Nhạc cụ cổ truyền VN – Đàn Nguyệt

Đọc các bài cùng chuỗi, xin click vào đây.

Chào các bạn,

Tiếp theo Đàn Đáy, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Đàn Nguyệt của dân tộc Việt Nam.

Đàn Nguyệt (Nguyệt Cầm), trong miền Nam còn gọi là Đờn Kìm, Vọng Nguyệt Cầm, hay Quân Tử Cầm là nhạc cụ dây gảy của dân tộc Việt. Loại đàn này có hộp đàn hình tròn như mặt trăng được gọi là “Đàn Nguyệt”. Theo sách xưa, đàn nguyên thủy có 4 dây, sau rút lại còn 2 dây. Sách của Phạm Đình Hổ ghi rằng đàn nguyệt xuất hiện ở Việt Nam vào thế kỷ 18.

Đàn Nguyệt là cây đàn rất phổ biến dùng để độc tấu, hòa tấu với nhiều ngón chơi độc đáo như ngón nhấn, ngón vê, ngón luyến… Màu âm đàn Nguyệt tươi sáng, rộn ràng, tình cảm, đa dạng trong diễn tả các trạng thái cảm xúc âm nhạc. Đàn Nguyệt được sử dụng trong hát Chèo, Chầu Văn, Ca Huế, Đờn Ca Tài Tử và Cải Lương…

dannguyet_do13

 

Đàn nguyệt có những bộ phận chính như sau:

Bầu vang: Bộ phận hình tròn ống dẹt, đường kính mặt bầu 30 cm, thành bầu 6 cm. Nền mặt bầu vang có bộ phận nằm phía dưới gọi là ngựa đàn (cái thú) dùng để mắc dây. Bầu vang không có lỗ thoát âm.

Cần đàn (hay Dọc đàn): làm bằng gỗ cứng, dài thon mảnh, bên trên gắn 8-11 phím đàn, trước đây chỉ gắn 8 phím (nay những người chơi nhạc tài tử Nam bộ vẫn thường dùng đàn 8 phím). Những phím này khá cao, nằm xa nhau với khoảng cách không đều nhau.

Đầu đàn: hình lá đề, gắn phía trên cần đàn, nó có 4 hóc luồn dây và 4 trục dây, mỗi bên hai trục.

Dây đàn: có 2 dây, trước đây làm bằng dây tơ, ngày nay thường làm bằng dây nilon. Tuy có 4 trục đàn nhưng người ta chỉ mắc 2 dây (một dây to một dây nhỏ). Cách chỉnh dây thay đổi tùy theo người sử dụng. Có khi 2 dây cách nhau quãng 4 đúng, có khi cách quãng năm đúng hoặc quãng bảy hay quãng tám đúng. Song cách thông dụng nhất vẫn là lên dây theo quãng năm đúng. Đàn nguyệt là nhạc cụ khảy dây, được dùng thường xuyên trong ban nhạc chầu văn, tài tử, phường bát âm và trong nhiều dàn nhạc dân tộc khác.

dannguyet_do22

Nhìn chung đàn nguyệt có âm sắc trong sáng, ở khoảng âm thấp thì hơi đục. Nó có thể diễn đạt nhiều sắc thái tình cảm khác nhau, từ dịu dàng, mềm mại đến rắn rỏi, rộn ràng.

Ngày xưa người biểu diễn nuôi móng tay dài để khảy đàn nguyệt, ngày nay miếng khảy đàn đã giữ nhiệm vụ này. Một số kỹ thuật sử dụng tay phải trong đàn nguyệt như sau:

– Ngón phi: lối đánh cổ truyền, không dùng miếng khảy mà sử dụng những ngón tay vẩy liên tiếp nhanh trên dây đàn, hiện quả âm thanh gần giống như ngón vê. Ngón phi có hai cách diễn:

+ Phi lên: thường sử dụng trên một dây đàn, bắt đầu từ ngón út rồi lần lượt những ngón khác hất vào dây đàn.

+ Phi xuống: sử dụng trên cả 1 dây đàn hoặc trên cả 2 dây. Phi xuống là vẫy nhanh các ngón tay vào dây đàn, bắt đầu từ ngón út (có khi bắt đầu từ ngón trỏ) rồi lần lượt những ngón khác khảy dây đàn.

NSUT Đàn nguyệt Cổ Huy Hùng.
NSUT Đàn nguyệt Cổ Huy Hùng.

Khi biểu diễn ngón phi người ta dùng 4 ngón tay (không sử dụng ngón tay cái). Nếu đánh bằng miếng khảy đàn họ chỉ sử dụng 3 ngón vì ngón cái và ngón trỏ phải giữ miếng khảy.

– Ngón vê: khảy liên tiếp trên dây đàn. Kỹ thuật này thường dùng trong nhạc hát văn. Cách vê có thể bằng móng tay hay miếng khảy, vê 1 dây hoặc 2 dây đều được.

– Ngón gõ: dùng những ngón tay phải gõ vào mặt đàn, mục đích để báo hiệu cho hát, cho các nhạc khí khác hòa tấu hoặc điểm giữa những nhạc cụ, đoạn nhạc hay những lúc các nhạc cụ khác ngưng hoạt động.

– Bịt: làm âm thanh vừa vang lên liền tắt đột ngột. Kỹ thuật sử dụng tay trái trong đàn nguyệt gồm có 12 cách: ngón rung, ngón nhấn, ngón nhấn luyến, nhấn luyến, ngón láy, ngón láy rền và ngón láy giật. Trước đây người ta ít sử dụng ngón vuốt, nhưng ngày nay có thể xem nó là kỹ thuật số 9 của tay trái. Kế tiếp là ngón bật dây, âm bội và đánh chồng âm (hợp âm).

Đàn nguyệt được dùng để biểu diễn các thể loại nhạc dân ca của Việt Nam. Trong ban nhạc “Ngũ tuyệt” của nhạc thính phòng cổ truyền thì đàn nguyệt đóng vai trò điều khiển. Bốn nhạc cụ kia trong dàn nhạc gồm có đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn nhị, đàn tam và ống sáo.

Đàn nguyệt cũng giữ vai trò tối trọng yếu trong nhạc chầu văn.

Dân tộc Khmer có Ðàn Chạpet tương tự như Đàn Nguyệt của dân tộc Việt Nam, nhưng cách đánh của họ không có nhấn luyến.

Bài thơ “Nguyệt Cầm” của Xuân Diệu:

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh,
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm!
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh;
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh.

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời,
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi…
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người…

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê.
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.

Dưới đây mình có các bài:

– ĐÀN NGUYỆT, nhạc cụ dây của dân tộc Việt
– Đàn Nguyệt (Thang âm)

Cùng với 10 clips độc tấu Đàn Nguyệt do những nghệ sĩ ưu tú diễn tấu để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Wikipedia)

dannguyet_do5

ĐÀN NGUYỆT, nhạc cụ dây của dân tộc Việt

(Theo Giai điệu xanh)

Đàn nguyệt được sử dụng rộng rãi trong dòng nhạc dân gian cũng như cung đình bác học cổ truyền của người Việt, xuất hiện trong mỹ thuật Việt Nam từ thế kỷ XI, cho tới nay nó vẫn giữ một vị trí rất quan trọng trong sinh hoạt âm nhạc của người Việt. Đàn nguyệt có hai dây, thuộc bộ dây chi gảy của dân tộc Việt. Ngoài tên gọi đàn nguyệt còn có các tên gọi khác là đàn kìm, quân tử cầm, vọng nguyệt cầm. Tên gọi đàn nguyệt do có mặt đàn hình tròn như mặt trăng.

– Đáy đàn và mặt đàn để mộc được làm bằng gỗ nhẹ, xốp, có đường kính khoảng 30 cm.

Trên mặt đàn có gắn ngựa đàn (hay yếm đàn) để mắc dây. Thành đàn (hay còn gọi là hông đàn) làm bằng gỗ cứng thấp khoảng 5 cm – 6 cm, có thể để trơn hay khảm trai. Hộp đàn kín hoàn toàn, không có lỗ thoát âm như đa số các loại đàn dầy gảy khác.

– Cần đàn được làm bằng gỗ cứng (có thể để trơn hay khảm trai), dài khoảng 1m trên có gắn các phím đàn bằng tre với khoảng cách không đều nhau theo thang 5 âm.

– Dây đàn được làm bằng tơ se hay dây nilon. Đàn có hai dây, dây cao (còn gọi là dây ngoài hay dây tang) nhỏ hơn dây trầm (còn gọi là dây trong hay dây tồn).

– Trục lên dây được làm bằng gỗ cứng xuyên qua hai lỗ phía đầu cần đàn.

– Móng gảy đàn thường bằng miếng nhựa hay đồi mồi.

– Đàn nguyệt có nhiều kiểu lên dây khác nhau, tuỳ theo yêu cầu của tính chất âm nhạc mà quyết định kiểu lên dây nào thích hợp.

dannguyet_do12

Có 3 kiểu lên dây chính:

Dây Bắc: Dây trầm cách dây cao một quãng 5 đúng (Fà-Đô). Dây bắc thích hợp với âm nhạc vui tươi, hùng tráng.

Dây Oán: Dây trầm cách dây cao một quãng 6 đúng (Mì-Đô). Dây oán thích hợp với âm nhạc nghiêm trang, sâu lắng.

Dây Tố Lan: Dây trầm cách dây cao một quãng 7 thứ (Rề-Đô). Dây tố lan thích hợp với âm nhạc dịu dàng, mềm mại.

Âm thanh Ðàn Nguyệt tươi sáng, rộn ràng rất thuận lợi để diễn tả tình cảm sâu lắng. Ðàn Nguyệt có tầm âm rộng hơn hai quãng 8 từ: Ðô1 đến Rê3 (C1 đến D3) nếu dùng ngón nhấn sẽ có thêm hai âm nữa. Tầm âm có thể chia ra 3 khoảng âm với đặc điểm như sau:

– Khoảng âm dưới: tiếng đàn ấm áp, mềm mại, biểu hiện tình cảm trầm lặng, sâu sắc.

