Dân ca dân nhạc VN – Ngâm Thơ Miền Bắc

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn bộ môn “Ngâm Thơ” của miền Bắc, Việt Nam.

Người Việt Nam thì ai ai cũng làm thơ, nhưng “Ngâm Thơ” thì phong phú nhất là ở Miền Bắc.  Thể thơ Lục Bát, rất tự nhiên trong ngôn ngữ Việt Nam, đã có từ trong ca dao tục ngữ và dân nhạc từ thời cổ đại. Sau đó thì các thể thơ Đường Luật du nhập vào Việt Nam.  Hai bài theo thể thơ Đường đầu tiên được biết đến là “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt, và “Quốc Tộ” của Thiền sư Đỗ Pháp Thuận. Trải dài cho đến thời kỳ đầu thập niên 1930 với “Phong Trào Thơ Mới” và bài thơ Tình Già của Phan Khôi, tiếp diễn cho đến ngày nay.

Dù rằng chưa có một định nghĩa chính xác về “Thơ”, nhưng chúng ta không thể phủ nhận “Thơ” là một phần của cuộc sống, là một cách/phương tiện dùng để bày tỏ cảm xúc riêng tư không chỉ bằng từ ngữ mà còn bằng cả trái tim của tác giả.

Được cơ hội đọc một bài thơ hay đã là một món quà tinh thần vô giá. Còn nếu được thưởng thức bài thơ mình yêu thích qua một giọng ngâm truyền thần đầy xúc cảm thì lại càng quý hơn.

Homer
Homer

Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một hình thức lôgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm mỹ cho người đọc, người nghe. Từ thơ thường được đi kèm với từ câu để chỉ một câu thơ, hay với từ bài để chỉ một bài thơ. Một câu thơ là một hình thức câu cô đọng, truyền đạt một hoặc nhiều hình ảnh, có ý nghĩa cho người đọc, và hoàn chỉnh trong cấu trúc ngữ pháp. Một câu thơ có thể đứng nguyên một mình. Một bài thơ là tổ hợp của các câu thơ. Tính cô đọng trong số lượng từ, tính tượng hình và dư âm thanh nhạc trong thơ biến nó thành một hình thức nghệ thuật độc đáo, tách biệt hẳn khỏi các hình thức nghệ thuật khác.

Thơ có một lịch sử lâu dài. Định nghĩa sớm nhất ở châu Âu về thơ có thể bắt đầu từ Hy-Lạp với Homer, khoảng năm 850 trước Công nguyên, và hai tác phẩm cổ nhất của văn hóa Âu Châu, Iliad và Odyssey. Ở Việt Nam, thơ có thể bắt nguồn từ tục ngữ, ca dao mà ra. Những câu có vần điệu, dễ nhớ như Sấm bên đông, động bên tây vốn là những kinh nghiệm được đúc kết thông qua sự từng trải, sự quan sát các hiện tượng thiên nhiên, mà đúc kết lại, truyền từ đời nọ sang đời kia, giống như một thứ mật mã trong ngôn ngữ để truyền thông tin vậy. Những đúc kết bao gồm đủ mọi mặt trong cuộc sống, sau này khi được biến thành những câu ca daocâu vè, chúng trở thành một hình thức văn nghệ, giải trí.

Thông qua giao lưu giữa các nền văn hóa, các thể loại thơ được tăng dần. Từ những cấu trúc đơn giản đến những cấu trúc phức tạp. Những xu hướng gần đây cho thấy, cấu trúc không còn là một yếu tố quan trọng trong thơ. Trong các thể loại thơ ở Việt Nam ta có thể kể đến vài loại như lục bátsong thất lục bát, các thể loại thơ Đường luật như thất ngôn bát cúthất ngôn tứ tuyệtngũ ngôn bát cú rồi đến các loại thơ mới và thơ tự do. Ngoại trừ thơ tự do, một hình thức hầu như không có một cấu trúc rõ rệt, các loại thơ khác hầu như đều có một cấu trúc nhất định. Chặt chẽ nhất có thể là các loại thơ Đường, trong đó cấu trúc về nội dung, luật về số chữ trong câu, số câu trong bài, về cách gieo vần quyết định thể loại của bài thơ. Sự khắt khe trong cấu trúc làm cho thơ Đường trở nên gần như một hình loại văn học chỉ dành riêng cho các tầng lớp trung lưu trở lên, là những người có giáo dục đường hoàng. Chính vì sự khắt khe này, thơ Đường hiện nay dần dần bị phai nhạt và hầu như không còn ai để ý đến nữa.

Hiện nay, thơ trở thành một hình thức nghệ thuật hầu như ai cũng biết đến. Không ai đã từng thông qua một quá trình giáo dục mà không biết một vài câu thơ. Thơ còn trở nên một hình thức để bày tỏ tâm tư và chứa đựng tính sáng tạo của con người. Có thể nói, sự tồn tại của thơ đi song song với sự tồn tại của ngôn ngữ. Còn ngôn ngữ tức là còn thơ.

tho1

Một cách hiểu về thơ

Thơthơ ca hay thi ca, là một khái niệm chỉ các loại sáng tác văn học có vần điệu, có đặc điểm ngắn gọn, súc tích, nhiều ý cô đọng. Một bài văn cũng có thể là một bài thơ nếu sự chọn lọc các từ trong đó xúc tích và gây cảm xúc cho người đọc một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, một bài thơ thường còn mang tính vần giữa câu nọ với câu kia và tổ hợp của các câu gây ra âm hưởng nhạc tính trong bài. Thơ thường dùng như một hình thức biểu tả cảm xúc trữ tình, hoặc tình cảm xúc động trước một hiện tượng xảy ra trong cuộc sống, như khi người ta đứng trước một phong cảnh ngoạn mục, hoặc đứng trước một thảm cảnh. Sự tương tác giữa tình cảm con người và hoàn cảnh tạo nên những cảm nghĩ mà người ta muốn bày tỏ với một phong độ chắt lọc, tinh khiết, không rườm rà, song có mức thông tin cao, đột phát, nhưng cô đọng và chiết khúc. Muốn làm được như vậy, người làm thơ phải có một con mắt quan sát chi tiết, tổng quát hóa, và nhanh chóng liên tưởng giữa những hình ảnh quan sát được với những gì vốn có trước đây.

Tính nhạc trong thơ là một hình thức làm cho bài thơ dễ được cảm nhận bởi người nghe hay người đọc và sức cảm nhận nhanh chóng này tương tự như hiệu ứng của việc xem phim và nghe âm nhạc trong phim hòa quyện với nhau cùng một lúc. Câu chữ trong thơ văn, hay trong ngôn ngữ, giúp con người tái tạo lại hình ảnh mà nó miêu tả, song âm thanh và vần điệu của các từ lại gây cảm xúc về âm nhạc. Sự kết nối khéo léo giữa hai tính chất này của ngôn ngữ thúc đẩy sự tìm tòi các từ có âm thanh hay, xác thực với tình cảm người viết muốn truyền, đồng thời tìm tòi những từ mới. Tính âm nhạc còn thể hiện trong việc sử dụng các từ diễn tả âm thanh như “rì rào”, “vi vút”, “ầm ầm”, “lanh canh”, v.v… Chính vì tính chất này, việc làm thơ nhiều khi tương tự như việc làm toán, hoặc việc bài binh bố trận trong quân sự, mà bài toán hay kẻ thù phải chinh phục chính là cảm xúc của họ, và câu chữ hoặc từ là phép toán hay lực lượng quân đội mà họ có, và người làm thơ phải nhanh chóng tìm ra phương pháp biểu tả tình cảm của mình dưới một hình thức cô đọng, hợp lý, với một số lượng từ rất nhỏ. Để lùng tìm những câu, chữ, từ, nghĩa nhanh chóng, người làm thơ thường phải kinh qua một quá trình luyện tập lâu dài, bằng cách đọc sách, học cách biểu tả tình cảm của mình bằng những câu chữ ngắn gọn, đồng thời có cảm quan nhạy bén với ngữ nghĩa của từ được dùng. Thơ còn đòi hỏi tính phân tích các từ nghép và cô đọng từ. Chính vì thế, nhiều khi do làm thơ, người làm thơ dễ rơi vào tình trạng liên tưởng giữa từ của nghĩa này sang từ của nghĩa khác. Khi được dùng trong thơ, người ta còn gọi là sự “chơi chữ”.

