boy27-db

Dân ca dân nhạc VN – Dân ca Bố Y

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Dân ca Ba Na, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Dân ca Bố Y.

Dân tộc Bố Y (tiếng Trung: 布依族, bính âm: Bùyīzú), còn gọi là Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn hay Pu Nà. Ngôn ngữ của dân tộc Bố Y thuộc ngữ chi Tày-Thái. Dân tộc Bố Y có dân số khoảng 2.971.460 người, chủ yếu sống tại Trung Quốc và chỉ khoảng 2.273 người sinh sống tại Việt Nam. Nơi cư trú của họ là các huyện biên giới ở các tỉnh Lào Cai, Hà Giang và tại Trung Quốc ở các tỉnh Quý Châu, Vân Nam, Tứ Xuyên. Mặc dù tại cả Trung Quốc lẫn Việt Nam họ vẫn được hai chính phủ này công nhận như là một nhóm sắc tộc riêng rẽ, nhưng chính họ lại tự coi mình là người Tráng.

Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Bố Y ở Việt Nam có dân số khoảng 2.273 người, cư trú tại 14 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Bố Y cư trú tập trung tại các tỉnh: Lào Cai (1.398 người, chiếm 61,5% tổng số người Bố Y tại Việt Nam), Hà Giang (808 người, chiếm 35,5% tổng số người Bố Y tại Việt Nam), Yên Bái (19 người), Tuyên Quang (18 người).

Người Bố Y nói tiếng Bố Y là ngôn ngữ rất gần với tiếng Tráng. Có một sự liên tục phương ngôn giữa hai thứ tiếng này. Tiếng Bố Y có dạng chữ viết riêng của mình, được các nhà ngôn ngữ tạo ra trong thập niên 1950 dựa trên bảng chữ cái La tinh và với các quy tắc phát âm tương tự như hệ thống bính âm được đặt ra cho tiếng Trung La tinh hóa.

boy19_múakhen

Người Bố Y là nhóm sắc tộc trong số các sắc tộc Thái bản địa của vùng bình nguyên Quý Châu. Họ là một trong số các dân tộc cổ đại nhất tại Trung Quốc, sinh sống trong khu vực này đã trên 2.000 năm. Cho tới khi thành lập nhà Đường, người Bố Y và người Tráng có liên hệ chặt chẽ với nhau; nhưng các khác biệt giữa hai nhóm sắc tộc ngày càng trở lên nhiều hơn và từ khoảng năm 900 trở đi thì họ đã thực sự là 2 dân tộc khác biệt.

Nhà Thanh hủy bỏ hệ thống các thủ lĩnh địa phương và giao nhiệm vụ cai trị cho các quan chức triều đình tại địa phương kiêm quản cả quân đội. Việc này đã tạo ra sự thay đổi trong kinh tế khu vực; và từ đó trở đi, đất đai nằm trong tay của một số ít chủ đất và điều đó đã gây ra sự nổi dậy của dân chúng. Trong cuộc nổi dậy Nanlang năm 1797, người Bố Y bị đàn áp nặng nề và nhiều người phải di cư sang Việt Nam.

Dân tộc Bố Y di cư từ Trung Quốc sang Việt Nam cách đây khoảng hơn 200 năm; có quan hệ với các dân tộc Tày, Thái, Nùng. Đặc biệt trước năm 1945, họ chịu sự quản lý của bộ máy hành chính người Nùng. Người Bố Y cư trú ở Quản Bạ (Hà Giang) và Mường Khương (Lào Cai), sống thành từng bản, mỗi bản có ít gia đình và rải rác không liền kề nhau. Họ ở nhà đất có hai mái lợp gianh, gỗ hoặc ngói. Nhà có 3 gian, có sàn gác trên quá giang là chỗ để lương thực và chỗ ngủ của những người con trai chưa vợ.

Dân tộc Bố Y vốn giỏi làm ruộng nước nhưng đến Việt Nam cư trú ở vùng cao nên chủ yếu phải dựa vào canh tác nương rẫy và lấy ngô làm cây trồng chính. Bên cạnh đó, mỗi gia đình thường có một mảnh vườn để trồng rau. Ngoài nuôi gia súc, gia cầm họ còn nuôi cá ruộng và biết làm nhiều nghề thủ công như dệt, rèn, gốm, đục đá, chạm bạc, đan lát, làm đồ gỗ.

Kèn lá
Kèn lá

Dân tộc Bố Y thường dùng Kèn láKhèn bè trong các bài hát và điệu múa.