– Khoảng âm giữa: là khoảng âm tốt nhất của Ðàn Nguyệt, tiếng đàn thanh thót, vang đều, diễn tả tình cảm vui tươi, linh hoạt.

– Khoảng âm cao: tiếng đàn trong sáng nhưng ít vang.

dannguyet_do2

Tư thế cầm đàn và gẩy đàn

Tư thế ngồi: Có 3 kiểu

+ Ngồi xếp chân trên chiếu
+ Ngồi vắt chéo chân trên ghế
+ Ngồi tì gót chân phải vào thang ghế

Cả ba tư thế ngồi trên đều phải tự nhiên, thoải mái, thành đàn phía dưới tì lên đùi phải. Lưng đàn áp sát vào cạnh sườn, nách tì nhẹ lên thành đàn trên. Tay trái đỡ cần đàn, đầu đàn chếch lên phía trên sao cho cao hơn vai một chút.

Tư thế đứng: Tư thế đứng ít dùng hơn tư thế ngồi, thường dùng để vừa đi vừa đàn. Nếu đánh đàn ở tư thế này phải đeo đàn bằng một sợi dây. Cánh tay phải đè vào mặt đàn giữ cho mặt đàn áp sát vào người, tay trái nâng cần đàn chếch lên phía trên.

Cách cầm móng gẩy: Khi đánh đàn, ngón cái và ngón trỏ của tay phải cầm móng gảy, các ngón khác khum lại tự nhiên, nên tránh ngón út duỗi thẳng và tì vào mặt đàn. Khi gẩy không nên đặt móng hờ trên dây vì như vậy tiếng đàn sẽ yếu, tuy vậy cũng không nên để móng quá sâu xuống dây vì tiếng đàn sẽ thô, không gọn và làm mất sự linh hoạt của cổ tay.

dannguyet_ĐB1

Các vị trí gẩy đàn:

+ Nếu vị trí gẩy đàn cách ngựa đàn từ 3 đến 4 cm âm thanh phát ra sẽ có tiếng đanh, sắc nhưng ít vang.

+ Nếu vị trí gẩy đàn cách ngựa đàn từ 8 đến 9 cm tiếng đàn sẽ chắc, đầy đặn và vang.

+ Nếu vị trí gẩy đàn cách ngựa đàn từ 15 đến 17 cm âm thanh phát ra sẽ mềm mại ấm áp nhưng hơi yếu và kém vang.

Cách cầm đàn và bấm dây trên cung đàn: Cây đàn được giữ chắc nhờ kẹp đàn bằng cánh tay phải, tay trái đỡ cần chỉ giúp cho đàn được thăng bằng khi gẩy.

– Đốt thứ nhất của ngón cái dựa vào sống cần đàn, tránh để cần đàn dựa sát vào kẽ tay (giữa ngón cái và ngón trỏ) vì như vậy làm việc di chuyển lên xuống của tay trái gặp trở ngại, không linh hoạt.

– Cánh tay trái để tự nhiên, không áp sát vào cạnh sườn nhưng cũng không để khửu tay khuỳnh ra phía ngoài.

– Ngón tay bấm trên cung đàn phải để khum tự nhiên. Các đầu ngón tay bấm dây xuống cung đàn với mức độ vừa phải. Nếu bầm quá nặng sẽ làm dây căng, tiếng đàn bị chênh cao. Nếu bấm hờ, dây đàn vừa chạm vào vào phím chưa đủ mức, tiếng đàn sẽ rè và yếu.

– Các ngón bấm móng tay phải được cắt ngắn, khi bấm luôn khum tròn và chụm, không để kẽ tay doãng hở làm yếu gân ngón bấm, nhất là khi cần rung và nhấn. Khi gẩy từng tiếng trên dây, ngón bấm không duỗi thẳng vì vậy dễ chạm dây bên cạnh làm trở ngại lúc đánh với tốc độ nhanh. Khi cần chặn hai dây trên cung đàn mới được phép duỗi thẳng ngón để bấm.

dannguyet_do21

 

Kỹ thuật tay phải

Ngón vê: Ngón cái và ngón trỏ tay phải cầm móng gẩy, các ngón khác khum tròn, cổ tay kết hợp với ngón tay điều khiển móng gẩy đánh xuống, hất lên đều đặn, liên tục trên dây đàn.

Khi vê, đầu móng gẩy không nên dặt quá sâu xuống dây đàn vì như vậy sẽ làm dây đàn đứt quãng không vê được nhanh. Cũng không nên để móng gẩy quá hờ trên dây tiếng đàn phát ra sẽ yếu không vang.

Mặt phẳng của móng gẩy phải để thẳng góc với dây đàn, như vậy mới dễ vê mà không tạo ra tiếng rè tạp âm.

Động tác vê phải mềm mại, dùng cổ tay phối hợp với ngón tay lắc nhẹ tạo ra tiếng đàn thật đều đặn, êm ái.

Những nốt cần vê thường là những nốt có độ dài nửa phách trở lên nếu bài ở tốc độ vừa phải, nốt có độ dài một phách trở lên nếu bài ở tốc độ nhanh.

Ngón gõ: Sử dụng các ngón tay phải gõ vào mặt đàn, thường được sử dụng trong lúc tất cả các nhạc khí đều nghỉ (dấu lặng) hoặc báo hiệu cho hát, cho hòa tấu hoặc điểm giữa các câu nhạc hay đoạn nhạc. Ký hiệu ngón gõ được các vạch chéo (như dấu nhân).

Ngón bịt: Ngón bịt làm cho âm thanh vừa vang lên liền tắt một cách đột ngột tạo thay sự thay đổi màu âm, ngón bịt diễn tả sự u buồn, nghẹn ngào hoặc để chấm dứt một đoạn nhạc. Nếu sử dụng liên tiếp ngón bịt lại tạo hiệu quả khác: biểu lộ sự cứng rắn, dứt khoát.

Có hai cách thể hiện:

– Sử dụng bàn tay hoặc ngón tay vừa gảy chặn ngay dây đàn.

– Sử dụng bàn tay, ở ngang thân ngón út chặn ngang ngựa đàn tạo ra một âm tối, đục tương tự như sử dụng hãm tiếng (Sourdine). Ký hiệu ngón bịt được ghi một chấm nhỏ ngay trên nốt nhạc chỉ âm bịt.

GS Trần Văn Khê diễn tấu Đàn Nguyệt.
GS Trần Văn Khê diễn tấu Đàn Nguyệt.

 

Kỹ thuật tay trái

Ðàn Nguyệt có tám thế bấm, các ngón được ký hiệu như sau : ngón trỏ (số 1), ngón giữa (số 2), ngón áp út (số 3) và ngón út (số 4); trong mỗi thế bấm có thể dùng 3 ngón tay (1, 2, 3) để bấm và cả ngón số 4 nữa. Mỗi nốt có thể bấm bằng một ngón, tuy nhiên khoảng cách giữa mỗi phím Ðàn Nguyệt hơi rộng ở đầu đàn nên có thể sử dụng cả hai ngón bấm trên một phím khi thể hiện các kỹ thuật nhấn, nhấn luyến. Khi bấm đàn, ngón tay trái luôn thẳng góc với dây đàn, bấm đầu ngón tay và không gãy ngón.

Ngón rung: Là ngón tạo độ ngân dài của tiếng đàn và làm tiếng đàn mềm đi ở những âm cao, âm thanh đỡ khô khan, tình cảm hơn. Dây buông cũng rung được bằng cách nhấn nhẹ ở đoạn dây sát dưới trục dây (giữa trục dây và sơn khẩu : sơn khẩu là hàng răng để dây đàn chạy luồn qua, đặt ngay ở đầu cần đàn). Ngón rung có thể ghi trên nốt nhạc hoặc không ghi tùy theo sự diễn tấu của nghệ sĩ.

Ngón nhấn: Ngón nhấn là bấm và ấn mạnh trên dây đàn làm cho tiếng đàn cao lên, có nhiều cách thực hiện ngón nhấn.

– Các âm không có trong hệ thống cung phím của Ðàn Nguyệt: muốn có âm đó, nghệ sĩ phải mượn cung phím có âm thấp hơn âm định đánh, nhấn mạnh ngón tay vào cung phím đó làm dây đàn căng lên một độ nhất định, khi tay phải gảy âm muốn có đó. Cung phím ấy gọi là cung mượn.

– Các âm có sẵn trong hệ thống cung phím: để phát huy hiệu quả diễn tấu nghệ sĩ không bấm vào cung phím chính mà bấm vào cung phím thấp hơn, nhấn lên rồi mới gảy.

Ngón nhấn luyến: là ngón độc đáo của Ðàn Nguyệt nên được sử dụng nhiều, Ðàn Nguyệt với phím đàn cao, phím này cách phím kia xa, dây đàn bằng nylông mềm mại và chùng nên dễ dàng sử dụng ngón nhấn luyến. Ngón nhấn luyến tạo cho hai âm nối liền nhau, luyến với nhau nghe mềm mại như tiếng nói với nhiều thanh điệu, tình cảm. Khi đánh ngón nhấn luyến tay phải chỉ gảy một lần, ký hiệu ngón nhấn luyến là mũi tên đi vòng lên hay vòng xuống đặt từ nốt nhấn đến nốt được nhấn tới. Có hai cách nhấn luyến

– Nhấn luyến lên: nghệ sĩ bấm một cung phím nào đó, tay phải gảy dây, tiếng đàn ngân lên, ngón tay trái đang bấm cung phím đó lại nhấn xuống cho dây đàn căng lên nhiều hay ít tùy theo ý muốn của nghệ sĩ. Ngón nhấn luyến lên có thể trong vòng từ quãng hai đến quãng bốn. Ðối với những âm ở dưới cần đàn xa đầu đàn quãng âm nhấn luyến càng hẹp hơn.

dannguyet_do4

 

– Nhấn luyến xuống: nghệ sĩ bấm và nhấn dây ở một phím nào đó rồi mới gảy, vừa gảy ngón tay nới dần ra nhưng không nhấc khỏi cung phím để sau khi nghe âm thứ nhất, còn nghe được âm thanh thứ hai thấp hơn âm thứ nhất. Âm thứ hai không do gảy mà do bấm nhấn luyến xuống, đối với âm luyến lên và âm luyến xuống không nên sử dụng liên tục với nhau vì khó đánh chuẩn xác.