NSUT Hồng Vân
NSUT Hồng Vân

Tính hội họa trong thơ, hay còn gọi là tính tạo hình, là một tính chất cơ bản. Người làm thơ, trước khi viết thơ, thường rơi vào tình trạng mà người ta gọi là “cảm hứng”. Trong tình trạng này, các hình ảnh thu được trong trí nhớ, có thể bao gồm cả các khung cảnh ở bên ngoài quan sát được, liên kết với nhau, tạo nên một thế giới nhỏ bé. Hình ảnh có thể rõ đến mức người ta gần như cảm thấy có thể động vào những vật thể, ngửi thấy mùi vị, thấy sự chuyển động của vật thể, thấy màu sắc v.v. Người làm thơ sẽ sống trong thế giới ấy trong khi họ đang nghĩ về bài thơ, họ sẽ đi lại, vào các góc của thế giới của mình, nhìn rõ hơn các vật cảnh, liên kết thêm những màu sắc, những chuyển động, những dãy liên tiếp của các sự kiện xảy ra, hay nói cách khác, họ xa rời cái thế giới mà họ đang sống. Chính vì hiện tượng này, người ta có câu nói đùa, chỉ các nhà thơ là thơ thẩnnằm mơ hay mơ mộng như người ở trên cung trăng. Đây là một hiện trạng có thật. Sự hưng phấn do được sống trong thế giới riêng của mình, được sắp đặt nó theo ý riêng của mình, được thêm thắt, chắt lọc, được cho các vật chuyển động, xoay quanh các vật, chiêm ngưỡng chúng, cảm giác chúng v.v. gây nên sự ham mê, thôi thúc người làm thơ tiếp tục sống và diễn tả lại chúng bằng từ ngữ. Không những quan sát và diễn tả không thôi, họ còn phải nâng sự quan sát của họ lên đến một mức độ nhạy bén, hoa mỹ, không tầm thường – đây chính là sự khác biệt giữa thơ và truyện hay với các loại hình nghệ thuật khác. Một số cách dùng từ để thể hiện:

Quan sát Cách diễn tả thường thấy Cách diễn tả có tính thơ hơn
mưa ảm đạm, xối xả, rầu rĩ thì thầm, lõm bõm, quất mặt, vắt nước, bạc trời đất, xiên ngang trời
buồn thảm, rầu, ơi là buồn, héo hắt, tênh lãng đãng, nham nhở, đặc sệt, nhỏ giọt, thở khói đen, bám rễ, đeo trên ngực
hoa nở, thắm, thơm lừng, thơm ngát, thơm nồng chúm chím, nứt ra, ngóc đầu, nhảy múa, hát vị ngọt, phanh lồng ngực tỏa hương

tho33

Việc chọn lọc từ tạo nên hình ảnh thường được thấy rất nhiều trong các bài thơ. Có những hình ảnh đẹp, mềm mại, hài hòa, thơ mộng. Có những hình ảnh khắc khổ, vuông thành sắc cạnh, song cũng có những hình ảnh đồ sộ, đôi khi gớm ghiếc. Mỗi một hình ảnh đều nhằm tái tạo lại thị giác, cảm quan của người làm thơ lúc họ viết. Một trong những ví dụ về hình ảnh có thể tìm thấy trong tập Truyện Kiều của Nguyễn Du:

Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa

Do ảnh hưởng của quan niệm hội họa dưới thời người làm thơ còn sống, Nguyễn Du thường sử dụng phong thái thủy mặc trong thơ của mình. Phong cảnh đơn sơ, chấm điểm, phác thảo và nhẹ nhàng, nhưng không kém sức quyến rũ. Một câu khác của Bà Huyện Thanh Quan:

Lom khom dưới núi tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà

Hay Nguyễn Khuyến:

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.

Hoặc Hàn Mặc Tử trong bài Một Nửa Trăng:

Hôm nay chỉ có nửa trăng thôi
Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi

tho35

Nếu hình ảnh trong đầu của nhà thơ không sống động, thì người đọc thơ cũng không có cảm quan sống động của bài thơ. Sự tương tác giữa họa, nhạc trong thơ có thể gần như tương tự với sự đóng góp của họa sĩ, nhạc sĩ, hay nói cách khác, sự dàn dựng một bộ phim, và họa sĩ, nhạc công, đạo diễn phim v.v. tất cả đều chỉ bởi nhà thơ với ngòi bút và những từ ngữ trong một hệ thống ngôn ngữ mà ra.

Cách sử dụng dùng hình ảnh động đậy bằng việc cho thêm các động từ cũng thường được thấy trong các bài thơ Đường, đặc biệt là trong các vế đòi hỏi tính đối lập. Chẳng hạn Hồ Xuân Hương trong bài Lên chơi Đông Sơn tự:

Đông Sơn cảnh chiếm một hồ riêng,
Uyên báu bay về, khói pháp chen,
Đá núi điểm đầu, mưa phất xuống,
Ngàn hoa nở rộ, gió tung lên,

Đế Bà hương hỏa thơm bên xóm,
Trịnh Chúa xe qua vết cũ còn,
Cứu độ bè từ qua bể khổ,
Chim âu ngủ đứng bến ngư thôn.

Một điểm khá quan trọng trong phim ảnh, nhạc, thơ hoặc bất cứ một hình thức nghệ thuật nào là tính lôgic của các sự kiện. Sự phát triển của các hình ảnh từ nhỏ đến lớn, từ trầm đến thanh, từ mịn màng đến gồ ghề v.v. phải luôn luôn được cân nhắc. Người đọc thơ bị lôi cuốn một phần cũng vì tính lôgic của nó. Rất nhiều bài thơ, ngay cả của những thi sĩ nổi tiếng, do sắp xếp các hình ảnh trong thơ thiếu tính lôgic mà bài thơ của họ không được mấy người để ý. Những hình ảnh đẹp họ gợi lên, hay những tương tác giữa các nhân vật trong thơ, cũng như tiến trình dẫn đến cao trào không có một sự phát triển lôgic nhất định, gây cảm giác bấp bênh, lõm bõm, và rời rạc cho người đọc. Nhạc trong thơ, hay sự tiến trình của cao trào cũng như thoái trào trong thơ, cũng tương tự như tiến trình của âm nhạc, đòi hỏi phải theo cung, theo nhịp và theo sự tiến triển của thời gian. Trong hội họa tiến trình này còn được hiểu như tiến trình của các gam màu, đồng dạng hoặc đối lập.

Nghệ sĩ Hoàng Oanh
Nghệ sĩ Hoàng Oanh

Thơ không phải là một tổ hợp của các hình ảnh lộn xộn, song là một chuỗi các hình ảnh được gắn lại với nhau theo một quá trình sắp đặt hợp lý, không kể tính thuận nghịch. Chính vì đặc tính này, người làm thơ, hay các nhà thơ, còn có thể được gọi là các “nghệ sĩ”. Họ không chỉ là người biết nhiều từ vựng, biết mường tượng phong cảnh giỏi, mà họ còn là người biết sắp xếp các sự kiện hợp lý, và các bài thơ của họ tái tạo lại tình cảm, tái tạo lại sự kiện trong đầu người đọc nhanh chóng và gắn bó, như sự phát triển tình cảm của họ khi họ viết một bài thơ. Nắm bắt được sự phát triển tình cảm của mình, gây dựng được cao trào đòi hỏi nhà thơ gần như có thêm một bản sao của chính mình. Họ phải quan sát cảm quan và sự tiến triển tình cảm của chính bản thân, ghi nhớ chúng và viết lại. Cảm quan của nhà thơ, sự hội tụ của các sự kiện bên ngoài, tính triết lý v.v. đều ảnh hưởng bởi ngoại cảnh và môi trường xã hội. Không một nhà thơ nào không bị ảnh hưởng của điều kiện chính trị, lịch sử, phong cách suy nghĩ của thời đại khi họ còn sống.

Tứ thơ, hay ý tứ của bài thơ, là tình cảm, hình ảnh chủ đạo mà bài thơ muốn truyền đạt. Phong cách là cách chọn từ, cách diễn đạt ý tưởng của mình, chẳng hạn:ngộ nghĩnhđơn sơ, mộc mạcđơn giản, thanh thoátgồ ghề, góc cạnhmỉa mai, châm biếm, hoặc là cao thượng, đầy tính triết lý v.v. Cấu tứ của bài thơ là cấu trúc và ý tưởng gộp lại. Cách sắp xếp các câu thơ, sự sắp xếp của bài thơ, luật sử dụng trong bài thơ, vần điệu và tính nhạc đều là một phần của cấu tứ. Để có một cấu tứ tốt, người làm thơ thường phải nâng tầm mắt mình cao hơn tình cảm của mình, bao quát toàn bộ bài thơ, làm chủ chính tác phẩm của mình.

