Tân Nhạc VN – Ca Khúc Vượt Thời Gian – “Lệ Đá”, “Hai Sắc Hoa Tigôn”, “Tiếng Hát Nửa Vời”, “Qua Cơn Mê”

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn các ca khúc “Lệ Đá”, “Hai Sắc Hoa Tigôn”, “Tiếng Hát Nửa Vời”, “Qua Cơn Mê” của Nhạc sĩ Trần Trịnh.

Nhạc sĩ Trần Trịnh (1937 – 10 tháng 10, 2012) tên thật là Trần Văn Lượng, là một nhạc sĩ nổi tiếng và có sức ảnh hưởng lớn tại miền Nam trước 1975 và ở hải ngoại về sau. Tuy ông có số lượng sáng tác khiêm tốn (do phải chia sẻ thời gian với việc nghiên cứu nhạc Jazz) nhưng các bản nhạc của ông đa số đều thành công và tạo được ảnh hưởng lớn trong lòng người nghe. Bên cạnh các sáng tác của riêng mình, ông thường xuyên hợp tác cùng nhạc sĩ Nhật Ngân và Lâm Đệ bằng nghệ danh Trịnh Lâm Ngân.

Nhạc sĩ Trần Trịnh sinh tại Thái Lan nhưng lớn lên ở Hà Nội. Ông theo gia đình vào Sài Gòn năm lên 9 tuổi, theo học Trường Trung học Lasan Taberd. Thuở nhỏ ông rất ngưỡng mộ thầy dạy nhạc Rémi Trịnh Văn Phước nên ghép họ của mình với họ của thầy để tạo thành nghệ danh Trần Trịnh.

NS Trần Trịnh và NS Nhật Ngân thời trẻ.
NS Trần Trịnh và NS Nhật Ngân thời trẻ.

trantrinh_Lệ Đá1

trantrinh_Lệ Đá2

trantrinh_Lệ Đá3

trantrinh_Hai Sắc Hoa Tigôn

trantrinh_Hai Sắc Hoa Tigôn1

Ý tưởng sáng tác đầu tiên của ông (xuất hiện năm 14 tuổi nhưng chỉ viết nhạc và 3 năm sau mới hoàn tất phần lời) là bài “Cung Đàn Muôn Điệu” được nhiều ca sĩ hát, và nhà xuất bản An Phú phát hành. Sau đó, bài “Cung Đàn Muôn Điệu” còn được sử dụng làm nhạc chuyển mục trong một chương trình tân nhạc cùng với một sáng tác nữa của Trần Trịnh, là bài “Chuyến Xe Về Nam”.

Năm 1958, sau khi giã từ quân ngũ, nhạc sĩ Trần Trịnh trở lại, theo học hoàn toàn về nhạc với thầy Rémi. Buổi tối, ông đi biểu diễn piano tại các phòng trà và vũ trường. Ông cũng tình nguyện tham gia ban Văn Nghệ của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung để có dịp ủy lạo binh sĩ. Tại đây, Trần Trịnh gặp nhạc sĩ Nhật Ngân tại Ban Văn Nghệ của Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Từ đó hai nhạc sĩ này và Lâm Đệ – dưới cái tên ghép lại là Trịnh Lâm Ngân – đã sáng tác nhiều bài hát mang âm hưởng quê hương và đã có nhiều bài nổi tiếng được nhiều người biết đến. Cũng trong năm này, nhạc sĩ Trần Trịnh trở thành nhạc trưởng ban đại hòa tấu và hợp xướng Đống Đa trên Đài Truyền Hình Việt Nam (THVN).

Năm 1968, nhạc sĩ Trần Trịnh được gặp nhà thơ Hà Huyền Chi. Nhà thơ Hà Huyền Chi đã nhận viết lời cho một nhạc phẩm của Trần Trịnh: “Lệ Đá”. Bài hát tức khắc được mọi người yêu thích, và có số bản in phá kỷ lục. Đến năm 1971 thì đạo diễn Võ Doãn Châu lấy tên “Lệ Đá” đặt cho cuốn phim ông thực hiện, trong đó nhạc nền là bài “Lệ Đá” do ca sĩ Khánh Ly hát.

Nhạc sĩ Trần Trịnh.
Nhạc sĩ Trần Trịnh.

nhatngan_Qua Cơn Mê1

nhatngan_Qua Cơn Mê2

nhatngan_Qua Cơn Mê3

trantrinh_Tiếng Hát Nữa Vời

Nhạc sĩ Trần Trịnh kết hôn lần đầu với ca sĩ Mai Lệ Huyền. Cuộc hôn nhân này kéo dài được 10 năm thì hai người chia tay sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975.