Ngón nhún: Đây là cách nhấn liên tục trên một cung phím nào đó, nhấn nhiều hay ít, nhanh hoặc chậm tùy theo tính chất tình cảm của đoạn nhạc. Nhấn dài hay ngắn tùy theo trường độ của nốt nhạc, nốt nhấn láy làm cho âm thanh cao lên không quá một cung liền bậc (điệu thức ngũ cung) rồi trở lại độ cao cũ nghe như làn sóng. Ký hiệu nốt nhún chữ M hoa trên chùm vòng cung đặt trên nốt nhạc.

Ngón nhún là kỹ thuật thường sử dụng ở Ðàn Nguyệt, ngón nhún làm cho âm thanh mềm hơn, tình cảm hơn. Ở những âm cao tiếng Ðàn Nguyệt hơi đanh, khô nên cần sử dụng kỹ thuật ngón nhún cho những nốt có trường độ vừa phải, không ngân dài, chỉ nên từ một đến hai phách với tốc độ vừa phải.

Ngón vỗ: Thường dùng ngón 1 bấm cung phím, tay phải gảy đàn, khi âm thanh vừa phát lên sử dụng ngón 2 hoặc cả hai ngón 2 và ngón 3 vỗ vào dây trên cùng một cung phím liền bậc ngay ở dưới cần đàn, âm mới sẽ cao hơn âm chính một cung liền bậc (điệu thức ngũ cung). Âm thanh ngón láy nghe gần như tiếng nấc, diễn tả tình cảm xao xuyến. Ký hiệu ngón láy chữ “M” đặt trên nốt nhạc.

Ngón chụp: Tay trái ngón 1 bấm vào một cung phím, tay phải gảy dây, khi âm thanh vừa phát ra, ngón 2 hoặc 3 bấm mạnh vào cung phím khác (thường là liền bậc cao) âm thanh từ cung phím này vang lên mà không phải gảy đàn. Âm luyến nghe được do một phần của dây đàn còn chấn động, một phần do ngón tay mổ vào cung phím tạo thêm chấn động. Âm luyến nghe yếu nhưng mềm mại, ở những thế bấm cao âm luyến nghe kém vang nên ít được sử dụng. Ký hiệu ngón chụp dùng dấu luyến giữa các nốt nhạc.

Ngón láy rền: Là tăng cường động tác của ngón láy cho nhanh và nhiều hơn với sự phối hợp vê dây của tay phải. Ký hiệu ngón láy rền sử dụng chữ tắt của trille và hai gạch chéo ở trên hoặc ở dưới nốt nhạc (nếu là nốt tròn) hay trên đuôi nốt nhạc.

Ngón giật: Ngón giật là cách nhấn trên dây như ngón nhấn luyến nhưng tính chất âm thanh khác: âm được nhấn tới vừa vang lên liền bị tắt ngay một cách đột ngột, âm thanh tiếng giật nghe như tiếng nấc, diễn tả tình cảm day dứt, thương nhớ. Ký hiệu là dùng ký hiệu của ngón nhấn luyến nhưng nốt nhạc sau phải viết nhỏ và có gạch chéo trên đuôi.

– Ngón tay trái bấm lên một cung phím, tay phải gảy dây, sau khi phát ra một âm ngón bấm tay trái nhấn mạnh đột ngột làm âm thanh cao lên một độ nào đó.

– Làm như trên, nhưng sau khi ngón tay trái bấm rồi lại nới ra ngay làm cho âm thanh trở lại như cũ.

dannguyet_do9

 

Ngón vuốt: Ngón vuốt là dùng ngón tay trái vuốt đi lên hay đi xuống theo chiều dọc của dây trong khi tay phải chỉ gảy một lần hay kết hợp với ngón vê hay ngón phi. Ký hiệu của ngón vuốt là dấu gạch nối giữa các nốt nhạc. Có 3 loại vuốt

Vuốt lên: vuốt từ âm thấp lên âm cao.

Vuốt xuống: vuốt từ âm cao xuống một âm thấp.

Vuốt tự do: có 2 cách

* Vuốt từ một âm chỉ định lên bất cứ âm nào (thường không quá quãng 5)
* Vuốt từ một âm chỉ định xuống bất cứ âm nào (thường chỉ nên vuốt xuống quãng 4)

Vuốt lên âm thanh nghe rõ hơn vuốt xuống, vuốt nhanh âm thanh nghe rõ hơn vuốt chậm.

Ngón bật dây: Tay trái, ngón trỏ hay ngón giữa bấm vào một cung phím nào đó, kế tiếp dùng tay khác gảy vào dây ở ngay dưới ngón tay đang bấm để phát ra âm thanh.

Bật dây buông: sử dụng bất cứ ngón tay trái nào bật một trong hai dây buông, hay cả hai dây một lúc, ngón bật dây chỉ nên viết trong trường hợp độc tấu, không nên đưa vào bài nhạc có tốc độ nhanh hoặc nốt nhạc ở phách mạnh.

Âm bồi: có thể đánh trên tất cả các dây nhưng chỉ nên đánh trong khoảng âm giữa, âm dưới và nên đánh những âm bồi quãng tám. Cách đánh là sử dụng ngón tay trái chặn vào đoạn dây thích hợp kể từ đầu đàn trong khi tay phải gảy dây đó.

Vị trí Ðàn Nguyệt trong các Dàn nhạc

Miền Bắc Ðàn Nguyệt được sử dụng trong Hát Chèo, Hát Chầu Văn, ở miền Trung Ðàn Nguyệt gắn bó với Ca Huế và ở miền Nam Ðàn Nguyệt thường gọi là Ðàn Kìm sử dụng trong các dàn nhạc Tài Tử và Cải Lương. Ðàn Nguyệt còn tham gia nhiều Dàn nhạc Dân tộc khác như Dàn nhạc Bát âm, Dàn nhạc Lễ… khi đệm cho Hát Chầu Văn chỉ cần một cây Ðàn Nguyệt cùng với hai nhạc khí gõ…

Bốn dây Nguyệt cầm.
Bốn dây Nguyệt cầm.

BỐN DÂY NGUYỆT CẦM

(Trúc Minh)

Chỉ một đêm ngồi hầu chuyện học được bao nhiêu là thứ hay. Nhân dịp cây đàn Nguyệt 4 dây, mấy anh chỉ cho về xem phim “Mê Thảo, thời vang bóng” có cảnh đàn Nguyệt cầm đệm hát cho ca nương theo kiểu miền Bắc. Tiếng ca chưa dứt, người nghệ sĩ đã tắt hơi mà chết với mấy đầu ngón tay nhỏ máu.

Đàn Nguyệt là loại có phím cao và gắn thưa, bàn tay trái có thể nhấn, luyến, rung từng chữ nhạc. Hiện không ai khẳng định được vì sao khoảng 100 năm nay người ta lại bỏ bớt 2 dây của đàn Nguyệt đi, chỉ có thể đoán chừng đó là một sự cải biên, một chuyện bình thường trong cuộc sống. Xem những hình ảnh trên tranh tố nữ, hoặc các bản vẽ, bản khắc từ xưa vẫn thấy cây đàn tròn như mặt trăng, có 4 dây 4 trục. Hôm rồi Thầy trò có đi lên thư viện Tổng hợp TpHCM chơi, tình cờ thấy bức tranh sơn mài của danh họa Nguyễn Gia Trí, tên là “Hoài niệm xứ Bắc”, cây Nguyệt cầm sơn mài lộng lẫy trong tranh của ông có 4 trục. Đàn Nguyệt cầm mới bây giờ vẫn có 4 trục nhưng chỉ xỏ hai dây, một số tác giả cho rằng 2 trục thừa ra là để đàn “đẹp và cân đối”. Thậm hai trục “trang trí” còn được bỏ đi, hẳn người ta cũng thấy được sự thừa thãi vô lý đó.

Nhưng tại sao cần phải quay trở lại cây đàn Nguyệt cầm 4 dây? Có phải cái gì cổ là tốt? Lý do gì mà người ta bỏ đi 2 dây của đàn Nguyệt? Kỹ thuật của hai thứ đàn có gì khác nhau? Bây giờ còn nghệ nhân nào dạy không?

Có lẽ là duyên phận và vận may, mình đã thử cây Nguyệt cầm 4 dây phục dựng. Chỉ có thể nói cảm giác ban đầu là uy lực của tiếng đàn mạnh mẽ hơn rất nhiều, xứng danh là cây đàn giữ lòng bản khi hoà tấu nhạc cụ dân tộc. Nghe tiếng đàn Nguyệt, hiểu được thế nào là “Tiếng khoan như gió thoảng ngoài, Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa”…

Đàn 4 dây đã có rồi, bây giờ còn phải tìm dây tơ mắc vào cho đúng điệu người xưa chứ không dùng dây nilon nữa. Bữa ngồi hỏi vui Thầy: có khi nào người ta “cải tiến” cây đàn Nguyệt rồi, mà bây giờ thầy trò mình “cải lùi” không. Hỏi xong mới thấy mình dở hơi. Chỉ có một cách để biết mình đi đúng đường hay không, là phải làm đã.

dannguyet1

Đàn Nguyệt

I. Giới thiệu sơ lược:

Đàn Nguyệt là nhạc khí dây gảy của Dân tộc Việt còn gọi là Ðàn Kìm, Ðàn Vọng nguyệt cầm hoặc Quân tử cầm vì mặt đàn hình tròn như mặt trăng rằm nên gọi là Ðàn Nguyệt. Ðàn Nguyệt với nhiều ngón kỹ thuật độc đáo như nhấn, luyến, vê… có nhiều khả năng độc tấu và hòa tấu. Ðàn Nguyệt rất phổ biến từ Bắc đến Nam, dễ dàng sử dụng và hợp với tiếng nói của Dân tộc.

