Tân Nhạc Việt Nam – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi – NS Lê Văn Khoa và NS Trần Chúc

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn

Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi – NS Lê Văn Khoa và NS Trần Chúc trong Tân Nhạc Việt Nam.

Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi – Một chút lịch sử (do Ngọc Sương ghi lại)

Vào khoảng năm 1985, nhóm ca viên cũ* của Ca Đoàn Trùng Dương được dịp họp mặt lần đầu tiên trên đất Mỹ với hai cựu ca trưởng của Trùng Dương là nhạc sĩ Lê Văn Khoa và nhạc sĩ Trần Chúc.

Anh Lê Văn Khoa đã cho mọi người nghe cassette tape nhạc giao hưởng trình bày trường ca Hòn Vọng Phu của nhạc sĩ Lê Thương với 4 giọng tứ ca, rồi nói “nếu chúng ta có một ban đại hợp xướng thì sẽ khác hơn nhiều.”

Lúc đó nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã tổ chức được một số buổi trình diễn nhạc Việt với dàn nhạc hòa tấu rất trang trọng. Giấc mơ âm thanh của Lê Văn Khoa không thể dừng lại ở đó. Trong lần họp mặt lịch sử nói trên, anh đã gợi ý cho mọi người thành lập một ca đoàn, hay hơn nữa, một ban đại hợp xướng.

Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi.
Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi.

Cuối năm 1988 từ ý niệm do anh Lê Văn Khoa phát khởi, một ban hợp xướng ra đời nhân cơ hội tái ngộ một cựu ca trưởng khác của Trùng Dương, nhạc sĩ Trần Anh Linh** với các ca viên đầu tiên là Sương, Nhuận, chị Tuyết Long, chị Ngô Tặng v.v. cùng một số giáo viên của Trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng. Đầu năm 1989 ca trưởng Trần Chúc với vài “đệ tử” như Nguyên, Thủy, Mai, v.v..từ vùng Pomona xuất hiện với mục đích cùng nhau tập luyện hai bài hợp ca đóng góp trong chương trình “Hát Cho Ngày Mai” do ban Tứ Ca Thùy Dương tổ chức. Tên Ngàn Khơi do anh Trần Chúc đặt được mọi người đồng lòng chấp thuận có lẽ một phần cũng do nguồn gốc Trùng Dương. Trong dịp Ngàn Khơi ra quân lần đầu này, hai nhạc trưởng đầu tiên là Trần Anh Linh và Trần Chúc đã điều khiển Ngàn Khơi hát hai bài. Một bài là Tát Nước Đầu Đình do chính Trần Anh Linh viết, hoà âm và điều khiển, bài thứ hai là Viễn Du của Phạm Duy do Lê Văn Khoa hoà âm, Trần Chúc điều khiển. Sau đó nhạc sĩ Trần Anh Linh không còn cư ngụ tại Quận Cam nữa nên nhạc sĩ Trần Chúc đã lèo lái con thuyền Ngàn Khơi về mặt nghệ thuật âm nhạc suốt 15 năm trời. Riêng nhạc sĩ Lê Văn Khoa thì luôn luôn là bậc đàn anh, là ngọn đuốc dẫn đường, vừa viết nhạc, viết hòa âm, nhiều khi lại điểu khiển dàn nhạc, và là cố vấn cho Ngàn Khơi trong nhiều năm nay.

Hơn một năm đầu Ngàn Khơi chỉ hát hợp ca với phần phụ đệm dương cầm, thường xuất hiện trên đài truyền hình Tự Do của nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Ngày 15 tháng 9 năm 1990, Ngàn Khơi với hai nhạc trưởng Trần Chúc và Lê Văn Khoa mạnh dạn tổ chức Việt Nam Quê Hương Mến Yêu, đêm nhạc hoà tấu hợp xướng Việt Nam đầu tiên trên đất Mỹ tại Plummer Auditorium, Fullerton, với dàn nhạc giao hưởng trên 50 nhạc sĩ, vé sold out cho 1300 khán giả, tiền lời hơn $4000 được trao tặng các Trung Tâm Việt Ngữ và quỹ giúp dân tỵ nạn.

Sau đó Ngàn Khơi đã tạo được tiếng vang tốt đẹp trong lòng người Việt hải ngoại qua gần hai muơi buổi trình diễn lớn nhỏ, phần lớn tại vùng Little Saigon, thêm San José California và Houston Texas v.v…. Ngàn Khơi từng có sự cộng tác khả ái của nữ nhạc trưởng Mộng Thủy trong năm 2001 với buổi trình diễn Lòng Mẹ tại Ebel Theatre. Đầu năm 2004, nhạc trưởng Trần Chúc từ chức, có lẽ vì trong tiềm thức anh mong muốn một sự đổi thay, để có thể vừa thăng hoa đời sống của riêng anh, vừa đưa Ngàn Khơi đến một chân trời mới khác lạ hơn.

Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi.
Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi.

Buổi hòa nhạc mới nhất do Ngàn Khơi thực hiện là chương trình hòa tấu hợp xướng Nhạc Chiều Xuân đã diễn ra ngày 18 tháng 3 năm 2007 tại rạp La Mirada Theatre dưới sự điều khiển của Vũ Tôn Bình, nhạc trưởng mới của Ngàn Khơi từ tháng 9 năm 2004.

Nếu nhạc trưởng Trần Chúc đã dày công nuôi nấng cho Ngàn Khơi trưởng thành, thì nhạc trưởng Vũ Tôn Bình với lòng đam mê mãnh liệt dành cho âm nhạc Việt thêm kiến thức sâu rộng của một nghệ sĩ kiêm học gia, không ngừng tạo nên cơ hội trau dồi kỹ năng và nghệ thuật âm nhạc cũng như khả năng lãnh đạo cho các ca viên Ngàn Khơi nhất là giới trẻ, mong đào tạo một thế hệ mới tiếp tục phục vụ cho đường hướng âm nhạc nghệ thuật, tiêu biểu là nữ nhạc trưởng Lee Lee Trương với ca đoàn Thiếu Nhi Ngàn Khơi, và tầng lớp nhiều ca viên trẻ tuổi trong Ngàn Khơi.

(*Ca viên Trùng Dương cũ: Lê Văn Khoa, Ngọc Hà, Trần Chúc, Vũ Hiển, Sương, Nhuận, Trần Q. Phục, Kiều Chẩn, Ngọc Oanh v.v…,)

(**Nhạc sĩ Trần Anh Linh qua đời năm 2006, Ngàn Khơi tổ chức buổi nhạc tưởng niệm anh vào ngày 9 tháng 9 – 2006 tại Phòng Sinh Hoạt Nhật Báo Viễn Đông, cũng là tổ ấm của Ngàn Khơi từ nhiều năm qua.)

Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi.
Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi.

“NS Lê Văn Khoa sinh năm 1933 tại Cần Thơ, đồng bằng sông Cửu Long miền Nam Việt Nam. Là một người tị nạn chiến tranh, ông đặt chân đến Hoa Kỳ vào năm 1975. Ông viết nhạc với nhiều thể loại và đã có khoảng 600 nhạc phấm và hòa âm. Ông cũng đã soạn hòa âm về nhạc dân ca và nhạc phổ thông Việt Nam cho Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi và Dàn Giao Hưởng Việt Mỹ (VAPO). Lê Văn Khoa cũng viết bài về âm nhạc và là chủ biên chương trình “Nhạc Trong Đời Sống của Chúng Ta”, Đài Phát Thanh Little Sài Gòn.