Tháng 10 năm 1995, với sự bảo lãnh của người chị, ông cùng người vợ sau và 2 con đến định cư tại Hoa Kỳ. Đầu năm 1996, ông dời xuống Quận Cam để có nhiều cơ hội cho hoạt động âm nhạc trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Ông được trung tâm Thúy Nga thực hiện chương trình Paris By Night 66 giới thiệu các tác phẩm nổi tiếng của ông, cùng với NS Nhật Ngân và NS Ngô Thụy Miên.

Về sau, ông chỉ tham gia “The Stars Band” là ban nhạc do Bác sĩ Phạm Gia Cổn thành lập và làm trưởng ban, trình diễn trong những sinh hoạt có tính cách cộng đồng.

Nhạc sĩ Trần Trịnh qua đời ngày 10 tháng 10 năm 2012 tại California.

Dưới đây mình có các bài:

– Về nhạc phẩm Lệ Đá
– Nhạc sĩ Trần Trịnh – Hôm Qua & Hôm Nay… (trích)
– Về bài “Tiếng Hát Nửa Vời” của Trần Trịnh

Cùng với 12 clips tổng hợp các ca khúc “Lệ Đá”, “Hai Sắc Hoa Tigôn”, “Tiếng Hát Nửa Vời”, “Qua Cơn Mê” do các ca sĩ xưa và nay diễn xướng để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

Nhà thơ Hà Huyền Chi.
Nhà thơ Hà Huyền Chi.

Về nhạc phẩm Lệ Đá

(Hà Huyền Chi)

Nói về nhạc phẩm Lệ Đá trước đây, nhà thơ Hà Huyền Chi cho biết:

Ngó lui mấy chặng đường Lệ Đá

– Nhạc phẩm “Lệ Đá” trước hết không phải là một bài thơ phổ nhạc. Phải nói là tôi đã đặt lời cho bản nhạc (vốn không tên) của nhạc sĩ Trần Trịnh. Do một cơ duyên đặc biệt, do người bạn tên Đông chơi Clarinet, giới thiệu Trần Trịnh đến với tôi, khi đó Trần Trịnh (giữa thập niên 1960) chưa có nhiều tiếng tăm trong làng tân nhạc thời bấy giờ:

– Nhạc Trần Trịnh khá lắm, nhưng rất ít người biết đến. Xin anh giúp thằng bạn em một lần, đặt lời ca giùm cho nó.

Tôi liền lắc đầu: “Em biết là anh vốn mù nhạc mà !”

– Em biết chứ, nhưng em thành thực nghĩ rằng chỉ có anh mới giúp được nó.

Còn Trần Trịnh cười hiền lành nói thêm:

– Xin anh giúp cho. Tôi nghĩ là sẽ có cách…

Bấy giờ tôi thẳng thắn đặt điều kiện:

– Nể thằng em, coi như tôi chấp thuận trên nguyên tắc. Tuy nhiên, tôi cần nghe anh đàn bản nhạc này vài lần để có khái niệm về nhạc tính. Và tôi cũng cần ý kiến thẩm định về nhạc thuật của bài này với những Pianist như Dzương Ngọc Hoán (chồng Pianist, ca sĩ Quỳnh Giao)

Chúng tôi kéo nhau lên đài phát thanh Quân Đội, Trần Trịnh ngồi vào piano. Và điều ngạc nhiên là tôi ưa ngay cái âm hưởng buồn ngất ngây dịu nhẹ đó, rất Pianissimo ấy. Melody thật tha thiết, ngọt ngào, bắt nhĩ. Khi ấy Đông đã kéo Dzương Ngọc Hoán qua và Hoán khen bản nhạc này không tiếc lời, khiến tôi có ngay quyết định giúp Trần Trịnh. Tôi nghe Trịnh đàn thêm vài lần nữa và cố gắng nhập tâm cái âm hương của bản nhạc.

Hôm sau, tôi đem đến Trần Trịnh lời ca thứ nhất của Lệ Đá. Kết quả ngoài sức tượng tượng, là không biết bằng cảm hứng nào đó, tôi đã hòa được cái rung cảm đích thực của thơ tôi vào nhạc Trần Trịnh. Trần Trịnh mừng rỡ tới sững hồn. Anh và Hoán cùng hân hoan hát Lệ Đá khiến tôi cũng choáng ngợp trong niềm vui.

Lập tức tôi viết lời 2. Buổi trưa nắng gắt, dưới mái tôn thấp lè tè của quán cơm lính trong trại. Trên chiếc bàn bọc nhôm nóng bỏng, cáu bẩn, tôi thả hồn bay với Lệ Đá. Tôi viết thật dễ dàng, và khóc cũng dễ dàng với lời 2 này.