Một điểm nữa khá quan trọng, song lại có thể là lỗ hổng lớn nhất trong tất cả các bài bàn luận về thơ là dư âm. Dư âm là cảm quan người đọc có được sau khi đọc một cụm từ, một câu thơ, một đoạn thơ, hay một bài thơ. Tuy nguồn gốc của dư âm là ở bản thân cấu kết của các từ, cách sử dụng từ, của âm thanh và hình ảnh do các từ tạo ra, song kết quả của dư âm còn do ảnh hưởng của tâm trạng người đọc, cảm quan của người đọc, hay nói cách khác, khả năng cảm nhận của người đọc. Sở dĩ dư âm là một lỗ hổng lớn là vì tính khó bao trùm được của bất cứ một bàn luận nào về khía cạnh này. Có thể nói dư âm là kết xuất của cảm quan của người viết thơ cộng với cảm quan của người đọc thơ. Tạo được dư âm như mình mong muốn là cái thần của người làm thơ. Nó cũng tương tự như cảm quan của người nghe âm nhạc, sau khi nghe một đoạn nhạc. Tính mỹ thuật và âm hưởng của bài thơ, của đoạn nhạc là cái làm cho người ta nhớ và mến trọng. Có lẽ vì thế mà nhiều nhà thơ dùng ngoại cảnh để nói nội tình hơn là phân tích tình cảm nội tâm, tức là đi gián tiếp hay hơn là đi trực tiếp, hay lấy cái chung để nói cái riêng tưhay hơn là lấy cái riêng tư để nói cái riêng tư. Dư âm còn có thể là cái hương vị của bài thơ, từ đó người đọc cảm nhận được phong tháicái hay cái đẹp trong tâm tư của nhà thơ. Nếu tôi nói hoa thơm thì người đọc chưa chắc đã cảm thấy hoa thơm, nhưng nếu tôi nói thoảng đưa trong không gian thì người đọc thấy cái gì nhè nhẹ, hình dung được cái hương bay. Hay nói cách khác, người làm thơ không diễn tả những gì hiển hiện trước mặt, không nói những gì hiển nhiên vốn có, bằng ngôn ngữ cửa miệng, đầu lưỡi, tức là thứ ngôn ngữ vẫn dùng thường ngày, song dùng một cách khác, gián tiếp chỉ đến điều mình muốn nói.

Nghệ sĩ Hồ Điệp
Nghệ sĩ Hồ Điệp

Làm thơ là một việc khó và không phải ai cũng có thể làm được. Nhiều khi người ta cho rằng khả năng làm thơ là một thiên phú, trời cho và thường gây cảm xúc thán phục nếu ai đó có khả năng “xuất khẩu thành thơ”. Đương nhiên khi làm thơ, người làm thơ phải có hiểu biết và một trí tuệ nhất định, song kể cả khi dùng trí tuệ thì trí tuệ của người làm thơ cũng bị cảm xúc của tình cảm chủ quan chi phối.

  • Thơ là thể loại văn học lấy cảm xúc, lấy trí tuệ súc tích được diễn đạt theo hình thức có vần điệu hoặc tự do (không vần điệu). Trong việc sáng tác các thể loại văn học thì nhà thơ là người cần thiên phú nhất, cho nên ít khi do học mà làm được thơ hay, dù nếu đã làm được thơ hay và cũng được học thì vẫn tốt hơn.
  • Thơ tồn tại như một loại thể văn học, còn “chất Thơ” hay “chất Thi ca” thì tồn tại ở nhiều loại hình, loại thể văn nghệ và trong thiên nhiên nói chung. Ví dụ một phong cảnh đẹp, một không khí môi trường gợi cảm xúc thi ca – như mùa thu vàng, chiều đông tuyết nhẹ rơi lãng đãng, khi tiễn hay đón gặp lại người thân sau nhiều năm xa vắng… làm cho tâm hồn tràn lên cảm xúc trữ tình, khiến ta như muốn ca lên, hát lên để biểu lộ một cái gì đó dạt dào hay xao xuyến.

Nói tóm lại thi ca là tất cả những gì thuộc tình cảm và lý trí chịu sự chi phối của cảm xúc rung động đa dạng của con người. Khi nào bạn còn những rung động đó, nghĩa là tâm hồn bạn còn chất thi ca, còn khiến bạn sống có ý nghĩa hơn trên cõi đời này. Thơ, ngoài đặc điểm đó, lại là một nghệ thuật tuân theo các tính chất riêng của thể loại này – trong đó yếu tố trời cho làm thơ là số một. Những tính chất riêng của thể loại thơ là một vấn đề lớn, mà muốn hiểu nó chúng ta cần tham khảo từ nhiều nguồn như các giáo trình văn học, cũng như các nguồn khác.

tho25

Phân tích

Âm

Âm (sound) do sự nhóm họp của một hoặc nhiều nguyên âm tạo nên. Những âm gần giống nhau, không kể các phụ âm đứng trước hay đứng sau hay sự tác động của các dấu gây sự trầm bổng của âm, tạo nên vần trong thơ. Chẳng hạn, âm đơn:

àcachađáta

âm kép:

biênchiêmchuyênxuyên

Bảng phân các loại âm sau đây được trích từ Hệ thống thanh trong tiếng Việt (Việt Nam Văn Học Sử Yếu, Dương Quảng Hàm):

Loại thanh Tên các thanh Dấu chỉ thanh Ghi chú
Bằng phù bình thanh
trầm thượng thanh
không có dấu
dấu huyền
Trắc phù thương thanh
trầm thương thanh
phù khứ thanh
trầm khứ thanh
ngã (~)
hỏi (?)
sắc (‘)
nặng (.)
phù nhập thanh
trầm nhập thanh
sắc (‘)
nặng (.)
riêng cho các tiếng
đằng sau có phụ âm
t, c, p và ch

Nếu lựa từ sao cho có âm và thanh tương hợp thì khi đọc lên sẽ nghe êm tai, ta gọi lời văn có vần. Hai tiếng vần với nhau khi có âm tương tự và có cùng thanh (hoặc là cùng bình thanh hoặc là cùng trắc thanh). Trong thơ, vấn đề hợp vần là điều cốt yếu. Sự phối trí âm thanh nhịp điệu là yếu tố cơ bản của thơ.

tho8

Vần

Vần (rhyme) là những chữ có cách phát âm giống nhau, hoặc gần giống nhau, được dùng để tạo âm điệu trong thơ. Đây là một quy luật để nối các câu trong bài thơ với nhau. Thường vần được dùng để nối câu gieo vào chữ cuối cùng của câu thơ. Có hai loại vần:

  • vần bình: những chữ không dấu hoặc dấu huyền — ba, bà
  • vần trắc: những chữ có dấu hỏi, ngã, sắc, nặng — bả, bã, bá, bạ

Chữ “đấy”, “cấy” cùng phát ra một âm “ây” song đều thuộc trắc thanh. Những tiếng “dâu”, “màu”, “sầu” có âm “âu” và “au” và thuộc bình thanh.

Vần thể còn được quan niệm là vần giàu hay nghèo:

  • Vần giàu (hay còn gọi là Vần Chính): những chữ có cùng âm và thanh
    • Thanh bằng: Phương, sương, cường, trường
    • Thanh trắc: Thánh, cảnh, lãnh, ánh
  • Vần nghèo (hay còn gọi là Vần Thông): đồng thanh nhưng với âm tương tự
    • Thanh bằng: Minh, khanh, huỳnh, hoành
    • Thanh trắc: Mến, lẽn, quyện, hển

Ví dụ hai câu dùng Vần Chính:

Lầu Tần chiều nhạt vẻ thu
Gối loan tuyết đóng, chăn  giá đông

Cưỡng vận

Khi hai vần là Vần Thông với nhau mà thôi.

Người lên ngựa kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san

Lạc vận

Khi hai vần không thuộc Vần Chính hay Vần Thông.

Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi

Trong thơ Việt, có hai cách gieo vần

  • Gieo vần ở giữa câu (Yêu Vận hay “vần lưng”): Chữ cuối của câu trên vần với một chữ nằm bên trong câu dưới như trong thể thơ lục bát, chữ cuối câu có sáu chữ vần với chữ thứ sáu của câu tám chữ sau đó. Chẳng hạn Nguyễn Du trong truyện Kiều (1(6)-2(6)) (2(8)-3(6)) (3(8)-4(6)) (4(8)-..):

Người về chiếc bóng năm canh
Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi
Vầng trăng ai xẻ làm đôi?
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường

  • Gieo vần ở cuối câu (Cước Vận hay “vần chân”): Các chữ ở cuối câu vần với nhau.

tho14

Vần tiếp

các cặp trắc bằng xen kẽ tiếp nhau. Chẳng hạn Xuân Diệu trong Tương Tư Chiều (2,3) (4,5) (6,7):

  1. Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm,
  2. Anh nhớ em, em hỡi! Anh nhớ em.
  3. Không gì buồn bằng những buổi chiều êm,
  4. Mà ánh sáng đều hòa cùng bóng tối.
  5. Gió lướt thướt kéo mình qua cỏ rối;
  6. Vài miếng đêm u uất lẩn trong cành;
  7. Mây theo chim về dãy núi xa xanh
  8. Từng đoàn lớp nhịp nhàng và lặng lẽ.
  9. Không gian xám tưởng sắp tan thành lệ.

Vần chéo

Trong thi đoạn bốn câu, chữ cuối câu thứ nhất vần với câu thứ ba và chữ cuối câu thứ hai vần với câu thứ tư. Chẳng hạn Anh Thơ trong bài Tiếng chim tu hú (1,3) (2,4):

  1. Nắng hè đỏ hoa gạo
  2. Nước sông Thương trôi nhanh
  3. Trên đường đê bước rảo
  4. Gió nam giỡn lá cành

Nhiều khi chỉ cần chữ cuối câu thứ hai vần với câu thứ tư mà thôi. Chẳng hạn Quang Dũng trong bài Đôi bờ (2,4):

  1. Xa quá rồi em người mỗi ngả
  2. Bên này đất nước nhớ thương nhau
  3. Em đi áo mỏng buông hờn tủi
  4. Dòng lệ thơ ngây có dạt dào?