“NS Lê Văn Khoa tự học Nhiếp Ảnh từ thuở hai mươi và đã được nhiều giải thưởng. Năm 1968, Ông cùng sáng lập Hội Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật và giúp Hội xuất bản 3 quyển sách. Hội là một trong 10 hội đứng hàng đầu trên thế giới trong cuộc thi Nhiếp Ảnh Quốc Tế Al Thani và được huy chương vàng trong thể loại “Hội Ảnh Tốt Nhất” ở cuộc thi Trierenberg Super Circuit tại Áo Quốc. Lê Văn Khoa là người Việt đầu tiên có ảnh triển lãm ở Quốc Hội Hoa Kỳ. Ông đã là giáo sư môn nhiếp ảnh tại Đại Học Salisbury State College, Tiểu Bang Maryland, năm 1976-1977.” (Theo cothommagazine)

Dưới đây mình có các bài:

– Tưởng đang xem phim Người Chinh Phu Về khi nghe hòa phối của Lê Văn Khoa cho Hòn Vọng Phu III
– Tại sao tôi cho ra đời CD Memories ?

Cùng với 16 clips tổng hợp Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức. Đặc biệt mình giới thiệu đến các bạn clip Nocturne trong CD “Memories” của NS Lê Văn Khoa.

Mời các bạn.

Túy Phượng

Nhạc trưởng Trần Chúc và Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi.
Nhạc trưởng Trần Chúc và Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi.

Tưởng đang xem phim Người Chinh Phu Về khi nghe hòa phối của Lê Văn Khoa cho Hòn Vọng Phu III

(Trần Chúc
Nhạc trưởng Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi [1989-2004]
Nhạc trưởng Magnifica Chorale [Từ 2005 đến nay] )

Nhạc Việt được phong phú thêm nhờ kỹ thuật hòa âm và phối khí. Trong vị thế của một ca nhạc trưởng, tôi có nghiên cứu nhiều tác phẩm hòa âm và phối khí của nhiều tác giả khác nhau, trong đó có nhiều tác phẩm của nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Tôi đã trình diễn nhạc của ông viết cho các tác phẩm Hòn Vọng Phu I, II và III của Lê Thương, Viễn Du, Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy và rất nhiều bài của các tác giả tân nhạc thời danh khác. Trên khía cạnh nhạc tôn giáo, tôi cũng đã từng thu thanh và trình diễn những hòa âm phối khí của ông cho các bài hát Công Giáo như:

– Ngài Ðã Sống Lại
– Hương Thơm
– Kìa Bà Nào
– Nữ Vương Hòa Bình
– Cao Vời Khôn Ví …

Ông Lê Văn Khoa có lối viết hòa âm phối khí đầy nhạc tính và nhạy cảm âm nhạc (musicality and musical sensitivity) cho những ca khúc đơn điệu có ảnh hưởng Tây hay Việt, có đặc tính đời hay đạo. Nhạc của ông bừng sống huy hoàng những phong cảnh vĩ đại của đất nước, hào hùng lòng tranh đấu bất khuất của những anh hùng đất Việt, thiết tha những tình cảm thầm kín sâu xa, tô điểm những ý nghĩa hàm chứa trong tác phẩm mà tôi nghĩ chính tác giả các ca khúc ấy qua đơn điệu đã không nhận thấy, hoặc dù có nhận thấy cũng đã không thể hiện qua nghệ thuật hòa phối. Dùng sự tưởng tượng và ngòi bút của mình, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã phân cảnh, dàn dựng và “đạo diễn” những tiến trình hòa âm, phối giọng, phối khí, nhịp độ, cường độ, áp độ, tách độ, để kết hợp và sáng tạo những âm thanh, âm sắc, âm hưởng trong việc diễn tả và phong phú hóa những tâm tình của ca khúc. Khi ca tấu, những âm thanh, âm sắc, âm hưởng đó linh động bao trùm thân thể, đánh thức những cảm giác, xâm chiếm và mê hoặc tâm não đến nổi khán thính giả tưởng mình đang xem những hình ảnh sống của một câu chuyện phim đang chiếu ra trước mắt.

Tôi còn nhớ các nhân viên Truyền Hình Việt Nam băng tần số 9 ở Sài Gòn ngày trước, từ đạo diễn đến chuyên viên kỹ thuật thu hình chương trình “Tiếng Nhạc Trầm Tư” của Lê Văn Khoa, đều nói với anh rằng tại sao anh không làm chương trình nhạc như những người khác, có phải dễ làm mà khỏi lỗ lã, làm chi chương trình đại hợp ca hòa tấu để khổ thân và cứ phải bù tiền sau mỗi chương trình. Những người thân thì lắc đầu ngao ngán, nói Lê Văn Khoa cứ tìm nẻo “đoạn trường” mà đi. Ông chỉ mỉm cười. Có lần tôi hỏi ông nghĩ gì về những lời góp ý của những người kia. Ông ôn tồn đáp:

“Họ không hiểu ý tôi. Nếu làm như những người khác thì có rất nhiều người đã và sẽ làm. Tôi muốn làm khác. Một cách dễ làm khác là cứ đem những bài nhạc danh tiếng thế giới như “Hallelujah Chorus” của Handel, “Night Music” của Mozart, “Serenade” của Schubert hoặc “Tristesse” của Chopin v. v. . . ra để điều khiển. Nhạc sĩ đã quen bài bản; khán giả vừa thích, vừa thán phục, và việc làm của mình sẽ khỏe hơn nhiều. Nhưng loại nhạc đó cả thế giới cổ xúy, tôn vinh từ nhiều trăm năm rồi và người ta sẽ còn tiếp tục làm. Riêng nhạc Việt mình thì ai nâng cấp nó đây? Ta không có hình thức nào khác ngoài ca khúc phổ thông cho nên muốn trình diễn theo lối khác hơn mọi người, mình phải tự viết ra thôi, vì nhạc Việt chưa được viết cho hợp ca hòa tấu nên tôi phải khai phá, mở lối mà đi. Việc không dễ, nhưng hy vọng việc làm này là một đóng góp vào kho tàng âm nhạc Việt Nam.”

Nói về việc làm này của Lê Văn Khoa, nhạc trưởng Vũ Thành đã từng xác nhận:

“Anh nghĩ và làm đúng! Nếu không ai làm thì nhạc Việt (một nền nhạc phong phú và trữ tình nhất) sẽ không bao giờ được quốc tế biết tới và đồng thời trình độ thẩm âm cûa tập thể di tản sẽ mãi quanh quẩn ở mức độ phòng trà, khiêu vũ rẽ tiền.”

Từ những thập niên 1960, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã hòa phối cho rất nhiều ca khúc. Nhờ công lao đó ngày nay có nhiều người thích hát, thích thưởng thức hợp ca và hòa tấu. Một số ban hợp ca chỉ muốn hát với dàn nhạc giao hưởng. Trên lãnh vực phối hợp kỹ thuật và nghệ thuật hai bộ môn hợp ca và hòa tấu, Lê Văn Khoa có công khai phá không khác gì những nhà thám hiểm ngày xưa. Tuy không phải phải hy sinh tính mạng, ông đã phải trải qua một cuộc sống khó khăn, vất vả và túng thiếu. Ông kiên trì theo đuổi ý hướng của mình để ngày nay kho tàng âm nhạc Việt Nam, đặc biệt là nhạc hòa tấu viết cho đơn ca cũng như hợp ca, được trở nên phong phú và phát triển mạnh mẽ. Bằng chứng là một số tác phẩm ấy đã được trình diễn, thu thanh và thu hình trong các CD và DVD Ngàn Khơi Chorus, Magnifica Chorale và các CD của riêng ông.

Con Người Âm Nhạc

Lê Văn Khoa là một người đa nghề, đa tài, đa môn. Ông sống tích cực cuộc đời của một nhà giáo dục, một nhiếp ảnh gia và một nhạc sĩ. Những hoạt động âm nhạc của ông bao gồm các bộ môn sáng tác như viết ca khúc, hợp ca, viết tiểu tấu khúc và đại tấu khúc, ông điều khiển dàn nhạc, trình diễn nhạc và dự phần không nhỏ vào việc giáo dục. Chỉ viết riêng về con người âm nhạc của ông thôi cũng sẽ đòi hỏi một thời gian rất dài.