Tôi cứ vừa viết vừa khóc thế đó, như khi ngồi chép lại những dòng nàỵ Tôi bỏ dở bữa ăn, đem lời 2 lên đài Quân Độị gặp Nhật Trường trước phòng vi âm. Tôi đưa Lệ Đá ra khoe, Nhật Trường hát ngay với nỗi hân hoan bốc lửa. Hắn túm ngay lấy Trần Trịnh đòi soạn cấp kỳ hoà âm cho ban nhạc và 2 bè khác cho Mai Hương, Như Thủy ca. Khoảng nửa giờ sau Lệ Đá được thâu cấp kỳ. Nhật Trường, Mai Hương, Như Thủy, mỗi nguời trên tay một bản Lệ Đá “mì ăn liền” say mê hoà ca với nỗi xúc động đồng thiếp. “Take one Good take !” Hát và thâu hoàn chỉnh ngay lần thứ nhất.

Nhật Trường như bay ra khỏi phòng vi âm ôm lấy tôi và Trần Trịnh:

– Ông đặt lời thần sầu. Bản này sẽ là Top Hit.

Tôi nhún nhường:

– Top Hit được là nhờ nhạc Trần Trịnh bay bổng như diều đấy chứ.

Nhật Trường cướp lời:

– Nhưng ông là gió lớn. Đại phong mà…

Lời bài hát Lệ Đá (1) sáng tác cuối thập niên 60

Hỏi đá xanh rêu…bao nhiêu tuổi đời/Hỏi gió phiêu du…qua bao đỉnh trời/Hỏi những đêm sâu… đèn vàng héo hắt

Ái ân… bây giờ là nước mắt/Cuối hồn một… thoáng nhớ mong manh

Thuở ấy tôi như… con chim lạc đàn/Xoải cánh cô đơn…bay trong chiều vàng/Và ước mơ sao… trời đừng bão tố/Để yêu thương… càng nhiều gắn bó/Tháng ngày là… men say nguồn thơ

Điệp khúc

Tình yêu… đã vỗ… cánh rồi/Là hoa… rót mật… cho đời/Chắt chiu… kỷ niệm… dĩ vãng/Em nhớ gì… không em ơi

Mầu áo thiên thanh… thơ ngây ngày nào/Chìm khuất trong mưa… mưa bay rạt rào/Đọc lá thư xưa… một trời luyến tiếc/Nhớ môi em… và mầu mắt biếc/Suối hẹn hò… trăng xanh đầu non.

Lời bài hát Lệ Đá (2) sáng tác cuối thập niên 60

Tượng đá kiên trinh… ru con đời đời/Là nét đan thanh… nêu cao tình người/Là ánh chiêu dương… đẩy lùi bóng tối/Tháng năm xa… trùng trùng sóng gối/Ngóng nhìn từ… bát ngát chân mây

Bài hát ca dao… theo tôi vào đời/Và giữ cho tim… tôi xanh nụ cười/Nào biết trong em… còn nhiều trống vắng/Trái yêu đương… chỉ là trái đắng/Gã tật nguyền… buông trôi niềm tin

Điệp khúc

Tình yêu… đã vỗ… cánh rồi/Là hoa… rót mật… cho đời/Chắt chiu… kỷ niệm… dĩ vãng/Em nhớ gì… không em ơi

Tương đá kiên trinh… ôm con đợi chồng/Nhạc lá thu mưa… hay chân ngựa hồng/Lệ đá tuôn rơi… dòng dòng nối tiếp/Ngóng chinh phu… đời đời kiếp kiếp/Suối vọng tìm… trăng xanh đầu non.

Cái ma kiếp của một bài ca được yêu chuộng thường yểu tử, và xuống cấp. Nhưng Lệ Đá thì không. Nó may mắn thoát khỏi định số ước lệ ấý. Vào những năm 67, 68 nhạc phẩm “Lệ Đá” được cất tiếng thường xuyên hầu như ở khắp mọi sinh hoạt văn nghệ mà thời kỳ này nhạc Trịnh Công Sơn đang được mọi người hâm mộ. Lệ Đá góp mặt hàng đêm ở các phòng trà, tiệm nhảy. Lệ Đá vào khuê phòng, ra máy nước. Rồi quán cà phê cũng Lệ Đá, phim ảnh cũng Lệ Đá với tiếng hát Khánh Ly, phim do Thanh Nga, Đoàn Châu Mậu diễn xuất, và Bùi Sơn Duân đạo diễn.

