Dân ca dân nhạc VN – Cải lương

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo bộ môn Đờn Ca Tài Tử, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn bộ môn Cải Lương trong Cổ Nhạc Việt Nam.

Lịch Sử Hình Thành Cải Lương Nam Bộ

Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ.

Giải thích chữ “cải lương” theo nghĩa Hán Việt, giáo sư Trần Văn Khê cho rằng: “cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn”, thể hiện qua sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản.

Về thời gian ra đời, theo Vương Hồng Sển: tuy “có người cho rằng cải lương đã manh nha từ năm 1916, hoặc là 1918″, nhưng theo ông thì kể từ ngày 16 tháng 11 năm 1918, khi tuồng Gia Long tẩu quốc được công diễn tại Nhà Hát Tây Sài Gòn, cách hát mới lạ này mới “bành trướng không thôi, mở đầu cho nghề mới, lấy đờn ca và ca ra bộ ra chỉnh đốn, thêm thắt mãi, vừa canh tân, vừa cải cách…nên cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ…” Đã đến lúc, theo Vương Hồng Sển, người ta nghe hát bội hoài, hát bội mãi, cũng chán tai thét hóa nhàm thì các ban tài tử đờn ca xuất hiện.

Ngọc Giàu và Lệ Thủy.
Ngọc Giàu và Lệ Thủy.

Buổi đầu, khoảng cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, các nhóm đờn ca được thành lập cốt để tiêu khiển, để phục vụ trong các buổi lễ tại tư gia, như đám tang, lễ giỗ, tân hôn…nhưng chưa hề biểu diễn trên sân khấu hay trước công chúng.

Và nếu trước kia “cầm” (trong “cầm, kỳ thi, họa”) là của tầng lớp thượng lưu thì đến giai đoạn này nó không còn bị bó buộc trong phạm vi đó nữa, mà đã phổ biến rộng ra ngoài. Chính vì thế nhạc tài tử ở các tỉnh phía Nam, về nội dung lẫn hình thức, dần dà thoát ly khỏi nhạc truyền thống có gốc từ Trung, Bắc.

Nhắc lại giai đoạn này, trong Hồi ký 50 năm mê hát, có đoạn:
Căn cứ theo sách vở thâu thập và những lời của người lớn tuổi nói lại, và nếu tôi (Vương Hồng Sển) không lầm thì buổi sơ khởi của cải lương, là do sự ngẫu nhiên, sự tình cờ, là do lòng ái quốc mà nên.

Tác giả giải thích:
Người miền Nam có cái hay là khi biết dùng bạo lực cải hại thân vào tù, thì họ không dùng bạo lực. Họ cố đè nén lòng thương nước, chôn giấu trong một bề ngoài lêu lỏng, chơi bời… Họ (những tài tử) thường tụ họp vừa tập ca cho vui, vừa trau dồi nghệ thuật… rồi mỗi khi có đám tang, vào lúc canh khuya… họ cũng hòa đờn, tập dượt ca cho đúng nhịp, để đánh cơn buồn ngủ. Sau thành thói tục, mỗi dịp “quan – hôn – tang – tế” (chủ nhà) đều có mời họ cho rôm đám.

Khi ấy, Đàn ca tài tử gồm hai nhóm:

* Nhóm tài tử miền Tây Nam Bộ, như: Bầu An, Lê Tài Khị (Nhạc Khị), Nguyễn Quan Đại (Ba Đợi), Trần Quang Diệm, Tống Hữu Định, Kinh Lịch Qườn, Phạm Đăng Đàn…

* Nhóm tài tử Sài Gòn, như: Nguyễn Liên Phong, Phan Hiển Đạo, Nguyễn Tùng Bá…

Nghệ sĩ lão thành Văn Chung, người sáng tạo nụ cười dê xòm độc nhất vô nhị.
Nghệ sĩ lão thành Văn Chung, người sáng tạo nụ cười dê xòm độc nhất vô nhị.