II. Xếp loại:

Đàn Nguyệt là nhạc khí dây gảy loại có dọc (cần đàn) khác với Ðàn Nguyệt của Trung Quốc ở chỗ Ðàn Nguyệt Việt Nam có dọc đàn dài hơn và hàng phím cao. Ðàn Nguyệt có 8 phím, sau này gắn thêm 2 phím là 10 phím theo hệ thống âm nhạc ngũ cung.

III. Hình thức cấu tạo:

1- Thùng đàn: hình tròn dẹt, đường kính 36cm.

2- Mặt đàn: mặt đàn làm bằng gỗ nhẹ, xốp, để mộc, thành đàn thấp khoảng 6cm làm bằng gỗ cứng, đáy đàn bịt gỗ không có lỗ thoát âm, trên mặt đàn có một bộ phận để mắc dây đàn, đồng thời là ngựa đàn còn gọi là cái thú.

3- Dọc đàn (cần đàn): dài 100cm làm bằng gỗ cứng, có gắn 7 phím đàn, còn 3 phím gắn trên mặt đàn. Các phím đàn cao, gắn cách xa nhau với khoảng cách không đều nhau, đầu Ðàn Nguyệt hơi ngã về phía sau.

4- Dây đàn: dây đàn có hai dây bằng tơ se, một to, một nhỏ, nay thay bằng nylông, thường lên dây cách nhau một quãng năm đúng và tùy theo giọng từng bài.

5- Bộ phận lên dây: có 4 trục gỗ xuyên ngang hai bên thành đàn của đầu đàn để lên dây, nhưng chỉ dùng hai trục để mắc và lên dây đàn. Sự hiện diện của 4 trục chứng tỏ rằng khởi thủy Ðàn Nguyệt là có hai dây kép (Ðàn Song Vận), về sau do nhấn không thuận tiện nên người ta bỏ bớt hai dây (kép) chỉ để một dây. Bộ phận lên dây được cải tiến để dây không bị chùng xuống.

6- Phím gảy đàn: ngày xưa nghệ nhân gảy đàn bằng móng tay dài của mình, ngày nay đàn bằng miếng nhựa với những ngón gảy, hất, phi và đặc biệt là ngón vê…kể cả những âm ngắn tạo không khí rộn ràng sôi nổi.

Vị trí nốt trên dọc (cần đàn) (Thực âm ghi so với thực tế thấp hơn 1 quãng 8)

dannguyet4

Ðàn Nguyệt lên Dây Oán (hò tư) là G – C hoặc D – G
Dây Bắc

dannguyet5

Dây Oán

dannguyet6

Dây Tố lan

dannguyet7

 

IV. Màu âm, Tầm âm:

Màu âm Ðàn Nguyệt tươi sáng, rộn ràng rất thuận lợi để diễn tả tình cảm sâu lắng. Ðàn Nguyệt có tầm âm rộng hơn hai quãng 8 từ: Ðô1 đến Rê3 (c1 đến d3) nếu dùng ngón nhấn sẽ có thêm hai âm nữa. Tầm âm có thể chia ra 3 khoảng âm với đặc điểm như sau: Khoảng âm dưới: tiếng đàn ấm áp, mềm mại, biểu hiện tình cảm trầm lặng, sâu sắc. Khoảng âm giữa: là khoảng âm tốt nhất của Ðàn Nguyệt, tiếng đàn thanh thót, vang đều, diễn tả tình cảm vui tươi, linh hoạt. Khoảng âm cao: tiếng đàn trong sáng nhưng ít vang.

dannguyet8

Ví dụ: (105-23)

dannguyet9

 

V. Kỹ thuật diễn tấu:

Tư thế ngồi và cách gảy đàn:

dannguyet10

Ngồi thấp: xếp chân trên chiếu
Ngồi thẳng: nghệ nhân đàn ngồi trên ghế, đàn được đặt ngang tầm tay, cần nghiêng khoảng 60o với thân người.
Ðứng: đàn được đeo vào vai bằng dây, nghệ nhân đàn với tư thế đứng.

dannguyet11

 

Kỹ thuật tay phải

Gảy đàn: Từ thời xưa, các nghệ sĩ biểu diễn thường nuôi móng tay dài để gảy đàn, ngày nay người ta sử dụng miếng gảy (mediato) để đàn. Ðộng tác cơ bản của tay phải là gảy xuống và hất lên được ký hiệu như sau:

a. Gảy xuống: (chữ U ngược trên nốt) b- Hất lên: (chữ V hoa trên nốt). Tuy nhiên thực tế trong các bản nhạc, động tác gảy và hất không nhất thiết phải ghi mà do nghệ sĩ diễn tấu tự xử lý.

Ví dụ: (106-25)

dannguyet12

Ngón phi: ngón phi là lối đánh cổ truyền, nghệ nhân không sử dụng miếng gảy mà sử dụng các ngón tay của bàn tay mặt, hiệu quả của ngón phi gần như ngón vê, có hai lối phi:

a- Phi xuống: là lối phi cổ truyền thường đánh trên một dây hoặc hai dây, phi xuống là vẩy nhanh các ngón tay, bắt đầu từ ngón út hoặc ngón trỏ rồi lần lượt đến các ngón tay kế tiếp.

b- Phi lên: thường đánh trên một dây, bắt đầu từ ngón tay út rồi lần lượt đến các ngón kế tiếp hất vào dây đàn. Thông thường ngón phi sử dụng 4 ngón tay của bàn tay mặt, ngón tay cái không sử dụng, nếu nghệ nhân cầm miếng gảy bằng ngón cái và ngón trỏ, thì trong kỹ thuật phi chỉ sử dụng 3 ngón tay còn lại.

Trong trường hợp nét nhạc ở cao trào, để thay đổi sắc thái âm thanh có thể sử dụng ngón phi.

Ví dụ (107-14)

dannguyet13

Ngón vê: ngón vê là gảy liên tiếp lên dây đàn, thường được sử dụng trong Hát Chầu văn, có thể vê bằng miếng gảy hoặc bằng ngón tay và vê trên một dây hoặc hai dây. Ngón vê thể hiện tính chất dồn dập, sôi nổi và có thể vê trên nốt ngân dài hoặc ngắn, giống như kỹ thuật Trémolo của đàn Mandoline.

Ký hiệu ngón vê: hai hoặc ba gạch chéo trên hoặc dưới nốt nhạc.

Ví dụ: (108-6)

dannguyet14

 

Ví dụ: (109-5)

dannguyet15

Ngón gõ: sử dụng các ngón tay phải gõ vào mặt đàn, thường được sử dụng trong lúc tất cả các nhạc khí đều nghỉ (dấu lặng) hoặc báo hiệu cho hát, cho hòa tấu hoặc điểm giữa các câu nhạc hay đoạn nhạc. Ký hiệu ngón gõ được các vạch chéo (như dấu nhân).

Ví dụ: (110-26)

dannguyet16

Ngón bịt: ngón bịt làm cho âm thanh vừa vang lên liền tắt một cách đột ngột tạo thay sự thay đổi màu âm, ngón bịt diễn tả sự u buồn, nghẹn ngào hoặc để chấm dứt một đoạn nhạc. Nếu sử dụng liên tiếp ngón bịt lại tạo hiệu quả khác: biểu lộ sự cứng rắn, dứt khoát.

Có hai cách thể hiện:

a- Sử dụng bàn tay hoặc ngón tay vừa gảy chặn ngay dây đàn.

b- Sử dụng bàn tay, ở ngang thân ngón út chặn ngang ngựa đàn tạo ra một âm tối, đục tương tự như sử dụng hãm tiếng (Sourdine). Ký hiệu ngón bịt được ghi một chấm nhỏ ngay trên nốt nhạc chỉ âm bịt.

Ví dụ (111-15)

dannguyet17

 

KỸ THUẬT TAY TRÁI

Ðàn Nguyệt có tám thế bấm, các ngón được ký hiệu như sau: ngón trỏ: (số 1), ngón giữa: (số 2), ngón áp út: (số 3), và ngón út: (số 4); trong mỗi thế bấm có thể dùng 3 ngón tay (1, 2, 3) để bấm và cả ngón số 4 nữa. Mỗi nốt có thể bấm bằng một ngón, tuy nhiên khoảng cách giữa mỗi phím Ðàn Nguyệt hơi rộng ở đầu đàn nên có thể sử dụng cả hai ngón bấm trên một phím khi thể hiện các kỹ thuật nhấn, nhấn luyến. Khi bấm đàn, ngón tay trái luôn thẳng góc với dây đàn, bấm đầu ngón tay và không gãy ngón.

Ngón rung: là ngón tạo độ ngân dài của tiếng đàn và làm tiếng đàn mềm đi ở những âm cao, âm thanh đỡkhô khan, tình cảm hơn. Dây buông cũng rung được bằng cách nhấn nhẹ ở đoạn dây sát dưới trục dây (giữa trục dây và sơn khẩu: sơn khẩu là hàng răng để dây đàn chạy luồn qua, đặt ngay ở đầu cần đàn). Ngón rung có thể ghi trên nốt nhạc hoặc không ghi tùy theo sự diễn tấu của nghệ nhân.

