa mới – nét văn hóa đặc sắc dân tộc Xơ Đăng.
Lễ hội Mừng lúa mới – nét văn hóa đặc sắc dân tộc Xơ Đăng.

Lễ hội Mừng lúa mới – nét văn hóa đặc sắc dân tộc Xơ Đăng, Đắk Lắk

(TH-Cinet-DTV)

Lễ mừng cơm mới là lễ hội quan trọng nhất và lớn nhất trong năm của người Xơ Đăng (Đắk Lắk). Lễ do cả buôn cùng đứng ra tổ chức.

Đồng bào dân tộc Xơ Đăng nơi đây luôn có truyền thống lưu giữ, bảo tồn các bản sắc văn hóa của dân tộc. Hàng năm các làng đều tổ chức lễ đâm trâu, lúa mới…. tại mỗi buổi lễ đều tổ chức đánh cồng chiêng. Những năm qua, các lễ hội của người dân, trong đó có lễ mừng lúa mới cũng đã được tổ chức theo hướng đơn giản, tiết kiệm nhưng vẫn giữ được nét văn hóa của cộng đồng.

Trước kia tục tế Yàng mừng lúa mới của người Xơ Đăng diễn ra trong phạm vi từng gia đình, ngày nay đã trở thành lễ hội chung của cả cộng đồng, là dịp để các gia đình chuẩn bị những ché rượu cần ngon nhất, nướng cơm lam, nướng thịt góp với cộng đồng buôn để tổ chức nghi lễ trong tình đoàn kết. Già làng là người được trọng nể nhất đứng ra điều hành mọi sinh hoạt chung trong buôn, đại diện cho buôn tế lễ cảm ơn Yàng, cảm ơn thần linh cho mọi gia đình có một mùa lúa bội thu.

Bà con chuẩn bị lễ vật để cúng Yàng.
Bà con chuẩn bị lễ vật để cúng Yàng.

Vật hiến sinh cúng Yàng, thần linh gồm có 1 đầu heo và 7 con chuột nướng. Đầu heo để tạ ơn trời đất mừng lúa mới; chuột là báo cho thần linh đừng để những con vật phá hoại mùa màng năm sau. Đúng giờ tốt theo quy định của buôn, các gia đình mang lễ vật ra nhà văn hóa buôn bày biện, sau đó, già làng đứng ra làm lễ cúng và mời Yàng cùng về ăn cơm mới.

Tại buổi lễ, già làng của buôn báo cáo với Yàng về tình hình sản xuất của người dân trong buôn một năm qua, gửi đến Yàng những lễ vật mà bà con tự sản xuất, đánh bắt được như cơm lam làm từ lúa nếp tự trồng, cá suối nướng, thịt gà, thịt heo… và cầu mong Yàng tiếp tục ủng hộ, giúp mưa thuận gió hòa để công việc sản xuất được thuận lợi, bà con có cuộc sống no đủ, mọi người đoàn kết…

Sau lễ cúng Mừng lúa mới, đồng bào dân tộc Xơ Đăng biển diễn các tiết mục văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao dân gian đặc sắc như: diễn tấu cồng chiêng mừng lễ hội, thi cặp đôi trang phục đẹp, tổ chức các trò chơi mang đậm nét văn hóa dân gian truyền thống của dân tộc bản địa như: giã gạo nhanh, kéo co, đi ca keo… kế tiếp là các món ăn ẩm thực truyền thống như: rượu cần, cơm lam, canh măng, heo nướng, đặc biệt là món thịt chuột đồng nướng, là món không thể thiếu tại lễ hội …

Tái hiện lễ đâm trâu trong lễ hội.
Tái hiện lễ đâm trâu trong lễ hội.

Đây chính là dịp để cộng đồng bà con dân tộc Xơ Đăng nhằm ôn lại những phong tục tập quán truyền thống của ông cha ngày xưa; khôi phục và duy trì những nết đẹp văn hóa của dân tộc mình, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; đồng thời quảng bá hình ảnh, vốn sống văn hóa phong phú của dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Lễ hội Mừng lúa mới của đồng bào Xơ Đăng luôn diễn ra trong không khí phấn khởi, tươi vui, hòa hợp của mọi người trong cộng đồng, và rồi hứa hẹn mùa này năm sau lại cùng tụ họp với nhau làm lễ cúng Yàng, mừng mùa bội thu.

xd_Rèn

Bí quyết rèn truyền thống của người Xơ Đăng, Kon Tum

(TH-Cinet-DTV)

Người Xơ Đăng ở xã Ngọc Tem, huyện Kon Plông (Kon Tum) vẫn lưu giữ nghề rèn thủ công truyền thống, độc đáo của dân tộc mình. Với những bí quyết rèn gia truyền, bà con đã chế tác những nông cụ chất lượng, được dân làng ưa chuộng.

Cũng như cộng đồng các cư dân nông nghiệp khác, đồng bào dân tộc Xơ Đăng, xã Ngọc Tem có nghề truyền thống mang đậm nét văn hóa độc đáo đặc trưng cho dân tộc mình, đó là nghề Rèn.

Không biết cái nghề rèn của người Xơ Đăng nơi đây có từ bao giờ, chỉ biết rằng ngày xưa cái nghề này thịnh hành lắm. Nhất là thời kháng chiến, người Xơ Đăng thường rèn các mũi giáo để dân làng đánh giặc. Qua chiến tranh, từ những mảnh bom, mảnh đạn, người Xơ Đăng mình lại chế tác, rèn ra rựa, ra dao để làm rẫy, làm ruộng.

Lò rèn của người Xơ Đăng đơn giản nhưng lại rất độc đáo. Họ dùng đất sét chịu nhiệt tốt đắp dạng hình vòm, làm thành bễ lộ thiên. Nếu người Kinh dùng hai ống bễ bằng gỗ, thụt hơi bằng pít tông thì bễ thụt của người Xơ Đăng dùng dạ dày con mang đem phơi khô rồi gắn vào ống dẫn hơi, qua lực quay của thợ rèn, túi da phồng lên xẹp xuống sinh ra hơi rồi đẩy thẳng vào bể lộ thiên.

Bể lộ thiên này kín, giữ được nhiệt tốt, hơn nữa lại không để thoát hơi ra ngoài nên sử dụng rất hiệu quả, nó có thể làm than cháy đỏ và rất đều. Theo lời những người thợ rèn nơi đây, ngày trước, người Xơ Đăng rèn dụng cụ từ quặng nhưng nay đa số đều rèn từ sắt có sẵn. Từ một cục sắt, người Xơ Đăng nung cho đỏ rực rồi đem nhúng vào nước để nhiệt độ giảm đột ngột làm cho sắt non hơn để dễ đập thành sản phẩm. Sau đó, người thợ phải hình dung được hình dạng của công cụ rồi dùng đột và búa cắt thành hình công cụ cần rèn. Họ tiếp tục bỏ vào lửa nung rồi lại đập cho đến khi nào thành hình như ý.

Rèn xong, người Xơ Đăng tiếp tục sử dụng dũa (hoặc lá rừng) dũa những đoạn bị mẻ, sứt hoặc chưa đều. Khi lưỡi của vật dụng đã nhẵn, họ tiếp tục lấy đá để mài, mài thật kĩ cho đến khi đầu lưỡi sắc hơn và bong ra một lớp trắng ở đầu lưỡi thì mới thôi. Công đoạn mài không hề đơn gian, phải mài thật nhanh, thật tỉ mỉ và khéo léo thì dụng cụ mới bén như ý muốn.

Sau khi vật dụng đã có độ bén nhất định, người Xơ Đăng bắt đầu lấy máu con mang bôi đều lên lưỡi vật dụng. Đây là bí quyết riêng của người Xơ Đăng. Họ quan niệm, bôi máu con mang lên sẽ làm cho lưỡi dao, rựa, rìu… rất bén và bền, khó sứt mẻ.

Vì không dễ bắt được con mang nên khi có máu con mang người dân Ngọc Tem thường để dành sử dụng nhiều lần. Để bảo quản máu con mang được lâu, từ kinh nghiệm của cha ông truyền lại, người Xơ Đăng lấy ống nứa cạo sạch lớp ruột bên trong, sau đó đổ máu mang vô ống nứa rồi giã lá trầu và muối trộn chung vào máu. Bôi máu con mang xong, các thợ rèn tiếp tục đưa vật dụng vào đống than cho đến khi đỏ rực lên mới lấy ra, nhúng vào nước rồi lấy giẻ lau là đã hoàn thành. Mặc dù các công đoạn đều được thực hiện bằng thủ công nhưng mỗi ngày những thợ rèn lành nghề vẫn làm được từ 10-15 cái dao, Knoa…

Trong bối cảnh của một nền công nghiệp hiện đại, hàng loạt các công cụ được sản xuất bằng máy móc ra đời với đầy đủ các tính năng nhưng đối với người Xơ Đăng ở xã Ngọc Tem, các sản phẩm đó vẫn không thể thay thế được chỗ đứng của các sản phẩm thủ công chất lượng, độc đáo do chính các thợ rèn Xơ Đăng làm ra.

Người Xơ Đăng biểu diễn trong bộ trang phục bằng vỏ cây.
Người Xơ Đăng biểu diễn trong bộ trang phục bằng vỏ cây.

Bộ trang phục bằng vỏ cây của người Xơ Đăng xưa

(TH-Cinet-DTV)

Những bộ áo quần bằng vỏ cây được người Xơ Đăng (Kon Tum) xem như báu vật cổ truyền, biểu tượng linh thiêng. Họ ra sức giữ gìn và bảo vệ.

Làng Đăk Ôn (huyện Đăk Glei, Kon Tum) nằm ngay ngã ba Đông Dương, nơi đồng bào dân tộc thiểu số là tộc người Xơ Đăng định cư lâu đời trên dãy Trường Sơn hùng vĩ. Cũng chỉ nơi đây, 9 bộ trang phục bằng vỏ cây có tuổi hàng trăm năm vẫn được lưu giữ qua bao đời mang trong đó tinh thần, văn hóa riêng của người Xơ Đăng.

Những người già dân tộc Xơ Đăng ở làng hiện còn gìn giữ quần áo bằng vỏ cây. Áo quần bằng vỏ cây này được người Xơ Đăng gọi là Kong Kơ Pong. Theo già làng nơi đây kể lại, cách đây khoảng 10 năm, áo quần Kong Kơ Pong còn lưu giữ được khá nhiều nhưng do dân làng không biết, thấy ít sử dụng nên không được bảo quản kỹ dẫn tới hư hỏng. Thời gian gần đây, biết đây là đồ cổ truyền đang bị mai một nên dân làng đã tự nguyện đem những bộ áo quần bằng vỏ cây đến bàn giao cho trưởng thôn giữ gìn và bảo quản. Bởi vậy hiện nay làng Đăk Ôn vẫn còn lưu giữ được 9 bộ áo quần làm bằng vỏ cây nguyên vẹn. Những chiếc áo Kong Kơ Pong có màu vàng ươm rất độc đáo.

Ngày xưa để làm được một chiếc áo bằng vỏ cây, các thiếu nữ trong làng phải vào tận những cánh rừng già nguyên sinh giáp nước bạn Lào để tìm cây L’oongKaPoong (một loại cây giống cây mít rừng). Tìm được cây rồi họ đem về, đập giập lớp vỏ bên ngoài, lột lấy lớp vỏ phía trong rồi đem ngâm nước, rồi phơi khô. Tiếp tục lấy những lớp vỏ khô cho vào nước sôi, nấu lên, đập lại một lần nữa mới tách thành sợi để đan, dệt ra áo quần.

Bộ trang phục bằng vỏ cây của người Xơ Đăng.
Bộ trang phục bằng vỏ cây của người Xơ Đăng.

Tìm cây L’oongKaPoong để làm “vải” đã khó, tìm cây PaSănLaPần để làm chỉ khâu lại càng khó hơn vì loại cây này ít, lại mọc rải rác trong những cánh rừng già. Lấy cây về phải cặm cụi chẻ nhỏ ra, tách thành sợi dài rồi bỏ vào cây lồ ô đem nướng trên bếp, nướng càng lâu thì sợi chỉ càng bền. Được biết phải dùng đến 5 cây L’oongKaPoong và 1 cây PaSănLaPần mới làm được một bộ đồ có chiều dài từ 1,2-1,5m.

Thông thường áo được may theo kiểu dáng cổ tròn, không có tay, toàn bộ chiếc áo chỉ có hai đường khâu kín đáo ở hai bên nách, mặt trong rất láng vì được mài nhẵn còn mặt ngoài sần sùi hơn.

Vì không còn ai làm được áo vỏ cây, hơn nữa sợ 9 chiếc áo bị hư hỏng nên phải đến những ngày lễ lớn như Tết Nguyên đán, lễ hội đâm trâu, các thành viên trong đội cồng chiêng của làng mới được vinh dự khoác những chiếc áo quý giá của dân tộc.

Cùng với các nhạc cụ như cồng chiêng, sử thi thì sự độc đáo của 12 bộ áo bằng vỏ cây mà tộc người Xơ Đăng đang gìn giữ, góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc dân tộc Việt Nam.

Nhà sàn tộc Xơ Đăng.
Nhà sàn tộc Xơ Đăng.

Nhà sàn của người Xơ Đăng

(TH-Cinet-DTV)

Đàn ông Xơ Đăng không chỉ có tinh thần thượng võ, mà còn tài nghệ trong kiến trúc, điêu khắc và hội họa, tạo nên những sản phẩm tiêu biểu, trong đó có ngôi nhà sàn.