May sao, Lệ Đá vẫn chưa trở thành nhạc sến, nhạc đứng đường. May sao, tôi vẫn được yên thân, bởi vẫn giữ kín cơ duyên “nhảy dù” vào nghề viết lời nhạc. Để mọi người đều hiểu lầm rằng Trần Trịnh phổ thơ tôi.

Khi ấy tôi viết thêm lời 3 cho Lệ Đá khi đi công tác ở Sóc Trăng, Cà Mau. Nơi Rừng Mắm của Bình Nguyên Lộc với muỗi mòng dễ nể. Nhà văn Bình Nguyên Lộc dọa, chỉ cần quơ tay một cái là đã túm được cả chục con muỗí. Bạn bè hăm, trâu bò còn phải ngủ trong mùng. Khách sạn tỉnh lẻ không khá gì hơn mấy quán trọ trong phim Anh Hùng Xạ Điêu, Cô Gái Đồ Long. Thực khách vừa nhâm nhi, vừa quơ chưởng, đuổi muỗí. Mới chập tối, tôi đã chui vô chiếc mùng thố. Và buồn tình tôi viết lời Lệ Đá 3:

Lệ Đá lời 3 (Tháng 9, 1968)

Từ những đam mê… xa trong cuộc đời/Từ những cơn vui… tan theo nụ cười/Từ phút trao đi… cuộc tình thứ nhất/Giá băng khi… tuổi hồng đã mất/Dấu bèo chìm… khuất sóng xa khơi

Dòng tóc mây thơ… trên vai rủ mềm/Mười ngón tay em… đan trong tủi phiền/Lời hứa cao bay… cuộc tình cút bắt/Giấc mơ hoa… đầu đời đã tắt/Có gì vừa… trôi qua tầm tay

Điệp khúc

Người đi… đi mãi… không về/Thời gian… xoá vội… câu thề/Bóng anh… nhạt nhoà… bóng núi/Em với tình… yêu trăng soi

Lạy chúa ngôi… ba nghe con nguyện cầu/Và giúp cho con… quên đi tình sầu/Lời thánh ru êm… giọt đàn thống hối/Chúa trên cao… mỉm cười thứ lỗi/Những giọt đàn… vang trong trời tin

Sáng hôm sau, chỉ có Chúa ngôi ba mới biết được cơn sợ hãi của tôi đến cỡ nào khi thức giấc. Trong mùng tôi, cả trăm con muỗi đen đủi no căng đu mình say ngủ an bình !!!

Lệ Đá lời 4 (Riêng cho Khánh Liên, tháng 4, 1975)

Chiều 27/4/1975 tôi còn cái hẹn với người tình Khánh Liên ở Thị Nghè. Tình hình thời cuộc lúc đó biến chuyển cực nhanh, nên tôi không đến được với Khánh Liên, tôi đã không thể thu xếp để tới chỗ hẹn, nói lời từ giã cuối cùng với nàng. Nỗi buồn đeo cứng lấy tôi. Khi ngồi nín thở dưới hầm, khi ráng ngoi nhìn mặt sông Lòng Tảo lần cuốí. Nhìn mặt sông cuồn cuộn đau, khi thấp thoáng nghĩ ngàn dặm sẽ chia lìa cùng Sài Gòn, quê hương và người tình Khánh Liên…

Nên bài lời 4 này khởi viết từ tháng 4 và được hoàn chỉnh vào tháng 7/1975.

Lệ Đá lời 4

Từ nỗi xa đau… như đêm và ngày/Mỏi cánh thư bay… bay trong mùa đầy/Hòn đá đeo trên… cuộc đời héo hắt/Mãi bơi trong… vực sầu nước mắt/Chút tình buồn… lãng đãng men say

Người lỡ chia xa… đôi bên địa cầu/Tình lỡ chia xa… hai bên đỉnh sầu/Người đã xa khơi… cuộc tình tách bến/Chút hương xưa… làm thành vốn liếng/Cũng cùn mòn… theo chân thời gian

Điệp khúc

Mùa xanh… đã khép… mắt đời/Hè khô… nức nở… ma cười/Gió thu… liệm vàng… nỗi nhớ/Đông xám… màu tang… nơi nơi

Một nét sao bay… trên khung trời buồn/Ngọn lá me khô… lăn trên mặt đường/Tưởng tiếng chân quen… tìm về lối ngõ/Tiếng chân xưa… chỉ là tiếng gió/Gió thở dài… lung lay hồn trăng

Không rõ điều gì đã khiến tôi không xa rời được cái giao hưởng của Lệ Đá 1, 2, khiến đôi khi, khúc này hầu như là một phó bản, mô phỏng của khúc trước. Nó dẫn tôi quanh quẩn trong trình tự ấy không rời.