Đến lối Ca ra bộ

Qua lối năm 1910, ông Trần Văn Khải kể: Ở Mỹ Tho có ban tài tử của Nguyễn Tống Triều, người Cái Thia, tục gọi Tư Triều (đờn kìm), Mười Lý (thổi tiêu), Chín Quán (đờn độc huyền), Bảy Vô (đờn cò), cô Hai Nhiễu (đờn tranh), cô Ba Đắc (ca sĩ). Phần nhiều tài tử nầy được chọn đi trình bày cổ nhạc Việt Nam tại cuộc triển lãm ở Pháp. Khi về, họ cho biết rằng Ban tổ chức có cho họ được đờn ca trên sân khấu và được công chúng đến xem đông đảo…

Nghe được cách cho “đờn ca trên sân khấu”, Thầy Hộ, chủ rạp chiếu bóng Casino, ở sau chợ Mỹ Tho, bèn mời ban tài tử Tư Triều, đến trình diễn mỗi tối thứ tư và thứ bảy trên sân khấu, trước khi chiếu bóng, được công chúng hoan nghinh nhiệt liệt.

Trong thời kỳ này, Mỹ Tho là đầu mối xe lửa đi Sài Gòn. Khách ở các tỉnh miền Tây muốn đi Sài Gòn đều phải ghé trạm Mỹ Tho. Trong số khách, có ông Phó Mười Hai ở Vĩnh Long là người hâm mộ cầm ca. Khi ông nghe cô Ba Đắc ca bài Tứ Đại, như bài “ Bùi Kiệm – Nguyệt Nga”, với một giọng gần như có đối đáp, nhưng cô không ra bộ. Khi về lại Vĩnh Long, ông liền cho người ca đứng trên bộ ván ngựa và “ca ra bộ”. Ca ra bộ phát sinh từ đó, lối năm 1915 – 1916.

Cũng theo Vương Hồng Sển:
Các điệu ca ra bộ và cải lương sau này đều chịu ảnh hưởng của các buổi hát nhân những kỳ bãi trường do các trường trung học Taberd, Mỹ Tho, trường tỉnh Sóc Trăng…Cho nên chúng ta không nên quên ơn các nhà tiền bối, phần đông là các giáo sư trường Pháp, đã có sáng kiến dìu dắt và dạy cho ta biết một nghệ thuật hát ca khác với điệu hát bội thời ấy…

Nhà văn Sơn Nam còn cho biết:
Năm 1917, Lương Khắc Ninh, sành về hát bội, đã diễn thuyết tại hội khuyến học Sài Gòn: Người An Nam ta thuở nay vẫn cho nghề hát là nghề hạ tiện, nên người có học thức một ít thì không làm…(nay) muốn cải lương phải làm sao?…Chuyện nói đây không khó. Có học trò trường Taberd đến lúc phát thưởng, nó ra hát theo Lang Sa (Pháp), bộ tịch như Lang Sa. Rất đổi là hát theo ngoại quốc, trẻ em còn làm được, hà huống người An Nam mà hát An Nam không được sao?…Rồi đoàn ca nhạc kịch bên Pháp mỗi năm sáu tháng đã đến Sài Gòn trình diễn, có màn có cảnh phân minh, mỗi tuồng dứt trọn một đêm. Công chúng người Việt hâm mộ, thấy hợp lý, thêm tranh cảnh gọi Sơn thủy, đẹp mắt. Và rồi ngay năm này (1917), ông André Thận (Lê Văn Thận) ở Sa Đéc lập gánh hát xiệc, có thêm ít màn ca ra bộ.

Nghệ sĩ Thanh Sang
Nghệ sĩ Thanh Sang

Hình thành Cải lương

Từ Anh, Năm Châu, Tư Út, Phùng Há, Ba Liên trong tuồng Khúc Oan Vô Lượng, gánh Trần Đắc (Cần Thơ) diễn trên sân khấu khoảng năm 1931. Qua năm 1918, cũng theo Vương Hồng Sển, năm 1918, bỗng Tây thắng trận ngang (Đệ nhất thế chiến), mừng quá, toàn quyền Albert Sarraut nới tay cho phép phe trí thức bày ra một cuộc hát lấy tiền dâng “mẫu quốc” và cho phép lập hội gánh hát để dân bản xứ lãng quên việc nước, thừa dịp đó dân trong Nam bèn trau giồi nghề đờn ca và đưa tài tử salon lên sân khấu…[9]. Nhân cơ hội ấy, ông Năm Tú (Châu Văn Tú) ở Mỹ Tho chuộc gánh của ông André Thận rồi sắm thêm màn cảnh, y phục và nhờ ông Trương Duy Toản soạn tuồng, đánh dấu sự ra đời của loại hình nghệ thuật cải lương.
Đến năm 1920, cái tên “cải lương” xuất hiện lần đầu tiên trên bản hiệu gánh hát Tân Thịnh (1920) với câu liên đối:

“Cải cách hát ca theo tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sánh văn minh.”

Mặc dù Vương Hồng Sển đã nói cải lương hình thành lúc nào cũng không ai biết rõ, nhưng theo sự hiểu của ông thì:

* Năm 1915 trở về trước, tại miền Nam, tài tử còn ca kiểu “độc thoại”.

* Năm 1916, có ca kiểu “đối thoại” (ca ra bộ)

* Đêm 16 tháng 11 năm 1918, tại Rạp Hát Tây Sài Gòn, có diễn tuồng Pháp – Việt nhứt gia (tức Gia Long tẩu quốc) đánh dấu thời kỳ phôi thai của cải lương.

Sau đêm này, André Thận trước và Năm Tú sau, đã đưa cải lương lên sân khấu thiệt thọ. Năm 1922, tuồng Trang Tử thử vợ và tuồng Kim Vân Kiều diễn tại rạp Mỹ Tho rồi lên diễn tại rạp Chợ Lớn và rạp Modern Sài Gòn…lúc này hát cải lương mới thành hình thật sự…

Và diễn biến tiếp theo của cải lương được Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam tóm gọn như sau:

Những năm 1920 – 1930 là thời kì phát triển rực rỡ, nhiều gánh hát ra đời, nổi tiếng nhất là hai gánh Phước Cương và Trần Đắc có dàn kịch gồm 3 loại: các tuồng tích của Trung Quốc, loại xã hội và loại phóng tác (như “Tơ vương đến thác”, “Giá trị và danh dự”).

Trong thời kì 1930 – 1934, nghệ thuật cải lương lan truyền ra ngoài Bắc và nhiều nghệ sĩ xuất sắc xuất hiện như Năm Phỉ, Phùng Há, Bảy Nhiêu, Năm Châu… Thời kì kinh tế khủng hoảng, nhiều gánh hát tan rã. Dựa vào tâm lí của dân chúng ngả về tôn giáo, các gánh hát đua nhau diễn các tích về Phật, tiên, đi đầu là gánh hát Tân Thịnh.

Từ 1934, xuất hiện phong trào “kiếm hiệp”, đi đầu là gánh Nhạn Trắng và tác giả Mộng Vân người Bạc Liêu. Những vở nổi tiếng: “Chiếc lá vàng”, “Bích Liên vương nữ”, “Bảo Nguyệt Nương”. Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay… Nhiều vở diễn mới xuất hiện, nội dung phong phú và đa dạng.

Nghệ sĩ Lệ Thủy, nghệ sĩ Minh Vương.
Nghệ sĩ Lệ Thủy, nghệ sĩ Minh Vương.

Đặc điểm

Khởi sự, các vở cải lương viết về các tích xưa, như Trảm Trịnh Ân, Vợ Ngũ Vân Thiệu bị tên, Cao Lũng vít thiết xa, Ngưu Cao tảo mộ, Thoại Khanh Châu Tuấn…hãy còn giữ mang hơi hướm theo kiểu hát bội, do các soạn giả lớp cải lương đầu tiên vốn là soạn giả của sân khấu hát bội. Sau này, các vở về đề tài xã hội mới (gọi là tuồng xã hội), như Tội của ai, khúc oan vô lượng, Tứ đổ tường… thì hoàn toàn theo cách bố cục của kịch nói, nghĩa là vở kịch được phân thành hồi, màn, lớp, có mở màn, hạ màn, theo sự tiến triển của hành động kịch. Càng về sau thì bố cục của các vở cải lương, kể cả các vở viết về đề tài xưa cũng theo kiểu bố cục của kịch nói.