Ví dụ: (112-7)

dannguyet18

Ngón nhấn: ngón nhấn là bấm và ấn mạnh trên dây đàn làm cho tiếng đàn cao lên, có nhiều cách thực hiện ngón nhấn: a-Các âm không có trong hệ thống cung phím của Ðàn Nguyệt: muốn có âm đó, nghệ nhân phải mượn cung phím có âm thấp hơn âm định đánh, nhấn mạnh ngón tay vào cung phím đó làm dây đàn căng lên một độ nhất định, khi tay phải gảy âm muốn có đó. Cung phím ấy gọi là cung mượn.

Ví dụ: (113-27)

dannguyet19

b- Các âm có sẵn trong hệ thống cung phím: để phát huy hiệu quả diễn tấu nghệ nhân không bấm vào cung phím chính mà bấm vào cung phím thấp hơn, nhấn lên rồi mới gảy.

Ví dụ: (114-28)

dannguyet20

Ngón nhấn luyến: là ngón độc đáo của Ðàn Nguyệt nên được sử dụng nhiều, Ðàn Nguyệt với phím đàn cao, phím nầy cách phím kia xa, dây đàn bằng nylông mềm mại và chùng nên dễ dàng sử dụng ngón nhấn luyến. Ngón nhấn luyến tạo cho hai âm nối liền nhau, luyến với nhau nghe mềm mại như tiếng nói với nhiều thanh điệu, tình cảm. Khi đánh ngón nhấn luyến tay phải chỉ gảy một lần, ký hiệu ngón nhấn luyến là mũi tên đi vòng lên hay vòng xuống đặt từ nốt nhấn đến nốt được nhấn tới, có hai cách nhấn luyến:

a- Nhấn luyến lên: nghệ nhân bấm một cung phím nào đó, tay phải gảy dây, tiếng đàn ngân lên, ngón tay trái đang bấm cung phím đó lại nhấn xuống cho dây đàn căng lên nhiều hay ít tùy theo ý muốn của nghệ nhân. Ngón nhấn luyến lên có thể trong vòng từ quãng hai đến quãng bốn. Ðối với những âm ở dưới dọc (cần đàn) xa đầu đàn quãng âm nhấn luyến càng hẹp hơn.

b- Nhấn luyến xuống: nghệ nhân bấm và nhấn dây ở một phím nào đó rồi mới gảy, vừa gảy ngón tay nới dần ra nhưng không nhấc khỏi cung phím để sau khi nghe âm thứ nhất, còn nghe được âm thanh thứ hai thấp hơn âm thứ nhất. Âm thứ hai nầy không do gảy mà do bấm nhấn luyến xuống, đối với âm luyến lên và âm luyến xuống không nên sử dụng liên tục với nhau vì khó đánh chuẩn xác.

Ví dụ: (115-11)

dannguyet21

Ngón nhún: đây là cách nhấn liên tục trên một cung phím nào đó, nhấn nhiều hay ít, nhanh hoặc chậm tùy theo tính chất tình cảm của đoạn nhạc. Nhấn dài hay ngắn tùy theo trường độ của nốt nhạc, nốt nhấn láy làm cho âm thanh cao lên không quá một cung liền bậc (điệu thức ngũ cung) rồi trở lại độ cao cũ nghe như làn sóng. Ký hiệu nốt nhún: chữ M hoa trên chùm vòng cung đặt trên nốt nhạc.

Ví dụ (116-29)

dannguyet22

Ngón nhún là kỹ thuật thường sử dụng ở Ðàn Nguyệt, ngón nhún làm cho âm thanh mềm hơn, tình cảm hơn. Ở những âm cao tiếng Ðàn Nguyệt hơi đanh, khô nên cần sử dụng kỹ thuật ngón nhún cho những nốt có trường độ vừa phải, không ngân dài, chỉ nên từ một đến hai phách với tốc độ vừa phải.

Ngón vỗ: thường dùng ngón 1 bấm cung phím, tay phải gảy đàn, khi âm thanh vừa phát lên sử dụng ngón 2 hoặc cả hai ngón 2 và ngón 3 vỗ vào dây trên cùng một cung phím liền bậc ngay ở dưới cần đàn, âm mới nầy sẽ cao hơn âm chính một cung liền bậc (điệu thức ngũ cung). Âm thanh ngón láy nghe gần như tiếng nấc, diễn tả tình cảm xao xuyến. Ký hiệu ngón láy: chữ “M” đặt trên nốt nhạc.

Ví dụ: (117-30) Ngón láy (hò tư)

dannguyet23

Ngón chụp: tay trái ngón 1 bấm vào một cung phím, tay phải gảy dây, khi âm thanh vừa phát ra, ngón 2 hoặc 3 bấm mạnh vào cung phím khác (thường là liền bậc cao) âm thanh từ cung phím nầy vang lên mà không phải gảy đàn. Âm luyến nghe được do một phần của dây đàn còn chấn động, một phần do ngón tay mổ vào cung phím tạo thêm chấn động. Âm luyến nghe yếu nhưng mềm mại, ở những thế bấm cao âm luyến nghe kém vang nên ít được sử dụng. Ký hiệu ngón chụp: dùng dấu luyến giữa các nốt nhạc.

* lên: là bấm vào cung phím có âm thấp hơn và nhấn lên trên.

Ví dụ: (118-8)

dannguyet24

* xuống: là bấm vào cung phím có âm cao hơn nhã ra vào âm thấp.

Ví dụ: (119-9)

dannguyet25

Ngón láy rền: là tăng cường động tác của ngón láy cho nhanh và nhiều hơn với sự phối hợp vê dây của tay phải. Ký hiệu ngón láy rền: sử dụng chữ tắt của trille và hai gạch chéo ở trên hoặc ở dưới nốt nhạc (nếu là nốt tròn) hay trên đuôi nốt nhạc.

Ví dụ (120-31)

dannguyet26

Ngón giật: là cách nhấn trên dây như ngón nhấn luyến nhưng tính chất âm thanh khác: âm được nhấn tới vừa vang lên liền bị tắt ngay một cách đột ngột, âm thanh tiếng giật nghe như tiếng nấc, diễn tả tình cảm day dứt, thương nhớ. Ký hiệu là dùng ký hiệu của ngón nhấn luyến nhưng nốt nhạc sau phải viết nhỏ và có gạch chéo trên đuôi.

Ví dụ (121-13)

dannguyet27

a) Ngón tay trái bấm lên một cung phím, tay phải gảy dây, sau khi phát ra một âm ngón bấm tay trái nhấn mạnh đột ngột làm âm thanh cao lên một độ nào đó.

b) Làm như trên, nhưng sau khi ngón tay trái bấm rồi lại nới ra ngay làm cho âm thanh trở lại như cũ.
Ngón vuốt: ngón vuốt là dùng ngón tay trái vuốt đi lên hay đi xuống theo chiều dọc của dây trong khi tay phải chỉ gảy một lần hay kết hợp với ngón vê hay ngón phi. Ký hiệu của ngón vuốt là dấu gạch nối giữa các nốt nhạc, có 3 loại vuốt:

1. Vuốt lên: vuốt từ âm thấp lên âm cao.

2. Vuốt xuống: vuốt từ âm cao xuống một âm thấp.

Ví dụ: (122-10)

dannguyet28

3. Vuốt tự do: có 2 cách:

* Vuốt từ một âm chỉ định lên bất cứ âm nào (thường không quá quãng 5)
* Vuốt từ một âm chỉ định xuống bất cứ âm nào (thường chỉ nên vuốt xuống quãng 4)

Vuốt lên âm thanh nghe rõ hơn vuốt xuống, vuốt nhanh âm thanh nghe rõ hơn vuốt chậm.

Ngón bật dây: tay trái, ngón trỏ hay ngón giữa bấm vào một cung phím nào đó, kế tiếp dùng tay khác gảy vào dây ở ngay dưới ngón tay đang bấm để phát ra âm thanh.

Ví dụ: (123-32)

dannguyet29

Bật dây buông: sử dụng bất cứ ngón tay trái nào bật một trong hai dây buông, hay cả hai dây một lúc, ngón bật dây chỉ nên viết trong trường hợp độc tấu, không nên đưa vào bài nhạc có tốc độ nhanh hoặc nốt nhạc ở phách mạnh.

Ví dụ: (124-33)

dannguyet30

Âm bồi: có thể đánh trên tất cả các dây nhưng chỉ nên đánh trong khoảng âm giữa, âm dưới và nên đánh những âm bồi quãng tám. Cách đánh là sử dụng ngón tay trái chặn vào đoạn dây thích hợp kể từ đầu đàn trong khi tay phải gảy dây đó.