Lệ Đá lời 5 (Riêng cho Nguyệt Lãng)

Có lẽ tôi là một kẻ chung tình mang trái tim phản trắc. Năm 1992, tôi đắm hồn vào một tình yêu mới. Nguyễn Tà Cúc – Nguyệt Lãng – Ác Bà Bà, là Ba đại ác nhân và mỹ nhân, đã cho tôi hạnh phúc và hành tôi điêu đứng không cùng.

Nguyễn Tà Cúc thì không thể nào không… tà cho được. Nàng đến với tôi như một tiểu muội thứ thiệt. Rồi tôi đổ đốn đâm ra yêu tiểu muội, qua một phân thân của nàng là Nguyệt Lãng (sóng trăng).

“Tháng Một Buồn” in năm 1993, là thi tập ghi dấu tình tôi với nàng. Rồi Nguyệt Lãng lại phân thân, lần nữa. Từ cây bút hoa bướm hiệu đoàn, Ác Bà Bà soi kính chiếu yêu vào đời sống, văn chương. Và chứng tỏ năng khiếu trong lãnh vực phê bình văn học, và đàn hạch tư cách bất chính của nhà văn. Trong và ngoài văn chương.

Tôi xa nàng từ 1993. Dù cái tình của chúng tôi vẫn là ngàn đời chẳng thể chia xa. Và từ tháng Mười 1992 đến tháng Chạp 2002, đã là hơn 10 năm vèo qua trong thân tình, chúng tôi vẫn chưa hề giáp mặt nhau, dù chỉ một lần. Dù tôi đến Cali nhiều bận. Rất nhiều bận. Không gặp, phải chăng là cố gắng phi thường của chúng tôí. Để giữ cho tình mãi đẹp. Cho dù, những năm sau này, tiểu muội của tôi đã trong tình trạng không còn ràng buộc bởi hôn nhân.

Lệ Đá lời 5

Từ lúc yêu trăng… tiêu hoang cuộc đời/Từ phút say hoa… tương tư biển trời/Muội rót cho huynh… ngọt ngào suối biếc/Đắm say trên… từng hàng chữ viết/Cũng muộn phiền… suốt kiếp chưa vơi

Sợi tóc biên cương… xa hơn ngàn trùng/Nguyệt lãng sông chiạ… tang thương chẳng cùng/Là nhánh phong lan… vì người vẫy gió/Lúc trăng vơi… người còn mãi nhớ/Vẫn nồng nàn… thơm hương tịnh yên

Điệp khúc

Tình đau… lấp lánh… cuối trời/Ngàn khuya… gió thở… vai người/Tóc đêm… mượt mà… suối nhớ/Trăng đắm… hồn sị… trăng trôi

Tình lỡ đăng quang… sông vui, dặm phiền/Còn chút dư hương… vương trên cỏ hiền/Để mãi thương nhau… đời này kiếp khác/Những đêm sâu… thảng lời gió hát/Khúc tình hoài… trăm năm, ngàn năm.

(Hà Huyền Chi)

Nhạc sĩ Trần Trịnh.
Nhạc sĩ Trần Trịnh.

Nhạc sĩ Trần Trịnh – Hôm Qua & Hôm Nay… (trích)

(Nguyễn Việt)

Khi viết về nhà thơ Hà Huyền Chi với các lời trong ca khúc “Lệ Đá”, chúng ta cũng không quên nhạc sĩ Trần Trịnh là cha đẻ những nốt nhạc cho nhạc phẩm này.

Theo lời kể của nhạc sĩ Trần Trịnh, cho biết âm nhạc đã quyến rũ từ lúc ông đang theo học chương trình Pháp tại trường Taberd suốt 10 năm ròng, từ 1945 cho đến 1955, và đậu bằng Tú Tài 2 thời Pháp trong thời gian này. Nhưng niềm đam mê âm nhạc của ông đã gặp trở ngại, bố mẹ ông đã không đồng ý cho ông đitheo ngành này. Mặc dù bố ông là một nhân viên của tòa đại sứ Pháp theo tây học, nhưng cụ vẫn mang tính phong kiến, không mấy cảm tình với cuộc đời nghệ sĩ cho rằng “xướng cavô loại”. Còn mẹ ông, một phụ nữ người Lào – vợ sau của bố ông – cũng chẳng khuyến khích cậu con út trong 3 người con của bà theo đuổi ước mơ.