Nghiên cứu âm nhạc Lê Văn Khoa ví như nghiên cứu kiến trúc của những tòa nhà chọc trời trong một thành phố lớn. Tôi tìm thấy sự sáng tạo của ông được tỏ hiện qua kỹ thuật hòa âm, cải soạn ca khúc đơn điệu cho hợp ca và dàn nhạc giao hưởng, qua nhạc đại hòa tấu. Kỹ thuật và nghệ thuật âm nhạc của ông bao gồm các thời đại cổ điển, lãng mạn, ấn tượng và cận đại Tây phương. Các tác phẩm của ông đã được trình diễn đơn ca, hợp ca, độc tấu, hòa tấu ở nhiều quốc gia trên thế giới. Nghiên cứu tác phẩm của nhiều người, tôi thấy phần đông viết hòa âm rất đúng luật, phối âm rất chỉnh tề, nhưng tôi ít thấy sự sáng tạo. Sáng tạo (creativity) trong việc chọn lựa hợp âm. Sáng tạo trong việc chế thêm hợp âm. Sáng tạo khi sắp xếp các hợp âm trong thứ tự và tiến trình hòa âm (harmonic progression). Sáng tạo trong việc phối giọng Soprano, Alto, Tenor và Bass. Sự sáng tạo và nỗ lực sáng tạo này rất cần thiết trong một thực trạng chiến tranh và kinh tế trong sáu chục năm qua. Sự sáng tạo và nỗ lực sáng tạo trong thực trạng âm nhạc mới mẻ của một nhạc sĩ người Viêt phối hợp và đúc kết kỹ thuật và nghệ thuật âm nhạc Việt và Tây phương. Và nhất là nỗi đam mê và lẽ sống của Lê Văn Khoa là làm cho nền âm nhạc Việt nổi bật và sáng ngời chứ không bị đắm chìm và thất lạc trong kho tàng âm nhạc mênh mông của thế giới đã tích lũy trong mấy ngàn năm qua.

Như nhà thám hiểm ông khai phá và thiết lập những cơ bản mới. Tôi chắc rằng ông đã có những dằn vật nội tâm rất lớn trong tiến trình kết hợp Việt tính với Tây phương tính khi sáng tác. Tôi nghĩ rằng ông đã phải đắn đo khi chọn lựa hợp âm hay chuỗi hợp âm: Hợp âm Tây phương này nghe rất lôi cuốn nhưng có thể làm chìm mất nét đẹp ngũ cung của dòng nhạc Việt. Tôi nghĩ rằng ít nhất là trong lúc đầu, ông đã cân nhắc trong việc chọn lựa nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng để diễn tả tâm hồn Việt. Nhưng cuối cùng một nghệ sĩ chân chính sẽ nghe theo trái tim, trực giác của chính mình: Ông đã để sự rung động tâm hồn giúp ông trong việc quyết định dùng đúng âm thanh để gởi gắm tâm tình của ông đến người thưởng thức. Việc làm này đòi hỏi một chủ tâm, sự khéo léo trong việc khai phá và tạo âm thanh mới hơn là ẩn núp trong sự an toàn của định luật hòa âm thông dụng. Ðó là việc mà Frederic Chopin đã làm để tạo nên trường phái nhạc Lãng Mạn (Romantic), như Claude Debussy đã làm để tạo ra trường phái Ấn Tượng (Impressionist) cho âm nhạc thế giới.

Trong khoảng hơn hai chục năm trở lại, kỹ thuật, nghệ thuật và tâm hồn Lê Văn Khoa đã quyện vào nhau, đúc kết và trở thành một. Người ta có thể phân tách riêng rẽ những yếu tố trên, nhưng tôi nghĩ rằng viết ra một dòng nhạc đối với Lê Văn Khoa dễ dàng, tự nhiên theo trực giác (intuitive) như đưa bàn tay giở một trang giấy.

Kỹ thuật hay tâm hồn?

Một người có thể rất giỏi về định luật hòa âm, nhưng tác phẩm của họ phiến diện, hời hợt vì không phát xuất từ con tim, từ tâm hồn hay từ nhân tính. Với Lê Văn Khoa ta không thế nào tách riêng tình người sâu đậm của ông ra khỏi sự cải biên tinh vi, đầy phức tạp về nhân tính, về kiến thức kỹ thuật, kinh nghiệm, về tầm nhìn xa và cách ứng dụng thích hợp cho từng tác phẩm. Tất cả đều trở thành một hợp thể trong nhạc phẩm của ông. Ông có cái nhân tính của một con người đã trải qua cuộc chiến tranh dai dẳng và kinh nghiệm sống. Ông như là một NGƯỜI THÁM HIỂM, một NHÀ TIỀN PHONG sống thực, hóa giải và hòa hợp những nét tinh hoa của Việt Nam và Tây phương trong âm nhạc, trong kỹ thuật, mỹ thuật cũng như trong văn hóa.

Chúng ta phải nói đến khả năng phi thường của ông là đọc, hiểu, cải thiện, thăng hoa vượt trội ý tưởng nguyên thủy của tác giả, để viết ra ý nhạc với sự xúc động chân thật, ứng dụng cho thể loại nhạc thích hợp.

Ðể dễ hiểu hơn, ta biết người viết ca khúc thì viết ra giai điệu và lời ca. Người ấy có được cái nhìn, có khả năng về kỹ thuật, khả năng sáng tạo và khả năng thực hiện ý tưởng cũng như sự cảm nhận của mình trong âm nhạc chăng? Tôi muốn nói đến khả năng chuyển giai điệu đơn sơ thành bài hợp ca bốn bè Soprano, Alto, Tenor, Bass, họ có hiểu biết đủ về đặc tính trong các âm vực của từng nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng và có đủ trình độ viết cho dàn nhạc giao hưởng chăng? Thông thường người ta viết hợp ca và viết cho dàn nhạc giao hưởng như là hai phần riêng biệt, nhưng ông Khoa có cái nhìn vượt quá lối viết nhạc đó để kết hợp cả hai làm một. Ta thấy có rất nhiều người viết ca khúc, một số ít người hơn viết cho ban nhạc nhỏ đệm giọng đơn ca, càng ít ngươi viết cho hợp ca và càng rất ít người viết cho hợp ca chung với dàn nhạc giao hưởng. Trong vòng người Việt tôi chưa được diện kiến một nhạc sĩ viết cho hợp ca chung với dàn nhạc giao hưởng ở tầm mức Lê Văn Khoa.

Ông có đủ kiến thức về hệ thống hòa âm Tây phương (Cổ điển, Lãng mạn, Tân thời…) cộng với tinh thần khai phá để kết hợp những hệ thống này vào nhạc ngũ cung Việt Nam. Ông biết cách kết hợp nhạc cụ lại để vẽ lên hình ảnh, tạo nét diễn tả đầy ấn tượng cho thính giả. Ông thấy trước những diễn tiến để dùng nhạc trong âm vực trầm, bổng của nhạc cụ hỗ trợ, của cấu trúc từng lớp âm thanh, ứng dụng cho kỹ thuật trình tấu của nhạc cụ riêng rẽ, diễn tiến cường độ của toàn bản nhạc và ghi tất cả chi tiết ấy trong tác phẩm của ông. Một khả năng nữa là đưa nhạc cụ cổ truyền Việt Nam hòa hợp với dàn nhạc tân tiến Tây phương vốn đã kết tinh, vượt khỏi thời đại định lý từ nhiều thế kỷ qua. Ông đã tiêm mầm sống vào một nhạc khúc bế tắc, chán ngấy, bị bỏ quên, xem như đã chết rồi.

Người Việt ta rất mê âm nhạc, được thể hiện từ dân ca, nhạc cổ truyền cho đến tân nhạc. Nhạc sĩ Việt sáng tác không biết bao nhiêu ca khúc, phát hành không biết bao nhiêu băng và đĩa nhạc. Thông thường người ta dùng trống và những nhạc cụ đơn thuần âm sắc như tây ban cầm hay dương cầm để làm nhạc đệm cho giọng ca. Tuy nhiên vì chiến tranh trước 1975 và mấy mươi năm khó khăn kinh tế sau đó, chúng ta đã trải qua sáu thập niên hạn hán âm nhạc trên phương diện phối kết hợp xướng và hòa tấu. Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn này, Lê Văn Khoa đã mạnh dạn sáng tác và thực hiện những buổi trình diễn hợp ca với dàn nhạc giao hưởng từ trước 1975, một việc làm vô cùng khó khăn trên phương diện kỹ thuật, tổ chức và cả tài chánh.