Ví dụ (125-16)

dannguyet31

Ví dụ (126-17)

dannguyet32

Ví dụ (127-18)

dannguyet33

Ví dụ (128-19)

dannguyet34

Ví dụ (129-20)

dannguyet35

Ví dụ (130-21)

dannguyet36

Ví dụ (131-22)

dannguyet37

VI. Vị trí Ðàn Nguyệt trong các Dàn nhạc:

Ở miền Bắc Ðàn Nguyệt được sử dụng trong Hát Chèo, Hát Chầu Văn, ở miền Trung Ðàn Nguyệt gắn bó với Ca Huế và ở miền Nam Ðàn Nguyệt thường gọi là Ðàn Kìm sử dụng trong các dàn nhạc Tài Tử và Cải Lương. Ðàn Nguyệt còn tham gia nhiều Dàn nhạc Dân tộc khác như : Dàn nhạc Bát âm, Dàn nhạc Lễ… khi đệm cho Hát Chầu Văn chỉ cần một cây Ðàn Nguyệt cùng với hai nhạc khí gõ…

VII. Những nhạc khí tương tự ở Ðông Nam Á:

Tương tự như Ðàn Nguyệt ở Campuchia có Ðàn Chạpet, nhưng cách đánh không có nhấn luyến.

oOo

Độc tấu đàn nguyệt – TRĂNG RẰM – NSUT Cổ Huy Hùng:

 

Chung một niềm tin – Xuân Khải:

 

Độc tấu đàn nguyêt – TỨ ĐẠI CẢNH – NSUT Cổ Huy Hùng:

 

Độc tấu Đàn Nguyệt – Cảm xúc quê hương – Mai Thanh Sơn:

 

Độc tấu đàn nguyệt – XÀNG XÊ – NSUT Cổ Huy Hùng:

 

Độc tấu Đàn Nguyệt – Tình Quê Hương:

 

Độc tấu Đàn Nguyệt – Tiếng đàn trên sông:

 

Độc tấu Đàn Nguyệt – Nắng Chiều:

 

Hòa Mã – Mở đầu với bài thơ Tống Biệt (Thơ Tản Đà) – NSND Thanh Hoài hát và NSƯT Thao Giang đánh đàn nguyệt, phim “Mê Thảo Thời Vang Bóng”:

 

Nhạc cụ dân tộc – Dàn nhạc nhà hát chèo (độc tấu Đàn Nguyệt bắt đầu ở phút 16:21):

 

Mời các bạn vào link dưới đây để thưởng thức:

Điệu Dọc Cờn Xá (Độc Tấu Đàn Nguyệt) – V.A.

Một suy nghĩ 25 thoughts on “Nhạc cụ cổ truyền VN – Đàn Nguyệt”

  1. Hi Lành,

    Đây là những clips của các nghệ nhân ưu tú hàng đầu của đàn nguyệt diễn tấu đấy em ạ. Nhờ có các nghệ nhân ưu tú này mà chị em mình và các bạn mới có nhạc hay để thưởng thức. Mình cùng nhau cám ơn họ em nhé.

    Cám ơn em chúc lành cho chị Hai. Bình an của Cha luôn ở cùng em.

    Số lượt thích

  2. Xin chào chị Phượng và cả nhà,

    Hôm nay đọc bài mới của ĐCN về đàn Nguyệt, em vui lắm, vì em đã mong chờ từ lúc trang nhà bắt đầu loạt vài về nhạc cổ truyền Việt Nam.

    Cùng hình dáng với đàn Nguyệt (thùng đàn tròn, có 4 trục 4 dây) còn có một số loại nhạc cụ khác. Bên Trung Quốc thì em không rõ, nhưng ở Việt Nam có đàn Đoản và đàn Tứ, ngoài ra còn có cây Nguyễn Cầm, chỉ thấy xuất hiện độc nhất trong Long Thành Cầm giả ca của cụ Nguyễn Du (ảnh minh họa diễn viên Nhật Kim Anh trong bài).

    Theo như em biết, thì tấm hình minh họa cô gái đầu tiên không phải là đàn Nguyệt được nhắc đến trong bài, vì đầu đàn không có hình lá đề, số lượng phiếm đàn và cách bố trí phiếm đàn cũng khác với những ảnh chụp thật đàn Nguyệt đang được sử dụng tại Việt Nam. Có thể do sự chung đụng văn hóa và lịch sử giữa hai nước, mà có nhiều loại nhạc cụ hình dáng tương tự nhau chăng.

    Mong được mọi người giúp đỡ thêm. Xin cảm ơn và chúc một ngày tốt lành.

    Em Minh.

    Số lượt thích

  3. Chị chào Minh,

    Chị cũng vui lắm có Minh chia sẻ. Tình thật trong quá trình soạn bài Đàn Nguyệt chị chủ ý searched tìm cho ra image Đàn Nguyệt xưa có 4 dây để minh họa trong bài giới thiệu với các bạn. Tìm mãi miết chị mới thấy chỉ có mỗi một ảnh vẽ cô thiếu nữ ôm cây Đàn Nguyệt 4 dây. Vì mừng vui làm chị quên bẳng đi các chi tiết khác của Đàn Nguyệt truyền thống VN như em đã chia sẻ. Đây là điều thiếu sót của chị. Chị đã thay ảnh minh họa trong bài cho chính xác hơn. Cám ơn em thật nhiều đã theo dỏi và nhắc nhở chị Minh nhé.

    Đàn Nguyệt của Trung Hoa cũng gọi là Nguyệt Cầm nhưng nó có 4 giây, chia thành 2 cặp, mỗi cặp có 2 sợi cùng âm. Tức là 4 giây nhưng chỉ có 2 âm. Số lượng phím thì bằng với phím trên Đàn Nguyệt của Việt Nam nhưng còn cần đàn thì lại ngắn hơn. Phần nhiều các điểm này Đàn Nguyệt của Trung Hoa giông giống như là Đàn Đoản/Đàn Tứ của VN mình. Em xem ảnh chị kèm theo bên dưới.

    Chúc Minh luôn vui khỏe, thành đạt, và nhớ cho chị thêm feedback sau này nữa nhé.

    Đàn Nguyệt của Trung Hoa
    dannguyet_A Chiness Yue Qin or moon guitar on display at the Institute of Texan Cultures, San Antonio, Texas, United States.

     

    Đàn Đoản/Đàn Tứ của Việt Nam

    Số lượt thích

  4. Xin cảm ơn chị Phượng đã giúp em tìm hiểu thêm thông tin, nhất là cách lên dây của Nguyệt cầm Trung Hoa. Rất quý đối với em. Cảm ơn chị đã dành tâm huyết và thời gian của mình để có loạt bài này. Chúc chị luôn vui với công việc của mình.

    Em xin gửi một bài đàn Nguyệt em yêu thích. Đây là một bài của nhạc Chầu văn, điệu Dọc Cờn Xá (Dọc, Cờn Sơn Trang, Xá nói tắt). Em không sống ở miền Bắc nên không rõ lắm, chỉ là nghe thấy thích nên nghe hoài.

    http://mp3.zing.vn/bai-hat/Doc-Tau-Dan-Nguyet-NSND-Van-Ty-Le-Cuong/IW6WB7E9.html

    Em Minh.

    Số lượt thích

  5. Minh ơi, được chia sẻ với em và các bạn niềm vui của chị nhân đôi vì đây là passion của chị. Chị rất yêu thích những dòng nhạc & nhạc cụ truyền thống của dân tộc VN mình. Đồng thời chị cũng rất yêu thích các loại hình âm nhạc dân gian của các dân tộc bạn trên thế giới. Cám ơn em đã chia sẽ và đồng hành cùng chị.

    Không hiểu sao link của Minh gửi không còn nghe được vì content đã bị xóa. Tiếc ghê. Minh còn có link nào khác (cùng bài) để gửi lại cho chị và các bạn nghe thì hay lắm. Chị rất muốn được nghe.

    Rất cám ơn Minh chúc lành cho chị. Luôn an vui và thành đạt Minh nhé.

    Chị Phượng.

    Số lượt thích

  6. Chị Phượng mến,

    Có lẽ do dịch vụ mạng nên đường link bị lỗi. Em gửi thêm 2 link nữa cũng là cùng 1 bài đó. Tốt nhất nên là link của youtute nhưng tiếc là em không tìm ra.

    http://nhacso.net/nghe-nhac/doc-tau-dan-nguyet-doc-con-xa.X1pVUEpfbw==.html

    http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/dieu-doc-con-xa-doc-tau-dan-nguyet-va.uhuOHf3rGjGn.html

    Em có tấm ảnh thật của đàn Nguyệt 4 dây 4 trục, nhưng chỉ là chụp cận cảnh 4 dây đàn thôi, không rõ toàn bộ cây đàn Nguyệt. Chị xem ở trang web này nhé.

    http://duyetthitrang.com/tu-lieu/n/463/bon-day-nguyet-cam.html

    Chúc chị và cả nhà một ngày vui.
    Em Minh.

    Số lượt thích

  7. Minh ơi, chị nghe được Dọc Cờn Xá ở link thứ hai rồi. Người nhạc sĩ diến tấu quá là hay. Chị cho thêm link bài này lên bài chính của chị luôn Minh nhé. Bài về cây Đàn Nguyệt 4 dây chị mới đọc sơ qua cũng thú vị lắm. Chị sẽ xem lại rồi có gì chị sẽ cho lên bài giới thiệu luôn.

    Hết sức cám ơn Minh đã theo dõi và bổ sung những thông tin quý hiếm cho chị và các bạn. Cứ được trao đổi với Minh làm chị vui ơi là vui. Thật không còn gì vui bằng khi mình có bạn đồng hành và chia sẻ. 🙂

    Chị chúc em luôn thành đạt, an vui Minh nhé. ❤ XO

    Số lượt thích

  8. Trúc Minh ơi, chị đã cho bài “BỐN DÂY NGUYỆT CẦM” và link “Điệu Dọc Cờn Xá (Độc Tấu Đàn Nguyệt) – V.A” của em bổ sung cho chị vào bài chính ở trên. Cám ơn em hổ trợ chị nhiệt thành Minh nha.

    Chị thấy tên tác giả bài “BỐN DÂY NGUYỆT CẦM” là Trúc Minh. Có phải là em không vậy? 🙂

    Bình an Thiên Chúa luôn ở cùng em & gia đình. ❤ XO

    Số lượt thích

  9. Chị Phượng mến,

    Người viết bài về cây đàn Nguyệt 4 dây là em. Hiện tại em đã phục dựng và đang tập chơi cây đàn Nguyệt kiểu xưa này với những bản Nhã nhạc Huế, có Thầy em hướng dẫn. Nhiều người đã từng nghe rằng xưa kia có cây đàn Nguyệt 4 dây, nhưng ít ai tận tay cầm đến. Vì một số hạn chế, nhất là cách lên dây kiểu xưa của đàn Nguyệt đã thất truyền, nên em chưa mạnh dạn công bố cách lên dây của em được, vẫn còn phải tham khảo thêm nhiều ý kiến của các nghệ nhân lớn tuổi. Thông tin của chị về cây Nguyệt cầm Trung Hoa đã giúp em vững tin vào suy luận của mình.