Dù vậy nhạc sĩ Trần Trịnh đã đến với lãnh vực sáng tác, khi còn theo học những giờ nhạc lý do thầy Rémi hướng dẫn, và về sau ông còn theo thầy qua Chủng viện Taberd bên Thanh Đa, được thầy huấn luyện về âm nhạc trong suốt 9 năm từ năm 1958 đến năm 1967. Nên ông đã có được một căn bản vững vàng về nhạc pháp cũng như về nghệ thuật sử dụng piano.

Sáng tác đầu tiên của nhạc sĩ Trần Trịnh là “Cung Đàn Muôn Điệu” viết năm 1950, năm ông được 14 tuổi. Đến năm 17 tuổi nhạc phẩm này mới được nhà xuất bản An Phú nhận phổ biến; năm 1956 lại được nhà xuất bản Diên Hồng đem tái bản. Sau này được dùng làm nhạc chuyển mục trong một chương trình tân nhạc cùng với bài “Chuyến Xe Về Nam” (do nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành năm 1955). Cũng trong năm1956, ông lại cho ra thêm một nhạc phẩm khác mang tên “Viết Trên Đường Nở Hoa”.

Sau khi đậu bằng Tú Tài 2 Pháp, năm 1955 nhạc sĩ Trần Trịnh được gia đình gửi lên Đà Lạt để vừa học vừa làm tại Nha Kiến Trúc. Năm 1957, ông đi quân dịch, đã viết bài “Đôi Mươi”. Đến năm 1958, ông phổ thơ bài “Hai Sắc Hoa Ti Gôn” của thi sĩ T.T.KH. đây cũng là một bản nhạc rất ăn khách lúc bấy giờ.

Tuy nhiên, người yêu nhạc biết đến tên tuổi của nhạc sĩ Trần Trịnh vẫn là bài “Lệ Đá” do ông sáng tác nhạc năm 1968 được nhà thơ Hà Huyền Chi đặt lời.

Ngoài nhạc phẩm điển hình này, ông còn là tác giả của nhiều nhạc phẩm đặc sắc khác, mà trong số có rất nhiều bài là đồng sáng tác với hai người bạn nghệ sĩ là Nhật Ngân và Lâm Đệ ký dưới bút danh Trịnh Lâm Ngân trong những thập niên 60 và 70. Cả ba từng quen nhau trong Ban văn nghệ thuộc TT huấn luyện Quang Trung. Trong bộ ba, Trần Trịnh và Nhật Ngân phụ trách viết nhạc và lời, còn Lâm Đệ phụ trách phần thâu thanh và phát hành.

Trong thời gian này, bộ ba đã sáng tác một số lớn những bài hát với âm hưởng dân tộc như: Xuân này con không về, Mùa xuân của mẹ, Qua cơn mê, Yêu một mình, Hai trái tim vàng, Chiều qua phà Hậu giang, v.v… Không chỉ là người sáng tác nhạc, nhạc sĩ Trần Trịnh còn là một trong những nhạc sĩ có nhiều gắn bó với các phòng trà khiêu vũ trường tại Sài Gòn lúc đó.

Vào những năm học cuối cùng với thầy Rémi, ông bắt đầu đi tìm việc tại các phòng trà trong vai trò nhạc công sử dụng đàn piano. Khởi đầu cộng tác với một phòng trà nhỏ tên Lệ Liễu. Sau vào làm tại phòng trà Bồng Lai trên đường Nguyễn Trung Trực – Lê Lợi (trên tầng thượng quán Kim Sơn). Và dần dần được mời cộng tác với tất cả những phòng trà và khiêu vũ trường khác tại Sài Gòn.

Nhận biết được khả năng âm nhạc của Trần Trịnh, đài truyền hình đã giao ông phụ trách một chương trình ca nhạc vào năm 1967, từ đó ông trở thành nhạc trưởng của ban văn nghệ Đống Đa, cùng với ban Vũ Thành và Tiếng Tơ Đồng, là 3 ban văn nghệ có giá trị nghệ thuật vào giai đoạn đó.

Trong một lần tham gia công tác văn nghệ tại Bình Long vào năm 1964, nhạc sĩ Trần Trịnh quen với Mai Lệ Huyền, lúc đó là ca sĩ nghiệp dư trong ban văn nghệ của tỉnh do nhạc sĩ Bắc Sơn làm trưởng ban. Thời kỳ này Mai Lệ Huyền đang sống cùng cha mẹ ở đây.

Sau khi trở về, hai người thường thư từ qua lại và dần dần có những tình cảm đậm đà. Trần Trịnh đề nghị Mai Lệ Huyền về Sài Gòn để được gần gũi và tiện việc “lăng-xê” hơn. Mai Lệ Huyền nhận lời, và chỉ sau một thời gian cả hai đã trở thành vợ chồng trong năm 1964, có cùng nhau một con gái tên Lệ Trinh, sinh năm 1965, hiện cũng là một ca sĩ.