Chương trình “Tiếng Nhạc Trầm Tư” của ông trên đài Truyền Hình Việt Nam theo tiêu chuẩn Ðại Hợp ca và Hòa tấu, rất khác với chương trình nhạc lớn của Vũ Thành và Hoàng Trọng.

Âm nhạc của môt nhạc sĩ, nhiều khi vì ÐỊNH MỆNH, đã nối liền với cường lực kinh tế của một quốc gia. Hoa kỳ và Trung Hoa giao hảo rất mạnh mẽ trên phương diện kinh tế và văn hóa. Sự giao hảo đó đã đưa đến việc thương mại hóa âm nhạc như trường hợp nhạc sĩ Tan Dun. Hiện nay có đấu hiệu cho thấy Mỹ và Việt tìm cách ve vãn nhau, tạo liên hệ ngoại giao, kinh tế và văn hóa. Nhưng yếu tố chính trị có thể không cho phép ông Khoa được hưởng bất cứ một quyền lợi lớn nhỏ nào qua tài năng của ông.

Hòn Vọng Phu III: Người Chinh Phu Về

Nghe hòa âm của Lê Văn Khoa người ta công nhận là sống động, nhưng ít ai hiểu được những ưu tư, dằn vật nào ông phải trải qua để tạo nên âm thanh tuôn chảy suông sẻ rất tự nhiên. Việc đó có đến một cách dễ dàng không? Tôi không nghĩ vậy. Trong giới hạn của một bài viết nhỏ này, tôi chỉ có thể tóm gọn để dẫn chứng và chia sẻ với độc giả một tác phẩm quen thuộc mà nhà soạn nhạc Lê Văn Khoa đã biến cải và thực hiện từ nhiều năm trước, bài Hòn Vọng Phu III, tức Người Chinh Phu Về của nhạc sĩ Lê Thương sau đây.

Âm thanh rộn ràng đập vào tai tôi liền hóa thành hình ảnh. Trong hình ảnh ấy tôi thấy vó ngựa phi nhanh tung xoáy lên cát bụi mịt mù. Hình ảnh sống động đến nỗi tôi tự hỏi rằng mình đang xem phim võ hiệp được âm nhạc điểm tô hay là đang nghe bài nhạc diễn tấu biến thành hình ảnh của phim! Tiếng nhạc từ phần cải soạn của Lê Văn Khoa cho Hòn Vọng Phu III chế ngự mọi giác quan của tôi, tràn ngập tâm não và làm tư tưởng của tôi chìm đắm vào hình ảnh của một hoạt cảnh thật linh động.

Ca khúc Hòn Vọng Phu của Lê Thương là nhạc phẩm được mọi người Việt trân quý vì nó nói lên tinh thần bất khuất, ý chí chiến đấu triền miên chống ngoại xâm của dân tộc ta. Nhờ lối hòa âm phối khí của Lê Văn Khoa, nét bi hùng trong bài nhạc đó được nổi lên gấp bội. Bi ở đây không phải do đàn nhỏ. Hùng ở đây không phải nhờ đàn to mà ra. Nó nằm trong sự sắp xếp âm thanh, biểu hiện trong từng loại nhạc cụ sử dụng và âm vực của nhạc cụ đó. Tôi xin được chia sẻ với độc giả vài ý nghĩ riêng về phần hòa âm và phối khí của nhạc sĩ Lê Văn Khoa cho tác phấm này, hy vọng khi nghe nhạc phẩm Hòn Vọng Phu III được trình diễn qua phần hòa âm và phối khí của ông, quý vị sẽ thưởng thức trọn vẹn hơn.

Trong vị thế của một nhạc trưởng điều khiển dàn nhạc giao hưởng và ban hợp xướng Ngàn Khơi trình diễn tác phẩm này, tôi đã tận lực nghiên cứu bản tổng phổ của nhạc sĩ Lê Văn Khoa. Càng nghiên cứu tôi càng nhận thấy sự tưởng tượng phong phú và khả năng phi thường của ông trong việc biến chuyển hình ảnh thành âm thanh. Hay nói đúng hơn, là những dấu chấm đen âm nhạc rải trên tờ giấy trắng, nằm im, bất động, chờ ngày tái sinh trở thành những hình ảnh âm nhạc nhảy múa trước khán thính giả.

Ðiều đáng nói là nhạc sĩ Lê Văn Khoa khi viết hòa âm không chỉ dùng âm thanh đi theo hỗ trợ cho giọng ca hay giai điệu như người ta thường làm, nhưng nó tiếp chuyển ý của lời ca thành âm thanh. Ông viết nhạc như người ta kể chuyện. Nét nhạc dẫn nhập ca khúc không phải chỉ là một câu nhạc chuẩn bị cho ca sĩ lấy cao độ để cất tiếng ca. Hôm nay tôi xin mời quý độc giả cùng tôi xâm nhập vào trí óc của soạn nhạc gia, len lỏi vào hồn của ông để tìm xem những hình ảnh nào ông giấu trong ấy khi viết nhạc.

cadoanngankhoi6

cadoanngankhoi7

Nhạc dẫn nhập cho bài Hòn Vọng Phu III bắt đầu bằng sự thôi thúc của các nốt nhạc liên ba, nâng lên từ quãng hai (Xin xem nhạc trang trước). Tiết nhịp nhanh, cường độ từ nhỏ đến thật lớn, dàn violin I và violin 2 tấu đồng thanh, đàn viola, cello và double bass đồng phát 1 và 2 bát độ thấp hơn, thoát đi từ nốt D đến C# cao, gợi ý cát bụi cuồn cuộn tung lên mù mịt theo vó câu hối hả chạy mau, nói lên tâm trạng người chinh phu nóng lòng phóng ngựa cho mau về tới nhà. Nhạc nâng lần lên cao điểm bằng sự hợp kết của tất cả các nhạc cụ thuộc bộ kèn gỗ, kèn đồng và bộ gõ, trống lớn, trống nhỏ, phèng la với những nốt nhấn, ngắn gọn, dứt khoát. Sáo và trumpet báo trước bốn nốt nhạc đầu của bài ca. Những nhạc cụ còn lại giữ những nốt chính của hợp âm, trong khi dàn trống timpani, phèng la và đàn dây rung lên để tạo sự căng thẳng, nôn nóng trong lòng người chinh phu. Tất cả dồn dập lên đến tột điểm của cường độ, đồng loạt nổ tung (sforzando) ngắn gọn ở nốt nhạc đầu trường canh thứ tư. Câu nhạc như thế tái hiện để diễn tả người chinh phu cỡi ngựa vút đi, thoạt biến thoạt hiện sau những rặng cây, sườn đồi trên đường về.

Ðến trường canh thứ chín thì tiết nhịp biến đổi. Nhạc nhấn ở nốt móc đôi chuyển nhanh qua móc đơn trong cường độ thật to (fortissimo) của tất cả nhạc cụ trong dàn nhạc giao hưởng, nói lên sự kinh ngạc của người chinh phu trước cảnh lạ mà ngày xưa chàng không thấy, đó là Hòn Vọng Phu. Chàng gò cương ngựa lại để chiêm ngưỡng và tìm hiểu tượng đá đó là gì? Tại sao ngày chàng ra đi không có mà bây giờ lại xuất hiện nơi này?

cadoanngankhoi8

Những hồi trống trận còn vang vọng một lúc rồi lắng xuống trên hai nốt nhạc không ổn định ở quãng bốn của dàn trống timpani.