    Trên con đường này, có được nhiều người giúp đỡ, động viên, em rất cảm động. Rất cảm ơn chị, chúc chị luôn vui khỏe và hạnh phúc với công việc mình làm nhé.

    Em Minh.

    Số lượt thích

  10. Hi Trúc Minh,

    Whoa… em không thể tưởng tượng nỗi sự vui mừng của chị như thế nào khi biết được em chính là tác giả của bài “BỐN DÂY NGUYỆT CẦM” ở trên và là nghệ nhân phục dựng cây đàn Nguyệt Cầm cổ 4 dây của Việt Nam mình. 🙂

    Nghe Minh tả về âm thanh mạnh mẽ của Nguyệt Cầm 4 giây làm chị rất háo hức thèm được nghe nó. Vậy khi nào có thể Minh nhờ người thu hình cùng ghi âm lại rồi gửi cho chị để cùng chia sẻ với các bạn được không Minh? Cùng với hình ảnh cây đàn nữa.

    Việc em phục dựng Nguyệt Cầm 4 giây là một đóng góp không nhỏ cho nền nghệ thuật âm nhạc truyền thống của nước nhà và chị rất muốn giới thiệu sâu sắc một nhạc cụ cổ tưởng chừng đã bị thất truyền rộng rải đến quần chúng trong và ngoài nước. Rất cám ơn em trong công việc phục dựng này. Chính vì có được những nghệ nhân như em và thầy em, những người mang tâm huyết “cải lùi” nên bây giờ VN mới có được “BỐN DÂY NGUYỆT CẦM” để mọi người được nhìn thấy và thưởng thức. Chị chờ tin em Minh nhé.

    Chị chúc Minh luôn thành đạt trong cuộc sống. Bình an Thiên Chúa luôn ở cùng em. ❤ XO

    Số lượt thích

  11. Chị Phượng mến,

    Đọc những lời của chị, em rất vui mừng và được tiếp sức rất nhiều. Việc ghi âm tiếng đàn Nguyệt, em đã thử, nhưng chưa ưng ý nên vẫn phải đang cất kho. Sản phẩm được chăm chút tỉ mỉ, cẩn thận, người nghe sẽ cảm nhận được cái “tình” của người nghệ sĩ, âm nhạc cổ truyền mới gây được sự rung động đến người nghe.

    Hẹn chị thêm một thời gian nhé. Được chị động viên, em sẽ luôn cố gắng.

    Chúc chị luôn vui vẻ và hạnh phúc với công việc của mình.

    Em Minh.

    Số lượt thích

  12. Hi Trúc Minh,

    Anh là ông xã chị Phượng.

    Anh có cảm tưởng cây đàn nguyệt đã được cải tiến từ 4 dây thành hai dây. Vì nếu 4 dây chia thành 2 cặp đồng âm (như 4 cặp trên đàn Mandolin) thì âm có thể mạnh hơn, nhưng không thể luyến láy vân vê ẻo lã một cặp dây như là khi bấm chỉ một dây đơn.

    Cho nên anh thấy ông bà có lý do chính đáng để lấy bớt đi 2 dây.

    Số lượt thích

  13. Trúc Minh ơi,

    Em nói rất đúng. Chị hoàn toàn đồng tình với em là khi sản phẩm được “chăm chút tỉ mỉ, cẩn thận, người nghe sẽ cảm nhận được cái “tình” của người nghệ sĩ, âm nhạc cổ truyền mới gây được sự rung động đến người nghe.”

    Chị rất mong được nhìn thấy trong một ngày gần đây cây đàn Nguyệt cổ 4 dây được phục dựng của em sẽ là một nhạc cụ trình tấu chính thức trong những dàn nhạc dân tộc với cung âm và cấu trúc riêng biệt của nó.

    Về kỹ thuật 4 dây và 2 dây anh Hoành nhà chị nêu ra nghe cũng có lý lắm. Tất nhiên là cung âm của 4 dây nghe sẽ mạnh mẽ hơn chứ không thể có cung âm luyến láy ẻo lã của 2 dây như hiện nay được.

    Chị chờ được nghe tiếng đàn “Bốn Dây Nguyệt Cầm” của em Trúc Minh nghe. Chị chúc em thành công. ❤ XO

    P.S. Chị thấy em thay ảnh avatar của em rồi. Chị thích ảnh avatar kia hơn. Nhìn em rất là "nghệ sĩ". 🙂

    Số lượt thích

  14. Em chào Anh, Chị,

    Cảm ơn Anh, Chị đã làm em phải đào sâu suy nghĩ của mình hơn. Ý kiến của anh Hoành đưa ra chính là vấn đề em vấp phải khi lần đầu được cầm cây đàn Nguyệt bốn dây: quá khó để luyến láy, và người ta có lý khi cải tiến cây đàn Nguyệt thành như hiện tại.

    Em đã vượt qua vấn đề đó bằng hiểu biết trong một số lĩnh vực nhất định. Nếu suy luận có hạn hẹp và chưa vững vàng, em mong được Anh, Chị giúp đỡ thêm.

    Quan điểm của em là: cây đàn Nguyệt hai dây và bốn dây đều có ưu điểm riêng. Không nên triệt tiêu một loại nào, tùy trường hợp mà sử dụng. Việc vắng bóng cây đàn Nguyệt bốn dây, nhất là trong Nhã nhạc Cung đình, là một sự thất truyền đáng tiếc.

    Trong ban Tiểu nhạc của Nhã nhạc Cung đình Huế, đàn Nguyệt đi lòng bản, tức là giữ nhịp cho các cụ khác, nhất thiết phải mạnh mẽ, vững vàng. Hơn nữa, Nhã nhạc là nhạc lễ, cần sự nghiêm trang chứ không ẻo lả, tiếng đàn cần chân phương chứ không tình tứ.

    Đàn Nguyệt còn có tên khác là Quân tử cầm, từ xưa là một nhạc khí dành riêng cho đàn ông. Tiếng đàn Nguyệt mạnh mẽ nghiêm trang, là chỗ dựa cho tiếng ca nương hoặc tiếng đàn Tranh quấn quít. Em nghĩ lý do là vì sức tay của người đàn ông mới đủ khỏe để luyến láy dây đôi của đàn Nguyệt. Thời xưa, người ta luyện võ cùng với luyện đàn. Bàn tay mạnh thì đánh đàn mới hay, không để là đàn Nguyệt, đàn Tranh hay Tỳ Bà (cũng giống như nghệ sĩ thổi kèn, thổi sáo, hay ca sĩ thời hiện đại phải tập cơ bụng vậy). Đây là chuyện em nghe kể lại, không dám xác thực, chỉ những người kinh qua rồi mới nói được đúng sai. Em chỉ xin dẫn người nhạc sư nhất hạng ở Việt Nam, là nhạc sư Vĩnh Bảo. Ông là người có võ, tuổi gần trăm mà tiếng đàn vẫn hay.

    Trong trường hợp độc tấu, người nghệ sĩ có thể lên dây theo ý mình. Em có biết một người, vì bàn tay trái không khỏe, bà không thể chơi đàn Nguyệt nếu dây quá cứng, thì tự vặn chùng dây xuống 4 hoặc 5 cung mà vẫn độc tấu như thường, với đầy đủ các ngón nhấn, luyến, rung.

    Như vậy, không cần thiết phải cải tạo đàn Nguyệt từ bốn dây thành hai dây để mất đi tính năng đặc trưng của nhạc cụ, mất đi ý nghĩa triết lý “tứ thời bát tiết” của cây đàn Nguyệt (Bốn dây là tứ thời, tám phiếm là bát tiết, tượng trưng cho trời đất). Không đàn được, em nghĩ một phần vì người ta… không chịu khó. Hiện nay, một số người chơi đàn Nguyệt hai dây mà còn bỏ, không nhấn luyến tay trái, chỉ chạy nốt cho nhanh. Nếu còn tiếp tục không khổ luyện, thì từ mất nhạc cụ, sẽ mất luôn bài bản cổ truyền.

    Vì vậy, giữ gìn cây đàn xưa là một chuyện phải làm, ít nhất vì niềm tin riêng của em. Em cũng mong nhiều người biết đến cây đàn Nguyệt bốn dây, và mọi người sẽ tự quyết định ôm cây đàn Nguyệt nào, tùy theo sở thích và sở trường của mình.

    Em mong được chỉ bảo thêm từ Anh, Chị và mọi người ở Đọt Chuối Non. Chúc mọi người một ngày vui vẻ và luôn hạnh phúc với công việc mình làm.

    Em Minh.

    TB: Em cảm ơn chị Phượng nhiều. Khi em tập xong, nhất định nhờ chị nghe thử và nhận xét nhé. Vì hôm trước em dùng nhầm tài khoản nên hiện avatar khác thôi, chứ em không đổi.

    Số lượt thích

  15. Cám ơn Trúc Minh. Em rất có lý.

    Có lẽ có một điểm hay hay cho Trúc Minh, chị Phượng và các nhà nghiên cứu khảo sát: Nếu đàn nguyệt bốn dây có trước ở VN và được thay đổi thành đàn hai dây như mọi người nói, thì đương nhiên là đàn bốn dây cũng không bị cấm chơi, thế thì vì lý do gì mà đàn nguyệt bốn dây bị biến mất ở Việt Nam? Văn hóa âm nhạc cổ truyền của Việt Nam có điều gì làm cho mọi người không thích đàn nguyệt bốn dây và làm cho nó biến mất. Anh để ý thấy là mọi cây đàn của Việt Nam đều có âm tính rất nhẹ nhàng, tình tứ, và luyến láy thì cực kỳ tế nhị ,có thể đi theo rất sát giọng hát giọng ngâm của người Việt, ví dụ đàn bầu, đàn nguyệt, đàn đáy, đàn cò… Đàn tranh Việt Nam cũng có âm rất mềm so với đàn Koto của Nhật. Không biết là tính chất mềm mại trong âm nhạc truyền thống của VN đóng vai trò gì không trong việc đàn nguyệt 4 dây bị bỏ bê đến độ biến mất?