Cư trú tập trung ở tỉnh Kon Tum, một số ít ở miền núi của tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Nam và Đà Nẵng, người Xơ Ðăng chủ yếu làm rẫy là chính. Họ định cư ở lưng chừng những sườn núi trọc hình bầu dục, mỗi nóc có khoảng vài chục hộ gia đình, được bảo vệ bằng hàng rào lồ ô khép kín có lối ra và cổng vào. Ranh giới giữa các nóc được phân định bởi các con suối hoặc ngọn đồi cao. Họ ở nhà sàn thấp vừa hình chữ nhật, mái lợp tranh, vách bằng gỗ, sàn trên dùng để ở và sinh hoạt, phần dưới để đồ dùng và nuôi gia súc.

Tùy theo số thế hệ và thành viên sống trong một gia đình mà ngôi nhà sàn được làm lớn hay nhỏ và số lượng cột cũng khác nhau. Nếu nhà sàn lớn thì thường bố trí từ 18 – 20 cột (trong đó có 2 cái ở đầu hồi). Cột được dựng chung quanh khuôn viên của ngôi nhà thành hai hàng, với số lượng phía trước bằng phía sau. Do địa hình đồi núi, nhà thường bố trí dựa vào sườn đồi nên hàng cột sau luôn ngắn hơn so với hàng cột trước từ 0,5 – 1m. Riêng hai cột cái bố trí dài hơn cột con khoảng 1,5 đến 2m, được chôn sâu dưới lòng đất và dựng thẳng lên đến hai đầu hồi của nóc nhà. Hệ thống cột được kết nối với nhau bằng các cây “dầm” (đà) gỗ, những cây đà này cũng được bố trí ngang nhau thành một mặt phẳng để làm bệ đỡ cho sàn nhà. Cột cái kết nối với cột con bằng các vì kèo.

Khác với người Giẻ-triêng (sàn nhà được làm bằng gỗ), sàn nhà của người Xơ đăng thường làm bằng lồ ô. Họ chặt những cây lồ ô dài đúng bằng chiều dài của ngôi nhà, sau đó đập dập ống lồ ô và trải ra thành một miếng hình chữ nhật, lắp sát lại với nhau trên hệ thống đã làm sẵn tạo thành một sàn hoàn chỉnh.

Vách nhà được làm bằng những tấm gỗ xẻ mỏng, dài độ 2m, ngang khoảng 0,4m, đóng dựng đứng sát vào nhau bao quanh hàng cột theo đúng chu vi của một ngôi nhà (trừ các cửa ra vào). Một ngôi nhà sàn truyền thống của người Xơ Đăng thường chỉ bố trí 3 cửa ra vào. Trong đó, cửa chính nằm ở trung điểm của vách trước và hướng thẳng về con suối lớn – nơi có nguồn nước phục vụ cho dân làng hoặc ngọn núi nơi mặt trời mọc (vì người Xơ Đăng quan niệm thần nước, mặt trời, ông đất là những vị thần tối cao của dân tộc họ). Khách, người lạ mặt thường được chủ nhà đón tiếp từ cửa này. Hai cửa phụ được đặt ở đầu hồi ngôi nhà. Trong đó cửa phụ hướng Đông là nơi có máng nước chảy về nên thường bố trí các vật dụng nấu, nướng, sinh hoạt ở cửa này. Cửa hướng Tây thường được mở những khi nhà đông khách hoặc dịp có lễ hội…

Cầu thang của ngôi nhà sàn khá chênh vênh chỉ với 1 thân gỗ.
Cầu thang của ngôi nhà sàn khá chênh vênh chỉ với 1 thân gỗ.

Nhà của người Xơ Đăng có kết cấu gồm hai mái chính (mái trước và mái sau) có độ dốc không lớn. Riêng nơi hai đầu hồi được làm thêm hai chái để che tạm nắng, mưa. Mái lợp bằng tranh, tranh lợp được bố trí thành từng mớ nhỏ đặt sát vào nhau theo từng hàng có nẹp giữ chồng lên đòn tay (hoành) theo thứ tự từ dưới lên đến nóc như kiểu chằm nón lá.

Trang trí và sắp đặt các vật dụng sinh hoạt trong một ngôi nhà truyền thống của người Xơ Đăng được bố trí một cách khá nề nếp. Những kỷ vật gia truyền quý báu như: cồng chiêng, choé, trống, nồi đồng… được sắp xếp trên một giá kỹ lưỡng nằm sát phía trong bờ vách sau. Thông thường trong một ngôi nhà sàn truyền thống của họ có hơn một thế hệ sinh sống. Bếp nấu ăn được bố trí ở hướng Đông của ngôi nhà. Khi người con trai trong nhà đã lập gia đình thì phải ăn riêng và lập một bếp nấu ăn phụ ở hướng Tây của căn nhà. Giàn bếp là nơi cất giữ thức ăn, giống cây trồng, các đồ dùng sinh hoạt, lao động sản xuất của mỗi thế hệ liên quan trọng.

Ngoài ra, mỗi làng Xơ Ðăng đều có nhà rông, có bãi mộ chôn người chết… Nhà cửa của dân làng quây quần bên nhau, mọi người gắn bó giúp đỡ nhau. Nóc và mái nhà rông được tạo dáng như cánh buồm lớn hoặc lưỡi rìu khổng lồ ngửa lên trời. Có hình chim chèo bẻo hay hình sừng thú chót vót ở hai đầu đốc.

Nhà rông được dân làng tạo dựng nên hoàn toàn bằng thảo mộc có sẵn ở địa phương. Kỹ thuật xây dựng chỉ là lắp ghép và chằng buộc, không hề dùng đến đinh sắt, dây thép… Nhà rông thực sự là công trình kiến trúc, một sản phẩm văn hóa, là trụ sở và câu lạc bộ trong làng của đồng bào Xơ Ðăng.

Ống vôi của dân tộc Xơ đăng.
Ống vôi của dân tộc Xơ đăng.

Nhận diện sử thi Xơ Đăng

(Nguyễn Xuân Kính – Vũ Hoàng Hiếu – Viện Nghiên cứu văn hoá)

  1. Lịch sử sưu tầm, nghiên cứu hơ m’uan Xơ Đăng

Nếu như trên mảnh đất Tây Nguyên, sử thi Ê Đê được thế giới biết đến từ năm 1927 qua bản dịch tiếng Pháp của L. Sabatier, sử thi Mơ Nông được giới nghiên cứu Việt Nam biết đến muộn hơn vào cuối những năm 80 của thế kỉ XX thì Hơ muan Xơ Đăng mà PGS. TS. Võ Quang Trọng là người đầu tiên xác định là sử thi mới chỉ được phát hiện và sưu tầm vào thời gian từ cuối năm 2001 đến giữa năm 2002.

Người Xơ Đăng đã sinh sống lâu đời ở vùng bắc Tây Nguyên. Năm 1998, GS. Đặng Nghiêm Vạn cho biết: họ có gần 100.000 người, “bao gồm năm nhóm địa phương chính: Xơ Teng, Tơ Đrá, Mơ Nâm, Ca Dong và Ha Lăng. Họ cư trú ở miền bắc tỉnh Kon Tum, trong sáu huyện: Đắc Tô, Sa Thầy, Đắc Glây, Kon Plông, Ngọc Hồi và Đắc Hà. Ngoài ra, họ còn sinh sống ở huyện Trà My thuộc tỉnh Quảng Nam và huyện Sơn Hà thuộc tỉnh Quảng Ngãi (15.000 người)”(1). Hiện nay huyện Kon Plông được tách thành hai huyện Kon Plông và Kon Rẫy; huyện Đăc Tô được tách thành hai huyện Đắc Tô và Tu Mơ Rông.

“Tên gọi Xơ Đăng là tên do người Ba Na gọi chệch từ tên tự gọi của nhóm địa phương đông đảo và chủ yếu nhất của dân tộc Xơ Đăng là Xơ Teng hay Xơ Đang, về sau dần dần được mặc nhiên chấp nhận”(2).

Như mọi người đã biết, năm 2001, Chính phủ phê duyệt và giao cho Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) chủ trì, phối hợp cùng các tỉnh Tây Nguyên thực hiện Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên.

Trung tuần tháng 12 năm 2001, PGS. TS. Võ Quang Trọng, với cương vị là Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian (nay là Viện Nghiên cứu văn hoá), là Trưởng nhóm điều tra, sưu tầm tại tỉnh Kon Tum đã phát hiện sử thi của người Xơ Đăng. Địa điểm phát hiện là “làng Kon Gu 1, gọi theo tên mới là thôn 5 thuộc xã Ngọc Vang, huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum. Xã Ngọc Vang cách thành phố Kon Tum khoảng 35 km. Ngọc Vang có tám thôn người dân tộc Xơ Đăng thuộc nhóm Tơ Đrá cư trú và một làng cũ là Kon Chon, Kon Ré, Kon Ri, Kon Stiêu, Kon Gu 1, Kon Gu 2, Kon Prăm, Đắk KDem”(3).

Theo sự khảo sát của PGS. Võ Quang Trọng, tại xã Ngọc Vang vào thời điểm năm 2001 chỉ có một mình nghệ nhân A Ar hát kể sử thi hay nhất, một vài người khác chỉ biết kể vắn tắt.

Tại tỉnh Kon Tum, trên địa bàn các huyện Đắc Hà, Đắc Tô, khi kết thúc Dự án sử thi, nhóm điều tra, sưu tầm đã sưu tầm được 106 bản kể, trong đó nghệ nhân A Ar hát kể 82 bản, còn lại là bản kể của các nghệ nhân: A Bih, A Hy Ai, A Ling, A Loan, A Lung, A Nglêuh, A Ri, A Tờ, A Vanh, A Yin, Đinh Viên, Plui Kong Ur, Rơ Ma Jouh, Ubrăng, Y Phi Em.

Trong bộ sách Kho tàng sử thi Tây Nguyên (2004 – 2007) đã có bốn tác phẩm được xuất bản. Đó là:

Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ
– Dăm Duông cứu nàng Bar Mă
– Dăm Duông hoá cọp
– Dăm Duông trong lốt ông già.

Hai tác phẩm trên được in thành một tập, Nhà xuất bản Khoa học xã hội công bố năm 2006. Hai tác phẩm dưới được in thành một tập, Nhà xuất bản Khoa học xã hội ấn hành năm 2007(4).

Trên phương diện nghiên cứu giới thiệu, trên Tạp chí Văn hoá dân gian số 3 năm 2002, PGS. TS. Võ Quang Trọng công bố bài “Đăm Giông, phát hiện mới về sử thi của người Xê Đăng ở Kon Tum”. Tác giả cho biết, từ trung tuần tháng 12 năm 2001, lần đầu tiên đã phát hiện ra sử thi của người Xơ Đăng tại xã Ngọc Vang, huyện Đắc Hà, tỉnh Kon Tum. Ông giới thiệu về nghệ nhân A Ar, về nội dung một tác phẩm sử thi và nêu vài nhận xét bước đầu. Trong bài viết, tác giả không dùng từ (người) Xơ Đăng mà viết Xê Đăng, gọi tên tác phẩm là Đăm Giông. Trên Tạp chí Văn hoá dân gian số 4 năm 2002, tác giả công bố tiếp bài “Đăm Duông – bộ sử thi liên hoàn của người Xê Đăng”. Trong bài viết, tác giả giới thiệu sơ lược về người Xơ Đăng ở Kon Tum, thông báo kết quả điều tra, sưu tầm từ cuối năm 2001 đến giữa năm 2002 đã thống kê, lập danh sách được trên 30 tác phẩm. Tác giả cũng phác hoạ vài nét về Duông. Ông viết: “Nhân vật chính xuất hiện, tồn tại và hành động xuyên suốt các tác phẩm sử thi đó là Đăm Duông. Hầu hết các tác phẩm sử thi kể trên đều liên quan đến nhân vật Duông, nhân vật có uy tín lớn trong hệ thống các tác phẩm sử thi Xê Đăng. Đăm Duông là cháu của ông Gleh, con của Sét và Bia Jit. Chàng tiêu biểu cho chàng trai Xê Đăng: thông minh, gan dạ, dũng cảm, siêng năng và giàu lòng nhân ái”(5).

Ở bài này, khi chỉ tộc người, tác giả dùng từ Xê Đăng, còn tên nhân vật chính được viết là Duông. Qua các tác phẩm đã công bố, chúng ta thấy rằng tên tác phẩm mà lúc đầu Võ Quang Trọng gọi là Đăm Giông (trong bài viết trên Tạp chí Văn hoá dân gian, số 3 năm 2002) chính là Dăm Duông cứu nàng Bar Mă trong tập sách được Nhà xuất bản Khoa học xã hội công bố năm 2006.

Những thông tin nêu trên phản ánh việc công bố kịp thời một phát hiện lớn của công cuộc điều tra, sưu tầm sử thi Tây Nguyên. Những sự chỉnh sửa về sau là dễ hiểu. Những phân tích kĩ hơn về nội dung và nghệ thuật của bốn tác phẩm sử thi Xơ Đăng được PGS. TS. Võ Quang Trọng và ThS. Bùi Ngọc Quang thể hiện trong bốn bài giới thiệu in trong hai tập sách về sử thi Xơ Đăng (công bố năm 2006 – 2007) mà chúng tôi đã nhắc đến ở trên.

Như vậy, so với các sử thi Ê Đê, Mơ Nông, Ba Na, việc sưu tầm, xuất bản sử thi Xơ Đăng được tiến hành muộn hơn, số tác phẩm công bố ít hơn; còn việc nghiên cứu, giới thiệu nó cũng chưa được tiến hành đầy đủ và kĩ lưỡng.

  1. Nhận diện hơ m’uan Xơ Đăng qua bảy bản dịch

Như trên đã nói, 106 bản kể sử thi Xơ Đăng hiện đang được lưu trữ tại Viện Nghiên cứu văn hoá. Trong số bản kể đó, chỉ có bốn tác phẩm được biên dịch và công bố trong các năm 2006 – 2007:

  1. Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ
  2. Dăm Duông cứu nàng Bar Mă
  3. Dăm Duông hoá cọp
  4. Dăm Duông trong lốt ông già.