Thinh không vắng lặng, tiếng kèn French Horn văng vẳng trổi lên rợn người như tiếng oan hồn của hằng nghìn, hằng vạn cô phụ kêu réo, gọi đòi chồng về. Rồi tiếng mõ nhịp lên nhè nhẹ như tiếng tụng niệm. Tiếng mõ này làm tôi nhớ lại hồi nhỏ, khi còn ở Huế, quê nhà tôi, mỗi đêm tới giờ đi ngủ tôi đều nghe bà hàng xóm gõ mõ, nhịp chuông tụng kinh. Mẹ tôi giải thích chồng bà ấy đi chinh chiến lâu rồi, bà tụng niệm xin cho chồng được trở về bình an.

Chỉ trong 16 trường canh (khung nhạc) dẫn nhập ngắn ngủi, soạn nhạc gia Lê Văn Khoa đã tài tình viết lên câu nhạc khơi dậy những xúc động mãnh liệt với rất nhiều điểm nhấn, gói trọn một câu chuyện nằm lòng của mọi người.

cadoanngankhoi9

Tiếng kèn oboe và clarinet thổn thức vọng lên lòng buồn thảm trông chồng của thiếu phụ trong khi đàn dây tiếp tục rung âm điệu than thở, dâng lên, dâng lên cao dần để hiệp vào giọng đơn ca:

“…Ai bế con mãi đứng chờ
Như nước non xưa đến giờ.”

Chinh nhân nhớ lại tiếng trống trận thôi thúc chiến sĩ xung kích với nốt nhạc móc đơn có dấu chấm kèm theo (dotted eight note) và nốt móc đôi (sixteenth note) tiếp theo, được timpani và cymbal nhập cuộc tạo bước quân hành, hòa trộn với tiếng gào thét nhịp nhàng “hô, hi, hô” của đoàn quân do toàn ban hợp ca đảm trách.

cadoanngankhoi10

Piccolo (sáo ngắn) thay thế cho sáo dài nơi cuối trường canh 26, thêm chất kim loại như tiếng gươm giáo va chạm nhau. Những nốt nhạc liên ba thúc quân bên trên, toàn dàn nhạc đàn những nốt nhấn và tách bên trên tiếng nhịp bước chân vững chắc của các trống timpani và snare. Từ trường canh 34 các nhạc cụ bộ dây chuyển sang lối chơi móc dây đàn bằng ngón tay. Trống snare giữ nhịp quân hành. Sáo dài và sáo ngắn vuốt lên trong nhịp cuối trường canh để tạo cát bụi bốc cao, lan tỏa theo vó ngựa và bước chân của đoàn quân đi. Qua trường canh 45 thì sáo ngắn và sáo dài run tiếng để chuyển qua phần nhạc mới theo câu hát “Dấn bước tang bồng”. Trong phần này nhà cải soạn nhạc không làm như những nguời đi trước là hát theo sự ghi chú của tác giả: Họ hát chậm lại từ chữ “ngựa phi” rồi dừng lại nghỉ một chút mới hát tiếp; đến chữ “Dấn bước tang bồng” họ bắt đầu từ chậm rồi lần lần nhanh hơn để vào nhịp. Nhạc sĩ Lê Văn Khoa cho ngựa phi qua dấn bước không do dự, không ngập ngừng mà thẳng tiến

cadoanngankhoi11

xông lên. Tiếp đến giọng cao nữ (soprano) hát theo nhịp đều của nốt nhạc móc đơn trong câu “Bên nợ tình thâm, bên nợ giang san” như muốn níu kéo, muốn giữ người trai tráng ở lại, trong khi bè thấp của giọng nữ (alto), giọng cao nam (tenor) và giọng trầm nam (bass) lập lại những chữ ấy nhưng bằng nhịp nốt liên ba luôn thôi thúc chàng phải lên đường diệt thù, được tăng cường bởi dàn dây cũng chơi liên ba, nhấn và tách, tạo những dằng co, xung đột mãnh liệt trong nội tâm. “Bên nợ tình thâm, bên nợ giang sơn”, người chồng nên ở nhà hay lên đường chinh chiến? Lên đường chinh chiến để có thể vĩnh viễn ra đi, để người vợ thân yêu ngàn năm ẵm con chờ người chồng yêu quí trở về? Tiết nhịp chuyển đổi từ trường canh 64 đến 83, từ nhịp nhanh (allegro) xuống nhịp vừa (moderato) rồi chậm lại (andante). Nhạc từ cung D Minor (Rê thứ) chuyển sang Bb Major (Si giáng trưởng) từ câu hát “Tiếng núi non lưu luyến tấc lòng bao ngàn năm . . .” tạo cảm giác giao động mạnh trước cảnh núi non hùng vĩ hiện ra trước mắt người, khơi dậy tình yêu quê hương bát ngát, gợi lên hình ảnh bao nhiêu người đã hy sinh thân xác trong danh dự từ nhiều nghìn năm để tạo nên lịch sử oai hùng bất khuất của đất nước này.

Dấu Ấn Lê Văn Khoa

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa rất cẩn thận trong phần kết cũng như phần đầu của bài nhạc. Bài ca nguyên bản kết thúc trong nhịp thứ hai của trường canh 92. Ông viết tiếp ba nốt đen đi trước dẫn theo một loạt nốt móc đôi từ thấp lên cao và tăng thêm cường độ mãnh liệt để đưa vào câu kết:”Ngàn đời còn truyền, truyện Hòn Vọng Phu!“.

Với câu kết thêm vào như trên, huyền thoại Hòn Vọng Phu sống mãi, sống mạnh hơn bao giờ hết trong lòng người Việt. Đó là dấu ấn của Lê Văn Khoa: là câu kết trọn vẹn cho ca khúc này mà ngày nay mỗi khi hát Hòn Vọng Phu III, người trình diễn luôn sử dụng.

Âm sắc, cường độ và âm hưởng của giọng hát thay đổi rất nhiều tùy cao độ và âm vực của nốt nhạc và do đó tăng thêm hay giảm bớt ý nghĩa của bài hát. Trong bài hát “Việt Nam, Việt Nam” của Phạm Duy, chữ “đời” trong câu cuối “Việt Nam muôn đời” kết thúc ở nốt Eb giữa, là nốt mà chất giọng Soprano không thể có đủ đặc tính sáng chói (brillance). Ðể nói lên tương lai rạng ngời, hào hùng cho ca khúc, nhạc sĩ Lê Văn Khoa tăng tiết tấu mãnh liệt, cho dàn trumpet dẫn nhạc để ban hợp ca cất giọng hát “Việt Nam Muôn Ðời” ở nốt nhạc Eb cao hơn một bát độ. Nhờ đó giọng Soprano có thể hát mạnh và sáng, vận dụng xúc cảm mãnh liệt, khêu dậy niềm kiêu hãnh, tình yêu nước và hoài bão của người dân Việt. Niềm cảm xúc, phát xuất từ những giọng hát, tiếng kèn, tiếng đàn, tiếng trống, trở thành một giòng điện cực mạnh làm chấn động bầu không khí sân khấu và hội trường, khích động khán giả. Họ đứng bật lên: kiêu hãnh, hào hùng, yêu nòi, yêu nước. Họ vỗ tay nổ lớn. Họ hò hét dội vang. Người trình diễn sững sờ. (Xem nhạc trang kế.)

