Dân ca dân nhạc VN – Cải lương

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo bộ môn Đờn Ca Tài Tử, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn bộ môn Cải Lương trong Cổ Nhạc Việt Nam.

Lịch Sử Hình Thành Cải Lương Nam Bộ

Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ.

Giải thích chữ “cải lương” theo nghĩa Hán Việt, giáo sư Trần Văn Khê cho rằng: “cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn”, thể hiện qua sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản.

Về thời gian ra đời, theo Vương Hồng Sển: tuy “có người cho rằng cải lương đã manh nha từ năm 1916, hoặc là 1918″, nhưng theo ông thì kể từ ngày 16 tháng 11 năm 1918, khi tuồng Gia Long tẩu quốc được công diễn tại Nhà Hát Tây Sài Gòn, cách hát mới lạ này mới “bành trướng không thôi, mở đầu cho nghề mới, lấy đờn ca và ca ra bộ ra chỉnh đốn, thêm thắt mãi, vừa canh tân, vừa cải cách…nên cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ…” Đã đến lúc, theo Vương Hồng Sển, người ta nghe hát bội hoài, hát bội mãi, cũng chán tai thét hóa nhàm thì các ban tài tử đờn ca xuất hiện.

Ngọc Giàu và Lệ Thủy.
Ngọc Giàu và Lệ Thủy.

Buổi đầu, khoảng cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các nhóm đờn ca được thành lập cốt để tiêu khiển, để phục vụ trong các buổi lễ tại tư gia, như đám tang, lễ giỗ, tân hôn…nhưng chưa hề biểu diễn trên sân khấu hay trước công chúng.

Và nếu trước kia “cầm” (trong “cầm, kỳ thi, họa”) là của tầng lớp thượng lưu thì đến giai đoạn này nó không còn bị bó buộc trong phạm vi đó nữa, mà đã phổ biến rộng ra ngoài. Chính vì thế nhạc tài tử ở các tỉnh phía Nam, về nội dung lẫn hình thức, dần dà thoát ly khỏi nhạc truyền thống có gốc từ Trung, Bắc.

Nhắc lại giai đoạn này, trong Hồi ký 50 năm mê hát, có đoạn:
Căn cứ theo sách vở thâu thập và những lời của người lớn tuổi nói lại, và nếu tôi (Vương Hồng Sển) không lầm thì buổi sơ khởi của cải lương, là do sự ngẫu nhiên, sự tình cờ, là do lòng ái quốc mà nên.

Tác giả giải thích:
Người miền Nam có cái hay là khi biết dùng bạo lực cải hại thân vào tù, thì họ không dùng bạo lực. Họ cố đè nén lòng thương nước, chôn giấu trong một bề ngoài lêu lỏng, chơi bời… Họ (những tài tử) thường tụ họp vừa tập ca cho vui, vừa trau dồi nghệ thuật… rồi mỗi khi có đám tang, vào lúc canh khuya… họ cũng hòa đờn, tập dượt ca cho đúng nhịp, để đánh cơn buồn ngủ. Sau thành thói tục, mỗi dịp “quan – hôn – tang – tế” (chủ nhà) đều có mời họ cho rôm đám.

Khi ấy, Đàn ca tài tử gồm hai nhóm:

* Nhóm tài tử miền Tây Nam Bộ, như: Bầu An, Lê Tài Khị (Nhạc Khị), Nguyễn Quan Đại (Ba Đợi), Trần Quang Diệm, Tống Hữu Định, Kinh Lịch Qườn, Phạm Đăng Đàn…

* Nhóm tài tử Sài Gòn, như: Nguyễn Liên Phong, Phan Hiển Đạo, Nguyễn Tùng Bá…

Nghệ sĩ lão thành Văn Chung, người sáng tạo nụ cười dê xòm độc nhất vô nhị.
Nghệ sĩ lão thành Văn Chung, người sáng tạo nụ cười dê xòm độc nhất vô nhị.

Đến lối Ca ra bộ

Qua lối năm 1910, ông Trần Văn Khải kể: Ở Mỹ Tho có ban tài tử của Nguyễn Tống Triều, người Cái Thia, tục gọi Tư Triều (đờn kìm), Mười Lý (thổi tiêu), Chín Quán (đờn độc huyền), Bảy Vô (đờn cò), cô Hai Nhiễu (đờn tranh), cô Ba Đắc (ca sĩ). Phần nhiều tài tử nầy được chọn đi trình bày cổ nhạc Việt Nam tại cuộc triển lãm ở Pháp. Khi về, họ cho biết rằng Ban tổ chức có cho họ được đờn ca trên sân khấu và được công chúng đến xem đông đảo…

Nghe được cách cho “đờn ca trên sân khấu”, Thầy Hộ, chủ rạp chiếu bóng Casino, ở sau chợ Mỹ Tho, bèn mời ban tài tử Tư Triều, đến trình diễn mỗi tối thứ tư và thứ bảy trên sân khấu, trước khi chiếu bóng, được công chúng hoan nghinh nhiệt liệt.

Trong thời kỳ này, Mỹ Tho là đầu mối xe lửa đi Sài Gòn. Khách ở các tỉnh miền Tây muốn đi Sài Gòn đều phải ghé trạm Mỹ Tho. Trong số khách, có ông Phó Mười Hai ở Vĩnh Long là người hâm mộ cầm ca. Khi ông nghe cô Ba Đắc ca bài Tứ Đại, như bài “ Bùi Kiệm – Nguyệt Nga”, với một giọng gần như có đối đáp, nhưng cô không ra bộ. Khi về lại Vĩnh Long, ông liền cho người ca đứng trên bộ ván ngựa và “ca ra bộ”. Ca ra bộ phát sinh từ đó, lối năm 1915 – 1916.