Vần ôm

Trong thi đoạn bốn câu, chữ cuối câu thứ nhất vần với câu thứ tư và chữ cuối câu hai vần với câu thứ ba. Vần trắc ôm vần bằng, hay ngược lại. Chẳng hạn Nguyên Sa trong Áo lụa Hà Đông (1,4) (2,3):

  1. Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
  2. Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
  3. Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
  4. Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

Vần ba tiếng

Trong thi đoạn bốn câu, chữ cuối câu một, câu hai và câu thứ tư vần với nhau. Câu ba khác vần. Chẳng hạn Thâm Tâm trong Tống Biệt Hành (1,2,3).

  1. Đưa người ta không đưa qua sông
  2. Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
  3. Bóng chiều không thắm không vàng vọt
  4. Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

tho13

Điệu

Điệu (rhythm), hay còn gọi là nhạc điệu, tạo nên do âm thanh của từ được chọn và nhịp điệu ngắt câu. Nhạc trong thơ được tạo nên bởi ba yếu tố: vần, tiết tấu và từ. Thơ lục bát, ca dao là một thể loại giàu nhạc tính.

  • Âm hưởng của vần:

(a)- Vần bằng thường gây cảm giác nhẹ nhàng, mềm mại.

Gió mơn man sợi nắng mành
Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài
Dương gian hé rạng hình hài
Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi

(b) – Vần trắc thường gây cảm giác mạnh mẽ, động đậy, tỉnh thức.

Gió mơn man sợi nắng mành
Sương còn đu ngọn lá xanh miệt mài
Dương gian hé rạng hình hài
Trời se sẽ lạnh, đất ngai ngái mùi

  • Tiết tấu của câu: Tiết tấu là nói đến cái nhịp, cái điệu của câu thơ. dựa vào chỗ ngắt đoạn, tức chỗ chia câu thành từng vế, mỗi vế có nghĩa trọn vẹn. Đó là nhịp dài(–), khi ngâm người ta ngừng lại ngân nga lâu một chút. Ngoài ra, trong mỗi vế, khi ngâm tùy theo hứng, người ta cũng có thể ngừng lại ngân nga ngắn hơn ở những chỗ vế chia thành từng bộ phận, đó là nhịp ngắn (-).

Dương gian (-) hé rạng (-) hình hài (–)
Trời (-) se sẽ lạnh (-), đất ngai (–) ngái mùi (–)

  • Nhịp trong thơ: tạo nên do sự phân định của câu và của từ, tương tự khi viết cho dấu phẩy, khi đọc ngưng hơi.

Nhịp (4/4) – (2/2/2/2)

Em ngồi cành trúc (–) em tựa cành mai (–)
Đông đào (-) tây liễu (-) biết ai (-) bạn cùng (–)

Nhịp (2/2/2) – (2/2/2/2)

Trời mưa (-) ướt bụi (-) ướt bờ (-)
Ướt cây (-) ướt lá (–) ai ngờ (-) ướt em (–)

Nhịp (2/4) – (2/2/2/2)

Yêu mình (–) chẳng lấy được mình (–)
Tựa mai (-) mai ngã (–) tựa đình (-) đình xiêu (–)

Nhịp (2/4) – (4/4)

Đố ai (-) quét sạch lá rừng (–)
Để ta khuyên gió (–) gió đừng rung cây (–)

Nhịp (2/4) – (2/4/2)

Hỡi cô (-) tát nước bên đàng (–)
Sao cô (-) múc ánh trăng vàng (–) đổ đi (–)

Nhịp (4/2) – (2/4/2)

Trách người quân tử (-) bạc tình (–)
Chơi hoa (–) rồi lại bẻ cành (–) bán rao (–)

Nhịp (3/2/2) – (4/3/2)

Đạo vợ chồng (-) thăm thẳm (-) giếng sâu (–)
Ngày sau cũng gặp (–) mất đi đâu (-) mà phiền (–)

tho26

Nhạc tính của từ:

Theo ngữ học, mỗi từ đơn của ta thường là một âm tiết, khi phát lên nhẹ hay mạnh, trong hay đục là tùy theo vị trí phát âm của nó trong khẩu cung (kể từ môi đến cuống họng, kể cả độ mở của miệng). Một từ được phát lên tại vị trí nào trong khẩu cung là phải chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố tạo nên nó: nguyên âm, phụ âm đầu, phụ âm cuối và thanh. Vì thế từ nào có:

  1. nguyên âm bổng như: i, ê, e
  2. phụ âm vang như: m, n, nh, ng
  3. thanh bổng như: không dấu, dấu sắc, dấu hỏi, thì từ được phát ra, âm sẽ cao, trong và nhẹ.

Ngược lại, từ nào gặp phải:

  1. nguyên âm trầm: u, ô, o,
  2. phụ âm tắc: p, t, ch, c,

và thanh trầm: dấu huyền, dấu ngã, dấu nặng thì từ phát ra âm sẽ đục và nặng.

Sự trong đục của các từ ngắt nhịp trong câu, và nhất là của các từ dùng làm vần có ảnh hưởng nhiều nhất đến nhạc tính của thơ.

Hôm qua (-) tát nước đầu đình (–)
Bỏ quên cái áo (-) Trên cành hoa sen (–)
Em được (–) thì cho anh xin (–)
Hay là (-) em để làm tin (-) trong nhà. (–)

Những từ ngắt nhịp và những từ dùng làm vần trong 4 câu thơ này hầu hết đều có những yếu tố tạo nên âm vang và trong, nên nhạc thơ nghe vui, diễn tả được tình cảm trong sáng, yêu đời của chàng trai ở đây.

Nụ tầm xuân (-) nở ra xanh biếc. (–)
Em đã có chồng (–) anh tiếc (-) lắm thay. (–)

Âm “iếc” trong 2 từ “biếc” và “tiếc” lấy làm vần ở đây có 2 nguyên âm bổng (iê) vút cao với thanh sắc cũng thuộc loại thanh bổng nhưng đã bị đứt hơi, tắc nghẽn bởi phụ âm cuối ‘c’, được mệnh danh là âm tắc, nên khi đọc lên nghe như tiếng nấc, nhạc thơ vì vậy chậm lại, nghe nghẹn ngào, tức tưởi. Như thế, vần “iếc” ở đây gieo rất đắt, đã cực tả được nỗi tiếc nuối đứt ruột của chàng trai khi trở lại chốn cũ, gặp lại người xưa, tình mình thì đang nồng, người mình yêu lại quá đẹp, nhưng than ôi muộn mất rồi, vì nay nàng đã là gái có chồng!

Yêu ai tha thiết, thiết tha
Áo em hai vạt trải ra chàng ngồi.

Đôi khi để đảm bảo cho nhạc tính của câu ca dao (âm luật, âm vận), những âm tiết của từ kép có thể đảo ngược vị trí. Như câu ca dao trên hai âm tiết “tha thiết” được đảo thành “thiết tha” vì thể lục bát chỉ gieo vần bằng (tha, ra).

Thơ hoặc ca dao hay sử dụng từ láy, nhờ sự lập lại toàn thể hay một số yếu tố của từ gốc mà từ láy khi phát âm, hai điểm phát âm sẽ trùng nhau (từ láy hoàn toàn) hay tiến sát gần nhau (từ láy không hoàn toàn) tạo thành một chuỗi hòa âm, giúp cho nhạc điệu của thơ vừa phong phú, vừa tăng uyển chuyển, nhịp nhàng.

Nghệ sĩ Hoàng Oanh
Nghệ sĩ Hoàng Oanh

Luật

Luật làm thơ (rule): Vần bằng (hay cũng gọi là “bình”) được ký hiệu bằng B, vần trắc được ký hiệu bằng T, vần không theo luật kí hiệu bằng số 0 (vần tự do, có thể là thanh bất kì, bằng hoặc trắc).

Thơ lục bát

Câu số Vần
1 B B T T B B
2 B B T T B B T B
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7 8

Ông trời nổi lửa đằng đông
Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay

Biệt lệ

Tuy luật bằng trắc đã qui định như ở trên, nhưng những chữ thứ 1, thứ 3 và thứ 5 nếu không theo đúng luật thì cũng không sao. Cái biệt lệ ấy được gọi là “nhất, tam, ngũ bất luận”, có nghĩa là chữ thứ 1, chữ thứ 3 và chữ thứ 5 không kể (bất luận), tức không nhất thiết phải theo đúng luật. Còn các chữ thứ 2, chữ thứ 4, và chữ thứ 6 bắt buộc phải theo đúng luật (phân minh), do câu “nhì, tứ, lục phân minh”.