Đó là dấu ấn của Lê Văn Khoa.

cadoanngankhoi12

Tiếp bút

Nhạc sĩ Lê Văn Khoa cũng áp dụng kỹ thuật đó cho bài ca tôn giáo “Ngài Ðã Sống Lại”. Thay vì “La Do Re Mi” cho “Halleluia” của bè Soprano, Lê Văn Khoa đã đổi thành “Do re sol sol” với công dụng thứ nhất là nốt sol sẽ nghe sáng lạng hơn và công dụng thứ hai là nghe có âm hưởng ngũ cung. Ngoài ra, ông đã dùng chiêng, trống, mõ trong một nhịp điệu rộn rã vui tươi đình đám song song với phần hòa phối theo âm hưởng nhạc dân tộc đã vẽ lên hình ảnh dân làng hân hoan đón mừng Chúa sống lại.

cadoanngankhoi13

Một hòa âm đáng ghi nhớ khác là bản nhạc “Kìa Bà Nào” của Hoàng Diệp, với hòa phối hợp ca hòa tấu của Lê Văn Khoa. Ông đã khoác lên một hình ảnh:

“Kìa Bà nào tiến lên như rạng đông,
Đẹp như mặt trăng, rực rỡ như mặt trời,
Oai hùng như đạo binh sắp hàng vào trận.
Bà là ai?”

cadoanngankhoi14

Ðối lại, khi nghe những hòa âm của các tác giả khác, tôi tưởng tượng Bà là một người phụ nữ yếu đuối, ủy mị. Một thính giả khi nghe bài “Kìa Bà Nào?” qua phần hòa phối cho hợp ca và dàn nhạc giao hưởng của Lê Văn Khoa trong CD “Tôn Vinh Mẹ” do Magnifica Chorale trình diễn, đã nói với tôi là ông bị chấn động đến phải nghe đi nghe lại năm lần liên tiếp.

cadoanngankhoi15

Tôi đã tìm hiểu khá nhiều sáng tác hòa phối hợp xướng và dàn nhạc giao hưởng của Lê Văn Khoa, trong cương vị ca nhạc trưởng chuẩn bị ca đoàn và dàn nhạc cho các buổi trình diễn. Hòn Vọng Phu III, Việt Nam Việt Nam chỉ là một vài bài trong kho tàng âm nhạc lớn lao của ông. Hy vọng qua bài viết này, tôi đã đóng góp một phần nào vào sự hiểu biết con người âm nhạc Lê Văn Khoa và theo đó quý vị sẽ thưởng thức âm nhạc của ông một cách thích thú hơn.

Trần Chúc
Nhạc trưởng Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi (1989-2004)
Nhạc trưởng Magnifica Chorale (Từ 2005 đến nay)

NS Lê Văn Khoa.
NS Lê Văn Khoa.

Tại sao tôi cho ra đời CD Memories?

(Lê Văn Khoa)

Mục đích: Phong phú hóa nhạc Việt

Từ ngày còn trẻ tôi tâm niệm sẽ tiếp tay người đi trước để phong phú hóa nhạc Việt bằng thể nhạc khác hơn ca khúc phổ thông. Đó là nhạc đại hợp ca và hòa tấu. Vì loại nhạc này không phải là nhạc phổ thông nên ít được đại chúng chú ý và ủng hộ, do đó việc viết nhạc rất cam khổ và làm việc trong cô đơn.

Nói đến thể nhạc lớn ta thử nhìn qua các quốc gia láng giềng như Trung Hoa chẳng hạn, đã có dàn nhạc giao hưởng cách nay 100 năm – trước Đệ Nhất Thế Chiến. Nhạc sử thế giới có ghi tên nhà viết nhạc Trung Hoa, ghi sự đóng góp bằng nét nhạc độc đáo của họ. Nhiều phim điện ảnh ngày nay do nhạc sĩ Trung Hoa viết nhạc.

Nhật Bản có nhiều người viết nhạc giao hưởng được các dàn nhạc danh tiếng thế giới trình diễn và thu thanh.

Việt Nam thì sao?

Đến nay mới có vài tên tuổi xuất hiện và có lẽ phải còn rất lâu mới được thế giới công nhận. Những người nàỵ lấy gì để sống, để tiếp tục sáng tác? Không được nhà nước đãi ngộ như Phần Lan, Na Uy và không được đại chúng hỗ trợ, một số phải quay qua viết ca khúc phổ thông để nổi tiếng và có tiền sau đó. Những người không muốn viết ca khúc phổ thông đành im lặng và chìm vào quên lãng.

Cá nhân tôi cố gắng trong âm thầm đeo đuổi ý tưởng của mình từ hơn 50 năm qua.

NS Lê Văn Khoa. Tranh sơn dầu: Họa sĩ Trương Hồng Sơn.
NS Lê Văn Khoa. Tranh sơn dầu: Họa sĩ Trương Hồng Sơn.

Tại sao tôi viết nhạc như tôi viết?

1. Nói lên tiếng lòng bằng âm thanh.

Chopin đã từng nói với cha mình: “Thưa cha, nếu cha cho phép con nói với cha bằng âm nhạc, con sẽ nõi rõ tình yêu của con với cha hơn là ngôn từ.”

Nhiều khi âm nhạc nói lên được những tha thiết, những rung động sâu xa mà lời nói khó diễn tả được. Từ thế kỷ thứ 19, người viết nhạc đi sâu vào tâm thức và diễn tả sự vô hình, kỳ bí bằng âm nhạc.

Cũng từ thời điểm đó người viết nhạc muốn người nghe nhận ra nguồn gốc của tiếng nhạc mà họ đón nhận, nên họ cho âm thanh hoặc truyện tích của dân tộc họ vào bài nhạcỉ, do đó tinh thần quốc gia trong âm nhạc bùng nổ khắp nơi. Trường phái Nationalist thành hình. Chopin, Liszt, Brahm, Moussorky, Tchaikhowsky, Sibelius, Grieg, Batók v.v… đưa nét nhạc dân tộc trải rộng khắp nơi. Điều quan trọng là mình nói mà người khác hiểu được, thông cảm được. Họ nói bằng tiếng nhạc không lời. Tôi viết nhạc không lời chẳng qua là theo gót người đi trước từ nhiều thế kỷ. Trong môi trường Việt Nam thì điều này hãy còn xa lạ nên việc phổ biến rất khó khăn.

Nhiều người hỏi tôi: “Biết viết nhạc loại đó không sống được, tại sao ông cứ tiếp tục làm?”

NS Lê Văn Khoa.
NS Lê Văn Khoa.

Dường như Thượng Đế cho mỗi người sống trên đời để thực hiện một sứ mạng. Nhưng mình có hiểu sứ mạng đó hay không, và có làm đúng hay không. Tôi không biết. Tôi chỉ biết tôi viết loại nhạc này để:

2. Đưa tinh thần dân tộc qua nhạc Việt vào dòng nhạc thế giới bằng nhạc ngữ Tây phương.

Người trên thế giới cần hiểu nhau và phương tiện giúp người thông cảm nhau là ngôn ngữ. Âm nhạc là một thế giới ngữ. Để hiểu nhau người ta phải dùng ngôn ngữ chung. Do đó tôi dùng ngôn ngữ của loại nhạc không lời để giao lưu với giới nhạc không lời mà không bị ngôn ngữ loài người làm biên cương khóa kín. Để minh chứng điều này tôi xin trích một phần cuộc đối thoại của Tiến sĩ Dmytro Stepovyk và nhạc trưởng Alla Kulbaba. Dmytro là tiến sĩ Triết, tiến sĩ Thần học và tiến sĩ Nghệ thuật. Nhạc trưởng Alla Kulbaba là một nhạc trưởng chiếm giải thi nhạc trưởng quốc tế, hiện giũ chức vụ nhạc trưởng chính thức của National Opera of Ukraine, nhạc trưởng của Kyiv Symphony Orchestra, đã từng lưu diễn khắp thế giới, đã lưu diễn ở Hoa Kỳ 7 lần. Cuộc đối thoại có đoạn như sau:

Dmytro: Bà có nghĩ những quốc gia xa xôi, cụ thể là các quốc gia Á Rạp với nét nhạc riêng biệt của họ, Trung Hoa với những tuồng hát, và các nguồn văn hóa khác như Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Nhật Bản vân vân, có viễn ảnh nào cho thấy thế giới sẽ kết hợp trong khi các nền văn minh đang tiếp xúc nhau như hiện nay? Có thời điểm nào đó trong âm nhạc, người ta có thể tạo ra sự cộng sinh để thính giả Âu và Á có thể hiểu được cùng lúc chăng? Hay (nhạc) đó chỉ là sự chắp nối vá víu mà không đưa ra một sự xây dựng tích cực nào…?