Kèn lá là nhạc cụ rất đơn giản, phổ biến trong các cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên, Việt Nam.

Người ta chỉ cần lấy 1 chiếc lá cây, cắt phần cuống, gấp đôi theo sống lá để có 1 chiếc kèn đơn sơ. Tuy nhiên, không phải lá cây nào cũng làm được kèn, phải chọn lá phù hợp, còn nguyên vẹn và tươi tốt. Nếu lá héo thì không thể làm kèn được.

Kèn lá có âm thanh cao, vang xa lảnh lót, rất khó tạo ra âm trầm. Nếu bản nhạc có những nốt trầm, người thổi sẽ nâng những nốt đó lên 1 quãng tám để thổi dễ dàng hơn. Kèn lá diễn tả tốt tiếng suối chảy và tiếng chim hót, hoặc những âm thanh mang nét đặc thù của thiên nhiên (tùy theo tài nghệ của người thổi).

Để sử dụng kèn lá, người ta thổi theo cách huýt gió, mô phỏng giai điệu của bài nhạc. Chính vòm hàm và khoang miệng của người thổi sẽ tạo ra âm thanh của kèn lá. Tuy là nhạc cụ đơn giản, nhưng kèn lá có thể phát ra những giai điệu nhanh (vivac) và ngắt (staccato). Người ta sử dụng kèn lá để độc tấu có dàn nhạc đệm hoặc hòa tấu với đàn t’rưng, chinh chiêng và goong đều được.

Kèn lá là nhạc cụ dùng để giải trí trên nương rẫy, phục vụ trong những đêm sinh hoạt ở nhà rông, giúp trai gái tỏ tình, múa hát v.v.

boy21_khèn bè1

Khèn bè là cách gọi loại kềnh với dàn ống giống như chiếc bè. Đây là nhạc cụ của một số dân tộc ở Việt Nam. Người Thái gọi là Khén Pé, người Giẻ Triêng gọi là Đinh Duar, còn người Xơ Đăng gọi là Đinh Khén. Riêng người Tà Ôi, người Vân Kiều gọi ngắn gọn là Khén.

Khèn bè thường có cấu tạo ống theo số chẵn. Tùy theo dân tộc mà nó có 6, 8, 10, 12 hoặc 14 ống nứa tép. Những ống này xếp thành 2 hàng xếp cạnh nhanh. Bầu khèn làm bằng gỗ nhẹ, dẻo, có thớ vặn nên khó nứt. Ở đầu bầu khèn có 1 lỗ gọi là lỗ thổi. Những ống nứa xuyên qua bầu và được trét sáp ong đen để làm kín các khe hở.

Thông thường người ta xếp 2 ống trong 1 hàng có chiều dài bằng nhau để tạo dáng cân đối. Có thể nói đây là cách quy định chiều dài mang tính hình thức, vì chiều dài thực của mỗi ống căn cứ vào 1 lỗ lớn nằm ở 2 ống úp vào nhau, đây là lỗ đánh dấu để biết chính xác độ dài của ống.

Khèn bè có âm sắc giòn, mảnh và rè. Mỗi ống phát ra 1 âm nhất định, bên trong ống có lưỡi gà bằng đồng hay bạc giát mỏng. Trên mỗi ống có lỗ bấm gần lưỡi gà, nhưng nằm phía ngoài bầu, còn lưỡi gà nằm bên trong bầu.

Khèn bè là nhạc cụ đa thanh, âm vực rộng khoảng 1,5 quãng tám. Theo truyền thống, nam giới sử dụng nhạc cụ này và thường dùng để đệm hát.

boy_hiện vật dân tộc học Bố Y

Trong 4 tháng đầu năm 2013, Bảo tàng tỉnh Lào Cai đã sưu tầm gần 100 hiện vật dân tộc học người Bố Y. Bộ sưu tập gồm: Các loại nhạc cụ truyền thống, công cụ sản xuất, nghề truyền thống, đồ dùng sinh hoạt gia đình; trang phục, y phục dân tộc Bố Y…

Những hiện vật đặc sắc của dân tộc Bố Y đã góp phần nâng tổng số hiện vật dân tộc học tại Bảo tàng tỉnh lên hơn 2.000 hiện vật.

Dưới đây mình có bài “Bảo tồn văn hoá truyền thống của người Bố Y ở Hà Giang” của Trần Huỳnh, bài “Dân tộc Bố Y” của dongvan, bài “Trang phục Dân tộc Bố Y” của TQ-DTV để các bạn tiện việc tham khảo tìm hiểu thêm về nền văn hóa riêng biệt của dân tộc anh em này của chúng ta.