Cũng theo Vương Hồng Sển:
Các điệu ca ra bộ và cải lương sau này đều chịu ảnh hưởng của các buổi hát nhân những kỳ bãi trường do các trường trung học Taberd, Mỹ Tho, trường tỉnh Sóc Trăng…Cho nên chúng ta không nên quên ơn các nhà tiền bối, phần đông là các giáo sư trường Pháp, đã có sáng kiến dìu dắt và dạy cho ta biết một nghệ thuật hát ca khác với điệu hát bội thời ấy…

Nhà văn Sơn Nam còn cho biết:
Năm 1917, Lương Khắc Ninh, sành về hát bội, đã diễn thuyết tại hội khuyến học Sài Gòn: Người An Nam ta thuở nay vẫn cho nghề hát là nghề hạ tiện, nên người có học thức một ít thì không làm…(nay) muốn cải lương phải làm sao?…Chuyện nói đây không khó. Có học trò trường Taberd đến lúc phát thưởng, nó ra hát theo Lang Sa (Pháp), bộ tịch như Lang Sa. Rất đổi là hát theo ngoại quốc, trẻ em còn làm được, hà huống người An Nam mà hát An Nam không được sao?…Rồi đoàn ca nhạc kịch bên Pháp mỗi năm sáu tháng đã đến Sài Gòn trình diễn, có màn có cảnh phân minh, mỗi tuồng dứt trọn một đêm. Công chúng người Việt hâm mộ, thấy hợp lý, thêm tranh cảnh gọi Sơn thủy, đẹp mắt. Và rồi ngay năm này (1917), ông André Thận (Lê Văn Thận) ở Sa Đéc lập gánh hát xiệc, có thêm ít màn ca ra bộ.

Nghệ sĩ Thanh Sang
Nghệ sĩ Thanh Sang

Hình thành Cải lương

Từ Anh, Năm Châu, Tư Út, Phùng Há, Ba Liên trong tuồng Khúc Oan Vô Lượng, gánh Trần Đắc (Cần Thơ) diễn trên sân khấu khoảng năm 1931. Qua năm 1918, cũng theo Vương Hồng Sển, năm 1918, bỗng Tây thắng trận ngang (Đệ nhất thế chiến), mừng quá, toàn quyền Albert Sarraut nới tay cho phép phe trí thức bày ra một cuộc hát lấy tiền dâng “mẫu quốc” và cho phép lập hội gánh hát để dân bản xứ lãng quên việc nước, thừa dịp đó dân trong Nam bèn trau giồi nghề đờn ca và đưa tài tử salon lên sân khấu…[9]. Nhân cơ hội ấy, ông Năm Tú (Châu Văn Tú) ở Mỹ Tho chuộc gánh của ông André Thận rồi sắm thêm màn cảnh, y phục và nhờ ông Trương Duy Toản soạn tuồng, đánh dấu sự ra đời của loại hình nghệ thuật cải lương.
Đến năm 1920, cái tên “cải lương” xuất hiện lần đầu tiên trên bản hiệu gánh hát Tân Thịnh (1920) với câu liên đối:

“Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.”

Mặc dù Vương Hồng Sển đã nói cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ, nhưng theo sự hiểu của ông thì:

* Năm 1915 trở về trước, tại miền Nam, tài tử còn ca kiểu “độc thoại”.

* Năm 1916, có ca kiểu “đối thoại” (ca ra bộ)

* Đêm 16 tháng 11 năm 1918, tại Rạp Hát Tây Sài Gòn, có diễn tuồng Pháp – Việt nhứt gia (tức Gia Long tẩu quốc) đánh dấu thời kỳ phôi thai của cải lương.

Sau đêm này, André Thận trước và Năm Tú sau, đã đưa cải lương lên sân khấu thiệt thọ. Năm 1922, tuồng Trang Tử thử vợ và tuồng Kim Vân Kiều diễn tại rạp Mỹ Tho rồi lên diễn tại rạp Chợ Lớn và rạp Modern Sài Gòn…lúc này hát cải lương mới thành hình thật sự…

Và diễn biến tiếp theo của cải lương được Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam tóm gọn như sau:

Những năm 1920 – 1930 là thời kì phát triển rực rỡ, nhiều gánh hát ra đời, nổi tiếng nhất là hai gánh Phước Cương và Trần Đắc có dàn kịch gồm 3 loại: các tuồng tích của Trung Quốc, loại xã hội và loại phóng tác (như “Tơ vương đến thác”, “Giá trị và danh dự”).

Trong thời kì 1930 – 1934, nghệ thuật cải lương lan truyền ra ngoài Bắc và nhiều nghệ sĩ xuất sắc xuất hiện như Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nhiêu, Năm Châu… Thời kì kinh tế khủng hoảng, nhiều gánh hát tan rã. Dựa vào tâm lí của dân chúng ngả về tôn giáo, các gánh hát đua nhau diễn các tích về Phật, tiên, đi đầu là gánh hát Tân Thịnh.

Từ 1934, xuất hiện phong trào “kiếm hiệp”, đi đầu là gánh Nhạn Trắng và tác giả Mộng Vân người Bạc Liêu. Những vở nổi tiếng: “Chiếc lá vàng”, “Bích Liên vương nữ”, “Bảo Nguyệt Nương”. Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay… Nhiều vở diễn mới xuất hiện, nội dung phong phú và đa dạng.

Nghệ sĩ Lệ Thủy, nghệ sĩ Minh Vương.
Nghệ sĩ Lệ Thủy, nghệ sĩ Minh Vương.

Đặc điểm

Khởi sự, các vở cải lương viết về các tích xưa, như Trảm Trịnh Ân, Vợ Ngũ Vân Thiệu bị tên, Cao Lũng vít thiết xa, Ngưu Cao tảo mộ, Thoại Khanh Châu Tuấn…hãy còn giữ mang hơi hướm theo kiểu hát bội, do các soạn giả lớp cải lương đầu tiên vốn là soạn giả của sân khấu hát bội. Sau này, các vở về đề tài xã hội mới (gọi là tuồng xã hội), như Tội của ai, khúc oan vô lượng, Tứ đổ tường… thì hoàn toàn theo cách bố cục của kịch nói, nghĩa là vở kịch được phân thành hồi, màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo sự tiến triển của hành động kịch. Càng về sau thì bố cục của các vở cải lương, kể cả các vở viết về đề tài xưa cũng theo kiểu bố cục của kịch nói.

Đề tài & cốt truyện

Buổi đầu, kịch bản cải lương lấy cốt truyện của các truyện thơ Nôm như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên…hoặc các vở tuồng hát bội, hoặc phỏng theo truyện phim và kịch bản Pháp, như Bằng hữu binh nhung (frères d’arme), Sắc giết người (Atlantide), Giá trị và danh dự (Le Cid), Tơ vương đến thác (La dame au camélias)… Vào những năm 1930, đã xuất hiện những vỡ mới viết về đề tài xã hội Việt Nam như đã kể trên. Sau đó, lại có thêm các kịch bản dựa vào các truyện cổ Ấn Độ, Ai Cập, La Mã, Nhật Bản, Mông Cổ…Thế là cải lương có đủ loại tuồng ta, tuồng Tàu, tuồng Tây…sau có thêm dạng tuồng kiếm hiệp, tuồng Hồ Quảng v.v…chứng tỏ khả năng phong phú, biết đáp ứng sở thích của nhiều tầng lớp công chúng.