Câu số Vần
1 0 B 0 T 0 B
2 0 B 0 T 0 B 0 B
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7 8

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ

Phá Luật

Thỉnh thoảng chúng ta bắt gặp người làm thơ thích phá luật ở chữ thứ hai câu 6, thay vì vần bằng thì lại đổi ra vần trắc; còn chữ thứ tư thì có khi đổi thành vần bằng thay vì vần trắc như thường lệ. Câu 6 cũng được ngắt ra làm hai vế. Chẳng hạn hai câu trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, chữ “cốt” là một chữ thuộc vần trắc, song lại nằm ở vị trí của vần bằng:

Câu số Vần
1 Mai cốt cách, tuyết tinh thần
2 Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7 8

tho15

Thơ song thất lục bát

Song thất là hai câu bảy chữ nối theo hai câu lục bát. Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn đã được Đoàn Thị Điểm diễn nôm lại bằng thể thơ này. Trong câu bảy chữ trên, chữ thứ ba là vần trắc, chữ thứ năm là vần bình, chữ thứ bảy là vần trắc; trong câu bảy chữ dưới, chữ thứ ba là vần bình, thứ năm là vần trắc, và chữ thứ bảy là vần bình. Hai câu lục bát tiếp sau thì theo luật thường lệ.

Câu số Vần
1 0 0 T 0 B 0 T
2 0 0 B 0 T 0 B
3 0 B 0 T 0 B
4 0 B 0 T 0 B 0 B
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7 8

Chàng thì đi cõi xa mưa gió
Thiếp lại về buồng  gối chăn
Đoái trông theo đã cách ngăn
Tuôn màu mây biếc, trải ngần núi xanh

Chữ cuối cùng của câu có bảy chữ trên vần với chữ thứ năm của cây bảy chữ dưới, chữ cuối câu bảy chữ ở dưới vần với chữ cuối của câu sáu chữ trong hai câu lục bát tiếp theo, chữ cuối câu sáu chữ lục bát vần với chữ thứ sáu của câu có tám chữ, và chữ cuối của câu tám chữ lục bát vần với chữ thứ năm của câu bảy chữ tiếp theo. Tuy nhiên, chữ cuối câu lục bát tám chữ cũng có thể vần với chữ thứ ba câu bảy chữ, biến đổi âm trong vần chữ này đổi sang vần bình. Do đó, chữ thứ ba trong câu bảy chữ trên có thể là trắc hay bằng.

Câu số Vần
1 0 0 0 0 B 0 T
2 0 0 B 0 T 0 B
3 0 B 0 T 0 B
4 0 B 0 T 0 B 0 B
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7 8

Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
Nhủ rồi tay lại trao liền
Bước đi một bước lại vin áo chàng

????????

Thơ bốn chữ

Nếu chữ thứ hai là vần bằng thì chữ thứ tư là vần trắc.

Câu số Vần
1 0 T 0 B
2 0 B 0 T
Chữ thứ 1 2 3 4

Bão đến ầm ầm
Như đoàn tàu hỏa

Ngược lại, nếu chữ thứ hai là vần trắc thì chữ thứ tư là vần bằng.

Câu số Vần
1 0 B 0 T
2 0 T 0 B
Chữ thứ 1 2 3 4

Chim ngoài cửa sổ
Mổ tiếng võng kêu

Song nhiều bài thơ không theo luật ở trên.

Bão đi thong thả
Như con bò gầy

Thơ năm chữ

Tương tự như luật của thơ bốn chữ ở trên, song cũng nhiều trường hợp không theo luật.

Hôm nay đi chùa Hương
Hoa cỏ mờ hơi sương
Cùng thầy me em dậy
Em vấn đầu soi gương

Thơ sáu chữ

Dùng chữ cuối cùng, với cách gieo vần như vần chéo hoặc vần ôm:

Vần chéo

Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều

                      (Đỗ Trung Quân – Quê Hương)

Vần ôm

Xuân hồng có chàng tới hỏi:
— Em thơ, chị đẹp em đâu?
— Chị tôi tóc xõa ngang đầu
Đi bắt bướm vàng ngoài nội

(Huyền Kiêu – Tình sầu)

Thơ bảy chữ

Do ảnh hưởng của Thất ngôn tứ tuyệt trong thơ Đường, thơ bảy chữ hiện nay vẫn còn mang âm hưởng luật của nó. Có hai loại câu:

Vần bằng

Câu số Vần
1 0 B 0 T 0 B B
2 0 T 0 B 0 T B
3 0 T 0 B 0 T T
4 0 B 0 T 0 B B
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7

Quanh năm buôn bán ở mom sông
Nuôi đủ năm con với một chồng
Lặn lội thân  khi quãng vắng
Eo sèo mặt nước buổi đò đông

(Tú Xương – Thương vợ))

Hay gần đây hơn:

Em ở thành Sơn chạy giặc về
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi
Cách biệt bao ngày quê Bất Bạt
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

(Quang Dũng – Đôi Mắt Người Sơn Tây)

Vần trắc

Câu số Vần
1 0 T 0 B 0 T B
2 0 B 0 T 0 B B
3 0 B 0 T 0 B T
4 0 T 0 B 0 T B
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7

Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau:
Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
Phen này ông quyết đi buôn cối
Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu

Hiện nay, thể thơ này được cải biên và nó chỉ còn là:

Câu số Vần
1 0 B 0 T 0 B 0
2 0 T 0 B 0 T 0
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7

Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cảm ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

(Tô Thùy Yên – Ta về)

tho34

Thơ tám chữ

Chữ cuối có vần trắc thì chữ thứ ba là vần trắc, chữ thứ năm và sáu là vần bằng.

Vần
0 0 T 0 B B 0 T
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7 8

Chữ cuối có vần bằng thì chữ thứ ba là vần bằng, chữ thứ năm và sáu là vần trắc.

Vần
0 0 B 0 T T 0 B
Chữ thứ 1 2 3 4 5 6 7 8

Nhưng nhiều lúc cũng không như thế.

Cách gieo vần

Vần tiếp

Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé,
Tôi sẽ trách — cố nhiên — nhưng rất nhẹ;
Nếu trót đi, em hãy gắng quay về,
Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề
Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở.
Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,
Cho nghìn sau… lơ lửng… với nghìn xưa…

(Hồ Dzếnh – Ngập Ngừng)

Vần chéo

Trong ánh nắng hạt sương dần nhẹ bỗng
Rồi tan vào thoáng đãng trời xanh
Cánh hoa mỏng rập rờn với gió
Có nhớ về hạt sương sớm long lanh?
  (Hải Kỳ – Giấc mơ)

Vần ôm

Đêm Trường Sơn. Lá với nước rầm rì
Hơi đá lạnh nép mái nhà nghe ngóng
Chúng tôi ngồi xòe tay trên lửa nóng
Máu bàn tay mang hơi lửa vào tim

(Nguyễn Khoa Điềm – Bếp lửa rừng)

Muốn cho thơ tám chữ thêm âm điệu, một số nhà thơ thường gieo vần chữ thứ tám của câu trên với chữ thứ năm hay sáu của câu dưới:

Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
Những hào hùng, uất hận gối lên nhau

(Cao Tần – Ta làm gì cho hết nửa đời sau?)

Dạng (form)

  1. thơ lục bát
  2. thơ song thất lục bát
  3. thơ bốn chữ
  4. thơ năm chữ
  5. thơ sáu chữ
  6. thơ bảy chữ
  7. thơ tám chữ
  8. thơ tự do

SONY DSC

“Nam Quốc Sơn Hà” và “Quốc Tộ”, hai bài thơ cổ mở cửa cho nền thi ca Việt Nam

Nam Quốc Sơn Hà (Chữ Hán: 南國山河) là bài thơ được ông Lý Thường Kiệt sáng tác theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Đây là bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam. Bài thơ được cho là bài thơ thần, do thần đọc giúp Lê Hoàn chống quân Tống năm 981 và Lý Thường Kiệt chống quân Tống năm 1077.

Nội dung bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” trên Mộc bản triều Nguyễn là bản khắc gỗ cổ nhất bài thơ này còn lại cho đến ngày nay. Nội dung phiên bản này thống nhất với bản bài thơ trong Đại Việt sử ký toàn thư.

Nguyên bản chữ Hán:

南國山河

南 國 山 河 南 帝 居
截 然 分 定 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛

Bản phiên âm Hán-Việt:

Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phân định tại Thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Bản dịch thơ:

Sông núi nước Nam

Sông núi nước Nam, Nam đế ở
Rành rành phân định tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời

Dị bản

Nguyên bản chữ Hán:

南國山河

南 國 山 河 南 帝 居
截 然 定 分 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛

Bản phiên âm Hán-Việt:

Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Bản dịch thơ:

Sông núi nước Nam

Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời

 

Phiên âm Hán – Việt:(Trần Hương Giang dịch)

Nam quốc sơn hà

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại Thiên Thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Ngữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Bản dịch thơ (Lê Thước – Nam Trân dịch):

Sông núi nước nam

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.

Bản dịch nghĩa (theo thơ văn Lý- Trần tập):

Sông núi nước Nam

Sông núi nước Nam, vua Nam ở
Giới phận đó đã được định rõ ràng ở sách trời
Cớ sao kẻ thù lại dám đến xâm phạm
Chúng mày nhất định sẽ nhìn thấy việc chuốc lấy bại vong.