Đề tài & cốt truyện

Buổi đầu, kịch bản cải lương lấy cốt truyện của các truyện thơ Nôm như Kim Vân Kiều, Lục Vân Tiên…hoặc các vở tuồng hát bội, hoặc phỏng theo truyện phim và kịch bản Pháp, như Bằng hữu binh nhung (frères d’arme), Sắc giết người (Atlantide), Giá trị và danh dự (Le Cid), Tơ vương đến thác (La dame au camélias)… Vào những năm 1930, đã xuất hiện những vỡ mới viết về đề tài xã hội Việt Nam như đã kể trên. Sau đó, lại có thêm các kịch bản dựa vào các truyện cổ Ấn Độ, Ai Cập, La Mã, Nhật Bản, Mông Cổ…Thế là cải lương có đủ loại tuồng ta, tuồng Tàu, tuồng Tây…sau có thêm dạng tuồng kiếm hiệp, tuồng Hồ Quảng v.v…chứng tỏ khả năng phong phú, biết đáp ứng sở thích của nhiều tầng lớp công chúng.

Sự dung nạp không thành kiến và bảo thủ của cải lương có thể coi là sự lai tạp, nhưng đây cũng là khía cạnh đặc điểm có tính chất chung đối với văn hóa của vùng đất Nam Bộ khi tiếp nhận và cải cách những cái mới cái hay theo sự tiến bộ của xã hội.

Ca nhạc

Các loại hình sân khấu như hát bội, chèo, cải lương được gọi là ca kịch. Là ca kịch chứ không phải là nhạc kịch, vì soạn giả không sáng tác nhạc mà chỉ soạn lời ca theo các bản nhạc có sẵn, cốt sao cho phù hợp với các diễn biến cùng sắc thái tình cảm của câu chuyện.

Sân khấu cải lương sử dụng cái vốn dân ca nhạc cổ rất phong phú của Nam Bộ. Trên bước đường phát triển nó được bổ sung thêm một số bài bản mới (như Dạ cổ hoài lang của Cao Văn Lầu mà sau này mang tên vọng cổ). Nó cũng gồm một số điệu ca vốn là nhạc Trung Hoa nhưng đã Việt Nam hóa. Ngoại trừ bản vọng cổ, dưới đây là một số bài bản được sử dụng khá phổ biến trong các tuồng cải lương:

– Tam nam: Nam xuân, Nam ai, Nam đảo (đảo ngũ cung)
– Khốc hoàng thiên
– Phụng hoàng
– Nặng tình xưa
– Ngũ điểm
– Bài tạ
– Sương chiều
– Tú Anh
– Xang xừ líu
– Văn thiên tường (nhất là lớp dựng)
– Ngựa ô bắc
– Ngựa ô nam
– Đoản khúc Lam giang
– Phi vân điệp khúc
– Vọng kim lang
– Kim tiền bản
– Duyên kỳ ngộ
– U líu u xáng
– Trăng thu dạ khúc
– Xàng xê v.v…
– Và các điệu lý, như: giao duyên, lý con sáo, lý tòng quân, lý cái mơn v.v..

Ngoài ra, khi các bài hát tây bắt đầu xuất hiện trên sân khấu cải lương như: Pouet Pouet (trong Tiếng nói trái tim), Marinella (trong Phũ phàng), Tango mysterieux (trong Ðóa hoa rừng)…thì lúc bấy giờ trong một đoàn cải lương xã hội có hai dàn nhạc: dàn nhạc cải lương thì ngồi ở trong, còn dàn nhạc jazz thì ngồi ở trước sân khấu…

Nghệ sĩ Bạch Tuyết, nghệ sĩ Minh Vương.
Nghệ sĩ Bạch Tuyết, nghệ sĩ Minh Vương.