Hiện nay, Viện Nghiên cứu văn hoá vừa mới tổ chức biên dịch và biên tập văn học được ba tác phẩm nữa:

  1. Duông đi theo thần Tung Gur
  2. Duông làm thủ lĩnh
  3. Duông làm nhà rông(6).

Bởi vậy, những nhận xét của chúng tôi về sử thi Xơ Đăng chỉ là kết quả của việc quan sát, phân tích bảy bản dịch vừa nêu.

I.Hơ m’uan cho thấy người Xơ Đăng chăm chỉ làm lụng, thích sống hoà thuận, thanh bình trong buôn làng

  1. Dăm Duông là chàng trai Xơ Đăng rất chăm chỉ làm việc. Mặc dù không được ăn uống đầy đủ, nhưng chỉ trong vài ngày Duông đã làm sạch cỏ cả đám rẫy rộng lớn của nhà ông Dur Teh. Khi ở nhà ông Tung Brung, Duông đi chặt nứa, chặt lồ ô, rồi chẻ rồi vót, đan những chiếc rổ rất đẹp. Với những chiếc rổ đó, hai cô gái Măng Yang và Rang Hu không những chỉ có dụng cụ xúc cá tốt mà còn đem đổi được gà, được những tấm chăn để đắp(7). Ngay cả sau khi bị kẻ xấu hãm hại phải đội lốt cọp, Dăm Duông vẫn giúp đỡ người khác. Đợi khi màn đêm buông xuống, hai cha con nàng Bar Mă đã ra về, chàng đã gom các khúc cây cháy dở lại thành đống rồi dọn sạch rẫy cho họ(8). Không chỉ có thế, chàng còn làm một ngôi nhà mới cho gia đình Bar Mă(9). Ngoài ra Duông còn rất giỏi bắt cá ở dưới sông suối(10).

Trong Duông đi theo thần Tung Gur, khi chàng lang thang đến làng ông Nhâk Kân, được ông và Bar Mă – con gái ông mời ở lại sống cùng gia đình, chàng đã một mực từ chối với lí do chàng không muốn làm phiền tới họ vì tự nhận mình là kẻ lười làm, nhác việc. Nhưng trên thực tế, trong suốt thời gian ở đây, Dăm Duông đã cho thấy chàng là một người siêng năng, chịu thương chịu khó. Chàng tỏ ra thông thạo mọi việc; khi biết ông Nhâk Kân muốn làm một việc gì, chàng đều chủ động giành làm trước. Ông Nhâk Kân rất hài lòng khi sống cùng với Dăm Duông, thậm chí ông còn vui mừng thốt lên: “Con ơi! Ta không biết phải làm gì nữa. Việc gì con cũng làm hết cả. Ta chỉ đứng nhìn con làm thôi. Ta trở thành một ông chủ trông coi con làm việc”. Nhờ có Duông mà việc nương rẫy nhà ông Nhâk Kân trở nên suôn sẻ. Chỉ trong một đêm, Duông và những người bạn của chàng đã phát được một đám rẫy rộng mênh mông chiếm trọn mười ngọn đồi, khiến dân làng ai nấy đều ngạc nhiên, khâm phục. Phát rẫy xong, Duông lại chăm chỉ cùng Bar Mă trỉa lúa. “Vài ngày sau, cả rẫy nhuộm một màu xanh ngắt. Lúa đã lên cao, che kín lưng chim cu đất”. Đến khi những gia đình khác, những ngôi làng khác bắt đầu rậm rịch đốt rẫy thì Duông đã chuẩn bị thu hoạch. Nhờ Duông, năm đó gia đình ông Nhâk Kân đã có một vụ mùa bội thu.

Không chỉ giỏi việc nương rẫy, Duông còn thành thạo việc săn bắn. Một lần, Duông đem ná vào rừng săn thú. Chỉ trong một buổi chiều mà chàng đã bắn được không biết bao nhiêu là thú: nào cheo, nào mang, nào trĩ, nào sóc, nào lợn lòi… Con lợn Duông bắn được to đến nỗi chàng phải gọi tất cả anh em đến để khiêng. Khi mọi người đến, ai nấy đều trầm trồ kinh ngạc, tán tụng Duông tài giỏi vì đã bắn được con thú rừng to lớn đến như vậy. Anh em Duông rất muốn chàng ở lại làng vì nhờ có chàng mà ngày nào họ cũng có thịt thú rừng để ăn. Ngoài việc săn bắn và làm rẫy, Duông còn biết dựng chòi rẫy rất nhanh, đan gùi rất giỏi, nói chung là làm việc gì cũng khéo(11).

Người làm việc giỏi không chỉ tự mình làm, mà còn biết hướng dẫn, trông coi những người cùng làm. Có cả một sử thi kể chuyện “Duông làm nhà rông”. Ông Gleh cùng với các già làng quyết định làm nhà rông mới thay cho nhà rông cũ đang dần đổ nát. Duông được các già làng giao cho trông coi việc làm nhà này. Duông nói với mọi người rằng, phải làm ngôi nhà rông mới cao to, bề thế nhất vùng. Duông điều động cả làng tham gia: con trai khoẻ hơn thì vào rừng chặt cây to, loại tốt nhất để làm cột, làm kèo; con gái thì chặt cây nhỏ làm rui, cắt cỏ tranh để có cái lợp mái, một số khác thì vào rừng nấu ăn cho đám trai tráng; người già thì vót mây, chẻ tre đan phên; hai anh em Duông, Diă thì đi bứt dây song mây trong rừng. Dân làng đều nhiệt tình. Do sự nỗ lực của mọi người, dưới sự hướng dẫn của Duông, lại được Nhện thần giúp đỡ, cuối cùng chiếc nhà rông mới, to đẹp nhất vùng đã hoàn thành.

  1. Trong bảy tác phẩm đã dịch, không có những tình tiết con cái chống lại cha, anh em ruột thịt xâu xé nhau, người trẻ hỗn hào với người già, dân làng chống lại thủ lĩnh. Bản thân Duông luôn làm tốt vai trò, trách nhiệm của người con, người chồng, người anh em trong gia đình. Chàng nói: “Phận con cháu phải vâng lời người lớn. Người lớn bảo chúng ta làm thế nào thì phải làm thế nấy. Ông, bà, cha, mẹ sinh ra chúng ta, nuôi nấng chúng ta từ bé biết bao khổ cực, lẽ nào chúng ta lại không nghe lời?

Vâng! Con xin vâng lời cha. Con sẽ cố gắng sống làm sao cho vừa lòng mọi người, vui lòng cha mẹ. Điều gì cha không mong đợi, con cũng không làm”(12). Trong cuộc rượu, Dăm Duông tỏ ra là người biết nhìn trước ngó sau, biết tôn ti trên dưới: “Nàng phải mời cha, mời mẹ trước, vì cha mẹ là chủ nhà. Cha mẹ phải được mời uống trước. Đằng này lại mời con cái uống trước, như thế là không đúng”(13).

Trong tác phẩm Duông làm thủ lĩnh, sau khi nghe cha và anh bàn về chuyện hôn nhân của mình, Duông đã nói với cha: “Cha ơi! Cha là người chủ của con, con chỉ nhờ cậy cha. Nếu cha không bảo, mặc dù Bar Mă có ở luôn với con, con cũng không biết làm thế nào. Cha có bằng lòng cho con lấy vợ thì con mới dám lấy. Cha không bằng lòng cho con lấy vợ thì con sẽ không lấy”(14); Duông đã nói với các anh của mình: “Các anh hãy ngồi suy nghĩ những điều em đã nói từ nãy đến giờ. Có những câu gì chưa đúng, những lời nào sai; đúng thì anh nhớ, còn sai thì hãy sửa giùm em”(15). Khi đến nhà nàng Bar Mă (ở làng khác), được dự đám cưới của con gái ông Nur Lao lấy con trai ông Tur Ri Mu, “Duông đứng lên nói:

– Thưa tất cả mọi người, bây giờ tôi xin nói thế này. Trước hết, xin thưa cùng mọi người. Tôi là Duông, con trai ông Gleh, ở nơi thượng nguồn dòng sông bên xứ Hơ Dang Wang Mơ Nâm, tôi không phải là người làng này, tôi cũng là khách mời. Đáng lẽ tôi không có mặt ở đây, tôi phải đi tới mấy làng dưới kia. Nhưng khi đi ngang qua làng này, gặp bác Tur Ri Mu bảo phải nán lại đây nên tôi mới có mặt buổi hôm nay, trong đám cưới này. Tôi cũng giống như bao người khách khác, không phải là người của làng này. Chủ nhà bảo tôi nói chuyện với mọi người. Tôi biết nói gì, tuổi đời tôi còn nhỏ. Tôi chưa phải là người lớn, nói năng còn thiếu suy nghĩ, không rành rọt, không trôi chảy. Lời nói ra còn nhiều sai sót. (…).

Bây giờ tôi xin nói thế này. Trước hết tôi xin tạ ơn thần linh, thần thánh. Tạ ơn thần núi cao, thần sông dài. Tạ ơn thần sấm sét ngự trên trời cao đã cho chúng ta sức khoẻ và gặp nhau hôm nay. Thứ hai, tôi coi làng này cũng như chính làng của tôi vậy, nên tôi muốn nói đôi lời dặn dò: khi chúng ta uống rượu… các cô gái và các chàng trai làng cũng như ngay cả người già cả, chúng ta phải biết thương yêu nhau. Chúng ta phải làm thế nào cho ngày vui hôm nay thật là vui, ăn uống đàng hoàng tử tế, không để có sự rắc rối xảy ra. Không được một ai gây sự, chửi bới nhau hoặc đánh lộn nhau. Đó là điều cấm kị, không để xảy ra trong ngày vui này. Cháu nói như thế, các bác, các ông thấy có phải không? Có đúng không?”(16).

  1. Qua các bản dịch, người đọc thấy một nét đặc sắc ở người Xơ Đăng là họ chăm chỉ làm việc, nhưng không làm đến mức căng thẳng, kiệt lực. Trong quá trình dựng nhà rông, khi họp bàn, lúc vào rừng đốn gỗ, cắt tranh, khi xuống sông bắt cá, lúc làm lúc nghỉ, lúc ăn, lúc trò chuyện,… Đó là sinh hoạt thường ngày của họ, một cuộc sống ổn định và thanh bình. Đoạn văn sau kể về làng của ông Gleh (cha của Duông) giúp ta hình dung cụ thể hơn sự thanh bình, thảnh thơi ấy: “Sau khi trồng trỉa xong, họ cùng các cô gái trong làng lên rừng để chặt cây mây và hái đọt mây làm thức ăn. Còn các nàng Bia Môn, Bia Bar, Bia Pêng, Bia Puôn, Rang Tôl, Yăng Chau, Plôi Goi, tất cả có bảy chị em, ai cũng xinh xắn, với dáng hình thon thả, bước đi uyển chuyển, kẻ trước, người sau, trên lưng mang gùi cùng nhau đi hái rau diệu, đi hái hoa rừng bên bờ sông, bờ suối. Mùa này đang rảnh rang, mùa để cho các cô gái lên rừng, xuống bờ sông, bờ suối tìm hoa, hái rau. Họ vừa đi, vừa hát cười đùa vui vẻ; tuổi trẻ thường vui nhiều, buồn ít. Các nàng mang theo những chiếc ô che nắng. Họ đi ven theo con đường vắng đến ven sông. Khi các nàng bước đi, những bước chân nhịp nhàng như ánh chớp lập loè của những cặp đùi trắng nõn nà, lúc ẩn lúc hiện trong những bộ váy đẹp.

Những người đàn ông, đàn bà trong làng lúc này cũng rảnh rang, thảnh thơi, họ không còn vướng bận công việc ngoài rẫy. Do vậy, người ta dành thời gian cho việc dệt khăn, đan gùi và làm mọi thứ khác”(17).

  1. Hơ m’uan phản ánh những sinh hoạt thường ngày, phong tục tập quán và cách ứng xử bè bạn, thân thiện với môi trường tự nhiên, thiên nhiên

Từ những sinh hoạt thường ngày như làm rẫy, đan lát, đánh bắt cá, sự trao đổi sản phẩm, ăn uống, tiếp khách, cách xưng hô giữa các thành viên trong gia đình, ở nơi công cộng cho đến tình yêu, hôn nhân đều được phản ánh trong bảy tác phẩm sử thi.

Nếu như người Ê Đê, người Mơ Nông đã biết thuần dưỡng voi thì người Xơ Đăng chưa làm việc đó. Vì vậy các nhân vật trong sử thi chỉ cưỡi ngựa, phi ngựa mỗi khi cần đi nhanh, đi xa; hình ảnh con voi vắng bóng.

Trong các tác phẩm sử thi, đặc biệt là trong tác phẩm Dăm Duông trong lốt ông già, nhiều chim, thú có mặt. Trong chuyến chu du của mình, Dăm Duông gặp rất nhiều loài muông thú. Đầu tiên, chàng gặp các loài chim như chim cu, chim tre wet, chim bồ chao, chim tar yang… Chàng đi theo và học được tiếng hót véo von, thánh thót của chúng. Sau đó, Dăm Duông còn gặp nhiều loài thú như khỉ, vượn, trăn, cọp, cá sấu, rồng, thuồng luồng… Lang thang trong rừng sâu, Dăm Duông đã trở thành người bạn thân thiết của các loài muông thú từ lúc nào không hay. Chàng hoà mình vào cuộc sống của những người bạn thú và học được rất nhiều điều hay. Đi đến đâu chàng cũng được đón chào yêu mến. Chàng được những người bạn chim thú tặng những chiếc áo da của chúng để khi chàng khoác vào sẽ biến thành đồng loại với tất cả sức mạnh và sự khéo léo của chúng. Nhờ chiếc áo da của chim tre wet, Duông hóa thành một chú chim có cặp chân màu vàng óng ả và bộ lông tuyệt đẹp. “Chim” được nàng Bar Mă bắt đem về nuôi, chăm sóc chu đáo, yêu quý đến nỗi từ lúc “chim” bay đi, suốt ngày nàng ủ rũ khóc thương, không thiết làm bất cứ việc gì. Chúng tôi chia sẻ với nhận xét rằng, sử thi Dăm Duông trong lốt ông già “mang một thông điệp mang tính thời đại. Đó là vấn đề thiên nhiên và môi trường, mối quan hệ tương tác giữa con người và thiên nhiên. Con người là bạn, con người hoà vào thiên nhiên, được thiên nhiên nuôi dưỡng. Ngược lại, con người tàn phá thiên nhiên thì sẽ nhận được sự phẫn nộ của thiên nhiên”(18).