    Chúc Minh vui khỏe.

    A. Hoành

    Số lượt thích

  16. Hi Trúc Minh,

    Chị hoàn toàn đồng ý với em Nguyệt Cầm hai dây và bốn dây đều có ưu điểm riêng biệt và nên được sử dụng tùy theo trường hợp chứ không nên để cho “Bốn Dây Nguyệt Cầm” bị thất truyền.

    Chị có thể mường tượng được thanh âm của đàn Nguyệt bốn dây mà đi lòng bản trong ban Tiểu nhạc của Nhã nhạc Cung đình Huế sẽ phù hợp với các chương trình Nhã nhạc (nhạc lễ) trang nghiêm hay như thế nào.

    Nếu như cả hai cây Nguyệt Cầm bốn dây & hai dây cùng song tấu với nhau trong một chương trình nào đó thì sao nhỉ? Ôi chị đang háo hức chờ được nghe âm thanh của hai Quân Tử Cầm này quá xá trời luôn à.

    Ah.. chị được thấy lại avatar trước của em rồi. Chị thích ảnh này của em lắm. Nhìn em rất nghệ sĩ, an hòa và chân tình. Cám ơn em.

    Chị chờ được nghe “Bốn Dây Nguyệt Cầm” của em đó nghe.

    Bình an Thiên Chúa luôn ở cùng em. ❤ XO

    Số lượt thích

  17. Anh Hoành và chị Phượng mến,

    Như em đã trình bày, đàn Nguyệt bốn dây có vị trí và vai trò riêng, việc khôi phục nhạc cụ này trong ban Nhã Nhạc Cung đình Huế là chuyện nhất định phải làm. Nhã Nhạc đã được công nhận là di sản của nhân loại, việc phục hồi Nhã Nhạc phải đi cùng với phục hồi nhạc cụ. Không thể làm khác được.

    Để trả lời cho câu hỏi vì sao đàn Nguyệt bốn dây bị bỏ bê đến độ biến mất, anh Hoành đưa ra giả thuyết nhạc cụ này không đáp ứng đủ độ mềm mại, tình tứ thường có đối với các nhạc cụ Việt Nam khác.

    Giả thuyết của em nghiêng về lịch sử một chút. Thời điểm khoảng 100 năm trước, cả đàn Nguyệt bốn dây và hai dây được sử dụng song song: đàn Nguyệt bốn dây dùng trong cung đình, đàn Nguyệt hai dây mềm mại hơn được dùng ngoài dân gian, để đệm ca Huế, hát chầu văn và độc tấu… Cùng với sự suy tàn của Nhã nhạc cuối triều Nguyễn, và sự kết thúc chế độ quân chủ, đàn Nguyệt bốn dây dần biến mất. Chưa kể đây cũng là thời điểm ca nhạc Huế theo chân nghệ nhân vào miền Nam, được dùng trong đờn ca tài tử. Cây đàn Nguyệt hai dây bắt rễ sâu vào đời sống người dân và được dùng đến bây giờ. Sự biến mất của đàn Nguyệt bốn dây không phải vì âm thanh thiếu diễn cảm. Anh Hoành đã chỉ ra rất đúng tính chất mềm mại này của âm nhạc và nhạc cụ Việt Nam so với các nước đồng văn. Một dân tộc có nhiều nhạc cụ mềm mại, cũng không thể suy luận quy nạp rằng tất cả nhạc cụ đều phải mềm mại.

    Những điều em nói trên dù sao cũng chỉ là giả thuyết thôi. Em xin kể thêm hai câu chuyện về việc cải tạo nhạc cụ đang diễn ra.

    Thứ nhất là câu chuyện về đàn tranh mười sáu dây. Gọi là đàn tranh mười sáu dây (đàn thập lục), nhưng thực tế, nếu anh đến một tiệm bán đàn bất kỳ, tìm mua một cây đàn tranh mười sáu dây hơi khó, phần nhiều chỉ có đàn 17 dây. Từ lúc Nhạc sư Vĩnh Bảo chế ra đàn tranh 17 dây, sau đó là đàn tranh 19, 21 dây xuất hiện, kích thước ngày càng “khổng lồ” hơn, cây đàn mười sáu dây dần bị lãng quên. Bây giờ thật khó tìm được một cây đàn tranh nhỏ xinh theo kiểu xưa để một cô gái Việt Nam nâng niu. (Hiện tại theo em thấy trong Bảo tàng Lịch sử Việt Nam ở Sài Gòn, gian phòng cổ vật nhà Nguyễn, đang trưng bày một cây đàn tranh như vậy).

    Thứ hai là câu chuyện về đàn Tỳ Bà. Việt Nam và các nước đồng văn đều có đàn Tỳ Bà, nhưng hình dáng, số dây đàn, số phiếm đàn và kỹ thuật chơi đàn đều khác nhau. Nhưng có vẻ hiện nay người ta chuộng đàn Tỳ Bà của Trung Quốc hơn. Trong bài viết về đàn Tỳ Bà trên ĐCN, có một clip bài “Nhớ Huế”, trong đó sử dụng đàn Tỳ Bà của Trung Quốc, với một loạt phiếm gắn từ trên xuống dưới, kể cả phần thủy ba, kỹ thuật bàn tay phải rõ ràng cũng không phải của Tỳ Bà Việt Nam. Việc cải tạo vô tội vạ cây đàn Tỳ Bà đã được ông Nguyễn Đức Mai nhắc đến (cùng trong bài viết về đàn Tỳ Bà của ĐCN). “Nhớ Huế” mà từ nhạc cụ đến kỹ thuật đều xa lạ, thì không hiểu hồn dân tộc còn ở đâu. Việc cải tạo đàn Tỳ Bà được báo động từ rất lâu, nhưng không có kết quả gì. Mười năm nữa, khi những nghệ nhân cuối cùng đàn Tỳ Bà Việt Nam mất đi, và lớp nghệ sĩ trẻ chưa thấm hồn dân tộc trưởng thành, thì chuyện đánh mất gia tài của tổ tiên là không thể tránh.

    Quay lại câu hỏi vì sao người ta lại chọn nhạc cụ cải tạo mà không chọn nhạc cụ cổ truyền, em nghĩ có thể vì sự vô tình và vô tâm thôi, anh chị à.

    Chúc anh chị nhiều sức khỏe.
    Em Minh.

    Số lượt thích

  18. Lý thuyết về đàn nguyệt bốn dây biến mất theo sự suy tàn của nhã nhạc cung đình của vương triều nhà Nguyễn, đồng thời với sự bắt rễ của đàn nguyệt hai dây trong dân gian, đặc biệt là trong đờn ca tài tử, rất có lý. Anh chấp nhận lý thuyết này, cho đến khi có người có lý thuyết khác hợp lý hơn.

    Dù vì lý do nào đi nữa thì anh nghĩ rằng một cây đàn sống mạnh và thành phổ thông là do sự sáng tạo của người nhạc sĩ. Dù đàn nguyệt bốn dây có mạnh hơn và ít mềm mại hơn các cây đàn dây và nhạc khí hơi của Việt Nam, thì người nhạc sĩ sáng tạo vẫn có thể kết hợp tiếng đàn mạnh với nhạc khí nhẹ để tạo được những phối hợp nhiều sáng tạo, không nhất thiết phải chơi theo các kiểu truyền thống hàng trăm năm trước truyền lại.

    Chúc em thành công trong việc phục dựng đàn nguyệt bốn dây và làm nó thành phổ thông trong dân nhạc VN.

    PS: Nhân nói về đàn tỳ bà, anh thấy nhiều nơi ngày nay chơi tỳ bà bằng kỹ thuật guitar cổ điển và flamenco, chơi cả 5 ngón tay phải, kể cả tremolo và rasgueado, nghe rất phong phú nhưng anh có cảm tưởng không hay mấy, vì nó nghe như guitar nhưng lại không phong phú bằng guitar, mà lại không lấy được âm điệu dịu dàng, đôi khi nhức nhối, đôi khi bí ẩn của đàn tỳ bà.

    Số lượt thích

  19. Cô chào Cá Kho Tộ,

    Thấy tên Cá Kho Tộ của em rất gần gụi, em có phải người sinh trưởng ở miền Nam? 🙂

    Muốn học Đàn Nguyệt trước tiên em cần phải có cây đàn.

    Ở Việt Nam bây giờ có nhạc sư danh tiếng Vĩnh Bảo có lớp dạy Đàn Nguyệt. Khi nào có điều kiện em nên tìm đến học với ông.

    Tạm thời để tự học những bài căn bản có tầng lớp thì cô khuyên em nên học tập theo các bài tập trong các clips dưới đây để nắm vững các kỹ thuật nhạc lý của Đàn Nguyệt trước. Sau khi em đã nắm vững nhạc lý căn bản để làm gốc rồi thì việc học thêm và tự tạo cho em một phong cách nghệ thuật khác người sẽ không khó để thực hiện.

    Tự học đàn nguyệt p1 DVD1

    Tự học đàn nguyệt p1 DVD2

    Tự học đàn nguyệt p2 DVD1

    Tự học đàn nguyệt p2 DVD2

    Tự học đàn nguyệt p3

    Có một điều duy nhất em nên biết yếu tố để thành công là “kiên trì tập dợt”. Cô chúc em thành công theo đuổi đam mê của mình. Nhớ cho cô biết kết quả thường xuyên nghe.

    Cô Túy Phượng XO

    Số lượt thích

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s