Diễn xuất

Diễn viên cải lương diễn xuất như kịch nói. Chỉ khác là diễn viên ca chứ không nói. Cử chỉ điệu bộ phù hợp theo lời ca, chứ không cường điệu như hát bội. Vương Hồng Sển nói: Hát bội tượng trưng nhiều quá và la lối lớn tiếng quá, trái lại cải lương ca rỉ rả cho thêm mùi… Sau này (khoảng những năm 60), cải lương có pha thêm những cảnh múa, đu bay, diễn võ… cốt chỉ để thêm sinh động…

Y phục, tranh cảnh

Trong các vở diễn về tuồng tích xưa hay lấy cốt truyện ở nước ngoài thì y phục của diễn viên và tranh cảnh trên sân khấu cũng được chọn lựa sao gợi được bối cảnh nơi xảy ra câu chuyện, nhưng cũng chỉ mới có tính ước lệ chứ chưa đúng với hiện thực. Trong các vở về đề tài xã hội, diễn viên ăn mặc như nhân vật ngoài đời.

Ghi công

Sơ khởi nên kể công ông Tống Hữu Định (tức Phó Mười Hai). Kế đó, người có công gầy dựng và đưa lên sân khấu là ông André Thận. Bên cạnh đó còn có vài người góp sức như: Kinh-lịch Quờn (hay Hườn), Phạm Đăng Đàng…
Ngoài ra còn phải kể đến công của những bầu gánh, soạn giả, nhạc sĩ và các đào kép tài danh thuộc thế hệ đầu, như: Tư Sự (gánh Đồng Bào Nam), Hai Cu (gánh Nam Đồng Ban), Trần Ngọc Viện (gánh Nữ Đồng Ban), Trương Duy Toản, Ba Ðại, Hai Trì, Nhạc khị, Năm Triều, Sáu Lầu (Cao Văn Lầu), Nguyễn Tri Khương, Trần Văn Chiều (tự Bảy Triều), Ba Ðắc, Bảy Lung, Ba Niêm, Hai Nhiều, Hai Cúc, Năm Phỉ, Ngọc Xứng, Ngọc Sương, Phùng Há, Tư Sạng, Hai Giỏi, Năm Nở, Trần Hữu Trang, Tư Chơi, Năm Châu, Ba Vân, Bảy Nam v.v… Tất cả đã góp phần hình thành và phát triển loại hìngnh nghệ thuật cải lương.

Cũng nên nói thêm, từ sau Hiệp định Geneve (1954), cải lương càng có cơ hội phát triển mạnh mẽ, trở thành một loại hình nghệ thuật, một bộ môn sân khấu có khả năng thu hút đông đảo khán thính giả. Và do sáng kiến của ông Trần Tấn Quốc, một nhà báo kỳ cựu, giải Thanh Tâm được thành lập năm 1958 và liên tiếp mỗi năm kế sau đều có phát huy chương và khen thưởng cho những nam nữ nghệ sĩ trẻ có triển vọng nhất trong năm.

cl9

Một số vở cải lương nổi tiếng

* Tô Ánh Nguyệt
* Sầu vương biên ải
* Người phu khiêng kiệu cưới
* Mùa thu trên Bạch Mã Sơn
* Máu nhuộm sân chùa
* Chiều đông gió lạnh về
* Tuyệt tình ca
* Hàn Mặc Tử
* Tôn Tẫn Giả Điên
* Người vợ không bao giờ cưới
* Đời cô Lựu
* Lá sầu riêng
* Nửa đời hương phấn
* Tiếng hạc trong trăng
* Sân khấu về khuya
* Bên cầu dệt lụa
* Tiếng trống Mê Linh
* Tấm lòng của biển v.v…

Mình muốn ghi nhận nơi đây một ưu điểm đặc thù nhất trong các tuồng tích của bộ môn Cải Lương, đó là bất cứ tuồng tích nào khi được soạn ra đều mang tính cách giáo dục quần chúng hãy biết lấy “đạo đức truyền thống” của cha ông làm nền tảng xây dựng đời sống nghĩa nhân lành mạnh, noi theo tấm gương sĩ khí của người xưa, ngõ hầu mang lại an vui cho cộng đồng và xã hội ngày càng thêm phát triển tốt đẹp. Đó cũng là một ý nghĩa khác của từ “cải lương” — cải cách cho xã hội lương thiện hơn.