Trong tác phẩm Duông theo thần Tung Gur, độc giả sẽ không khỏi ngạc nhiên trước sự chủ động của người phụ nữ trong tình yêu và hôn nhân. Ngay từ lần đầu tiên gặp Dăm Duông, Bar Mă đã có cảm tình đặc biệt với chàng. Càng thương chàng phải sống xa nhà, bơ vơ từ nhỏ, Bar Mă càng cảm phục chàng đã vượt qua những năm tháng khó khăn bằng nghị lực phi thường. Và nàng đã không ngần ngại thể hiện tình cảm của mình với người mà nàng yêu mến. Nàng đã mời Duông về nhà và thậm chí còn mời Duông ở lại sống cùng gia đình. Chưa hết, nàng còn cảm thấy Duông chính là người đàn ông của cuộc đời mình. Nàng muốn cưới và phải cưới bằng được người đó làm chồng. Không ít lần, Bar Mă đã giãi bày những suy nghĩ, tình cảm của mình. Nàng nói với cha: “Cha ơi! Chàng ta phải thuộc về con cha nhé”, “Con chấm rồi, bông này con sẽ tô thêm cho tươi thắm, cho đẹp xinh hơn, con sẽ dùng thuốc để cây không có bệnh. Cha ơi! Hoa đó là của con, nhất định không ai có thể cướp mất của con”(19). Có lúc, Bar Mă còn mạnh bạo cho cha của Dăm Duông biết: “Bác ơi! Con muốn nói thật điều này với bác… Dù Duông có yêu hay không yêu, con xin nói thẳng Duông vẫn phải thuộc về con”(20). Nàng yêu Duông và dám công khai thể hiện tình cảm của mình với người mình yêu. Nàng không rời Duông nửa bước. Duông đi đâu, nàng theo đó, nàng chia sẻ với Duông mọi việc. Khi được Duông ngỏ lời cầu hôn, Bar Mă đã không cần phải kiềm chế niềm hạnh phúc. Nàng bộc lộ niềm hạnh phúc ấy một cách tự nhiên như chính con người nàng.

Khi Dăm Duông và Bar Mă đã thành vợ chồng, thời gian đầu họ sống ở nhà ông Nhâk Kân, sau đó lại chuyển về sống ở nhà ông Gleh, và cứ như thế, họ lần lượt sống ở mỗi bên nội – ngoại một thời gian. Cặp đôi Dăm Dia và Rang Hơ Long cũng vậy. Dăm Dia lấy Rang Hơ Long và ở bên nhà vợ suốt năm năm. Sau đó, chàng xin cha mẹ vợ cho phép đưa vợ con về làm ăn, sinh sống ở làng mình. Đấy là những biểu hiện của hình thức cư trú luân phiên trong hôn nhân mà cho đến nay vẫn tồn tại trong đời sống xã hội của người Xơ Đăng. Hình thức cư trú luân phiên trong hôn nhân và sự chủ động của người phụ nữ trong tình yêu đã cho thấy trong xã hội Xơ Đăng, người phụ nữ nhìn chung có địa vị bình đẳng với nam giới, và đó chính là nét đặc trưng của chế độ song hệ.

  1. Hơ m’uan phản ánh chiến tranh và những xung đột cá nhân của người Xơ Đăng
  1. Trong bảy tác phẩm đã biên dịch, có ba cuộc chiến tranh với những nguyên nhân khác nhau.
  2. Trong tác phẩm Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ, lí do của cuộc chiến là để trừng phạt kẻ ăn ở tàn ác, không biết điều. Duông là cậu bé đi chăn trâu chẳng may do sơ suất để trâu phá hết năm mươi bụi chuối và năm mươi bụi mía của ông Dur Teh. Con trai ông Du Teh là Duông Nâng tức giận chém chết đàn trâu, bắt Duông đền bù số mía và chuối. Ông Glaih (là cha của Duông) mặc kệ cho Duông phải lo. Duông bị Duông Nâng quát tháo, mắng chửi, bị bắt làm tôi tớ, thậm chí hắn đem Duông đi bán. Hai ông Tung Brung và Pom Moh mua được Duông, yêu quý chàng như con đẻ. Sau khi biết chuyện Duông Nâng đối xử tàn tệ với Duông, hai ông hết sức tức giận. Họ gọi thêm Măng Lăng và một số người khác, bàn việc đánh Duông Nâng để trả thù cho Duông. Họ nhờ người báo trước cho Duông Nâng chuẩn bị. Đây là lời Măng Yang (con gái ông Tung Brung) nói với Bar Mă (người cùng làng với Duông Nâng): “Cha của chị có dặn thế này: Hãy nói với Duông Nâng rằng ba ngày nữa cha chị sẽ đến đây giao chiến với Duông Nâng. Hiện giờ cha chị đang bàn với các chú Măng Lăng, chú Ring Rông, Ring Grang. Nói cho Duông Nâng nếu có họ hàng có ai muốn giúp hắn đánh nhau, cứ mời. Đánh nhau phải đàng hoàng, chứ không thích đánh cướp, đánh lén. Cha dặn bọn chị nói như thế”(21).

    Trong tác phẩm Duông làm thủ lĩnh Duông làm nhà rông thì nguyên nhân của chiến tranh là do các đối thủ (Tur Gôk – vua dưới nước và Nhâk Kân – kẻ đội lốt thuông luồng ở làng dưới) ghen tức với thủ lĩnh làng khác (ghen tức về danh tiếng của Duông, vì ngôi nhà rông mới của làng Duông to cao, lộng lẫy).

    Về quy mô và phương thức của chiến tranh, đây là những cuộc chiến giữa các làng đậm chất thần thoại.

    Trong tác phẩm Duông làm thủ lĩnh, thủ lĩnh của một làng dưới nước là Tur Gôk cử quân tướng đến đánh Dăm Duông. Măng Lăng (tướng của Tur Gôk) trong lốt ba ba khổng lồ đào bới dưới lòng đất về phía làng mà Duông đang ở hòng làm sụp đổ nhà cửa của cư dân nơi đây. Những chàng trai bên phía Duông đã bê các tảng đá lớn ném về phía trước để cản trở đối phương. Sau khi các chàng trai lực lưỡng ném đá vào các hang do Măng Lăng đào, bắt trói được Măng Lăng, cuộc chiến mặt đối mặt giữa hai bên bắt đầu:

    “Các thủ lĩnh và quân lính của Tur Gôk với thuẫn, khiên, mác, giáo, cung tên đã sẵn sàng.

    Từ trên mặt đất, quân Duông bắn xuống hồ nước hàng ngàn tên trút như mưa rào, phát ra những tiếng đing đing… đing đing… Cá lớn, cá bé chết không còn một con. Những con tôm, những con cua chết la liệt nổi đầy mặt nước. Bắn xong, mặt nước yên lặng đìu hiu, những tảng đá, cục đá nhỏ vỡ nát tan tành. Nhiều mũi tên bắn trúng ngay mái nhà ông Tur Gôk, ngôi nhà rộng lớn đồ sộ, ngôi nhà của người giàu có, đầy đủ mọi thứ.

    Từ dưới nước, hàng trăm, hàng ngàn người xuất hiện, xông lên với gươm, khiên lăm lăm trên tay, phóng lên bầu trời cao vợi.

    “Nào, chúng ta hãy đọ sức xem sao”. Những làn khói xám, đen ngùn ngụt bốc lên trên trời cao báo hiệu một cuộc hỗn chiến bắt đầu. Người ta đã không chịu nổi những làn khói cay, lại còn bị dầm mình dưới cơn mưa rào ào ào đổ xuống như trút nước.

    Từ dưới nước, những ngọn lửa đỏ hừng hực bốc lên cao, những làn khói màu lam ngùn ngụt bay theo”(22).

    Làng của Tur Gôk bị phá sạch. Tur Gôk phóng mình bay lên không trung, Tur Gôk dùng khiên tròn bay cao nữa, quân của Duông cũng đem khiên tròn bay theo. Tur Gôk bay sà xuống, bỏ trốn về nhà, cũng bị truy đuổi. Cuối cùng, quân của Tur Gôk bị giết sạch, Dăm Duông lặn xuống dưới nước, bắt trói và giết chết Tur Gôk.

    Trong tác phẩm Duông làm nhà rông, thủ lĩnh Nhâk Kân trong lốt con bạch tuộc quyết dâng nước cho ngập làng Duông ở nhằm cho dân làng chết hết, ngôi nhà rông cao đẹp phải đổ nát. Duông đã hạ lệnh cho các trai làng dùng khiên để phát ra những tiếng kêu lớn, phát ra lửa cháy. Tiến về phía hạ nguồn, các chàng trai đã vặn khiên cho ra gió bão, sấm sét. “Tất cả mọi người để ngửa chiếc khiên của mình để đẩy hết nước mà Nhâk Kân dâng lên. Từ những chiếc khiên phát ra những tiếng kêu vang… ơ ơ oong… vang trời dậy đất. Những giọt nước tung toé bay lên trời rớt xuống thành cơn mưa rào ào ào rớt xuống các xứ Lào, xứ Yuăn khiến ai ai cũng ca thán. Mưa suốt ngày suốt đêm, dân làng lo sợ bị lũ lụt”(23). Chàng Rok đã nhảy xuống nước, ôm vật Nhâk Kân rồi ném lên trời. Rok phóng lên theo, hai bên vật lộn nhau qua ba ngày đêm không phân thắng bại. Cuối cùng Nhâk Kân phun nước, phun lửa, phun ra những tảng đá to bằng cái gùi, cái trống ném về phía Rok. Rok hất những tảng đá và bắt được Nhâk Kân ném cho các chàng trai. Chàng Gáp đã rút gươm chém đứt đôi địch thủ. Ở cuộc chiến này, bên đối phương chỉ có một, còn bên Duông là các trai làng, bản thân Duông không tham gia cuộc chiến.

    Trong tác phẩm Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ, cuộc chiến nổ ra giữa một bên gồm những người đi trừng trị kẻ đã đối xử tàn tệ với Duông là Măng Lăng, Ding Grang, Ring Rông và một bên là Duông Nâng, Rang Neng, Tre Wet Krong Buông, Tek Teo, Greo Yang, Rok Kok,… Bên Măng Lăng chủ động tấn công: “Ai cũng vặn khiên của mình (…). Họ bay về hướng thượng nguồn, vùng người Hơ Dang. Tiếng “ong… ong” lượn bay trong gió mây, những chiếc khiên bay vun vút,… cây cối ngả nghiêng. Gió bão thổi ào ào. Bầu trời bỗng tối sầm lại, không còn ánh sáng của mặt trời hay mặt trăng rọi xuống. (…) Các tảng đá to bằng gùi to, gùi nhỏ trốc hết tung bay lên trời vô cùng khủng khiếp”(24). Bên Duông Nâng, Rang Neng cùng vặn khiên bay lên. Rok Kok định đánh nhau với Măng Lăng, lập tức bị Măng Lăng vặn chiếc khiên làm cho phát ra lửa, ập đến và làm bùng cháy hết tóc của y. Rok Kok vừa chạy vừa phải phủi lửa, vừa dùng tay che đằng trước, che đằng sau vì lửa bốc cháy trụi hết áo, khố. Măng Lăng vặn khiên dùng lửa thiêu cháy cả làng của Duông Nâng, khiến người già, trẻ nhỏ nhốn nháo, bỏ chạy tán loạn. Ring Rông, Ding Grang xông tới đá Tre Wet Krong Buông văng ra xa mười lăm dặm. Hút chưa xong điếu thuốc, đối phương đã bỏ chạy. Nhưng rồi bọn Tek Teo, Greo Yang lại tiếp tục bay lên không trung, tiếp tục đánh trả. Măng Lăng phóng tới, dùng tay tát tai Rok Kok, khiến máu mũi, máu miệng tung toé phun ra, y lảo đảo rơi xuống bỏ mạng. Măng Lăng dùng khiên tông thẳng vào Tek Keo và Greo Yang khiến khiên của đối phương bị vỡ, Ding Grang dùng gươm chém chết cả hai tên này. Tre Wet Krong Buông xông tới vật lộn với Ding Grang. Sau khi vật lộn hồi lâu, Ding Grang dùng dây trói tay chân, quấn chặt hắn lại rồi khiêng về. “Một lúc sau, Duông Nâng hăng máu quyết đánh để cố gắng giành phần thắng. Măng Lăng cũng chẳng kém, liền tóm đầu tóc Duông Nâng và tát liên hồi, tát xong, nắm hai chân của hắn quay nhiều vòng rồi ném mạnh lên chín tầng mây. Khi hắn vừa rơi xuống, Ring Rông liền bắt lại ném cho Măng Lăng, Măng Lăng nắm bắt, bạt tai mấy cái rồi ném xuống dưới nước sâu, chìm nghỉm. Một con cá sấu liền bơi đến, táp con mồi ngon, thế là hết đời Duông Nâng”(25). Bên Duông Nâng chỉ còn Rang Neng (em ruột Duông Nâng). Rang Neng bỏ chạy, chạy mãi lên hướng bắc, rồi tình cờ vào đúng nhà ông Glaih (cha đẻ của Duông), xin tá túc. Cuối cùng hắn cũng bị Măng Lăng bắt trói đem về.