Sự dung nạp không thành kiến và bảo thủ của cải lương có thể coi là sự lai tạp, nhưng đây cũng là khía cạnh đặc điểm có tính chất chung đối với văn hóa của vùng đất Nam Bộ khi tiếp nhận và cải cách những cái mới cái hay theo sự tiến bộ của xã hội.

Ca nhạc

Các loại hình sân khấu như hát bội, chèo, cải lương được gọi là ca kịch. Là ca kịch chứ không phải là nhạc kịch, vì soạn giả không sáng tác nhạc mà chỉ soạn lời ca theo các bản nhạc có sẵn, cốt sao cho phù hợp với các diễn biến cùng sắc thái tình cảm của câu chuyện.

Sân khấu cải lương sử dụng cái vốn dân ca nhạc cổ rất phong phú của Nam Bộ. Trên bước đường phát triển nó được bổ sung thêm một số bài bản mới (như Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu mà sau này mang tên vọng cổ). Nó cũng gồm một số điệu ca vốn là nhạc Trung Hoa nhưng đã Việt Nam hóa. Ngoại trừ bản vọng cổ, dưới đây là một số bài bản được sử dụng khá phổ biến trong các tuồng cải lương:

– Tam nam: Nam xuân, Nam ai, Nam đảo (đảo ngũ cung)
– Khốc hoàng thiên
– Phụng hoàng
– Nặng tình xưa
– Ngũ điểm
– Bài tạ
– Sương chiều
– Tú Anh
– Xang xừ líu
– Văn thiên tường (nhất là lớp dựng)
– Ngựa ô bắc
– Ngựa ô nam
– Đoản khúc Lam giang
– Phi vân điệp khúc
– Vọng kim lang
– Kim tiền bản
– Duyên kỳ ngộ
– U líu u xáng
– Trăng thu dạ khúc
– Xàng xê v.v…
– Và các điệu lý, như: giao duyên, lý con sáo, lý tòng quân, lý cái mơn v.v..

Ngoài ra, khi các bài hát tây bắt đầu xuất hiện trên sân khấu cải lương như: Pouet Pouet (trong Tiếng nói trái tim), Marinella (trong Phũ phàng), Tango mysterieux (trong Ðóa hoa rừng)…thì lúc bấy giờ trong một đoàn cải lương xã hội có hai dàn nhạc: dàn nhạc cải lương thì ngồi ở trong, còn dàn nhạc jazz thì ngồi ở trước sân khấu…

Nghệ sĩ Bạch Tuyết, nghệ sĩ Minh Vương.
Nghệ sĩ Bạch Tuyết, nghệ sĩ Minh Vương.

Diễn xuất

Diễn viên cải lương diễn xuất như kịch nói. Chỉ khác là diễn viên ca chứ không nói. Cử chỉ điệu bộ phù hợp theo lời ca, chứ không cường điệu như hát bội. Vương Hồng Sển nói: Hát bội tượng trưng nhiều quá và la lối lớn tiếng quá, trái lại cải lương ca rỉ rả cho thêm mùi… Sau này (khoảng những năm 60), cải lương có pha thêm những cảnh múa, đu bay, diễn võ… cốt chỉ để thêm sinh động…

Y phục, tranh cảnh

Trong các vở diễn về tuồng tích xưa hay lấy cốt truyện ở nước ngoài thì y phục của diễn viên và tranh cảnh trên sân khấu cũng được chọn lựa sao gợi được bối cảnh nơi xảy ra câu chuyện, nhưng cũng chỉ mới có tính ước lệ chứ chưa đúng với hiện thực. Trong các vở về đề tài xã hội, diễn viên ăn mặc như nhân vật ngoài đời.

Ghi công

Sơ khởi nên kể công ông Tống Hữu Định (tức Phó Mười Hai). Kế đó, người có công gầy dựng và đưa lên sân khấu là ông André Thận. Bên cạnh đó còn có vài người góp sức như: Kinh-lịch Quờn (hay Hườn), Phạm Đăng Đàng…
Ngoài ra còn phải kể đến công của những bầu gánh, soạn giả, nhạc sĩ và các đào kép tài danh thuộc thế hệ đầu, như: Tư Sự (gánh Đồng Bào Nam), Hai Cu (gánh Nam Đồng Ban), Trần Ngọc Viện (gánh Nữ Đồng Ban), Trương Duy Toản, Ba Ðại, Hai Trì, Nhạc khị, Năm Triều, Sáu Lầu (Cao Văn Lầu), Nguyễn Tri Khương, Trần Văn Chiều (tự Bảy Triều), Ba Ðắc, Bảy Lung, Ba Niêm, Hai Nhiều, Hai Cúc, Năm Phỉ, Ngọc Xứng, Ngọc Sương, Phùng Há, Tư Sạng, Hai Giỏi, Năm Nở, Trần Hữu Trang, Tư Chơi, Năm Châu, Ba Vân, Bảy Nam v.v… Tất cả đã góp phần hình thành và phát triển loại hìngnh nghệ thuật cải lương.

Cũng nên nói thêm, từ sau Hiệp định Geneve (1954), cải lương càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ, trở thành một loại hình nghệ thuật, một bộ môn sân khấu có khả năng thu hút đông đảo khán thính giả. Và do sáng kiến của ông Trần Tấn Quốc, một nhà báo kỳ cựu, giải Thanh Tâm được thành lập năm 1958 và liên tiếp mỗi năm kế sau đều có phát huy chương và khen thưởng cho những nam nữ nghệ sĩ trẻ có triển vọng nhất trong năm.

cl9

Một số vở cải lương nổi tiếng

* Tô Ánh Nguyệt
* Sầu vương biên ải
* Người phu khiêng kiệu cưới
* Mùa thu trên Bạch Mã Sơn
* Máu nhuộm sân chùa
* Chiều đông gió lạnh về
* Tuyệt tình ca
* Hàn Mặc Tử
* Tôn Tẫn Giả Điên
* Người vợ không bao giờ cưới
* Đời cô Lựu
* Lá sầu riêng
* Nửa đời hương phấn
* Tiếng hạc trong trăng
* Sân khấu về khuya
* Bên cầu dệt lụa
* Tiếng trống Mê Linh
* Tấm lòng của biển v.v…

Mình muốn ghi nhận nơi đây một ưu điểm đặc thù nhất trong các tuồng tích của bộ môn Cải Lương, đó là bất cứ tuồng tích nào khi được soạn ra đều mang tính cách giáo dục quần chúng hãy biết lấy “đạo đức truyền thống” của cha ông làm nền tảng xây dựng đời sống nghĩa nhân lành mạnh, noi theo tấm gương sĩ khí của người xưa, ngõ hầu mang lại an vui cho cộng đồng và xã hội ngày càng thêm phát triển tốt đẹp. Đó cũng là một ý nghĩa khác của từ “cải lương” — cải cách cho xã hội lương thiện hơn.