Sau khi thành vợ chồng, nhạc sĩ Trần Trịnh đã giới thiệu Mai Lệ Huyền đi hát ở tất cả những phòng trà khiêu vũ trường ông cộng tác. Cũng khởi đầu tại phòng trà Lệ Liễu, vì nhận thấy giọng hát của Mai Lệ Huyền thích hợp với thể loại nhạc tươi vui, vì thế ông cùng với nhạc sĩ Nhật Ngân sáng tác loại nhạc kích động để vợ trình diễn song ca cùng Hùng Cường như Gặp nhau trên phố, Vòng hoa yêu thương, Hai trái tim vàng, v.v…

Trong khi nhạc sĩ Trần Trịnh không thể đi vì song thân ông đã cao tuổi. Vào năm 1977, ông còn ở lại quê hương và lập gia đình lần thứ hai. Người vợ sau đã cho ông 3 người con trai. Nhưng người con đầu lòng bị thiệt mạng trong lúc tắm sông với bạn bè. Người thứ nhì Trần Tùng hiện đang phục vụ trong binh chủng hải quân Mỹ, có khả năng sử dụng kèn trumpet. Người con út Trần Ngọc cũng rất thích nhạc nhưng không có khuynh hướng đi theo con đường của ông.

Sau 1975 còn ở lại quê hương, nhạc sĩ Trần Trịnh không còn sáng tác nhạc, chỉ chú trọng đến việc cộng tác với hết đoàn hát này đến đoàn cải lương hay gánh xiếc khác để mưu sinh. Khởi đầu ông cộng tác với đoàn cải lương Cửu Long cùng với tay trống Phùng Trọng và vài nhạc sĩ khác. Mãi đến năm 1982, khi các phòng trà được phép hoạt động, ông về làm nhạc trưởng tại phòng trà Đệ Nhất Khách Sạn là nơi ông đã từng giữ vai trò then chốt về chương trình từ khi mới khai trương vào đầu thập niên 70.

Liên tục ông làm tại phòng trà Đệ Nhất sau là các vũ trường, suốt gần 10 năm liền, rồi sang cộng tác với vũ trường Maxim’s vào năm 1991. Nhưng chỉ hơn 3 năm, ông đã gặp một tai nạn xe cộ khiến bị thương nặng ở chân nên phải xin nghĩ việc.

Vào tháng 10/1995 nhạc sĩ Trần Trịnh đi Mỹ theo diện ODP (đoàn tụ gia đình) do người chị ruột bảo lãnh. Nhưng chỉ sau 3 tháng ở San Francisco, gia đình ông quyết định dời xuống Orange County, bởi ở đây có môi trường hoạt động âm nhạc và ông dự định sẽ có cơ hội phát triển hơn ở San Francisco.

Hiện nay ông chỉ chú tâm vào việc nghiên cứu nhạc và đã sáng tác thêm một số bản nhạc, trong số những bài này có Trái sầu đầy và Một đoá bâng khuâng màu e ấp. Ngoài ra, một số bản nhạc mang lời Anh ngữ do ông sáng tác được Hilltop Records Hollywood giới thiệu vào albums, có những bản Forget Me Not, The Stars Band, Crying Rocks, mà gần đây nhất là bài Forever Love vào năm 2008 trong album “The Best of Hilltop.”

Tuy không còn nhiều hứng thú trong việc sáng tác, nhưng gần đây nhạc sĩ Trần Trịnh đã bất chợt tìm lại được nguồn rung cảm khi thưởng thức lại bài thơ La Dernière Feuille (Chiếc lá cuối cùng) của thi sĩ Théophile Gauthier, liền sau đó ông đã phổ nhạc cho bài thơ bất hủ này. Nhạc phẩm “Chiếc Lá Cuối Cùng” cũng chính là nhạc phẩm cuối cùng trong cuộc đời sáng tác của ông.

trantrinh_Thanh Trang

Về bài “Tiếng Hát Nửa Vời” của Trần Trịnh

(Thanh Trang – Nam Cali, Thu 2007)

Nhạc sĩ Trần Trịnh có ba bài hát mà tôi rất thích. Một là bài “Cung đàn muôn điệu” mà tôi vẫn thường nghe trên Đài Phát Thanh Sài Gòn năm tôi mười bốn mười lăm tuổi. Hai là bài “Lệ Đá”, lời thơ của Hà Huyền Chi, mà tôi nghe vào cuối thập niên 60. Còn bài thứ ba,“Tiếng Hát Nửa Vời”, thì mãi về sau này, sau năm 75, tôi mới có dịp nghe; lần đầu tiên là qua tiếng hát của Anh Ngọc. (Thời gian bài hát Tiếng Hát Nửa Vời đuợc phổ biến ở Sài Gòn thì lại nhằm thời gian tôi du học ở Hoa Kỳ rồi sau đó thì lại bận vời công việc giảng dạy, soạn bài soạn vở tại Viện Đại Học và ở Võ Bị Quốc Gia trên Đà Lạt, ít có thời gian để “đụng” đến chuyện văn nghệ!)