    ở ba trong bốn sử thi đã được dịch còn lại, nghệ nhân kể về những cuộc xung đột cá nhân(26). Trong Dăm Duông trong lốt ông già, Duông đánh nhau với Ding Grang và Măng Lăng. Do ghen tức vì Bar Mă đã trở thành vợ của Duông, nên hai người này đã chặn đường, gây sự. Bằng trí thông minh và sức mạnh, Duông đã đánh bại chúng. Trong Dăm Duông hoá cọp, do ghen tức vì Duông nổi tiếng đẹp trai, Tre Wet Krong Bung (ở hạ nguồn) đã lừa Duông ra ngoài rìa làng, dùng gậy thần đánh vào chàng, khiến Duông hoá cọp. Vì quá tức giận, mấy anh em của Duông đã giết chết Tre Wet Krong Bung, kẻ đã hãm hại em trai họ. Trong Dăm Duông cứu nàng Bar Mă, Duông đã có những cuộc đấu sức, đấu trí với những thế lực siêu nhiên: quỷ cái Te Tô, thuồng luồng và đười ươi. Chàng bắt trói quỷ Te Tô, cảm hoá để nó thành người lương thiện; giết chết thuồng luồng dưới nước; đánh thắng đười ươi trong rừng và không giết, được đười ươi tặng thuốc quý, nhờ đó chàng rất giỏi leo trèo.

  3. Không so sánh với sử thi Iliat của Hy Lạp, chúng ta chỉ so sánh các cuộc chiến – xung đột trong sử thi Xơ Đăng với sử thi Ê Đê và sử thi Mơ Nông cũng thấy những nét riêng về nguyên nhân, mục đích, quy mô và phương thức giao đấu.

Trong sử thi Mơ Nông, chiến tranh – xung đột xảy ra do rất nhiều nguyên nhân:

“- Một lực lượng siêu nhiên nào đó tạo ra nạn đại hồng thủy, động đất, mất mùa gây thiệt hại cho bon Tiăng con Rong”.

– Quái vật hãm hại bon làng Tiăng con Rong. Chẳng hạn như con sâu khổng lồ bú vú Djăn, vợ Tiăng, con châu chấu, con đỉa khổng lồ nuốt bon Tiăng, v.v.

– Săn bắt sản vật, cướp đoạt giữa các gia tộc. Trong sử thi Mơ Nông, các gia tộc hay đi chiếm đoạt sản vật, săn bắt (thường là hành động vụng trộm, lén lút) trong lãnh địa của nhau. Chẳng hạn như Lêng, Liăng con Srai lấy trộm cái đập bông của bon Tiăng, những người bon Tiăng đi đánh trộm cá, chặt trộm cây thuốc hút của bon làng khác, Lêng đi cướp hoa bạc, hoa đồng, Yang tự ý cài bẫy bắt chim rling của Mưng, Meng con Trôk, v.v…

– Thổi ngải, chuyển ma lai cho nhau. Rôch, Rông con Briăng nuôi mãi mối thù vì Tiăng đã chuyển ma lai sang mình.

– Người bon làng Tiăng đi lấy lại các kỉ vật. Chẳng hạn như Lêng đi lấy đàn ndring, Yơng, Yang đi lấy ống bạc tượng người, Lêng, Lông, Mbong đi lấy ché con voi trắng, v.v.

– Bắt cóc phụ nữ, nam giới giữa bon làng Tiăng con Rong với các bon làng khác. Chẳng hạn như Lêng đi cướp nàng Bing con Jri, Ndu, Yơng con Ka bắt cóc chàng Yơng con Brah (con Tiăng), Rớt, Rơ con Puh cướp nàng Kông, Glơng con Brah, v.v……

(…) Trong sử thi Mơ Nông có khoảng trên dưới 100 trận đánh nhau. Trong đó, đánh nhau vì bắt cóc nam nữ và bon làng Tiăng con Rong đi giành lại các kỉ vật chiếm tới khoảng 60%”(27).

So với sử thi Mơ Nông, nguyên nhân, mục đích của các cuộc chiến trong sử thi Ê Đê và sử thi Xơ Đăng ít phong phú hơn. Các trận đánh nhau diễn ra trong sử thi Ê Đê thường được “châm ngòi” từ sự bội bạc bạn bè, thù nhà và đặc biệt là từ sự cướp đoạt, tranh giành phụ nữ. ở sử thi Xơ Đăng, căn nguyên, động lực của các trận đánh còn đơn giản hơn: do ghen ăn tức ở (vì Duông đẹp trai, tài giỏi, lấy được vợ đẹp) hay để trừng phạt kẻ sống tàn ác, không biết điều…

Trong một bài viết khác(27), chúng tôi đã trình bày về mối quan hệ giữa chiến tranh và hôn nhân trong sử thi Tây Nguyên. Trong rất nhiều trường hợp, hôn nhân là nguyên cớ, là mục đích của chiến tranh, mặt khác, chiến tranh – đến lượt nó – lại trở thành phương tiện, con đường dẫn tới hôn nhân. Chính sự gắn bó, qua lại đặc biệt này mà chúng ta được chứng kiến trong sử thi Tây Nguyên nhiều cuộc hôn nhân thấm đẫm chất anh hùng ca. Trong sử thi Mơ Nông Cướp Bung con Klêt(28) chàng Lêng ước ao được lấy nàng Bung làm vợ. Nhưng thay vì trao chuỗi vòng làm tin, rồi dạm hỏi, kết hôn, Lêng đã “lên kế hoạch” cho một cuộc chiến cướp vợ và sẵn sàng đương đầu với đối thủ để chiếm đoạt bằng được người phụ nữ mà mình thích. Do vậy, một cuộc chiến tương tàn đã xảy ra, nhưng cũng nhờ có cuộc chiến ấy mà Lêng đã sở hữu được người phụ nữ mà mình ước ao, đã đạt được mục đích của mình. Câu chuyện anh hùng cướp người đẹp về làm vợ cũng được thể hiện qua một ot ndrong khác mà ngay từ tiêu đề chúng ta đã thấy rõ điều đó: Tiăng cướp Djăn, Dje(29). Giống như Tiăng và Lêng trong sử thi Mơ Nông, thậm chí còn ngông cuồng hơn thế, Mơ Hiêng(30) và Dăm Tiông(31) trong các sử thi cùng tên của người Ê Đê còn sẵn sàng cướp bằng được vợ người về làm vợ. Có thể nói rằng, trong sử thi Mơ Nông và Ê Đê, không ít lần người anh hùng lao vào các cuộc chiến để cướp người đẹp về làm vợ – điều mà chúng ta tuyệt nhiên không hề thấy trong các tác phẩm sử thi của người Xơ Đăng.

Bên cạnh những nét riêng về căn nguyên, mục đích của chiến tranh là những khác biệt về quy mô và phương thức giao đấu. Trong sử thi Mơ Nông, chiến tranh thường xảy ra giữa hai bon làng. Các cuộc chiến thường diễn ra khá dữ dội, dai dẳng với sự tham chiến của một số lượng đông đảo người và thần, tuy nhiên vai trò của thủ lĩnh hai bên không thực sự nổi bật. Trong sử thi Cướp chiêng cổ bon Tiăng(32), một cuộc chiến ác liệt đã nổ ra giữa hai bên: bên phương Bắc gồm những người bon Tiăng và những người họ hàng ở bon khác, bên phương Nam, gồm những người bon Ndu con Srât. Ngoài ra, cuộc chiến còn có sự tham gia đắc lực của các thần. Mỗi vị thần trợ thủ cho một người anh hùng của riêng mình.

Cuộc chiến kéo dài hàng chục ngày đêm, có lúc đánh, có lúc hoãn binh để thương lượng. Thương lượng không được, hai bên lại tiếp tục giao chiến. Khi cuộc chiến lên tới cao trào chính là lúc các thần thực sự “ra tay”, “nhập cuộc”, họ đã can thiệp để làm thay đổi cục diện cuộc chiến. Nhờ sự trợ giúp của các thần, nhờ sự ứng cứu kịp thời của các cộng sự, bon Tiăng đã vùng lên chuyển bại thành thắng. Có thể nói, cuộc chiến trong tác phẩm Cướp chiêng cổ bon Tiăng là cuộc giao đấu giữa hai tập thể, trong đó vai trò của thủ lĩnh hai bên không thật nổi bật, nếu không muốn nói là mờ nhạt. Trong khi đó, ở sử thi Ê Đê, các cuộc chiến thường là và thực chất là những cuộc giao đấu tay đôi giữa hai đối thủ (người anh hùng với kẻ thù của anh ta). Cho dù người anh hùng có kéo theo cả một đoàn người đông đặc thì số đông ấy cũng không hề tham chiến mà trái lại đứng ngoài cuộc để làm nền, thậm chí còn hô hào, cổ vũ cho cuộc đọ sức tay đôi giữa người anh hùng và đối phương. Trong các cuộc chiến, thần linh có vai trò không đáng kể còn người anh hùng đã khẳng định được bản lĩnh của mình. Chẳng hạn, ở sử thi Đăm Săn, bên cạnh hình ảnh của số đông, hay nói cho đúng hơn là trên cái nền của số đông “ùn ùn như kiến, như mối”, vai trò, vị thế của Đăm Săn thật nổi bật: “Thế là Đăm Săn lại múa. Chàng múa trên cao, gió như bão. Chàng múa dưới thấp, gió như lốc. Chòi lẫm đổ lăn lóc. Cây cối chết lụi, khi chàng múa dưới thấp, vang lên tiếng khiên đồng, khi chàng múa trên cao vang lên tiếng khiên kênh. Khi chàng vừa múa vừa chạy, ba quả núi toác ra, ba đồi tranh bật rễ tung bay. Cây giáo thần, cây giáo dính đầy oan hồn của chàng nhằm đùi Mtao Mxây phóng tới nhưng không thủng. Chàng đâm vào người Mtao Mxây cũng không thủng.

Đến lúc này, Đăm Săn đã thấm mệt. Chàng vừa chạy vừa ngủ, mộng thấy ông Trời”(33).

Trong bảy tác phẩm sử thi Xơ Đăng mà chúng tôi khảo sát, ba cuộc chiến và sáu cuộc xung đột cá nhân đã được miêu tả trong sáu tác phẩm. Đối thủ của Duông lúc là người, lúc là quái vật, lại có khi là nửa người, nửa quái vật. Điều đó đã góp phần khiến cho chất thần thoại ở các cuộc chiến trong sử thi Xơ Đăng đậm nét hơn. Ngoài tác phẩm Duông làm thủ lĩnh có số người tham chiến lên tới hàng trăm, hàng nghìn thì ở các tác phẩm còn lại, nhìn chung, số lượng nhân vật góp mặt vào các cuộc đánh nhau ít hơn trong các tác phẩm sử thi Mơ Nông. Các cuộc chiến về cơ bản và chủ yếu vẫn là các cuộc giao đấu tay đôi. Thần linh không can thiệp sâu và trực tiếp hòng làm thay đổi cục diện, quyết định kết quả của cuộc chiến mà tác động một cách gián tiếp bằng cách truyền dạy phép thuật hoặc ban tặng các báu vật thần kì cho Duông để chàng có thêm sức mạnh đánh bại kẻ thù. Duông với tư cách là người anh hùng cũng đã chứng tỏ được vai trò, bản lĩnh của mình. Trong tác phẩm Duông làm thủ lĩnh, Duông đã khẳng định được vị thế thủ lĩnh của mình. Chàng tỏ ra là người mưu trí, dũng cảm. Linh cảm thấy xứ mình sắp bị kẻ thù tấn công, chàng cắt cử người gác cẩn thận canh giữ ngày đêm. Không chỉ giỏi chỉ dẫn mọi người, chàng còn trực tiếp tham chiến một cách ngoan cường, dũng cảm. Chàng giết chết tên tướng sừng sỏ nhất của Tur Gôk là Măng Lăng – kẻ đội lốt ba ba khổng lồ, rồi tiếp tục đuổi theo giết chết Tur Gôk.

Tóm lại, chiến tranh – xung đột vẫn luôn là một đề tài đáng chú ý của sử thi Tây Nguyên. Tuy nhiên, ở các sử thi của các dân tộc khác nhau, hình ảnh của những cuộc chiến lại mang những dáng nét, sắc màu không giống nhau.

  1. Khi phản ánh sự có mặt của thần linh và các yếu tố thần kì, hoang đường, hơ m’uan Xơ Đăng thể hiện đậm nét dấu ấn của thần thoại và cổ tích
  1. Ra đời vào thời điểm nối tiếp thần thoại, hình thành và lớn dậy trên nền tảng thần thoại nên giữa sử thi và thần thoại có không ít phần giao thoa. Điều đó cũng có nghĩa là sử thi – dù muốn hay không – vẫn mang trên mình những vết hồi quang thần thoại. Dấu ấn thần thoại ấy được thể hiện trên nhiều phương diện mà trước hết và đáng kể hơn cả là sự có mặt của thế giới thần linh.
  2. Cũng như ot ndrong của người Mơ Nông, khan của người Ê Đê, hơ mon của người Ba Na,… sử thi hơ muan của dân tộc Xơ Đăng cũng không thiếu vắng bóng dáng của các vị thần. Đó là thần Tơ Ro – vị thần Sấm sét (Dăm Duông cứu nàng Bar Mă, Duông đi theo thần Tung Gur), thần Tung Gur – vị thần núi rừng (Dăm Duông hóa cọp, Dăm Duông trong lốt ông già, Dăm Duông cứu nàng Bar Mă, Duông đi theo thần Tung Gur), thần Nhện (Duông làm nhà rông), thần Kai Dai Kai Kẽ – một vị thần trên trời, được tôn vinh như là ông tổ của người Xơ Đăng, nhóm Tơ Đrá (Dăm Duông trong lốt ông già, Dăm Duông cứu nàng Bar Mă)… Sự góp mặt của những nhân vật ấy đã làm nên một thế giới thần kì thấm đẫm sắc màu hoang đường, huyền ảo cùng tồn tại, song hành với thế giới con người.