Mời các bạn cùng thưởng thức và tham khảo, sau bài Xiêm Áo Ngày Xưa của soạn giả Nguyễn Phương, 1 clip giới thiệu “Lịch sử cải lương: Bộ môn nghệ thuật trăm tuổi và hành trình tìm lại hào quang”, 1 clip “Phim tư liệu – Chân Dung Các Nghệ Sĩ Tiền Phong”, 1 clip “Ngày Giổ Tổ”, và 5 clips tuồng cải lương bên dưới. Đồng thời các bạn còn có thể đọc thêm bài “Nghệ Thuật Cải Lương” của anh Nguyễn Chí Thuận ở đây.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo: wikipedia)

XIÊM ÁO NGÀY XƯA

Soạn giả Nguyễn Phương (1922-2020)

Khi còn ở Việt Nam, cứ mỗi độ xuân về, tôi có cảm giác là mỗi năm, tôi già đi thêm ba tuổi, chớ không phải như theo lệ thường mỗi năm con người chỉ tăng thêm một tuổi thôi. Tại sao vậy? Vì tôi lo cho công việc gấp ba gấp bốn lần hơn thường ngày. Và bắt đầu lo từ 3 tháng trước Tết, tháng mười một, tháng chạp và tháng giêng dương lịch, tôi lo cho tới ngày mùng một Tết, ngày khai trương tuồng mới của đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Sau đó tôi mới được yên ổn mà ăn một cái Tết như mọi người dân bình thường khác.

Xin nói ngay là vì tôi chịu trách nhiệm Giám đốc kỹ thuật của đoàn hát nên mỗi khi tập tuồng mới, nhất là tuồng để hát trong dịp đầu Xuân, dù là tuồng của bất kỳ của soạn giả nào, tôi cũng có trách nhiệm phải chăm sóc phần tranh cảnh, ánh sáng và phục trang cho vở tuồng đó. Tất nhiên là có sự góp ý của soạn giả, họa sĩ và có sự góp sức của các anh sếp ngành chuyên môn ánh sáng, trang trí và phục trang.

Cũng cần biết là từ năm 1950 đến đầu năm 1960, ngoại trừ anh Năm Châu với đoàn Việt Kịch Năm Châu, các soạn giả khác thì phải tùy theo ý thích của ông bà bầu gánh hát mà liệu định cho phần dàn cảnh và phục trang của các diễn viên trong tuồng của mình.

Hồi đầu thập niên 50, nhiều gánh hát cải lương chuyên hát các loại tuồng kiếm hiệp La Mã của các soạn giả Mộng Vân, Năm Nghĩa, Bảy Cao, Quang Phục, Lâm Tồn, nên y phục tuồng hát được may đồng loạt cho các vai Hoàng Tử, Công Chúa, Vua, Hoàng Hậu, Hiệp Sĩ, kẻ cướp, chủ quán và quân lính phe bên nầy hay bên phe đối nghịch. Tuồng nào cũng xử dụng những y phục đó, đổi qua đổi lại, miễn là lạ và đẹp sân khấu, không cần biết có đúng theo mẫu phục trang của dân tộc được quy định trong tuồng hát hay là không.

Chưa kể có những trường hợp ngoại lệ, một vài kép chánh, đào võ mặc trang phục hoàng tử hay công chúa nhưng tự động mang thêm ghết tay, khăn choàng kiểu hiệp sĩ Zéro của phim ảnh Pháp, hoặc để đầu trần chảy tóc kiểu tango, thoa brillantine bóng lưỡng. Lúc đó người ta thấy chướng mắt nên phán cho một câu là ăn mặc lố lăng như cải lương.

Sau năm 1954, hòa bình lập lại, các gánh hát có thể hát thường trực ở một rạp như Kim Chung hát thường trực ở rạp hát Aristo đường Lê Lai và rạp Olympic đường Hồng Thập Tự, gánh hát Thanh Minh hát thường trực tại rạp Thành Xương, sau đó hát thường trực tại rạp Hưng Đạo. Các đoàn hát Bầu Thắng – Minh Tơ hát thường trực tại đình Cầu Quan, đoàn Tấn Thành Ban thường trực tại đình Cầu Muối, đoàn Tấn Thành Ban – Tư Châu hát thường trực tại đình Minh Phụng. Nhiều đoàn hát bội của bầu Minh Biện, bầu Ba Dực, bầu Huỳnh cũng hát thường trực trong nhiều đình ở trung tâm Sàigòn. Đó là chưa kể những đại ban cải lương như đoàn hát Kim Thanh, Kim Chưởng, Hương Mùa Thu, Dạ Lý Hương, Phước Chung, Trăng Mùa Thu, Hoa Sen, Kim Thoa luân phiên hát ở các rạp Nguyễn Văn Hảo, Thành Xương, Quốc Thanh, Thủ Đô, Hào Huê.

Nhiều báo hàng ngày như tờ Saigon Mới, Tiếng Dội Miền Nam, Tiếng Chuông, Trắng Đen đều có trang kịch trường nên thường có bài phê bình các vở tuồng và nghệ thuật diễn xuất của các diễn viên, vì vậy mà các đoàn hát phải thận trọng nghiên cứu về trang trí, phục trang, âm nhạc và lối diễn xuất sao cho đúng với nội dung tuồng.
Trong những năm từ 1955 đến đầu năm 1960, các đoàn hát ít hát loại tuồng kiếm hiệp La Mã kiểu tuồng của soạn giả Mộng Vân mà chuyển qua diễn các vở tuồng thuộc loại Dã Sử Việt Nam và tuồng xã hội Việt Nam. Do đó, là Giám đốc kỹ thuật của đoàn hát, tôi phải đi sưu tầm tài liệu về y trang, nhà cửa và các đồ dùng trong nhà của dân chúng hay các vua chúa khi diễn các vở tuồng dã sử. Những tài liệu đó chỉ có thể tra cứu trong các thư viện của Trung Tâm Học Liệu, Thư Viện Saigon, Thư viện trường Mỹ Thuật Gia Định hoặc ở Viện Bảo Tàng Saigon( trong Sở thú, do ông Vương Hồng Sển làm Giám đốc).