Đồng thời mình còn có 2 clips giới thiệu nền văn hóa của dân tộc Bố Y do Ký sự Việt Nam 54 dân tộc thực hiện, và 1 clip “Độc đáo, mâm xôi tạ ơn trâu của người Bố Y” để các bạn cùng tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

boy17_khèn ĐB

Bảo tồn văn hoá truyền thống của người Bố Y ở Hà Giang

(Trần Quỳnh)

Do những biến thiên của lịch sử, người Bố Y (còn có các tên gọi khác như: Chủng Chá, Trọng Gia, Tu Dí, Tu Dìn, Pu Nà) di cư từ nơi khác đến sinh sống ở Hà Giang khoảng trên 100 năm nay. Hiện tại, dân số dân tộc Bố Y sinh sống ở tỉnh miền núi, biên giới cực Bắc, Tổ quốc có khoảng 900 người, tập trung chủ yếu tại xã Quyết Tiến, huyện Quản Bạ và rải rác ở một số xã khác của huyện Đồng Văn.

Phụ nữ dân tộc Bố Y ở Hà Giang (ảnh Trần Quỳnh)
Phụ nữ dân tộc Bố Y ở Hà Giang (ảnh Trần Quỳnh)

Người Bố Y ở Hà Giang sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy. Đồng bào nuôi nhiều gia súc, gia cầm, đặc biệt rất có kinh nghiệm nuôi cá. Hàng năm, khi mùa mưa đến, đồng bào lại rủ nhau ra sông tìm vớt trứng cá, cá lớn để thả vào ao và ruộng nước, tạo nguồn thực phẩm cho bữa ăn hàng ngày. Trong cuộc sống, người Bố Y biết làm mộc, rèn, gốm, đục đá, chạm bạc. Phụ nữ biết trồng bông, kéo sợi, dệt vải, may vá, thêu thùa quần áo, túi, khăn.

Gia đình người Bố Y ở Hà Giang được tổ chức theo hình thức phụ quyền, tức là mọi vấn đề trong nhà đều do người đàn ông quyết định. Sống dưới một mái nhà có tới 3 thế hệ nhưng bao giờ bữa cơm cũng chung một mâm để thể hiện sự đoàn kết, thương yêu giữa các thế hệ. Trong mỗi dòng họ có hệ thống tên đệm từ 5 – 9 chữ. Mỗi chữ đệm dành cho một thế hệ và chỉ rõ vai vế của người mang dòng chữ đó trong quan hệ họ hàng. Khi hết một chu kỳ tên đệm của dòng họ đó thì quay trở lại chữ đầu. Do có trật tự chữ đệm nên trong mỗi gia đình người Bố Y, dòng họ anh em trai chỉ khác nhau về tên gọi, còn tên đệm thì giống nhau. Người Bố Y xưng hô theo tuổi tác chứ không phân biệt theo chi, nhánh hay con chú, con bác.

Bố Y là một trong những dân tộc có dân số ít ở Hà Giang nhưng cho đến nay, dân tộc này vẫn giữ được những nét văn hoá truyền thống, tạo nên bản sắc riêng, độc đáo. Ví dụ như trong lễ cưới, chàng rể không đi đón dâu. Cô em gái của chú rể dắt con ngựa hồng đẹp mã để chị dâu cưỡi lúc về nhà chống. Đối với đám ma, con cái phải kiêng kị nghiêm ngặt trong 90 ngày đối với tang mẹ và 120 ngày đối với tang cha. Trong thời gian tang chế 3 năm, con trai không được uống rượu, con gái không được mang đồ trang sức, đoạn tang mới được tính chuyện cưới xin.

boy24

Người Bố Y hàng năm đều tổ chức các lễ, tết như: Tết Nguyên đán (Đân chinh), Rằm tháng Giêng (síp hả), Tết Đoan ngọ (Toản vù), Tết cơm mới… Trong những dịp này, đồng bào thường làm xôi nếp nhuộm đỏ, bánh dày, bánh chưng, bánh chay để cúng tổ tiên, trời đất, cầu cho mưa thuận gió hoà, con người khoẻ mạnh, mùa màng tươi tốt, bội thu.