Mời các bạn cùng thưởng thức và tham khảo 1 clip giới thiệu “Cải lương ra đời và các nghệ nhân thế hệ đầu tiên”, 1 clip “Phim tư liệu – Chân Dung Các Nghệ Sĩ Tiền Phong”, 1 clip “Ngày Giổ Tổ”, và 5 clips tuồng cải lương bên dưới. Đồng thời các bạn còn có thể đọc thêm bài “Nghệ Thuật Cải Lương” của anh Nguyễn Chí Thuận ở đây.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo: wikipedia)

Cải Lương Ra Đời – giới thiệu lịch sử và các nghệ nhân thế hệ đầu tiên

 

Phim Tư Liệu – Chân Dung Các Nghệ Sĩ Tiền Phong

 

Giổ Tổ Sân Khấu 2013 (Lễ Giỗ Tổ ngày 12 tháng 8 âm lịch)
– Đài Truyền Hình VHN TV:

 

Tuồng ĐỜI CÔ LỰU – Màn 1 – NSND Phùng Há, Út Trà Ôn, Hoàng Giang), đây là đội ngũ nghệ sĩ thế hệ 1:

 

Tuồng ĐỜI CÔ LỰU – Cải Lương Chi Bảo Bạch Tuyết (vai Cô Lựu), Thanh Sang (vai Thành), Diệp Lang (vai Hội Đồng Thăng), Hồng Nga (vai Bà Hai Hương), Minh Vương (vai Luân), Lệ Thủy (vai Kim Anh), Viên kỳ ngọc Ngọc Giàu (cô Bảy Cán Vá), Bảo Quốc (vai Thợ Bạc), Thống soái cải lương Hồ Quảng Thanh Tòng (vai chồng của Kim Anh), đây là đội ngũ nghệ sĩ thế hệ 2 và 3:

 

Tuồng NGƯỜI VỢ KHÔNG BAO GIỜ CƯỚI – Út Bạch Lan, Kim Cúc, Thanh Hoa, Hữu Phước, Hoàng Giang, Minh Tấn, đây là đội ngũ nghệ sĩ thế hệ 1 & 2:

 

Tuồng NỬA ĐỜI HƯƠNG PHẤN – Bạch Tuyết, Minh Vương, Lệ Thủy, Thanh Tòng, Diệp Lang, Phương Quang đồng diễn, đây là đội ngũ nghệ sĩ thế hệ 2 và 3:

 

Trích đoạn CÔ LÁNG GIỀNG – Nghệ sĩ Phượng Mai (thế hệ thứ 3) & Nghệ sĩ Dũng Thanh Lâm (thế hệ thứ 2) đồng diễn:

4 cảm nghĩ về “Dân ca dân nhạc VN – Cải lương”

  1. Em cảm ơn chị Phượng với một series bài công phù về các loại hình ca kịch truyền thống của VN.

    Hồi em học phổ thông, ở Bắc thì các bà các mẹ thích nghe quan họ. Đa số thì tụi em khi còn học sinh không thích nghe tuồng, chèo cải lương vì không hiểu gì.

    Sau học đại học lớn thêm một chút em nghe quan họ live, và ca trù live em thích lắm. Nhất là quan họ. Rồi em đi đến xem CLB ca trù tuồng cho quần chúng nơi mà các nghệ nhân vừa biểu diễn vừa giải thích cho người nghe phổ thông. Em rất là thích vì mình hiểu thêm được ý nghĩa nên cũng có khả năng cảm nhận tốt hơn nhiều. Vì dụ như không tự nhiên người ta bôi mặt xanh đỏ tím vàng cho các ông tuồng

    Nhận thấy đúng thật, ngày trước mình tai trâu chẳng hiểu gì và thẩm âm nên không thích là đúng rồi. Vì chẳng ai dạy

    Em thấy đáng tiếc cho những loại hình ca kịch truyền thống của VN không được chăm sóc cẩn thận để lưu giữ giá trị. Đây là lỗi của nhà nước và cả một hệ thống giáo dục. Học sinh mù mờ về những giá trị văn hóa này. Có được học thì khô khan, cứng nhắc. Đây không phải là lỗi của người trẻ không thích nghệ thuật truyền thống mà nghệ sĩ không được khuyến khích sáng tạo, không có không gian sáng tạo để vươn tới quần chúng. Nội dung thì chỉ được phép xoay quanh mấy thứ nhàm nhàm

    Các nước coi trọng giáo dục và truyền thống âm nhạc, chỉ cần đầu tư một chút cho các nghệ sĩ, mời học sinh, sinh viên đến các không gian, nhà hát miễn phí, vừa biểu diễn vừa giải thích sinh động. Người ta còn biểu diễn âm nhạc ngoài đường phố.