Chỉ nói riêng về y trang, phục trang, diễn tuồng Tàu thì các nhân vật đời Hán, Đường, Tống, Minh thì có thể dùng theo các kiểu phục trang may theo kiểu của các đoàn hát Quảng : long bào, long chấn, áo bố tử, đội mão cửu long hoặc cữu phụng, mão võ tướng hay bịt khăn Anh hùng cân. Chỉ cần chế biến thay đổi đôi chút. Riềng về đời Mãn Thanh thì y phục, trang phục có kiểu mẫu riêng của đời Mãn Thanh.

Hát tuồng dã sử Việt Nam thì phải tốn công nghiên cứu nhiều hơn, kỹ hơn. Một ví dụ nhỏ : Trang trí hình cột rồng trong triều đình trên sân khấu, trên y trang, con rồng thời Lý khác với con rồng thời Trần và cũng khác với con rồng thời Hồ, thời Lê, thời Mạc. Phần lớn các gánh hát vẽ hình con rồng theo lối con rồng của Tàu. . .

Rắc rối nhất không phải là các phục trang của các triều đại bên Tàu hoặc các triều đại của vua chúa Việt Nam xa xôi, vì phần đông khán giả biết hát trên sân khấu là tượng trưng chớ không thể y như thật, phục trang, trang trí của các thời đại đó đều được « cách điệu hóa » rồi. Khán giả tin tưởng là soạn giả, họa sĩ và những nhà thiết kế về phục trang, y trang của đoàn hát có nghiên cứu và vẽ kiểu mẫu đúng nhất để cho thợ chuyên môn thực hiện. Rắc rối nhất mà chúng tôi gặp phải chính là y trang, phục trang của các nhân vật nam, nữ Việt Nam từ đầu thế kỳ 20 đến nay.

Còn nhớ năm 1960, đoàn Thanh Minh Thanh Nga hát vở tuồng » Thầy Cai Tổng Bồi » của tôi và Viễn Châu họp soạn nhưng để tên soạn giả Bảo Quốc( tức Năm Nghĩa) do theo yêu cầu của bà Bầu Thơ nhân dịp giỗ một năm sau ngày mất của nghệ sĩ Năm Nghĩa, chồng bà. Khách được mời dự ngày cúng giỗ nghệ sĩ Năm Nghĩa sẽ xem vở hát Thầy Cai Tổng Bồi, đó là những nhà trí thức, khoa bảng, thân hữu của gia đình bà Bầu Thơ, các vị chủ báo như Trần Tấn Quốc, Vương Hồng Sển, Đinh Văn Khai, luật sư Dương Tấn Trương và hầu hết các ký giả kịch trường nổi danh của thời đó như Nguyễn Ang Ca, Sơn Nam, Tô Yến Châu, Lê Hiền, Phùng Mậu, Tam Ích, Sĩ Trung, Ngọc Linh, Hoài Ngọc, Kiên Giang, Phi Sơn, Trọng Minh…

Tuồng Thầy Cai Tổng Bồi kể một chuyện thời khai hoang của miền đất Càmau vào đầu thập niên 1920, có những nhân vật như thầy cai tổng, hương quản, làng xã, dân nghèo, có đám cưới, có cảnh dân giàu và nghèo ở Saigon cũng vào những năm từ 1920 đến 1930.

Ông Vương Hồng Sển, nhà văn Sơn Nam làm cố vấn cho tôi khi tôi đi sưu tầm các tài liệu cần thiết cho các họa sĩ và thợ may của đoàn hát. Sau đó tôi làm việc với các họa sĩ Thiếu Linh, Phan Phan, Nguyễn Quyền để lo vẽ cảnh trí và mẫu y trang, phục trang; ông Tám Trống và vợ tôi thực hiện các mẫu vẽ y trang.

Quần áo của người bình dân( các vai của Việt Hùng, Ngọc Nuôi, Hoàng Giang, Kim Giác khi còn là nông dân trốn sâu thuế)
Đàn ông lúc làm lụng thường mặc quần đùi hay quần lỡ và chiếc áo lá không cổ, không tay hoặc ngắn tay, được nhuộm màu nâu bằng vỏ cóc hay nhuộm đen bằng vỏ trâm bầu với bùn non. Loại áo quần được may bằng vải ta nên còn gọi là áo bả.
Một loại áo « chít »( áo chiếc) còn được gọi là áo « cổ giữa » hay áo « cổ trịt »( cổ trệt). Áo cổ giữa là áo ngắn, gài nút trước ngực, không bâu, nếu là áo nam thì có xẻ nách, còn áo nữ thì bít kín.

Bài thơ tả Ông Làng hát bội của Học Lạc có nhắc đến loại áo nầy:

Trong bụng trống trơn mang cổ giữa
Trên đầu trọc lóc bịt khăn ngang.

Đàn bà hay đàn ông đều mặc quần đáy lá nem. Chiếc quần có hai màu. Phần đáy và hai ống quần bằng vải màu nâu hay đen. Phía trên là lưng quần cao khoảng hai tấc, may bằng vải xanh hay vải trắng, dùng để vận. Vì vậy mới có câu Quần Vận Yếm Mang để chỉ về người phụ nữ. Nhiều người thích mặc quần rất dài, khi xổ lưng vận ra, kéo thẳng thì đến tận nách nên còn gọi là quần nách. Sợi giây lưng dùng làm điểm tựa để giữ chiếc quần và mớn lưng quần. Trên đầu thì chít khăn ngang. Kích thước chiếc khăn ngang bằng chiếc khăn rằn sau nầy nhưng chỉ có một màu. Màu chàm hay màu xanh là của những người trẻ tuổi. Màu đỏ là màu của các ông già đạo mạo.
Khăn xéo màu trắng là khăn của giới trung niên. Ca dao có câu : « Để khăn xéo lại, lệ tuôn em chùi » để diễn tả cuộc chia ly buồn bã.
Nông dân bịt khăn ngang theo kiểu đầu rìu khi ra ruộng.

Áo dài:
Khi tiếp khách, đi chợ hay đi dự tiệc tùng giỗ chạp, người dân Saigon Gia Định đều mặc áo dài. Suốt mấy thế kỷ qua, người dân Saigon Gia Định đã lấy chiếc áo dài làm thường phục vì nó lịch sự và kín đáo.

Những năm 1920 đến cuối năm 1930, phụ nữ bình dân có nhiều người mặc áo dài vải đen, gánh hàng đi chợ bán hoặc mặc áo dài đi cấy. Khi đó họ quấn hai vạt, buộc ngang hông lại.