  3. Trong sử thi Xơ Đăng, thần linh có vai trò tác động không nhỏ nếu không muốn nói là đã góp phần tạo nên những sự kiện, biến cố quan trọng trong cuộc đời của nhân vật trung tâm – người anh hùng Dăm Duông.
  4. Trong Dăm Duông cứu nàng Bar Mă, Duông phải đương đầu với quỷ Te Tô – một con quỷ ăn thịt người, có cặp vú dài sát đất, răng to bằng lưỡi rìu, ai trông thấy cũng đều khiếp sợ. Tin đồn về nàng Bar Mă xinh đẹp nhất vùng bay đến tai Te Tô khiến nó không sao chịu nổi, bèn đi tìm Bar Mă để ăn thịt. Để bảo vệ em gái, Ding Gung và Ring Rông đã dũng cảm đánh trả quỷ Te Tô, nhưng cuối cùng họ vẫn gục ngã trước sức mạnh siêu nhiên của con quái vật. Khi con quỷ khát máu ấy đang hung hăng săn lùng Bar Mă khắp nơi, khắp chốn thì Dăm Duông xuất hiện. Đó là một chàng trai trẻ, có sức khỏe phi thường. Thêm nữa, chàng lại được hai thần Tung Gur, Tâng Guâng truyền cho nhiều phép thuật, được Proi Kơ Pang, Rang Kơ Tu tặng cho chiếc gậy vàng – chiếc gậy giúp chàng có được sức mạnh siêu phàm, không ai địch nổi. Với trí thông minh, sức mạnh và sự can trường, lại được trợ giúp bởi những vị thần linh, cuối cùng Dăm Duông đã bắt sống quỷ dữ, giải cứu nàng Bar Mă xinh đẹp, đem lại sự bình yên cho buôn làng. Trong cuộc quyết đấu giữa Duông và quỷ Te Tô, thần linh có vai trò nhất định. Duông không chỉ mang trong mình sức mạnh của con người mà còn sở hữu sức mạnh của thần linh. Chính thần linh đã luôn “đứng cạnh” Duông, tiếp sức, góp phần vào chiến công của chàng. Với Duông, chiến thắng trước con quái vật khát máu là một biến cố quan trọng bởi nhờ đó mà Duông có được người vợ xinh đẹp, được dân làng khâm phục, nể trọng, sẵn sàng suy tôn làm thủ lĩnh và khẳng định, nâng cao vị thế, uy danh, bản lĩnh của mình.

    Như vậy, trong Dăm Duông cứu nàng Bar Mă, thế giới các nhân vật thần kì được chia thành hai nhóm, nhóm trợ thủ của nhân vật chính – ủng hộ, phù trợ cho người anh hùng (thần linh) và nhóm đối thủ của nhân vật chính – gây cản trở, thách thức cho người anh hùng (quỷ, quái vật). Dù thuộc nhóm nào thì các nhân vật thần kì cũng có những can thiệp đáng kể đến sứ mạng của người anh hùng, tác động không nhỏ vào sự hình thành, phát triển cốt truyện. ở đây, hai nhóm nhân vật thần kì đã tác động đến nhân vật chính, hai lực đối nhau: lực cản (quỷ, quái vật) và lực đẩy (thần linh). Nhưng sau cùng, hợp lực giữa con người và thần linh đã chiến thắng lực cản của quái vật. Điều đó cho thấy, thần linh đã luôn “sát cánh” cùng con người, tiếp sức cho con người, giúp con người chiến thắng.

    Không chỉ ủng hộ, trợ giúp con người trong “chiến đấu”, thần linh còn luôn để mắt, chăm lo đến cuộc sống lao động – sản xuất, đến những sinh hoạt thường ngày của con người.

    Duông đi theo thần Tung Gur kể chuyện cậu bé Duông vì ham chơi mà quên mất đường về. Lạc trong rừng sâu, Duông đã gặp thần Tung Gur, Tâng Guâng và được hai thần dang tay cưu mang, nâng đỡ. Hai thần coi Duông như con, che chở cho Duông, và dạy chàng điều hay lẽ phải. Thời gian trôi qua, Duông ngày một khôn lớn, chàng chia tay hai thần để tự lập cuộc sống của riêng mình nhưng bất cứ lúc nào Duông cần tới sự giúp đỡ thì hai thần đều không bao giờ vắng mặt. Hai thần lặng lẽ dõi theo từng bước Duông đi, sẵn sàng ủng hộ, giúp đỡ chàng. Một lần, Duông cần phát rẫy, chàng cầu khấn hai thần Tung Gur, Tâng Guâng giúp chàng phát rẫy cho thật nhanh, thật sạch. Tức thì hai thần liền kêu gọi muôn loài muông thú đến chung tay góp sức cùng Duông. Thế là, chỉ qua một đêm, một rẫy lớn chiếm đến mười ngọn đồi đã được Duông và các anh em bạn bè là bầy khỉ, bầy vượn, đười ươi, mơ nâng… phát sạch. Khi Duông còn đốt rẫy, trỉa lúa, trồng rẫy, thu hoạch, các thần và những người bạn thú nơi rừng sâu cũng đều không quên giúp đỡ chàng. Nhờ sự ủng hộ, trợ giúp của thần linh mà mọi việc Duông làm đều suôn sẻ và rất có hiệu quả. Rẫy Ruông phát rộng lớn nhất vùng, lúa Duông trỉa tươi tốt nhất vùng và vụ mùa năm đó thì bội thu. Dân làng ai nấy đều trầm trồ thán phục Duông, muốn Duông làm thủ lĩnh vì họ hiểu rằng đi theo chàng, họ sẽ có được một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

    Ở tác phẩm Dăm Duông trong lốt ông già, Duông đã được thần Tung Gur tin tưởng, yêu mến tặng cho nhiều báu vật như lửa thần để soi đường và nấu chín thức ăn hay cuộn chỉ thần để khi nối sợi dây từ chòi rẫy đến kho lúa là những hạt lúa vàng thi nhau chạy trên sợi chỉ đỏ mà về, không phải gùi lúa nặng nhọc trên vai. Nhờ phép màu mà thần Tung Gur ban cho, công việc nương rẫy trở nên thuận lợi. Chàng làm việc gì cũng nhanh, cũng khéo. Rẫy to, nương to, lúa lên xanh tốt bời bời. Việc thu hoạch cũng trở nên dễ dàng, nhanh gọn nhờ có cuộn chỉ thần của thần Tung Gur. Trong cuộc sống lao động sản xuất, Duông luôn là người đi đầu, là chỗ dựa, là nguồn động viên, khích lệ bà con dân làng.

    Nhà rông với người Xơ Đăng là chốn thiêng liêng, nơi sinh hoạt văn hóa của cả buôn làng. Vì thế, xây cất nhà rông được xem là việc quan trọng hàng đầu. Trong Duông làm nhà rông, Duông nói với tất cả dân làng là phải xây dựng một nhà rông mới cao to, bề thế nhất vùng để thay cho nhà rông cũ đang dần đổ nát. Tất cả già trẻ, gái trai đều được huy động vào công việc quan trọng này. Trong quá trình làm nhà rông, Duông tình cờ gặp thần Nhện. Yêu mến Duông, thần đã tặng Duông lọ tơ để xây cất nhà rông được thuận lợi. Không lâu sau, một ngôi nhà rông khang trang, hoành tráng, sừng sững mọc lên giữa làng. Đó là thành quả, là niềm tự hào của Duông, và của buôn làng.

    Nếu như trong tác phẩm Dăm Duông cứu nàng Bar Mă, Duông hiện lên như một dũng sĩ thì trong ba tác phẩm Duông đi theo thần Tung Gur, Dăm Duông trong lốt ông già, Duông làm nhà rông, Duông được khắc họa như một người anh hùng trong lao động – sản xuất. Đằng sau hầu hết những chiến tích của Duông ít nhiều đều có bóng dáng của các vị thần. Tóm lại, thần linh đã luôn để mắt đến cuộc sống của con người, lặng lẽ dõi theo từng bước đi của con người, sẵn lòng kề vai sát cánh cùng con người và góp phần giúp con người chinh phục những chiến công.

  5. Cũng như nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống trên dải đất Tây Nguyên, người Xơ Đăng rất tôn trọng thần linh, họ quan niệm rằng vạn vật đều có linh hồn. Hai phần ấy hòa quyện với nhau gần như là một. Nói khác đi, ở đây đã tồn tại cùng lúc hai quá trình chuyển hóa trái chiều: thiêng hóa các mối quan hệ hằng ngày và tục hóa thế giới siêu linh. Bởi thế, sẽ không mấy ngạc nhiên khi chúng ta nhận ra rằng, trong các tác phẩm sử thi Xơ Đăng, thần linh không hẳn là những đấng siêu nhiên cao xa vời vợi, mà trái lại, rất gần gũi với con người, rất đời, rất trần thế. Trong hơ muan Duông đi theo thần Tung Gur, chàng Duông đốt rẫy, khói ngùn ngụt bay đến tận nhà thần Sấm sét Tơ Ro trên trời cao; điều đó cho thấy thế giới thần linh và thế giới con người không cách xa nhau bao lắm. Thêm nữa, thần Tơ Ro cũng có những cảm giác, những hành động, những lời nói rất con người. Khi khói từ đám rẫy của Duông bay lên phủ kín bầu trời, ông Tơ Ro cũng cảm thấy ngộp thở, cay mắt, cay mũi. Không chịu nổi, thần bèn hỏi bà con làng giềng thì biết Duông đang đốt rẫy. Ngay lập tức, thần xuống hạ giới để “hỏi tội” Duông. Lúc đầu, thần bực tức, cáu kỉnh, căn vặn, trách mắng Duông, nhưng rồi, sau khi nhận ra Duông là cháu nội, thần “cười hô hố” và gọi Duông là “cháu yêu”.
  6. Cũng trong tác phẩm Duông đi theo thần Tung Gur, mối quan hệ thân thiết giữa thần linh với con người còn được thể hiện ở việc thần Tung Gur nhận Duông làm con nuôi, bao bọc che chở cho chàng, dạy chàng nhiều điều hay lẽ phải. Khi Dăm Duông lo lắng, thần đã lắng nghe những lời tâm sự của Duông rồi vỗ về, an ủi, động viên chàng. Ngày cưới của Duông, thần Tơ Ro và hai thần Tung Gur, Tâng Guâng đều đến dự chia vui với gia đình Duông và buôn làng. Sau khi chúc Duông những điều tốt lành nhất, cả ba vị thần cùng ngồi uống rượu với nhau. Họ vừa uống vừa nói chuyện râm ran. Dăm Duông lắng nghe họ nói chuyện, nghe họ dặn dò, giải thích những điều chàng chưa biết. “Cuối cùng, Dăm Duông nói:

    – Con xin mời ba người uống hết ba kang mới được.

    Ông Tơ Ro nói:

    – Ông không uống nổi đâu cháu. Rượu ngon quá, nồng quá, không thể uống nổi, say chết.

    – Không đâu. Ông có thương cháu thì xin ông hãy uống. Cháu thương cho ông đã tốn phí nước miếng nói nhiều từ lúc nãy. Cháu rất cảm ơn ông đã chỉ đường, dạy bảo cháu. Tất cả những lời ông nói đều đúng cả. Cháu xin các ông hãy uống giùm cháu.

    – Cháu chỉ giỏi ép rượu bọn ta.

    – Không phải là cháu ép. Đó là phần của các ông. Uống xong kang này, mọi người phải uống hết một kang nữa thì mới nghĩ. Các ông có đòi uống nữa, cháu cũng không cho uống đâu.

    Nghe Duông nói vậy, người ta cười hì hì… hà hà… Dăm Gáp (anh của Dăm Duông) nói:

    – Nói như là trẻ nít nói với nhau”(34).

    Sự thân mật đến suồng sã giữa thần linh với con người thể hiện qua đoạn hội thoại thú vị trên là một minh chứng cho quan niệm thiên – nhân hợp nhất, người sao – thần vậy của người Xơ Đăng nói riêng và của đồng bào Tây Nguyên nói chung.

    Tóm lại, trong sử thi Xơ Đăng, thần linh có mối quan hệ gần gũi, thân thiết với con người, họ cũng sống bình dị như con người, có những suy nghĩ, tình cảm, hành động như con người, còn phần sức mạnh siêu nhiên, họ dành để che chở cho cuộc sống con người, giúp con người đánh bại cái xấu, cái ác, giành lấy những thành quả trong lao động – sản xuất và trong chiến đấu.

  7. Bên cạnh sự có mặt của thần linh, chúng ta còn bắt gặp trong sử thi Xơ Đăng nhiều yếu tố thần kì, hoang đường khác, như sự xuất hiện của những vật mang phép màu (khiên thần, gậy thần, cuộn chỉ thần, lọ tơ nhện…) và những biến hóa siêu tự nhiên (người hóa thú, biến không thành có, biến cái này thành cái kia, người này thành người khác…).
  8. Trong Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ, chiếc khiên thần được nghệ nhân đặc tả khá chi tiết. Chiếc khiên vừa là vũ khí, vừa là phương tiện thần kì giúp người anh hùng đi lại trên không trung một cách dễ dàng. Sức mạnh của khiên được mô tả: “Những chiếc khiên bay vun vút… cây cối ngả nghiêng… gió bão thổi ào ào. Bầu trời bỗng tối sầm lại, không còn ánh mặt trời hay mặt trăng rọi xuống. Dù chỉ một ánh sao cũng không ló dạng. Người ta chỉ nghe tiếng âm vang của khiên trên chín tầng mây mà vô cùng dữ dội, với những luồng gió mạnh ào ào ập đến. Các tảng đá bằng gùi to, gùi nhỏ trốc hết tung bay lên trời vô cùng khủng khiếp… Vặn một lần nữa “tiơng tơ rơ rơ rơng tơng…” tiếng nổ ầm ầm vang vọng như trời long đất lở”(35).