 

Quốc tộ (Hán tự: 國祚) là một trong những bài thơ sớm nhất có tên tác giả của văn học viết Việt Nam. Đây là bài thơ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, nếu như Nam Quốc Sơn Hà được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam thì Quốc Tộ được coi là bản tuyên ngôn hòa bình đầu tiên của Việt Nam. Bài thơ là câu trả lời của thiền sư Đỗ Pháp Thuận đối với Hoàng đế Lê Hoàn khi được hỏi “Vận nước ngắn dài thế nào?”.

Nguyên bản Hán Văn:

國祚

國祚如藤絡,
南天裏太平。
無為居殿閣,
處處息刀兵。

Bản phiên âm Hán-Việt:

Quốc tộ

Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh

Bản dịch thơ:

Vận nước

Vận nước như dây mây leo quấn quýt,
Ở cõi trời Nam [mở ra] cảnh thái bình.
Vô vi ở nơi cung điện,
[Thì] khắp mọi nơi đều tắt hết đao binh.

Phong trào “Thơ Mới” đầu thập niên 1930

Tác gi, tác phm tiêu biu:

Thế Lữ: Nhớ rừngCây đàn muôn điệu
Xuân Diệu: Vội vàngNguyệt cầmLời kỹ nữ
Huy Cận: Ngậm ngùi, Tràng giang,
Lưu Trọng Lư: Tiếng thu,…
Hàn Mặc Tử: Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín
Nam Trân: Đẹp và Thơ – Cô gái Kim Luông
Chế Lan Viên: Thu
Phạm Huy Thông: Tiếng địch sông Ô
Vũ Đình Liên: Ông đồ
Nguyễn Nhược Pháp: Chùa Hương
Tế Hanh: Quê hương
Nguyễn Bính: Mưa xuân
Đoàn Phú Tứ: Màu thời gian
Thâm Tâm: Tống biệt hành
Vũ Hoàng Chương: Say đi em
T.T.Kh.: Hai sắc hoa Tigôn

(theo Wikipedia)

Phan Khôi
Phan Khôi

Thơ mới

Thơ mới mặc dù có vẻ như không theo bất cứ qui luật nào, nhưng thật ra vẫn có âm điệu nhịp nhàng từ trong tiếng Việt được thi sĩ sắp xếp trong câu thơ của mình, và thi sĩ cũng có thể gieo vần một cách âm thầm, ví dụ như bài Tình Già của Phan Khôi dưới đây với các vần được tô đậm.

Tình Già

Tác giả: Phan Khôi

Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa.
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Hai mái đầu xanh kề nhau than thở:
– Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là không đặng,
Để đến nỗi, tình trước phụ sau,
Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau.
– Hay! mới bạc làm sao chớ?
Buông nhau làm sao cho nỡ!
Thương được chừng nào hay chừng nấy,
Chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu phải vợ chồng.
Mà tính việc thủy chung?
Hai mươi bốn năm sau. Tình cờ đất khách gặp nhau.
Đôi mái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen hung đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi.

(Phong Hóa, 24 janvier 1933)

tho24

Thơ tự do gần đây

Thơ mới là mới hồi 1930. Ngày nay chúng ta gọi là thơ tự do.

Mẹ khóc

(Nguyễn Nguyên Bảy)

Mỗi khi con thấy mẹ ngồi bệt xuống hè
Tay cầm cây quạt nan
Là con biết mẹ đang đè buồn nuốt giận
Khóc ở trong lòng
Khóc trong lòng nước mắt chảy đi đâu?
Cầu cho nước mắt chảy vào gan vào ruột
Để nước mắt trôi ra ngoài
Nhưng nước mắt không chảy vào gan ruột
Mà chảy vào tim rồi hòa vào máu
Chẳng bao giờ con có thể lau

Những lúc ấy con qùy trước mẹ
Hai tay dụi gọi Mẹ ơi! Trên trời tất nhiên có Giời
Nhưng sao Giời nỡ bất công
Để con càng lớn càng cao mẹ càng già càng thấp

Ôm con mặt mẹ úp ngang vai
Mẹ bảo mẹ khóc mừng khóc phúc
Mừng phúc mẹ khóc như mưa
Phùn xuân rào hạ
Mầu khóc hồng son

Con tắm trong khóc mẹ ngập hồn
Tinh chất khóc ngấm vào da vào thịt
Con không chùi không lau
Con không trả khóc về mắt mẹ…

Con biết ở cõi trời
Mẹ muốn khóc cũng không thể khóc
Vì thế ở cõi người
Ngày ngày con đem tiếng khóc mẹ ra phơi
Lạy trời đừng phạt mẹ tôi
Tội đón nước mắt con bay ngược về mắt mẹ
Để mẹ lại được khóc
Âm dương cũng đạo làm người

oOo

Hai Ngôi Sao Không Lặn Bao Giờ

(Thơ Nguyễn Nguyên Bảy)

Anh không nhận ra em
Một năm có là bao xa cách
Em ủ đầu anh vào ngực
Anh không thể nào hỏi được
Sao tiều tụy thế mình ơi ?

Chỉ còn đôi mắt
Đội mắt chậm chạp u buồn
Một nốt ruồi đẫm lệ
Chỉ còn đôi mắt
Đôi mắt vẫn như ngày nào
Đôi mắt ngày nào tôi nói yêu em
Đôi mắt khép nhận lời.

Chỉ còn đôi mắt vợ của tôi
Toàn thân em như cây thị rũ lá
Khô cành trước gió ban mai
Chỉ còn đôi mắt
Đôi mắt kể tôi nghe
Lưng ngày nắng quật
Đêm ngồi bỏng vú môi con
Vai gánh nỗi thương chồng
Đi xa đường đời nhiều cạm bẫy
Chỉ còn đôi mắt
Đôi mắt đổ xiêu.

Anh ôm đôi mắt ấy
Bỗng òa đôi mắt khóc
Thủy rụa ràn mặt anh
Đôi mắt u hoài trong vắt
Đôi mắt ấy chính là hai ngôi sao trên trời
Đêm đêm nhìn anh
Thức với anh
Đi cùng anh
Hai ngôi sao không lặn bao giờ.

Đôi uyên ương nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy và nhà thơ Lý Phương Liên
Đôi uyên ương nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy và nhà thơ Lý Phương Liên

 

Lời ru với anh

(Lý Phương Liên)

Chim bằng ngoan của em ơi
Đêm nay ngon ngủ sáng mai lên đường
Em ngôi nhìn ngắm yêu thương
Cho no mắt nhớ ngày thường chim bay
Em muốn anh như bàn tay
Xòe ra là gặp
Chim bằng trời biếc
Chim bằng con trai
Ngủ ngoan anh nhé sáng mai lên đường
Ở nhà bên cạnh người thương
Để chim nghỉ cánh dặm trường đời xa
Lồng son phòng hẹp đôi ta
Chim bằng chẳng thể quanh ra quẩn vào
Xa anh nói nhớ làm sao
Chân đứng tổ kiến lòng chao gió cành
Lẽ nào em buộc cánh anh
Buộc cánh anh
Buộc cánh anh cũng chẳng thành tình yêu
Trời lộng chim reo
Mắt em mai sớm dõi theo chim bằng
Nỗi nhớ trong lòng
Cho chim cánh gió
Cho ngày nắng nỏ
Chim bay
Ngủ ngoan anh nhé đêm nay
Để mai xa suốt tháng ngày có em…

phoenix_Phuong

Phượng Hoàng

(Trần Đình Hoành)

Nàng, Phượng hoàng
Đã nhiều lần chết trong ngọn lửa đời
Và trỗi dậy trong vinh quang từ đống tro tàn của chính nàng
Qua bao nhiêu cuộc tái sinh, nàng
Bay lên cao hơn và cao hơn
Dưới những ngọn gió của tiếng thì thầm của Thượng đế
Tới gần hơn và gần hơn
Với vĩnh cửu
Nàng, con gái của Thượng đế
Được sai xuống thế để làm
Bạn đồng hành của ta
Trên những con đường vắng người qua, trong
Chốn sâu hoang dã của yên ắng
Núi, rừng và suối
Nơi chúng ta im lặng
Và mỉm cười lặng lẽ
Tha hồ thỏa thích trái tim.

Royal poinciana tree (flame tree), Key West Cemetery, Key West, Florida Keys, Florida USA

Phượng

(Trần Đình Hoành)

Phượng
Đỏ
Rực rỡ
Tiệc múa của một triệu chim hồng y
Vỗ cánh trong gió hạ
Hai bên đường thành phố
Mùa hạ đó
Không khí ẩm và vui
Em đến, bước chân quý phái
Đôi mắt sâu buồn kéo anh vào
Nhìn lên Mẹ Maria với hy vọng mới tìm được lần đầu
Sáng đến nỗi thấy được niềm tuyệt vọng đã lâu ngày
Anh rất vui đã đưa em đi nhà thờ
Nơi duy nhất anh biết có thể cho em bình an
Đôi mắt buồn đó anh biết sẽ cần nhiều hơn chỉ là anh
Anh đưa em tới Mẹ Maria
Anh có thể thấy em rất vui
Như một bé thơ
Người đàn bà bé thơ trong một đô thị lớn
Nơi mà tập tục là cô đơn
Và bom nổ và chết chóc
Nhưng trong mắt hai ta là sự sống
Hai đứa trẻ đang yêu
Dưới tháp giáo đường
Anh chẳng ngoan đạo
Nhưng đưa em đến Nhà Bình An
Làm anh vui
Bây giờ mỗi khi nghĩ về em
Anh nghĩ về mùa hạ đầu tiên đó
Giữa chiến tranh
Hai ta chẳng biết gì về chết chóc
Chỉ thấy sự sống.