Áo dài chít ( áo chiếc) là loại áo dài đơn, cổ ngắn, có bâu, tay dài nhưng hơi rộng, gài nút bên phải. Áo chít thường may bằng lụa hay the dùng mặc trong mùa hè.

Áo lót ( áo cặp) là loại áo kiểu dáng như vừa kể nhưng may hai lớp. Lớp trong thường may bằng lụa trơn. Lớp ngoài bằng nhung , gấm hay bằng một loại tơ lụa quí, có hoa văn đẹp. Loại áo lót có cái áo trong dài hơn áo ngoài gọi là Áo Chớn.

Theo ông Vương Hồng Sển thì ở thế kỷ trước, nam giới thuộc từng lớp hào phú hay trí thức cũng mặc Áo Dài Song Khai. Áo Song Khai là loại áo gài nút trước ngực. tay dài, rộng, có bâu hoặc không có bâu, vạt sau được xẻ lên tới lưng, còn hai bên tà thì bít kín nên gọi là Song Khai( tức là mở phía trước và mở phía sau) Người mặc áo song khai thường đội nón chóp, đi giày mã vĩ hoặc giày tàu. Giày Mã Vĩ do người Tàu ở Hạ Châu mang qua bán, kết bằng long đuôi ngựa nên gọi là mã vĩ, còn gọi là giày Hạ.

Theo tục lệ xưa, một chiếc áo dài hoặc ngắn đều phải có năm nút, tượng trưng cho năm giềng mối trong xã hội( Ngũ Luân) là Vua tôi, Thầy trò, Cha con, Chồng vợ và Bạn bè.
May áo phải đâu vạt sau với vạt trước. Do đó áo cổ giữa phải có 4 khổ vải ráp, còn áo vạt hò phải có 5 khổ.
Nút áo ngắn thường kết bằng nút dẹp, làm bằng ốc xa cừ nên được gọi là nút ốc. Nút áo dài thì hình tròn, nhỏ, làm bằng vàng, ngà, mã não hay hổ phách. Nút làm bằng hổ phách còn gọi là nút huyết. Vì nút quí như vậy nên mới có tục lệ khi liệm người chết, người ta cắt lấy nút áo lại.

Khoảng những năm từ 1915 đến 1940, những ông cụ, bà cụ( tuồi từ 60 trở lên) trong những dịp lễ quan trọng, thường mặc chiếc áo thụng năm thân, áo rộng, không eo, dài đến gần mắt cá, vừa trang nghiêm vừa kín đáo. Áo thường được may bằng nhung, gấm với chữ phúc, chữ thọ cho những người giàu. Giới trí thức thường mặc áo dài xuyến đen, đầu đội khăn đóng Suối Đờn, chân đi giày hàm ếch, tay xách dù cán cong hoặc gậy baton.

Sau phong trào Duy Tân (1915 – 1920) thanh niên cắt tóc ngắn, mặc áo dài với quần tây trắng, đi giày tây đánh sira (cirage) đen bóng.

Khoảng năm 1925, phụ nữ trẻ mặc áo bà ba bằng vải batiste trắng, quần lãnh đen không rộng lắm và đeo kiềng vàng. Phụ nữ lớn tuổi mặc áo bà ba rộng hơn, bên trong còn có áo túi.

Năm 1935, họa sĩ Lê Phổ giới thiệu một kiểu áo dài cho phụ nữ tân thời. Áo được may ôm sát eo, cổ thấp, chiều dài áo ngắn hơn một đoạn. Nút bóp thay cho nút hột. Kiểu áo dài của họa sĩ Lê Phổ cải tiến mẫu áo dài xưa, một sự cách tân dè dặt nhưng kiểu áo đó làm tăng thêm vẽ đẹp của thân hình phụ nữ( eo thon) nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp kín đáo nền nếp của phụ nữ Việt Nam. Người ta gọi là áo dài Lê Phổ.

Sau đó vài năm, ông Nguyễn Cát Tường lăng xê loại áo dài Le Mur, đó là một sự cách tân có vay mượn những kiểu dáng của thời trang Tây Âu thời đó như tay phồng, cổ giống áo sơ mi hoặc nhúng bèo, cổ tay cày khuy. Áo dài kiểu Le Mur của ông Nguyễn Cát Tường chỉ tồn tại được vài năm. Dân chúng thích kiểu dáng của Lê Phổ nhưng áo dài thêm cổ cao và vạt dài tới mắt cá. Màu sắc thay đổi vì có nhiều hàng soie Pháp có in hình bông hoa rất đẹp, màu sắc hài hòa, thêm nữa chiếc áo dài có nhấn « ben » khiến cho thân áo dài càng ôm sát eo người mặc nên càng làm tăng thêm vẻ đẹp của thân hình người phụ nữ Việt Nam.

Vào những năm 1940, ảnh hưởng của nền văn minh Tây Âu, các thanh niên nam nữ ăn mặc tự nhiên và dễ dãi hơn. Họ hớt tóc ngắn, các cô cắt tóc bôm bê hoặc uốn lượn, có dùng kẹp tóc, nơ, băng đô…

Từ năm 1954, chiếc áo dài đã được nữ sinh mặc đến trường với kiều tà rộng, eo thắt, cổ cao và ống tay hẹp. Áo dài trắng, áo dài tím, áo dài màu xanh thiên thanh( còn gọi là xanh lơ , bleu) được dùng làm đồng phục của các trường nữ trung học được gọi là áo dài nữ sinh. Và thời điểm nầy đã có một số phụ nữ mặc áo đầm, váy dài quá đầu gối hoặc xếp li…

Năm 1960, mốt ( mode) nhất là áo dài nylon mỏng mặc với quần satin trắng. Vải nylon mỏng có in hoa nhiều kiểu, nhiều dáng thật đẹp. Ngoài ra có những áo dài màu trơn được họa sĩ vẽ bằng tay trên lụa theo mẫu mã của họa sĩ. Loại áo dài vẽ nầy rất quí và độc đáo, mỗi một kiểu áo là một cái duy nhứt, vì vẽ áo dài dù cho mẫu vẽ có giống nhau thì hai cái áo vẽ trước hay sau đều có vài chỗ khác nhau chớ không thể giống in hệt nhau như loại áo được in đồng loạt theo một khuôn mẫu.