    Em có vài chia sẻ với chị Phượng và cả nhà 🙂 . Cảm ơn chị Phượng nha

    e. Hằng

    Số lượt thích

  2. Hi chị Phượng,

    Mẹ em ghiền cải lương lắm chị Phượng. Hồi em còn nhỏ, tối tối nếu có cải lương là cả nhà em ngồi xem. Em vẫn nhớ những hình ảnh trong Phạm Công Cúc Hoa, Lan và Điệp. Nhiều đoạn rất xúc động, em phải lén chùi nước mắt (hồi đó nhỏ, mắc cỡ nên không dám xúc động trước ba mẹ). Tưởng chỉ có một mình mình xúc động, nhìn sang bên cạnh, em thấy mẹ cũng lén chùi nước mắt.

    Mẹ em có một cửa hàng tạp hóa ở chợ. Mẹ lấy chữ Phi trong Phi Nhung (nghệ sĩ cải lương) làm tên đệm cho tên cửa hàng của mình.

    Em thấy cải lương là nghĩ tới mẹ.

    Cám ơn chị đã chia sẻ loạt bài dân ca VN này.

    Số lượt thích

  3. Hi Hằng,

    Ôi chị vui lắm có em chia sẻ. Riêng chị thì yêu thích loại hình nghệ thuật dân ca dân nhạc từ hồi còn nhỏ xíu xìu xiu lúc còn bên mẹ và ông ngoại của chị. Chị được học các câu hò & bài hát ru em đầu tiên từ mẹ chị theo thể cách truyền miệng và thuộc nằm lòng.

    Kế đến ông ngoại của chị dạy chị tiếp những giai điệu dân ca & trống cũng bằng thể cách truyền miệng, thuộc nằm lòng, và thực hành. Sau hết là chị thường được ngoại và mẹ dẫn theo đi xem “Lễ Hát Cúng Đình” hàng năm. “Lễ Hát Cúng Đình” là một lễ hội được tổ chức trong đình làng. Ngày xưa đình làng là trung tâm văn hóa và tâm linh của làng. Mọi hoạt động văn hóa và lễ bái của làng đều xảy ra ở đó.

    Hồi đó chị không hiểu gì, nhưng bây giờ nghĩ lại Lễ Hát Cúng Đình có lẽ là lễ hội cúng thần hoàng của làng hàng năm, gồm có các lễ bái, chương trình Hát Bộ/Hát Bội, và Đờn Ca Tài Tử. Giáo sư linh mục Kim Định, thầy dạy Triết Đông của anh Hoành, có viết cuốn Triết Lý Cái Đình rất hay.

    Năm chị 16 tuổi chị có học âm nhạc với Đệ Nhất Danh Cầm Cổ Nhạc miền Nam Văn Vĩ, cho nên về sau có căn bản để hiểu biết và thưởng thức cổ nhạc và dân ca miền Nam, rồi từ từ đến dân ca cả nước.

    Chị rất biết ơn những người ở thế hệ trước đã gieo rắc vào lòng chị lòng yêu thương âm nhạc truyền thống nước nhà.

    Số lượt thích

  4. Hi Thu Hương,

    Cám ơn em đồng tình cùng chị.

    Chị và mẹ chị cũng giống em và mẹ em. Cũng ghiền cải lương và đều khóc lén. Bây giờ nhớ lại mới thấy là cải lương thực sự làm xúc động lòng người.

    Các loại hình nghệ thuật ngày nay, đặc biệt là movie, loại hình nghệ thuật thịnh hành nhất, cũng có thể làm cho người ta xúc động. Nhưng so với cải lương thì ảnh hưởng tình cảm của movie nói chung kém cải lương một trời một vực.

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s