Đôi uyên ương Trần Đình Hoành và Trần Lê Túy Phượng
Đôi uyên ương Trần Đình Hoành và Trần Lê Túy Phượng

40th Anniversary_Angel-Of-Peace_Phuong

Kỷ niệm 40 năm

(Trần Đình Hoành)

Khi em vui
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em buồn
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em lên tinh thần
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em xuống tinh thần
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em hy vọng
Hãy nhớ anh yêu em
Khi em tuyệt vọng
Hãy nhớ anh yêu em
Anh luôn luôn yêu em
Mọi lúc
Mọi nơi
Trong mọi hoàn cảnh
Vì em là thiên thần
Chúa đã gởi đến anh
Để ở cùng anh
Cả đời anh
Và đời sống nào sau đó nữa.

ngamtho1

Bước Mẹ Ru

(Trần Lê Túy Phượng)

Ngày mẹ chết
Tôi còn viễn xứ
Đỏ lòng tìm phương hướng lần quê
-Mẹ ơi
Mẹ đợi con về
Đê mòn quê ngoại con về mẹ ơi !

Đường về ngoại bao lần tôi tới
Suốt tuổi thơ mẹ gửi cho ông
Thay cha, ngoại dạy nằm lòng
Phẩm hạnh, cách sống, đừng hòng lãng xao
Lòng tôi quay quắt
Đảo
Chao
Con đường về ngoại
Năm nào
Trời mưa…

Chuyến xe đò vượt xuyên quốc lộ
Mẹ và tôi ngồi tận góc sau
Mẹ ghì tay chịu trận nhồi nhào
Lưng ghế trước che tôi khỏi nắng

Xe cập bến mưa rơi ướt thấm
Mẹ và tôi bước vội đường trưa
Hàng trâm bầu chặt lá đẩy đưa
Trong gió bão tràn miền quê ngoại

Trong hối hả mẹ nhìn ái ngại
Chụp cho tôi mỗi áo đi mưa
Tóc mẹ hiền ướt đẩm
Lưng đưa
Hứng mưa lạnh
Nhường con có áo

Mẹ là thế
Tình không gượng gạo
Như bước chân khổ vẫn khoan thai
Trời đen cuồn cuộn mây dài
Cuốn theo bóng mẹ ngược ngày đường quê

Lòng tôi sao cứ lê thê
Nhớ hoài bóng mẹ đường về còn đâu
Mẹ ơi con trẻ mặc dầu
Quê người nhưng vẫn mong đầu cố hương
Ầu ơ thân mẹ dặm trường
Ầu ơ thân mẹ chín đường ruột đau

Ngày mẹ chết
Tôi không tận mặt
Trăn trở hoài
Tình mẹ thiên thu
Thèm mẹ
Hỡi thời gian, ngược lại !
Thèm được mẹ dang vòng tay trái
Ôm tôi vui trong giấc ngủ vùi
Lần cuối đời mẹ nói cùng tôi.
“Mẹ ước mẹ được
Thêm lần ngủ chung.”

ngamtho2

Ngược Dòng Quê Ngoại

(Trần Lê Túy Phượng)

Nắng chiều phủ vàng hong lá mạ
Ông nhìn tôi thẫn thờ
Phút chốc
Thở dài
Ông bảo
Bà đó ông đây bao năm tháng
Ông vẫn ngờ như mới hôm qua
Tình bà
Ông đong không hết
Tình ông
Chẳng thể nhạt nhòa

Tôi lặng người nhìn ông trân tráo
Nhủ thầm
Hiện thân này là hoa trái của tình yêu
Tình yêu vượt vết tì xã hội
Bà goá phụ
Sáu con, ba mốt
Ông trai son
Kém tuổi đến mười năm
Phong kiến
Mẹ cha
Xóm làng
Thân tộc họ hàng
Phủ nhận rẻ khinh
Tấm tình son bền vững bóng hình
Tay trong tay ông bà dấn bước
Ông yêu Bà đến không lòng trược
Bà chết rồi một mực thủy chung
Ngày lẫn đêm viếng mộ ngồi cùng
Nhang một nén trầm bay hương khói

Chiều nay sao lòng đau nhói
Chạnh thương ông
Chạnh tưởng đến bà
Cầu ông bà tận cỏi thiên tòa
Ghé thăm cháu một lần cho thỏa

Chiều nắng hong vàng cây lá
Nhìn nắng vàng
Hoa cỏ
Lá xanh
Tôi tìm tôi
Trong giấc mộng lành
Về với nắng
Ngược dòng quê ngoại.

giobay7

Tạ Ơn

(Trần Lê Túy Phượng)

Tạ ơn một tấm hình hài
Cù lao dưỡng dục tháng ngày mẹ mang
Tạ ơn tình ngoại minh mang
Sẻ chia trải nghiệm những trang sử đời
Tạ ơn mình đã cho tôi
Cuộc tình há dễ mấy người tìm ra
Tạ ơn những đứa con ngà
Suối mai rực nắng chan hòa ái yêu
Tạ ơn tình cháu chắt chiu
Nụ cười cho ngoại những chiều hừng đông
Tạ ơn ruộng
Tạ ơn đồng
Tạ Trời tạ Mẹ đoái trông một đời

oOo

Dưới đây mình có bài “Các thể loại ngâm thơ” của ông Trần Quang Hải và bài nói chuyện “Đôi uyên ương Nga Mi – Trần Lãng Minh và các thể điệu ngâm thơ cổ” của đôi uyên ương nghệ sĩ Trần Lãng Minh – Nga Mi sẽ hướng dẫn các bạn tìm hiểu thêm về bộ môn nghệ thuật đặc trưng này của chúng ta.

Kế đến mình giới thiệu đến các bạn: 1 clip bài Hồ Trường do anh Trần Lãng Minh diễn ngâm, chị Nga Mi hát phần nhạc do anh Trần Lãng Minh phổ, 2 clips thơ của anh Trần Đình Hoành và mình trong sách “Thơ Bạn Thơ” do NXB Văn Học phát hành năm 2012, 1 clip thơ “Đám Cưới Bạc” của nhà thơ Nguyễn Nguyễn Bảy, 1 clip thơ phổ nhạc hòa tấu “Lời Ru Với Anh” của nhà thơ Lý Phương Liên, và 7 clips tổng thể các bài thơ hay nổi tiếng qua nhiều thế hệ do các nghệ nhân ưu tú trình diễn để các bạn rộng đường tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

 

tho10

Các thể loại ngâm thơ

(Trần Quang Hải)

Nguyên cả Á châu, ngâm thơ đều là đọc thơ với giọng trịnh trọng, chứ không có ngân nga lên xuống như Việt Nam. Xứ Việt Nam duy nhứt có nhiều thể loại ngâm thơ không những ở Á châu mà luôn cả trên thế giới.
Nếu ai nghe người Việt ngâm thơ mà có cảm giác như hát, điều đó dễ hiểu là vì người Việt phát triển thể điệu ngâm thơ trên một bát độ, lên xuống.

Ở miền Bắc có 4 loại ngâm thơ : ngâm sa mạc, ngâm Kiều hay lẫy Kiều, ngâm thơ theo hát ru, ngâm thơ theo hát nói .

1. Ngâm Sa Mạc 

Thang âm sa mạc rất đặc biệt, là có sự hiện hữu của quãng ba trung (tierce neutre / neutral third) có nghĩa là quãng ba ở chính giữa hai quãng ba thứ (tierce mineure / minor third) và quãng ba trưởng (tierce majeure / major third) . Thang âm (échelle musicale / musical scale) như sau : Do, Mi trung, Fa, Sol, Sib, Do . Người ngâm phải biết thể luật ngâm theo điệu Sa Mạc . Tất cả chữ chót của câu thơ bằng dấu huyềnnhư “làng , buồn, tình, đời , vv” thì phải ngâm ở nốt DO. Còn chữ chót của câu thơ bằng không dấu như “thương, yêu, tôi , anh , em” thì ngâm ở nốt MI trung 

2. Ngâm Kiều hay Lẫy Kiều 

Ai là người Việt cũng đều biết tới truyện Kiều . Nhưng cách ngâm Kiều không phải là ai cũng biết . Thang âm gần giống như thang âm Sa mạc nhưng không có quãng ba trung mà là quãng ba thứ và được trình bày như sau : Do, Mib, Fa, Sol, Sib, Do . Khi ngâm ngừng ở chữ dấu huyền ở cuối câu thơ thì phải ngâm ở nốtDO . Khi chữ chót của câu thơ là không dấu thì phải ngâm ở nốt FA . Do đó tạo sự khác biệt giữa Sa Mạc và lẫy Kiều .