Alla: “Thưa ông, tôi nghĩ đây là thời điểm rõ rệt nhất khi các nền văn hóa truyền đạt với nhau và nó sẽ ghi đậm nhận thức của ta về các quốc gia mà ông vừa đề cập đến – những quốc gia Á Châu. Chúng ta có thể học được văn hóa của họ qua phương pháp tạo âm nhạc của Âu Châu. Tuy nhiên nếu chỉ có giai điệu quốc gia thôi sẽ không dễ hiểu cho người thuộc các quốc gia Âu Châu, nhưng nếu đó là một sự kết hợp thể loại, nhạc đề, hòa âm, dân nhạc và dân ca, sẽ làm cho chúng ta gần nhau hơn. Tôi tin rằng sự nhận thức và văn hóa sẽ kết hợp nhau sau đó.”

Nhạc trưởng Andrew Wailes của The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra ở Úc cũng có nhận xét tương tự, sẽ được đề cập đến ở phần sau.

NS Lê Văn Khoa.
NS Lê Văn Khoa.

3. Với người đồng hương, tôi muốn chừng minh dân nhạc Việt có thể hòa vào giới nhạc bác học Tây phương và người Tây phương tiếp nhận dễ dàng nếu ta làm đúng.

Tôi xin trích thêm lời của nhạc trưởng Alla Kulbaba vì bà – cho đến nay – là người chơi nhạc của tôi nhiều hơn bất cứ nhạc trưởng nào. Bà phát biểu trước mặt mọi người trong bữa tiệc chia tay sau loạt thu thanh với Kyiv Symphony Orchestra and Chorus: “Nhạc của ông Lê Văn Khoa là mật ngọt rót vào tâm hồn nhạc sĩ Ukraine.” Rõ ràng giới nhạc giao hưởng từ nôi âm nhạc cổ điển Tây Phương hiểu được nhạc Việt dễ dàng. Chẳng những hiểu mà họ rất thích thú với nét nhạc xa lạ từ một phương trời khác biệt.

O.C. Register số ra ngày 5 tháng Sáu năm 1995, trọg mục News and Reviews chạy hàng chữ tựa lớn và dài “East, West Techniques Blend Skilfully in “75”. Ca ngợi Symphony “Việt Nam 1975” của Lê Văn Khoa, trong đó có đề cập đến việc dùng dân nhạc Việt Nam như sau: “Dù tác phẩm của Lê Văn Khoa không được trình diễn toàn vẹn, ba trích đoạn đã cho thấy tầm mức rộng lớn và xúc cảm sâu đậm của ông. Ông hòa hợp dân ca Việt Nam với kỹ thuật giao hưởng Tây phương thật điệu nghệ để vẽ lên sự thanh tịnh bị phá vỡ. Chất liệu căn bản là nhạc ngũ cung, giai điệu rộng, những câu nhạc viết cho violin uốn lượn sắc xảo, tiết nhịp sôi động… Giàn nhạc dưới quyền điều khiển của nhạc trưởng Edward Cumming đã trình diễn thật nồng ấm và dầy xúc cảm”.

Nhạc trưởng Andrew Wailes của The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra ở Úc có lời nhận xét trong chương trình phát thanh bằng tiếng Anh của đài phát thanh quốc gia Hoàng gia Úc sau buổi trình diễn tác phẩm Symphony “Việt Nam 1975” của tôi, một tác phẩm trích dùng nhiều dân ca và viết theo âm hưởng dân nhạc Việt, như sau: “Đây là một tác phẩm rất hay. Như những tác phẩm giao hưởng lớn, nó kể một câu chuyện thật đẹp. Đây là nhạc về con người thật, về một quốc gia thật và thời điểm thật. Bắt đầu từ những bài dân nhạc diễn tả một quốc gia thanh bình, hào hùng, rồi bị cộng sản xâm chiếm. Nhạc chuyển lần sang âm thanh rất mới diễn tả sự bất an, đầy bối rối. Người ta chia tay nhau ra đi đến đất nước mới để tìm tự do. Trong hành âm cuối “Ca Ngợi Tự Do”, nhạc dàn ra một bài ca thật hay. Nhạc thật lộng lẫy, đồ sộ. Thật vĩ đại… Nhạc rất hay, rất sắc xảo, tinh vi, có những đoạn thật mong manh, chúng tôi phải hết sức cẩn thận để không đàn quá mức vì sợ phá vỡ không khí êm ả của nhạc. Âm nhạc là một ngôn ngữ quốc tế. Là một nhạc sĩ tôi đã đi qua Đức, Âu châu, Á châu và tôi chỉ dùng ngôn ngữ của âm nhạc, cho nên tôi nghĩ rất cần thiết để đưa Đông qua Tây và Tây qua Đông bằng âm nhạc, để chia sẻ tâm tình giữa các giống người trên địa cầu.”.

Đó là những lời chứng minh người Tây phương hiểu được nhạc Việt dễ dàng. Tôi đi xa hơn, trong một CD sắp phát hành, quý vị sẽ nghe dân ca Việt Nam được trình diễn bằng đàn bandura, một nhạc cụ cổ truyền Ukraine, được hỗ trợ bằng thềm nhạc giao hưởng Tây Phương. Một sự kết hợp lạ lùng chưa từng có trong lịch sử âm nhạc thé giói. Nếu việc làm này được tiếp tuc đều đặn thì trong tương lai mọi người yêu nhạc trên thế giới đều có thể đàn nhạc Việt dù họ sử dụng nhạc cụ mới hay nhạc cụ cổ truyền của dân tộc họ.

NS Lê Văn Khoa.
NS Lê Văn Khoa.

MEMORIES là gì?

Ai cũng biết Memory là kỷ niệm và Memories là nhiều kỷ niệm. Con người thường sống trong kỷ niệm và cả sống cho kỷ niệm. Những kỷ niệm vui, buồn đều được ghi nhớ dưới nhiều hình thức. Tôi cũng như mọi người, có nhiều kỷ niệm trong đời. Tôi ghi lại dưới nhiều hình thức khác nhau mà âm nhạc là một. Tôi muốn chia sẻ kỷ niệm của mình. Tôi thỉnh mời quý vị cùng góp kỷ niệm với tôi qua âm nhạc. Trong nhạc, tôi gợi ý, quý vị tô vẽ thêm cho phù hợp với kỷ niệm của riêng mình. Vì vậy tôi viết nhạc không lời để quý vị trao gửi trọn vẹn nỗi nhớ của mình theo âm thanh mà không bị lời ca làm sai lạc ý nghĩ của mình. Vì không lời cho nên người Việt, Mỹ, Pháp, Trung Hoa, Đại Hàn hay bất cứ một người dân nước nào dùng cùng ngôn ngữ âm nhạc này đều có thể cảm thông được. Sự cảm thông với âm thanh dễ hơn với nốt nhạc bất động vì nhờ có người diễn dịch thay mình. Người đó là nhạc sĩ trình diễn.

Tôi xin trích lời của giáo sư vĩ cầm Svyatoslava Semchuck của Nhạc viện Quốc Gia Tchaikowsky ở thủ đô Kyiv, Ukraine, người đã trình tấu hai nhạc phẩm violin trong CD Memories, bài Nocturne và Romance cho violin và dàn nhạc. Cô nói: “Nhạc của Lê Văn Khoa có xúc cảm cao độ và đúng là nhạc lãng mạn… Một nhạc sĩ – một nhạc sĩ đích thực – có thể cảm được trong tâm hồn mình tình yêu mà nhà soạn nhạc trang trải trên trang giấy.” Cô Svyatoslava đã cảm được trong tâm hồn cô tình yêu mà Lê Văn Khoa trang trải trên trang giấy nên cô đã diễn tả xuất thần hai nhạc phẩm Nocturne và Romance trong CD Memories này”.