Khi có lễ hội, người Bố Y thường tổ chức hát đối đáp tại phiên chợ xuân hay tại nhà, lời ca được phụ hoạ bằng tiếng kèn lá. Bên cạnh đó, còn tiến hành các trò chơi đánh đu, cờ tướng, đánh quay, đánh khăng…Có thể thấy rằng dân tộc Bố Y có truyền thống văn hoá đặc sắc, phong phú. Tuy nhiên, đặc điểm của các dân tộc thiểu số ở nước ta là cư trú đan xen nhau, không có lãnh địa riêng của từng dân tộc. Đặc điểm này góp phần tạo nên tính đoàn kết giữa các dân tộc nhưng đồng thời cũng ảnh hưởng đến việc giữ gìn bản sắc văn hoá của từng dân tộc bởi vì khi chung sống đan xen, chắc chắn sẽ có sự giao thoa về mặt văn hoá (một cách tự nhiên hoặc tự nguyện). Dân tộc Bố Y cũng không tránh khỏi quy luật này.

Một điều dễ nhận thấy nhất đó là trang phục của người Bố Y sử dụng trong các lễ hội đã thay đổi theo thời gian. Nếu như trước đây, người phụ nữ Bố Y mặc váy xoè như váy của phụ nữ người Mông thì ngày nay họ ăn mặc như người Nùng cùng địa phương. Riêng phụ nữ nhóm Tu Dí ăn mặc theo kiểu người Hán nhưng áo có ống tay rời. Ngôn ngữ của người Bố Y cũng không chỉ có tiếng mẹ đẻ mà còn sử dụng tiếng Nùng trong giao tiếp hàng ngày. Dân số ít lại tiếp xúc, giao lưu nhiều với các dân tộc khác trong vùng nên vốn văn hoá dân gian của dân tộc Bố Y như truyện cổ tích, thần thoại đang ngày càng bị mai một…

Boy22

Ông Nguyễn Trùng Thương – Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang cho biết: chỉ còn khoảng 5% người Bố Y hiểu được 80% nội dung dân ca, chữ viết và tiếng nói cổ của dân tộc mình; Khoảng 20% người Bố Y hiểu được khoảng 50%, còn lớp trẻ hầu như không biết. Nguy cơ lớn nhất là mất tiếng nói. Ngôn ngữ của người Bố Y không được đưa vào hệ thống giáo dục, trong khi để giao tiếp hàng ngày, hoặc là đồng bào phải sử dụng tiếng phổ thông, hoặc sử dụng tiếng Nùng. Bởi thế, tiếng mẹ đẻ của người Bố Y chỉ còn lại ở những người ít tiếp xúc ra ngoài xã hội. Mà số người đó đang ngày càng già đi…

Để bảo tồn bản sắc văn hoá của dân tộc Bố Y, cách tốt nhất là sự truyền dạy từ thế hệ này sang thế hệ khác như là tiếng nói. Song cũng rất cần có một chiến lược lâu dài mà ngành Văn hoá phải là chủ thể để nghiên cứu và đề xuất phương án bảo tồn. Những năm qua, ngành Văn hoá tỉnh Hà Giang đã xây dựng và tiến hành Đề án khảo sát, đánh giá tổng thể các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc, trong đó các giá trị văn hoá vật thể được tập trung đánh giá kỹ lưỡng, từ đó lên kế hoạch lưu giữ.

Ngành cũng đã tiến hành 16 Đề án nghiên cứu văn hoá phi vật thể của các dân tộc, trong đó có Đề án Hát dân ca của người Bố Y. Có chính sách khuyến khích các nghệ nhân, cử cán bộ xuống cơ sở khảo sát, ghi chép, xây dựng kế hoạch mở lớp để nghệ nhân truyền dạy dân ca cho thế hệ trẻ. Chính quyền địa phương khuyến khích, vận động đồng bào sử dụng trang phục, ngôn ngữ của dân tộc trong cuộc sống hàng ngày, trong giao tiếp giữa cha mẹ và con cái. Phát huy vai trò của người cao tuổi trong việc giáo dục truyền thống, vốn văn hoá tốt đẹp của dân tộc cho thanh niên người Bố Y bởi đây chính là thế hệ sẽ tiếp tục duy trì và quyết định việc gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc trong tương lai.

oOo

Tập 85 – Một thoáng Bố Y – Ký sự Việt Nam 54 dân tộc – Giới thiệu dân tộc:

 

Tập 86 – Một thoáng Bố Y – Ký sự Việt Nam 54 dân tộc – Giới thiệu từ điển, trống đồng, dân ca:

 

Độc đáo, mâm xôi tạ ơn trâu của người Bố Y:

 

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s