Thời gian nầy bà Trần Lệ Xuân (bà Ngô Đình Nhu) đã thay đổi cổ áo dài rộng vai, cổ tròn, cổ vuông rồi cổ trái tim, nhưng kiểu áo dài nầy cũng chỉ tồn tại một thời gian ngắn, sau năm 1963, áo dài phụ nữ lại trở về với mẫu áo như áo nữ sinh hay của phụ nữ quí phái trong những năm 1958, 1959. Năm 1968 – 1970, xuất hiện loại áo dài tay raglan được áp dụng phổ biến cho tới ngày nay.

Sau 1975, người ta ào ạt lăng xê mode mặc quần vải đen, áo bà ba đen, quấn khăn sọc rằn đen trắng quanh cổ, đi dép râu, ngồi chồm hổm trên salon hay trên ghế của các rạp hát để phơi bày cái giai cấp tính nông dân của những kẻ chiến thắng, mong đẩy lùi cuộc sống văn minh, xa hoa của một thành phố Hòn Ngọc Viễn Đông và kéo cả miền Nam giàu có về cái kiếp nghèo cùn mằn của Hà Nội Xã Nghĩa.

Năm 1986, ông Tổng bí thư Đảng CSViệt Nam tuyên bố cởi trói văn nghệ sĩ, vô tình cởi trói luôn cho cái « văn hóa áo dài ».
Áo dài tuyệt đẹp của phụ nữ Việt Nam lại chiến thắng, đánh tan cái mode quần vải đen, áo bà ba đen và khăn sọc rằn đen trắng. Áo dài thời trang phụ nữ đã cho cái mode cùn mằn nầy đi vào quên lãng của thời gian, đi mất tiêu một lượt với cái « đỉnh cao trí tuệ của loài người ».

Ngày Tết ở cái xứ Canada, tuyết bay trắng trời, lạnh buốt xương. Tôi và vợ tôi không xuất hành đi du xuân được, bèn ngồi nhà, uống trà, ăn mứt, cắn hột dưa, kể cho nhau nghe những chuyện « Xiêm áo ngày xưa », đó là một cách « Ôn cố tri tân » để làm quà Tết cho nhau, thay cho lời chúc tết xưa rít xưa rang « Tân Niên Hỉ Sự » hay « Ngũ Phúc Lâm Môn ».

Vợ tôi nhắc lại khi hát tuồng « Thầy Cai Tổng Bồi » năm 1960, Thanh Nga đóng vai con gái của thầy Cai tổng, con gái nhà giàu, Thanh Nga phải bới đầu bánh lái tóc bỏ đuôi gà, đeo kiềng vàng trên cổ. Vì bới tóc kiểu nầy rất khó, tự Thanh Nga hay người giúp việc của cô không bới giúp cho cô được nên bà Bầu Thơ phải mời cô Bảy Phùng Há đến nhà bới tóc dùm và chỉ dạy cho người phụ hóa trang của Thanh Nga.

Đêm khai trương tuồng Thầy Cai Tổng Bồi, Thanh Nga bới đầu bánh lái tóc bỏ đuôi gà, cô mặc áo dài lở màu hường, quần satin trắng, mang guốc sơn. Từ xưa tới giờ, cô chưa từng đi guốc, sợ không quen, ra sân khấu đi guốc vấp váp lôi thôi nên cô mới tập mang guốc đi bộ trên đường ra rạp hát.

Đường Hưng Đạo vào buổi chiều, xe cộ chạy ào ào, bỗng dưng một số xe gắn máy dừng lại, xe hơi cũng tấp vô lề đường, nhiều người dắt xe đi bộ, quay lại tà tà đi theo hướng về rạp Nguyẽn Văn Hảo. Trên lề đường người ta đi đông nghẹt như một cuộc biểu tình! Thì ra có người phát hiện là Thanh Nga, cô đào khả ái nhứt của sân khấu cải lương, ăn mặc như một cô gái nhà giàu xưa, đang đi bộ trên đường. Họ đi theo coi mặt Thanh Nga, hỏi chuyện Thanh Nga.

Có người hát lớn tròng ghẹo: Chị kia bới tóc đuôi gà, Nắm đuôi chị lại, hỏi nhà chị đâu? Mọi người đi vây quanh Thanh Nga cười ồ lên. Bất ngờ Thanh Nga vui vẻ đáp: Nhà tôi ở dưới khóm dâu, Ở trên đám đậu, đầu cầu ngó qua…

Khoảng cách giữa người khán giả và diễn viên sân khấu bỗng nhiên không còn nữa. Họ đi theo Thanh Nga tới rạp hát, cười nói ồn ào, thân mật. Có nhiều người vô mua vé xem hát như muốn kéo dài ra cái giây phút thân mật giữa họ với ngôi sao thần tượng.

Hơn 40 năm trôi qua, nhắc chuyện xiêm áo ngày xưa là chúng tôi nhớ đến Thanh Nga, một diễn viên tuyệt đẹp, dễ thương, khi Thanh Nga mặc bất cứ y phục nào thì Thanh Nga cũng làm tăng thêm sắc đẹp của cô và tăng thêm giá trị của bộ y phục đó. Trên sân khấu, Thanh Nga trở thành người mẫu thời trang ngoài ý muốn của cô vì sau khi hát những vở tuồng xã hội, mẫu phục trang nào được Thanh Nga dùng đến thì hầu như các hiệu may áo dài và thời trang cũng bắt chước may cho các nữ thân chủ của họ./.

nguynphuong

thanhnga
Thanh Nga

Lịch sử cải lương: Bộ môn nghệ thuật trăm tuổi và hành trình tìm lại hào quang

Phim Tư Liệu – Chân Dung Các Nghệ Sĩ Tiền Phong

Giổ Tổ Sân Khấu 2013 (Lễ Giỗ Tổ ngày 12 tháng 8 âm lịch)
– Đài Truyền Hình VHN TV:

Tuồng ĐỜI CÔ LỰU – Màn 1 – NSND Phùng Há, Út Trà Ôn, Hoàng Giang), đây là đội ngũ nghệ sĩ thế hệ 1:

Tuồng ĐỜI CÔ LỰU – Cải Lương Chi Bảo Bạch Tuyết (vai Cô Lựu), Thanh Sang (vai Thành), Diệp Lang (vai Hội Đồng Thăng), Hồng Nga (vai Bà Hai Hương), Minh Vương (vai Luân), Lệ Thủy (vai Kim Anh), Viên kỳ ngọc Ngọc Giàu (cô Bảy Cán Vá), Bảo Quốc (vai Thợ Bạc), Thống soái cải lương Hồ Quảng Thanh Tòng (vai chồng của Kim Anh), đây là đội ngũ nghệ sĩ thế hệ 2 và 3:

Tuồng NGƯỜI VỢ KHÔNG BAO GIỜ CƯỚI – Út Bạch Lan, Kim Cúc, Thanh Hoa, Hữu Phước, Hoàng Giang, Minh Tấn, đây là đội ngũ nghệ sĩ thế hệ 1 & 2:

Tuồng NỬA ĐỜI HƯƠNG PHẤN – Bạch Tuyết, Minh Vương, Lệ Thủy, Thanh Tòng, Diệp Lang, Phương Quang đồng diễn, đây là đội ngũ nghệ sĩ thế hệ 2 và 3:

Trích đoạn CÔ LÁNG GIỀNG – Nghệ sĩ Phượng Mai (thế hệ thứ 3) & Nghệ sĩ Dũng Thanh Lâm (thế hệ thứ 2) đồng diễn:

Một suy nghĩ 4 thoughts on “Dân ca dân nhạc VN – Cải lương”

  1. Em cảm ơn chị Phượng với một series bài công phù về các loại hình ca kịch truyền thống của VN.

    Hồi em học phổ thông, ở Bắc thì các bà các mẹ thích nghe quan họ. Đa số thì tụi em khi còn học sinh không thích nghe tuồng, chèo cải lương vì không hiểu gì.

    Sau học đại học lớn thêm một chút em nghe quan họ live, và ca trù live em thích lắm. Nhất là quan họ. Rồi em đi đến xem CLB ca trù tuồng cho quần chúng nơi mà các nghệ nhân vừa biểu diễn vừa giải thích cho người nghe phổ thông. Em rất là thích vì mình hiểu thêm được ý nghĩa nên cũng có khả năng cảm nhận tốt hơn nhiều. Vì dụ như không tự nhiên người ta bôi mặt xanh đỏ tím vàng cho các ông tuồng

    Nhận thấy đúng thật, ngày trước mình tai trâu chẳng hiểu gì và thẩm âm nên không thích là đúng rồi. Vì chẳng ai dạy

    Em thấy đáng tiếc cho những loại hình ca kịch truyền thống của VN không được chăm sóc cẩn thận để lưu giữ giá trị. Đây là lỗi của nhà nước và cả một hệ thống giáo dục. Học sinh mù mờ về những giá trị văn hóa này. Có được học thì khô khan, cứng nhắc. Đây không phải là lỗi của người trẻ không thích nghệ thuật truyền thống mà nghệ sĩ không được khuyến khích sáng tạo, không có không gian sáng tạo để vươn tới quần chúng. Nội dung thì chỉ được phép xoay quanh mấy thứ nhàm nhàm

    Các nước coi trọng giáo dục và truyền thống âm nhạc, chỉ cần đầu tư một chút cho các nghệ sĩ, mời học sinh, sinh viên đến các không gian, nhà hát miễn phí, vừa biểu diễn vừa giải thích sinh động. Người ta còn biểu diễn âm nhạc ngoài đường phố.

    Em có vài chia sẻ với chị Phượng và cả nhà 🙂 . Cảm ơn chị Phượng nha

    e. Hằng

    Thích

  2. Hi chị Phượng,

    Mẹ em ghiền cải lương lắm chị Phượng. Hồi em còn nhỏ, tối tối nếu có cải lương là cả nhà em ngồi xem. Em vẫn nhớ những hình ảnh trong Phạm Công Cúc Hoa, Lan và Điệp. Nhiều đoạn rất xúc động, em phải lén chùi nước mắt (hồi đó nhỏ, mắc cỡ nên không dám xúc động trước ba mẹ). Tưởng chỉ có một mình mình xúc động, nhìn sang bên cạnh, em thấy mẹ cũng lén chùi nước mắt.

    Mẹ em có một cửa hàng tạp hóa ở chợ. Mẹ lấy chữ Phi trong Phi Nhung (nghệ sĩ cải lương) làm tên đệm cho tên cửa hàng của mình.

    Em thấy cải lương là nghĩ tới mẹ.

    Cám ơn chị đã chia sẻ loạt bài dân ca VN này.

    Thích

  3. Hi Hằng,

    Ôi chị vui lắm có em chia sẻ. Riêng chị thì yêu thích loại hình nghệ thuật dân ca dân nhạc từ hồi còn nhỏ xíu xìu xiu lúc còn bên mẹ và ông ngoại của chị. Chị được học các câu hò & bài hát ru em đầu tiên từ mẹ chị theo thể cách truyền miệng và thuộc nằm lòng.

    Kế đến ông ngoại của chị dạy chị tiếp những giai điệu dân ca & trống cũng bằng thể cách truyền miệng, thuộc nằm lòng, và thực hành. Sau hết là chị thường được ngoại và mẹ dẫn theo đi xem “Lễ Hát Cúng Đình” hàng năm. “Lễ Hát Cúng Đình” là một lễ hội được tổ chức trong đình làng. Ngày xưa đình làng là trung tâm văn hóa và tâm linh của làng. Mọi hoạt động văn hóa và lễ bái của làng đều xảy ra ở đó.

    Hồi đó chị không hiểu gì, nhưng bây giờ nghĩ lại Lễ Hát Cúng Đình có lẽ là lễ hội cúng thần hoàng của làng hàng năm, gồm có các lễ bái, chương trình Hát Bộ/Hát Bội, và Đờn Ca Tài Tử. Giáo sư linh mục Kim Định, thầy dạy Triết Đông của anh Hoành, có viết cuốn Triết Lý Cái Đình rất hay.

    Năm chị 16 tuổi chị có học âm nhạc với Đệ Nhất Danh Cầm Cổ Nhạc miền Nam Văn Vĩ, cho nên về sau có căn bản để hiểu biết và thưởng thức cổ nhạc và dân ca miền Nam, rồi từ từ đến dân ca cả nước.

    Chị rất biết ơn những người ở thế hệ trước đã gieo rắc vào lòng chị lòng yêu thương âm nhạc truyền thống nước nhà.

    Thích

  4. Hi Thu Hương,

    Cám ơn em đồng tình cùng chị.

    Chị và mẹ chị cũng giống em và mẹ em. Cũng ghiền cải lương và đều khóc lén. Bây giờ nhớ lại mới thấy là cải lương thực sự làm xúc động lòng người.

    Các loại hình nghệ thuật ngày nay, đặc biệt là movie, loại hình nghệ thuật thịnh hành nhất, cũng có thể làm cho người ta xúc động. Nhưng so với cải lương thì ảnh hưởng tình cảm của movie nói chung kém cải lương một trời một vực.

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s