Về hai tác phẩm vừa đề cập đến, ông William Benner, cựu nhạc sĩ độc tấu violin của NBC Symphony Orchestra ở San Francisco, đã phát biểu: “Cả hai nhạc phẩm đều đạt mức tột đỉnh của sự xúc cảm trong lòng người.”

Những lời nhận xét trên cho thấy rõ người không phải Việt Nam thông cảm được dễ dàng nỗi lòng của một người Việt qua bài nhạc không lời.

Hai tác phẩm này đều có trong CD Memories. Nhưng CD Memories không phải chỉ có bài nhạc. Chỉ riêng bài cuối, bài số 10 có tên là Memory, mỗi người nghe đều có một nhận xét riêng.

Một ông chỉ nghe bài Memory đã thốt lên: “Bài nay đã đem cả khung trời Sài Gòn về với tôi.” Bài nhạc này kéo trí nhớ của ông về dĩ vãng.

Như nhà văn Phạm Xuân Đài phát biểu lúc nảy: “Ôn lại kỷ niệm cũng có nghĩa là phóng vào tương lai.” Một nữ thính giả, tôi xin tạm giấu tên, viết: “Tôi nghe đi nghe lại bài Memory và nghiệm ra được rằng: một mai khi tôi lìa xa cõi tạm này, tôi xin được chọn bài Memory để tiễn đưa thân xác trở về với tro bụi… Bài Memory là hành trang tôi sẽ đem theo khi về cõi vĩnh hằng!” Cô chuẩn bị tương lai khi nghe bài số 10 trong CD, bài Memory.

CD Memories khơi lại kỷ niệm không phải cho người lớn thôi mà cho cả trẻ em nữa. Hai bé Nghi và Thụy mỗi lần lên xe hơi là yêu cầu bố hay mẹ mở bài Lý Ngựa Ô trong CD Memories và chỉ nghe một bài đó thôi, nghe qua nghe lại mãi, không cho ai đổi qua bài khác. Hai em nói hai em thích vì bài đó hay. Nhưng mẹ hai em cho biết lý do hai em thích Lý Ngựa Ô rất đơn giản: “Hồi nhỏ ba em dùng bài dân ca đó làm bài ca ru cho hai em ngủ.” Như vậy kỷ niệm đã trở lại đầy ấp tâm hồn trẻ thơ và tình yêu cha mẹ cũng theo đó mà gắn bó với hai em hơn. (Thật đáng phục người cha đã gieo dân nhạc vào giấc mộng trẻ thơ rất sớm. Nó sẽ ở lại với các em mãi mãi.)

Người lớn chắc chắn có nhiều kỷ niệm hấp dẫn và cả cay đắng hơn. Dù là kỷ niệm vui hay buồn, mỗi lần nhắc lại không khỏi gây cho ta bồi hồi xúc động. Nó cho ta một chút ngậm ngùi, một vị đắng dâng lên trên vành môi, và đôi giọt lệ âm thầm lăn vòng khóe mắt.

Kỷ niệm là vô giá. Chúng sẽ theo ta cho đến cuối đời.

Giờ đây tôi xin mời quý vị gọi kỷ niệm về với ta qua tiếng nhạc của CD MEMORIES này và hãy để âm nhạc ve vuốt tâm hồn ta.

oOo

Hòn Vọng Phu 1 (Lê Thương) – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi – Nhạc trưởng Trần Chúc – NS Lê Văn Khoa hòa phối:

 

Hòn Vọng Phu 2 (Lê Thương) – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi – Nhạc trưởng Trần Chúc – NS Lê Văn Khoa hòa phối:

 

Hòn Vọng Phu 3 (Lê Thương) – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi – Nhạc trưởng Trần Chúc – NS Lê Văn Khoa hòa phối:

 

Hội Trùng Dương (Phạm Đình Chương) – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi:

 

Trường ca Mẹ Việt Nam (Phạm Duy) – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi:

 

Trường Ca Con Đường Cái Quan (Phạm Duy) – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi:

 

Những Giòng Sông Chia Rẽ (Phạm Duy) – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi:

 

Viễn Du (Phạm Duy) – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi:

 

Ru Con, Lý Giang Nam, Đèn Cù (Dân Ca) – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi:

 

Hương Xưa (Cung Tiến) – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi:

 

Bến Xuân (Văn Cao) – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi:

 

Liên Khúc Giáng Sinh – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi:

 

Le Van Khoa – Da Khuc:

 

Le Van Khoa – Ban Giao Huong VN 1975:

 

Le Van Khoa – Trong Com:

 

Le Van Khoa – Se Chi Luon Kim:

 

Nocturne (CD Memories) – Lê Văn Khoa

 

Một suy nghĩ 6 thoughts on “Tân Nhạc Việt Nam – Ban Hợp Xướng/Ca Đoàn Ngàn Khơi – NS Lê Văn Khoa và NS Trần Chúc”

  1. Hay qua, em cam on Chi Phuong, em da hieu duoc mot kho kien thuc ve am nhac hop xuong Nhac si Le Van Khoa, truoc day khi mo tivi thay chuong trinh dan nhac giao huong la em buon ngu, gio thi em cam xuc duoc tung doan nhac “Viet Nam 1975″, ” Hon Vong Phu” cua Nhac si Le Van Khoa.
    Chi Phuong oi, nhac Giao Huong, nhac Hop Xuong co phai la nhac Thinh Phong khong vay ? Nhac Thinh Phong la nhac gi vay Chi ?
    Em cam on Chi Phuong.

    Số lượt thích

  2. Hi Thùy Linh,

    Cám ơn em đã chia sẻ. Chị thật vui biết em giờ thưởng thức Nhạc Hợp Xướng/Giao Hưởng không còn bị buồn ngủ nữa. 🙂

    Mỗi người nhạc sĩ/nghệ sĩ có một tài năng khác nhau đó em. Và người nào có khả năng chuyển động sự xúc cảm của khán thính giả và làm cho khán thính giả tiếp tục muốn nghe đi nghe lại mãi tác phẩm của mình thì đó chính là nghệ thuật tuyệt đỉnh. NS Lê Văn Khoa là một trong những người nhạc sĩ/nghệ sĩ có khả năng này. Thật là may mắn cho thế hệ chúng ta biết bao khi được nghe những tác phẩm của ông.

    Nhạc Giao Hưởng, Nhạc Hợp Xướng, Nhạc Thính Phòng trên phương diện nghệ thuật thì chỉ là một. Tuy nhiên, chúng có sự khác biệt như thế này:

    Thính = Nghe.
    Phòng = Một căn phòng.

    Thính Phòng đồng nghĩa với nghe nhạc trong một căn phòng. Một nhóm ca nhạc sĩ ít người thường thì diễn xướng trong một căn phòng nhỏ như phòng trà chẳng hạn.

    Nhạc Giao Hưởng, Nhạc Hợp Xướng thường là một ban đại hòa tấu gồm có một dàn nhạc sĩ & ca sĩ mấy chục người nên phải diễn xướng trong một phòng lớn vĩ đại như các nhà hát lớn, hí trường lớn.

    Không có chi em. Chúc em tiếp tục thưởng thức nghệ thuật âm nhạc rất ư giàu có của Việt Nam mình Linh nhé.

    Chị Phượng XO

    Số lượt thích

  3. Vô cùng cảm ơn chị Túy Phượng đã tập hợp khá đầy đủ tin tức về nhạc hòa tấu hợp xướng Việt Nam và các công trình âm nhạc của Nhạc sĩ Lê Văn Khoa.
    Tôi là Ngọc Sương làm việc cho Ngàn Khơi.
    Địa chỉ email để mua CD DVD của Ban Hợp Xướng Ngàn Khơi:
    suongvu@gmail.com &
    ngankhoichorus@yahoo.com

    Ngan Khoi Chorus on Facebook:
    https://www.facebook.com/Ngan-Khoi-Chorus-327086380664465/?hc_ref=ARQRZArGnxYTZHcJPwpsyBFiof64TnyyW7io9hQmDtUd57tYQz-Ozf4G1cD9kXnUg5c

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s