    “Ngoài chiếc khiên biết bay, biết phát ra tia lửa, giông bão, sấm chớp… trong tác phẩm chúng ta còn bắt gặp nhiều yếu tố thần kì khác. Chẳng hạn, Dăm Duông có cây gậy thần đập xuống đất sẽ có những điều mình nguyện ước: Người chết sống lại, ngôi nhà mới được mọc lên, Dăm Duông có thể biến thành mọi con vật, thành cô gái, hay ông già râu tóc bạc phơ và chàng có thể cưỡi ngựa tông brông bay lên trời…

    Chính nhờ có yếu tố thần kì mà nguồn cảm hứng của nghệ nhân dân gian được chắp cánh. Những hoạt động của nhân vật hiện lên thật bất ngờ, khiến người nghe đắm chìm trong những tình huống éo le, những bước ngoặt lớn. Có thể nói, yếu tố thần kì đã góp phần tạo nên sự hấp dẫn của tác phẩm sử thi này”(36).

    Trong Dăm Duông hóa cọp, Tre Wet Krong Bung vì ghen tị với Duông mà dùng gậy thần đánh vào chàng, khiến chàng biến thành cọp. Trong lốt cọp, Dăm Duông lầm lũi đi hết cánh rừng này đến cánh rừng khác rồi chàng gặp nàng Bar Mă. Một lần, trong lúc đùa nghịch, Bar Mă bị móng vuốt của “cọp” Dăm Duông làm đau khiến nàng hét to lên. Không ngờ, nhờ tiếng hét đó mà Dăm Duông trở lại thành người. Chính sự biến hóa người – thú – người khiến cho câu chuyện thêm phần li kì, hấp dẫn. Rồi tiếng sáo đồng ngân nga, da diết của Bar Mă cất lên giúp cho Dăm Duông băng qua núi đồi trùng điệp, sông sâu suối cả để trở về nhà trong chốc lát cũng mang đến cho tác phẩm một sắc màu lãng mạn, bay bổng…

    Trong sử thi Dăm Duông trong lốt ông già, yếu tố thần kì được thể hiện qua chiếc áo nhiệm màu được gọi tên là áo ông già, thể hiện qua cuộn chỉ thần, ngọn lửa thần mà thần Tung Gur đã ban cho Duông, thể hiện qua khả năng biến hóa khôn lường của chàng: lúc hóa thành ông già râu dài tóc bạc, lúc biến thành chim cu tuyệt đẹp với bộ lông vàng sặc sỡ, thể hiện qua tình tiết cơm và thịt để trong những chiếc mủng và bát gỗ, bao nhiêu người ăn đều no nê mà cơm và thức ăn vẫn còn đầy… Trong Duông làm thủ lĩnh, màu sắc hoang đường, kì ảo thể hiện qua lọ thuốc thần cải tử hoàn sinh mà nàng tiên Adroh Yang Kôi đã ban tặng cho Dăm Duông, qua chiếc gậy thần mà khi chủ nhân của nó chỉ vào những người đã chết sẽ làm cho họ sống lại.

    Những yếu tố hoang đường, kì ảo cùng với sự xuất hiện của thần linh đã tạo nên một thế giới đậm chất thần thoại. Thế giới ấy đã tiếp thêm sức mạnh cho Duông, làm cho hình tượng người anh hùng thêm phần kì vĩ.

  9. Không chỉ vậy, về mặt nghệ thuật, thế giới lung linh sắc màu huyền ảo ấy còn gợi liên tưởng đến những câu chuyện cổ tích thần kì.

Thật vậy, qua các tác phẩm mà chúng tôi khảo sát, có thể thấy rằng, sử thi Xơ Đăng chứa đựng nhiều yếu tố cổ tích. Ngoài những yếu tố thần kì đã nói ở trên, chúng ta còn bắt gặp trong sử thi Xơ Đăng những chi tiết, những môtíp, những tình huống, những kiểu nhân vật rất quen thuộc của truyện cổ tích thần kì. Hình ảnh Dăm Duông với sức mạnh phi thường đánh bại các loài quái vật: từ quỷ Te Tô vú dài, răng nhọn đến thuồng luồng khổng lồ, đười ươi Gluih để giải cứu và bảo vệ nàng Bar Mă xinh đẹp đã gợi liên tưởng sâu đậm đến kiểu nhân vật dũng sĩ – kiểu nhân vật đặc trưng của truyện cổ tích mà Thạch Sanh là một thí dụ điển hình.

Bên cạnh đó, còn phải kể đến môtíp người đội lốt thú, môtíp hành động dị thường và lời nguyền – những môtíp thấm đẫm chất cổ tích. Trong sử thi Duông đi theo thần Tung Gur, Dăm Duông trong lốt ông già, không biết bao nhiêu lần Dăm Duông giấu mình trong lốt thú: khi là khỉ, đười ươi, lúc hóa thành chim, thành trĩ, thành dúi, lúc khác lại biến thành hổ… Rồi hành động khác thường của Dăm Duông: nhổ sợi tóc hai màu đen trắng của bà quỷ thần Tông Ya cùng với lời nguyền mà chàng phải gánh suốt 15 năm cũng không khỏi khiến người đọc liên tưởng tới nhiều câu chuyện cổ tích Việt Nam và thế giới. Ngoài ra, sự xuất hiện của cây gậy thần trong Duông làm thủ lĩnh giống với cây gậy thần của Chử Đồng Tử, tài biến hóa của Bia Kơ Tơn làm cho thức ăn không bao giờ vơi cạn trong Dăm Duông cứu nàng Bar Mă giống với hình ảnh “niêu cơm ăn hết lại đầy” của Thạch Sanh, câu chuyện về chàng Dăm Duông đẹp trai trong lốt cọp xù xì, dữ tợn yêu thầm Bar Mă và lặng lẽ đỡ đần nàng mọi việc trong Dăm Duông hóa cọp, sự có mặt kịp thời của các thần sau mỗi lần Dăm Duông khấn nguyện, sự giúp đỡ của những người bạn thú mỗi khi Dăm Duông gặp khó khăn trong Dăm Duông theo thần Tung Gur, và kết thúc có hậu ở nhiều tác phẩm càng cho thấy sự có mặt của những yếu tố cổ tích là không hề mờ nhạt.

Có thể nói, sự gặp gỡ giữa yếu tố thần thoại và dấu ấn cổ tích trong các tác phẩm sử thi Xơ Đăng đã cho thấy sự giao thoa về thể loại, và điều đó một lần nữa minh chứng cho luận điểm của E.M. Meletinski khi ông chỉ ra hai cội nguồn của sử thi là thần thoại và cổ tích(37).

  1. Trong hơ m’uan Xơ Đăng thiếu vắng các công thức kể – tả và có hiện tượng nhiều nhân vật khác nhau mà giống nhau về tên gọi

A. Khi nói tới nghệ thuật sử thi, không thể không nhắc đến các công thức kể – tả. Trong các thể loại truyện kể dân gian, sử thi là thể loại sử dụng nhiều công thức kể – tả hơn cả. Đặc tính bắt buộc hay dấu hiệu nhận biết của những công thức này là tính cố định (tính khuôn mẫu, ước lệ) và tính đa dụng (tính lặp lại). Các công thức này không chỉ có mặt ở nhiều đoạn trong một tác phẩm mà còn xuất hiện ở hàng loạt tác phẩm khác nhau. Vai trò của các công thức này đối với nghệ nhân hát kể sử thi được ví von với vai trò của những tấm cấu kiện bê tông đúc sẵn đối với những người xây dựng nhà lắp ghép(38). Bởi, những công thức này chính là sự giải phóng tạm thời nhưng cần thiết cho trí nhớ hữu hạn của con người, bên cạnh tác dụng giúp cho nghệ nhân xây cất câu chuyện được dễ dàng hơn.

Trong các sử thi Iliát, Ôđixê, “có một số những câu thơ, hoặc một đoạn thơ được nhắc lại như là một công thức, như là một cấu kiện có sẵn dùng để thể hiện các hoàn cảnh, sự việc như: những bữa tiệc, vũ khí của người anh hùng và v.v… Một số nhà nghiên cứu đã thống kê thấy ở cả hai bản trường ca đã nhắc lại 9253 lần câu thơ; như vậy, có nghĩa là chiếm 1/3 tổng số”(39).

Trong Đăm Săn, đây là những câu kể về việc Hơ Nhị làm cơm đãi mtao Grự: “Thế rồi Hơ Nhị đốt một gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giã gạo trắng như hoa ê pang*, sáng như ánh mặt trời, nấu cơm mời mtao** Grự. Khách ăn cơm xong rồi, nàng cho bê rượu ra. Rượu bê ra rồi, nàng ngồi uống với khách cho đến lúc mặt trời chấm ngang cây xà dọc phía tây”(40)

Trong đoạn kể về việc Hơ Nhị làm cơm đãi mtao Mxây, người nghe lặp lại một số thông tin quen thuộc: “Hơ Nhị trở vào nhà trong đốt một gà mái ấp, giết một gà mái đẻ, giã gạo trắng như hoa ê pang, sáng như ánh mặt trời, bắc nồi nấu cơm, chỉ ráo một bãi nước miếng, vừa dập một bã trầu, cơm đã chín tới”(41).

Trình tự các cuộc giao tranh giữa Đăm Săn và các tù trưởng mtao Mxây, mtao Tuôr diễn ra giống nhau như sau:

Đăm Săn chửi mắng ® đối phương không xuống nhà sàn ® Đăm Săn dọa phá nhà ® đối phương chịu xuống, nói không được đâm khi đang xuống ® hai bên đánh nhau ® Đăm Săn mệt hỏi ông trời ® trời bày cách đánh ® Đăm Săn nghe theo ® Đăm Săn giết được kẻ thù.

Trong sử thi Mơ Nông Cướp chiêng cổ bon Tiăng có rất nhiều công thức kể chuyện – diễn tả phản ánh việc nhiều người phải rời bon ra đi vì một công việc nhất định (đi thăm hỏi, đi trả thù, đi cướp bóc, đi đánh giúp họ hàng,…). Lời họ dặn người ở nhà rất giống nhau:

Các em phải giữ tục kiêng cữ
Các em kiêng tục cữ đi xa
Giữ tục cữ ăn uống đi xa
Đốt muối tro người đi đau bụng
Ăn quả xanh người đi bị nhọt
Giỡn với tình người đi ong chích
Nếu bổ củi cán lao bị vỡ
Nếu múc nước chết hồn con trâu
Mắc ngải drôn đau quặn trong bụng
Mắc ngải biăt đau quặn trong ngực
Mắc ngải yêu đau xót con tim
Người độc thân ghé ngủ cũng cữ(42).

Đoạn trích này có mặt ở ba chỗ trong tác phẩm (với sự thay đổi một vài từ không đáng kể). Nhưng không chỉ vậy, nó còn xuất hiện ở nhiều tác phẩm sử thi Mơ Nông khác.

Sự xuất hiện dày đặc của các công thức kể – tả trong sử thi Hi Lạp và sử thi Mơ Nông, Ê Đê… là cơ sở để rút ra kết luận rằng các công thức kể – tả là một trong những đặc trưng quan trọng nhất của nghệ thuật sử thi nói chung và sử thi Tây Nguyên nói riêng. Diễn giải dài dòng như vậy bởi chúng tôi muốn làm nổi bật điều bất ngờ sau: Trong các hơ muan của người Xơ Đăng, các công thức kể – tả mảy may không hề có mặt(43).

B. Bên cạnh đó, tên nhân vật cũng là một vấn đề đáng chú ý. Tìm hiểu vấn đề này chúng ta thấy có nhiều điểm thú vị. Chẳng hạn về nhân vật Bar Mă. Trong Dăm Duông hóa cọp, Dăm Duông trong lốt ông già, Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ, Dăm Duông cứu nàng Bar Mă, nàng là con của Tur Rơ Mu, nhưng trong Duông đi theo thần Tung Gur, nàng lại là con của Nhâk Kân, và thậm chí trong Duông làm thủ lĩnh, nàng còn là con của thủ lĩnh dưới nước Tur Gôk. Về nhân vật Tre Wet Krong Bung, khi thì nhân vật này là kẻ thù của Duông (trong Dăm Duông hóa cọp, hắn đã rắp tâm hãm hại, dùng gậy thần biến chàng thành cọp; trong Dăm Duông cứu nàng Bar Mă, hắn là kẻ thù cướp vợ của Duông), nhưng khi khác, lại là anh em kết nghĩa với Duông (Duông đi theo thần Tung Gur). Đặc biệt hơn, kì lạ hơn, Dăm Duông đã cưới Bar Mă không ít lần trong nhiều tình huống không giống nhau. Trong Dăm Duông cứu nàng Bar Mă, Duông đã giết chết quỷ Te Tô, giải thoát cho Bar Mă, đem lại sự bình yên cho dân làng. Vì thế, Tur Rơ Mu đã gả con gái cho Duông như một sự trả ơn. Trong Duông làm thủ lĩnh, Duông đã giết chết Tur Gôk, cả nhà của Tur Gôk cũng bị quân lính của Duông giết sạch, chỉ có người con gái yêu của Tur Gôk là Bar Mă ẩn náu rồi bị bắt. Thương cảm những người chết trận, Duông đã tìm gặp nàng tiên Adroh Yang Kôi. Nhờ thuốc thần của nàng, Duông đã cứu tất cả những người chết trận ở bon làng Tur Gôk sống lại, giúp họ có nhà cửa khang trang hơn trước. Cảm ơn đó, Tur Gôk dặn Bar Mă đi theo Duông để hầu hạ chàng. Sau khi Duông trở về nhà, ông Gleh – cha Duông đã đứng ra tổ chức lễ cưới cho Duông và Bar Mă. ở tác phẩm khác, Dăm Duông trong lốt ông già đã chu du tới làng ông Tur Rơ Mu, rồi ở lại gia đình ông, đỡ đần cha con ông việc nhà, việc nương rẫy. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén, bất chấp sự chênh lệch về ngoại hình, tuổi tác, Bar Mă vẫn quyết định nên vợ nên chồng với ông già Duông râu tóc bạc phơ. Trong Duông đi theo thần Tung Gur, Bar Mă đã yêu Duông từ khi chàng ở lại sống cùng với gia đình mình, nhưng vì lời nguyền mà Dăm Duông không thể cưới Bar Mă. Phải đợi 15 năm sau ngày Dăm Duông nhổ sợi tóc hai màu đen trắng của bà quỷ thần Tông Ya thì đám cưới giữa Duông và Bar Mă mới được tổ chức linh đình trong niềm hân hoan của tất cả mọi người. Như vậy, chính sự “vênh nhau” giữa các tác phẩm (về vấn đề tên nhân vật) đã khiến cho người đọc hoàn toàn có cơ sở để đặt ra một dấu hỏi, rằng trong sử thi Xơ Đăng có một hay nhiều nhân vật Dăm Duông? Và nếu vậy thì, có nên hay không, có thỏa đáng hay không, khi gọi tập hợp các hơ muan kể về nhân vật có tên Duông là bộ sử thi liên hoàn (kết chuỗi)?