Bài “Cung Đàn Muôn Điệu” thì mấy năm trước đây tôi đã có soạn hòa âm để “hòa tấu” và bạn Phan Anh Dũng của chúng ta cũng đã đưa nó vào trang Nhạc của Cỏ Thơm qua tiếng hát của anh Vũ Trung Hiền. Tôi đàn vì tôi thích, và anh Hiền anh ấy hát cũng vì anh ấy thích!

Bài “Lệ Đá” thì sở dĩ tôi chưa từng “động” đến vì nó đã đuợc phổ biến rộng khắp trước kia; khác với bài “Cung Đàn Muôn Điệu” mà giờ đây hình như hiếm mấy ai còn nhớ đến, tuy về mặt âm nhạc mà nói thì ai khác không biết sao chứ riêng tôi chưa thấy sau năm 75 có bài nào với giai điệu, theo thể “Rhumba”, đặc sắc như thế!

Riêng bài “Tiếng Hát Nửa Vời” thì ngoài giai điệu đẹp một cách đặc biệt của bài hát, được thể hiện bằng một cấu trúc cho tiết điệu ¾ cũng “đặc biệt” nốt, thì lời hát lại rất gần gụi với sở thích riêng của tôi. Lời lẽ thì cũng cái kiểu mộc mạc, rõ ràng, dung dị nhưng có ý có nghĩa như trong bài Cung Đàn Muôn Điệu khi xưa vậy! Có mấy thuở mà trong những bài hát thuộc dạng “trữ tình” mà ta có những câu kiểu như “Thành ra lắm khi mình nghĩ không nên hẹn hò..” ? Chất “Thơ” trong thơ hay ca từ đâu có phải cứ làm cho ra vẻ “Thơ” là đã “Thơ” ?

Duy chỉ có mấy chữ “Ora e sempre” trong bài hát là tôi nghe không mấy thuận tai, do đó thú thực là từ bấy đến nay tôi không thích lẩm nhẩm hát bài này những lúc rảnh rỗi quanh quẩn trong nhà như người ta vẫn hay làm thì cũng chỉ vì ba cái chữ gốc La-tinh đó! Mà nghĩa của mấy chữ đó thì cũng chả có linh thiêng hoặc bí hiểm gì cho cam! Nó chỉ có nghĩa “Bây giờ và mãi mãi về sau”! Thực ra thì người Ý họ vẫn quen xử dụng đến bốn chữ là “Ora e per sempre” (dịch ra tiếng Pháp là “Maintenant et pour toujours” ) ! Tôi mà viết được bài hát đặc sắc như thế thì ở chỗ đó tôi đã viết “Ngàn sau vẫn thế”, để mở vần cho câu kế tiếp: “ân tình là trời mê!”

Còn giai điệu bài hát “Tiếng Hát Nửa Vời” thì, như đã nêu ở trên và theo sở thích của riêng tôi, đẹp một cách đặc biệt!

(Thanh Trang – Nam Cali, Thu 2007)

oOo

Lệ Đá – Ca sĩ Lệ Thu:

 

Lệ Đá – Ca sĩ Vũ Khanh:

 

Lệ Đá – Ca sĩ Trường Vũ, Chế Linh, Tuấn Ngọc, Nguyên Khang:

 

Lệ Đá – Ca sĩ Quang Tuấn:

 

Hai Sắc Hoa Tigôn – Ca sĩ Như Quỳnh:

 

Liên khúc Hai Sắc Hoa Tigôn & Tuổi Học Trò – Ca sĩ Thanh Thúy:

 

Tiếng Hát Nửa Vời – Ca sĩ Lệ Thu:

 

Tiếng Hát Nửa Vời – Ca sĩ Duy Quang:

 

Tiếng Hát Nửa Vời – Ca sĩ Thanh Hà:

 

Qua Cơn Mê – Ca sĩ Hà Thanh Xuân:

 

Qua Cơn Mê – Ca sĩ Quang Lê:

 

Qua Cơn Mê – Ca sĩ Lê Minh Trung:

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s