3. Ngâm thơ theo Hat Ru 

Hát ru là điệu ru con miền Bắc, dựa trên thang âm : Do, Re, Fa, Sol, La, Do . Chữ có dầu huyền ở cuối câu thơ phải ngâm ở nốt DO, và nếu chữ chót không dấu thì phải ngâm ở nốt FA .Gọi là ngâm thơ chứ thật ra là hát ru , chỉ trừ là không có hát „à á a ời ! à á a à ơi ! „ như trong hát ru .

tho36

4. Ngâm thơ theo hát nói 

Hát nói là một thể loại trong Ca Trù được dùng vào cách ngâm thơ miền Bắc . Thang âm rất đặc biệt : Do – Fa – Lab- Do. Chữ chót của câu thơ là dấu huyền thì phải ngâm ở nốt DO, và nếu chữ chót là không dấuthì ngâm ở nốt FA , chứ không thể ngâm ở bất cứ nốt nào . Người nào ngâm theo thễ Hát nói là phải có căn bản về Ca Trù , nếu không thì sẽ ngâm sai .

Ở miền Trung có ngâm thơ Huế tức là dựa trên thang âm miền Trung (được nghe lúc hát hò mái nhì , hò mái đẩy). Thang âm gồm có những nốt nhạc như sau : Do, Re (hơi thấp), Fa (hơi cao), Sol, La (hơi thấp),Do Nốt cuối câu có thể ở nốt DO hay nốt FA tùy theo người ngâm muốn dừng ở đău .

Ở miền Nam có nhiều cách ngâm thơ . Ở lục tỉnh người ta đọc thơ Vân Tiên (truyện Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu) . Thang âm : Do , Mib, Fa, Sol, La, Do . Chữ chót là dấu huyền thì phải ngâm ở nốt DO. Nếu chữ chót là không dấu thì phải ngâm ở nồt FA 

Ngâm thơ theo điệu Hò thì cũng dựa trên thang âm đặc biệt miền Nam như thang âm dùng trong đọc thơ Vân Tiên

Ngâm thơ Tao Đàn đặc biệt của miền Nam nhưng do nhà thơ Đinh Hùng (người Bắc) tạo ra sau hiệp định Genève năm 1954 chia nước Việt ra hai miền Bắc / Nam . Nhà thơ Đinh Hùng có làm một chương trình ngâm thơ trên đài phát thanh Saigon « Ngâm thơ Tao Đàn » . Trong chương trình này có cách ngâm thơ đặc biệt , và khán giả nghe quen gọi là ngâm thơ theo điệu Tao đàn . Thang âm hoàn toàn miền Nam : Do, Mib, Fa, Sol, La, Do . Chữ cuối câu thơ nếu là dấu huyền thì ngâm ở nốt DO . Còn nếu không dấu thì ngâm ở nốt FAhay có thể ngừng ở nốt SOL 

Lúc trước ở miền Nam trong chương trình “ngâm thơ Tao Đàn” ngoài Đinh Hùng , còn có bà Hồ Điệp (lúc trước khi vào Nam là cô đầu hát ca trù rất hay), Tô Kiều Ngân, nữ ca sĩ Hoàng Oanh , vv…

Ngày nay ở hải ngoại, có nhiều người thích ngâm thơ nhưng căn bản không có , hoặc không nắm vững các thể loại và lại thích trộn ba bốn thể loại ngâm thơ vào chung trong một bài khiến cho khi nghe một chương trình ngâm thơ trở thành nhàm chán.

Lúc khởi đầu vào đầu thế kỷ 20, đệm ngâm thơ chỉ có tiếng sáo, đàn tranh, đàn bầu. Về sau có thêm đàn nguyệt (hay đàn kìm theo miền Nam).

Từ khi có thể điệu ngâm thơ Tao đàn thì lại có thêm piano. Lúc trước 1975 ở Saigon, GS Nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi là người đàn piano để đệm ngâm thơ rất được ưa chuộng. Sau này ở hải ngoại, những người ngâm thơ được đệm chánh là tiếng sáo, tiếng đàn tranh, và đôi khi đàn bầu. Sự giới hạn nhạc khí là do bởi ở hải ngoại hiếm có nhạc sĩ đàn kìm .

(Trần Quang Hải)

Đôi uyên ương nghệ sĩ Nga Mi và Trần Lãng Minh
Đôi uyên ương nghệ sĩ Nga Mi và Trần Lãng Minh

Đôi uyên ương Nga Mi-Trần Lãng Minh và các thể điệu ngâm thơ cổ

Các bạn bấm vào link audio bên dưới để nghe đôi uyên ương nghệ sĩ Nga Mi và Trần Lãng Minh nói về các thể điệu ngâm thơ:

 

Hồ Trường (Nguyễn Bá Trác) – Trần Lãng Minh diễn ngâm & Nga Mi hát:

 

Sách THƠ BẠN THƠ/23 – (Thơ Trần Đình Hoành) – “Giáng Sinh Đầu”, “Những Hoàng Hôn Ta Đã Đi Qua”, “Em” – Nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy đọc:

 

Sách THƠ BẠN THƠ/42 – (Thơ Trần lê Túy Phượng) – “Ngược Dòng Quê Ngoại” – Nhà thơ Nguyễn Nguyên Bảy đọc:

 

Đám Cưới Bạc (Thơ Nguyễn Nguyên Bảy) – tác giả đọc:

 

Hòa tấu LỜI RU VỚI ANH (Thơ Lý Phương Liên) – Am Các Minh phổ nhạc:

 

Giáo Sư Trần Văn Khê – Ngâm thơ “Qua Đèo Ngang” (Bà Huyện Thanh Quan) và đàn tranh:

 

Thơ Kiều (Nguyễn Du) – Hồng Vân diễn ngâm:

 

Tống Biệt Hành (Thâm Tâm) – Tôn nữ Lệ Ba diễn ngâm:

 

Chùa Hương (Nguyễn Nhược Pháp) – Hoàng Oanh và Hồ Điệp diễn ngâm:

 

Ngậm Ngùi (Huy Cận) – Hồng Vân diễn ngâm:

 

Chân Quê (Nguyễn Bính) – Hồng Vân diễn ngâm:

 

Những bài thơ bất tử của nhà thơ Hàn Mạc Tử – Hồng Vân diễn ngâm:

 

3 thoughts on “Dân ca dân nhạc VN – Ngâm Thơ Miền Bắc”

  1. Dear Chị Hai

    Cảm ơn chị Hai đã giới thiệu những chủ đề phong phú trong dân ca dân nhạc VN. Ngâm thơ em cũng biết chút chút nhưng lâu lắm rồi em cũng không luyện lại.

    Rất thú vị là trong loạt bài này em còn được ngắm các đôi uyên ương rất đẹp nhất là đôi uyên ương anh chị Hai ❤

    Tks chị Hai em chúc anh chị Hai luôn an lành hạnh phúc.

    Em M Lành

    Số lượt thích

  2. Hi Lành,

    Cám ơn em luôn đồng cảm và đồng hành với chị Hai.

    Nghe ngâm thơ là một thú vui tao nhả luôn làm anh chị vui thích. Chị rất vui khám phá em biết ngâm thơ. Vậy thì em phải lo tập luyện lại cho nhuần nhuyển để mai mốt còn ngâm cho anh chị nghe nữa chứ. Chị chờ được nghe đó nha. 🙂

    Ừ, ảnh của anh chị Bảy & Liên cùng ảnh của anh chị Lãng Minh & Nga Mi rất đẹp. Chị thích lắm. Em thích ảnh của anh chị Hai là vui nhà vui cửa rồi. 🙂

    Chị mới thêm vào bài thơ “Hai Ngôi Sao Không Lặn Bao Giờ” của anh Bảy làm tặng chị Liên, và bài “Kỷ Niệm 40 Năm” của anh Hai làm tặng chị trong bài này, em xem vui nghe.

    Cám ơn em chúc lành cho anh chị. Bình an của Cha luôn ở cùng em. ❤ XO

    Số lượt thích

  3. Dear Chị Hai

    Em cảm ơn chị Hai đã giới thiệu thêm. Em đọc bài thơ “Hai ngôi sao không lặn bao giờ” em thấy buồn buồn thương thương cho thân phận kiếp người phụ nữ mặc dầu kết rất có hậu 😦

    Nhưng đọc những vần thơ “Phượng Hoàng và Kỷ niệm 40 năm” của anh Hai tặng chị Hai em cảm nhận rất tình tứ, ướt át, lãng mạn… sau 40 năm tình yêu của anh Hai dành cho chị Hai vẫn say đắm như thuở ban đầu đúng là “Tương kính như Tân”.

    Nhưng điều em thấy nổi bật nhất trong thơ anh Hai tặng chị Hai là sự mạnh mẽ nổi trội của Tư duy tích cực như bài thơ “Phượng Hoàng” Đúng, không hổ danh là Thầy Tư duy tích cực.

    Em cầu chúc trong cuộc sống hôn nhân của anh chị Hai mỗi ngày đều mới, đều đẹp, đều hạnh phúc an lành theo cấp số nhân ❤

    Em M Lành

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s