III. Nhận xét

Theo Giáo sư Phan Đăng Nhật: “Nhân vật anh hùng trong sử thi Tây Nguyên có các nhiệm vụ chủ yếu là lấy vợ, làm lụng và đánh giặc. Nhiệm vụ của anh hùng cũng là nội dung, đề tài của sử thi”(44). Điều đó có nghĩa là hôn nhân, lao động chiến tranh là ba đề tài chính của sử thi Tây Nguyên. Trong hệ đề tài ấy thì chiến tranh là đề tài quan trọng nhất, đáng chú ý nhất, và có mặt ở nhiều tác phẩm nhất, sau đó là đề tài hôn nhân và cuối cùng là đề tài lao động. Thứ tự ấy không xuất hiện, tồn tại một cách ngẫu nhiên mà là sự thật khách quan do chức năng, bản chất của thể loại sử thi quy định. Nếu đã đồng ý sử thi là những câu chuyện kể về những chiến công, kì tích của người anh hùng thì không thể không thừa nhận rằng chiến tranh và hôn nhân là hai đề tài phù hợp nhất, thích đáng nhất đối với sử thi. Bởi lẽ chiến tranh và hôn nhân là “phương tiện” để người anh hùng khẳng định sức mạnh, quyền lực và uy thế của mình, như chính lời tuyên ngôn đầy ngạo nghễ của một nhân vật: “Cướp vợ người tự hào ta giàu/ Đánh thắng trận tự hào ta tài”(45). Vì thế, khi nhắc đến sử thi, không ít người sẽ nghĩ ngay đến những trận chiến sống còn, long trời lở đất hay những cuộc hôn nhân đậm chất anh hùng ca. Nói vậy để thấy rằng, hơ muan của người Xơ Đăng phải chăng là một “ngoại lệ” khi chiến tranhhôn nhân đều không phải là đề tài chính yếu, không phải là vấn đề trung tâm – mà thay vào đó – âm hưởng chủ đạo của bảy tác phẩm là sự ngợi ca lao động, ngợi ca cuộc sống ấm no, thanh bình?

Nói đến nghệ thuật của sử thi, không thể không nhắc tới hai yếu tố quan trọng hàng đầu: công thức kể – tả và thủ pháp phóng đại, cường điệu hóa. Trong hơ muan của người Xơ Đăng, không mấy khó khăn để bắt gặp các hình ảnh kì vĩ, các chi tiết khác thường được xây dựng từ thủ pháp phóng đại, cường điệu hóa nhưng sẽ là “mò kim đáy bể” để tìm ra các công thức kể – tả vốn rất phổ biến trong sử thi Mơ Nông, Ê Đê, Ba Na… Tỉ lệ nghịch với sự vắng mặt của các công thức kể – tả là sự có mặt và ghi dấu đậm nét của các yếu tố thần thoại và cổ tích. Chính sự gặp gỡ giữa các yếu tố đó đã làm nên sự giao thoa về thể loại. Trong vùng giao thoa ấy, sự xuất hiện nổi bật của các yếu tố thần thoại, cổ tích đã khiến cho màu sắc sử thi trong các hơ muan trở nên nhạt nhòa.

Tóm lại, qua việc khảo sát bảy bản dịch, chúng tôi thấy rằng, trong các hơ muan của người Xơ Đăng có một số yếu tố của thể loại sử thi nhưng lại thưa vắng một số yếu tố không kém phần quan trọng khác của thể loại này. Tuy nhiên, sẽ vẫn còn quá sớm để cho rằng hơ muan của người Xơ Đăng không phải là sử thi cổ sơ(46) đích thực, khi mới chỉ có 7 trong số 106 bản kể được biên dịch. Vấn đề ấy sẽ chỉ được “giải quyết” một cách thuyết phục khi việc khảo sát các tác phẩm được thực hiện trên một số lượng bản kể dồi dào hơn, bên cạnh sự bổ sung cần thiết từ những kết quả của việc điều tra thực địa. Nếu như các bản kể được dịch không có những yếu tố quan trọng của thể loại sử thi thì hiện tượng này nằm trong hai khả năng: hoặc là ở người Xơ Đăng, sử thi chưa hình thành trọn vẹn, hoặc là ở cư dân này đã có sử thi nhưng chúng đã bị phân rã. Giả sử sau này giới nghiên cứu chứng minh được rằng hơ muan không phải là sử thi thì những tác phẩm đó không phải vì thế mà trở nên kém giá trị và công sức của các nghệ nhân, của những người sưu tầm cũng không phải vì thế mà không được ghi nhận và trân trọng.

CHÚ THÍCH:

(1) Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (1998), Người Xơ Đăng ở Việt Nam, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia xb, Hà Nội,tr. 20. Đây là cuốn sách gồm cả phần chữ (nghiên cứu) và phần ảnh minh hoạ. Phần nghiên cứu do GS. Đặng Nghiêm Vạn chấp bút.
(2) Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia (1998), sđd, tr. 20.
(3) Võ Quang Trọng (2002), “Đăm Giông, phát hiện mới về sử thi của người Xê Đăng ở Kon Tum”, Tạp chí Văn hoá dân gian, H, số 3, tr. 50.
(4) + Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2006), Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ. Dăm Duông cứu nàng Bar Mă, Nxb. Khoa học xã hội, H.
+ Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Dăm Duông hoá cọp. Dăm Duông trong lốt ông già, Nxb. Khoa học xã hội, H.
(5) Võ Quang Trọng (2002), “Đăm Duông – bộ sử thi liên hoàn của người Xê Đăng”, Tạp chí Văn hoá dân gian, H, số 3, tr.18.
(6) Cả ba tác phẩm này đều do nghệ nhân A Ar hát kể, PGS. TS. Võ Quang Trọng sưu tầm, ông A Jar phiên âm, dịch sang tiếng Việt; tác phẩm đầu do ThS. Vũ Hoàng Hiếu biên tập văn học, hai tác phẩm sau do nhà giáo Nguyễn Luân biên tập văn học.
(7) Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ (2006), tr. 258, 268 – 273.
(8) Dăm Duông hoá cọp (2007), tr. 22.
(9) Dăm Duông hoá cọp (2007), tr. 23.
(10) Duông làm thủ lĩnh. Duông làm nhà rông (2009), bản dịch đánh máy, lưu tại Viện Nghiên cứu văn hoá.
(11) Duông đi theo thần Tung Gur, (2009), bản dịch đánh máy, lưu tại Viện Nghiên cứu văn hoá.
(12) Dăm Duông hoá cọp. Dăm Duông trong lốt ông già (2007), tlđd, tr. 488
(13) Dăm Duông hoá cọp. Dăm Duông trong lốt ông già (2007), tlđd, tr. 488
(14) Duông làm thủ lĩnh. Duông làm nhà rông (2009), tlđd, tr. 345.
(15) Duông làm thủ lĩnh. Duông làm nhà rông (2009), tlđd, tr. 345.
(16) Duông làm thủ lĩnh. Duông làm nhà rông (2009), tlđd, tr. 704 – 705.
(17) Dăm Duông hoá cọp. Dăm Duông trong lốt ông già (2007), sđd, tr. 300 – 301.
(18) Bùi Ngọc Quang (2007), “Giới thiệu tác phẩm sử thi Dăm Duông trong lốt ông già”, trong tập sách: Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Dăm Duông hoá cọp. Dăm Duông trong lốt ông già, Nxb. Khoa học xã hội, H, tr. 490.
(19) Duông đi theo thần Tung Gur, (2009), bản dịch đánh máy, lưu tại Viện Nghiên cứu văn hoá.
(20) Duông đi theo thần Tung Gur, (2009), bản dịch đánh máy, lưu tại Viện Nghiên cứu văn hoá.
(21) Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2006), Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ. Dăm Duông cứu nàng Bar Mă, Nxb. Khoa học xã hội, H, tr. 307.
(22) Duông làm thủ lĩnh. Duông làm nhà rông (2009), tlđd, tr. 231 – 232.
(23) Duông làm thủ lĩnh. Duông làm nhà rông (2009), tlđd, tr. 829 – 830.
(24) Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2006), Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ. Dăm Duông cứu nàng Bar Mă, sđd, tr. 336.
(25) Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ. Dăm Duông cứu nàng Bar Mă, sđd, tr. 341.
(26) Duông đi theo thần Tung Gur không miêu tả chiến tranh cũng như các xung đột cá nhân.
(27) Đỗ Hồng Kỳ (2008), Văn học Ê Đê, Mơ Nông, Nxb. Khoa học xã hội, H, tr. 242-244
(28) Vũ Hoàng Hiếu (2008), “Mối quan hệ giữa chiến tranh và hôn nhân trong sử thi Tây Nguyên” trong Tạp chí Văn hóa dân gian, số 4
(29) Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2007), Cướp Bung con Klêt, Nxb. Khoa học xã hội, H.
(30) Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2006), Tiăng cướp Djăn, Dje, Nxb. Khoa học xã hội, H.
(31) Nhân vật trong sử thi Chàng Mơ Hiêng (1994), Bùi Khắc Trường, Y Thi sưu tầm, Nxb. Văn hóa dân tộc, H.
(32) Nhân vật trong sử thi Dăm Tiông (2002), Trương Bi, Kna Y Wơn sưu tầm, biên soạn, Sở Văn hóa – Thông tin Đăk Lăk xuất bản.
(3) Viện Khoa học xã hội Việt Nam (2006), Cướp chiêng cổ bon Tiăng, Nxb. Khoa học xã hội, H.
(33) Nguyễn Hữu Thấu, sưu tầm, biên dịch, chỉnh lí (2003), sđd, tr. 53 – 54.
(34) Duông đi theo thần Tung Gur, (2009), bản dịch đánh máy, lưu tại Viện Nghiên cứu văn hoá.
(35) Võ Quang Trọng (2007), Lời giới thiệu sử thi Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ, sđd, tr. 28 – 29.
(36) Võ Quang Trọng (2007), Lời giới thiệu sử thi Dăm Duông bị bắt làm tôi tớ, sđd, tr. 29.
(37) E.M. Meletinski (1974), “Về nguồn gốc sử thi anh hùng”, bản dịch, Tạp chí Văn học, số 1, H., tr. 123.
(38) Đỗ Bình Trị (1999), Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian, Nxb. Giáo dục, H, tr. 21.
(39) Nguyễn Văn Khỏa (1978), Anh hùng ca của Hômerơ, Nxb. Đại học và trung học chuyên nghiệp, H, tr. 265.
(40) Nguyễn Hữu Thấu sưu tầm, biên dịch, chỉnh lí (2003), sđd, tập 2, tr. 53.
Theo sách này, ê pang (*) là mướp đắng rừng, ngọn, lá non, quả chín đều nấu ăn được, hoa năm cánh màu trắng đẹp; mtao(**) là thủ lĩnh lớn.
(41) Nguyễn Hữu Thấu sưu tầm, biên dịch, chỉnh lí (2003), sđd, tập 2, tr. 45.
(42) Cướp chiêng cổ bon Tiăng (2006), sđd, tr. 645 – 646.
(43) Trong các tác phẩm sử thi Xơ Đăng mà chúng tôi khảo sát chỉ thấy xuất hiện một số hình ảnh lặp lại, một số cách nói lặp lại, và một số sự việc được nhắc lại, nhưng những yếu tố đó không phải là các công thức kể – tả.
(44) Phan Đăng Nhật (1999), Vùng sử thi Tây Nguyên, Nxb. Khoa học xã hội, H., tr. 124.
(45) Câu nói của Lêng trong sử thi Mơ Nông Cướp Bung con Klêt.
(46) Trước đây, các nhà khoa học xô viết phân sử thi dân gian thành hai loại: sử thi cổ sơ và sử thi cổ đại (hoặc cổ điển). ở Việt Nam, GS. TSKH. Phan Đăng Nhật đã tiếp thu và triển khai cách phân loại này trong nhiều công trình.

(Tạp chí Văn hoá dân gian, số 5, 2009)

oOo

Bên nhà rông Xê Đăng – Phóng sự tập 128:

 

Tiếng vọng Xê Đăng – Phóng sự tập 129:

 

Ru Em (dân ca Xê Đăng) – NSUT Thanh Hòa:

 

Ru em- Dân ca Xê-Đăng@ Luala concert Xuân hè 2013 – Nhạc cụ truyền thống:

 

Múa dân tộc & dân ca cùng với các nhạc cụ truyền thống Xơ Đăng:

 

Đàn Nước của người Xơ Đăng:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s