Tiếp theo Lý Xứ Huế, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn Hò Xứ Huế. Trước hết mình có hai bài dẫn giải về các điệu hò của xứ Huế, (1) trích đoạn trong bài “Những Thể Điệu Dân Ca Xứ Huế” của Giáo sư Kiêm Thêm, (2) bài “Chữ Hiếu Qua Các Điệu Hò Miền Trung” của ông Nguyễn Đức Tăng để các bạn rộng đường tham khảo về một thể loại dân ca truyền thống VN, của kinh đô triều Nguyễn một thời, rất được người dân miền Trung ưa chuộng.
Sau đó là 5 video clips do các nghệ nhân xứ Huế biểu diễn một số các thể điệu Hò của xứ Huế. Duy chỉ clip thứ 6 là điệu Hò Tiếp Linh do một vị sư (và người phụ họa) hò trong lúc làm lễ tang cho một gia đình Phật tử.
Mời các bạn.
Túy Phượng
Hò Xứ Huế
(GS Kiêm Thêm)
Vùng đất Huế, Quảng Trị, Thừa Thiên cũ là vùng đồng bằng chật hẹp, có nhiều sông ngòi, đầm phá; nơi đây chính là chốn sản sinh hàng chục điệu hò hát, gợi lên những hương vị đặc sắc trong miền. Hò hát thể hiện trong bất cứ trường hợp nào. trên cạn thì có hò xay lúa, hò giã gạo, hò khoan, hò hụi, hò nện, hò giã vôi… trên sông, trên đầm phá thì có hò đẩy nôốc, hò mái đẩy, hò mái nhì, hò đua ghe… Nội dung những câu hò thể hiện tình cảm, động viên cổ vũ khích lệ, lại thường pha hài hước, trách móc, châm chọc. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Hò Xứ Huế→
Sau chuỗi bài Dân ca Dân nhạc miền Nam, hôm nay mình tiếp tục giới thiệu đến các bạn Dân ca Dân nhạc miền Trung. Đầu tiên mình giới thiệu đến các bạn điệu Lý Xứ Huế.
Miền Trung Việt Nam nằm ở phần giữa lãnh thổ và là một trong ba vùng chính gồm Miền Bắc, Miền Trung và Miền Nam của Việt Nam. Lịch sử Miền Trung được gọi bằng các tên khác nhau như Trung Kỳ (thời thuộc Pháp), An Nam (theo cách người Pháp gọi), và Trung Phần (thời Việt Nam Cộng Hoà). Danh xưng Trung Phần phát xuất từ việc vào năm 1949, Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam Bảo Đại cho thành lập cơ quan hành chính cấp Phần, với chức năng tương đương cấp Bộ năm 1945. Về sau, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng thường dùng danh xưng này cho đến tận khi sụp đổ vào năm 1975. Sau 1975 thì Trung Phần được gọi là Trung Bộ, Bắc Phần được gọi là Bắc bộ, Nam Phần được gọi là Nam Bộ.
Phỏng đoán cương vực Chăm Pa vào thế kỷ 10 – thời điểm rộng nhất.
Trung Bộ, ngoại trừ Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh, từng là nơi định cư của các tiểu vương quốc Chămpa (bao gồm các quốc gia Hồ Tôn, Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành (Campanagara) và Thuận Thành (Nagar Cam), độc lập được từ 192 và kết thúc vào 1832. Cương vực của Chăm Pa lúc mở rộng nhất trải dài từ dãy núi Hoành Sơn ở phía Bắc cho đến Bình Thuận ở phía Nam và từ biển Đông cho đến tận miền núi phía Tây của nước Lào ngày nay.) Vì vậy đặc điểm căn bản văn hoá vùng miền chủ yếu mang dấu tích của văn hoá Chămpa. Nhiều di sản văn hoá hữu thể còn tồn tại từ thời đó đến nay như tháp Chăm ở Huế, tháp Đôi Liễu, Cốc Thượng, Núi Rùa ở Quảng Nam, Đà Nẵng được xem như những đại diện tiêu biểu cho các giai đoạn phát triển nghệ thuật và kiến trúc đối với lịch sử của nền văn hoá Trung Bộ.
So sánh với 2 vùng Bắc Bộ và Nam Bộ thì Trung Bộ thể hiện rõ nét là một vùng đệm mang tính trung gian. Nơi đây phần nào đã chịu sự ảnh hưởng từ các yếu tố tự nhiên là núi non, biển, sông ngòi, các đầm và đồng bằng, vào trong các thành tố văn hoá vùng. Thể hiện qua các loại hình văn hóa, tập tục xã hội nói chung và cuộc sống trong các làng, xã đồng bằng ven biển nói riêng. Các làng nghề nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công, có hoạt động đan xen, hỗ trợ nhau. Điển hình là các ngày lễ cúng đình của làng nghề nông nghiệp và đồng thời là lễ cúng cá ông của làng nghề đánh cá, phần do vùng Trung Bộ gồm có những tiểu đồng bằng nhỏ hẹp, bám sát vào các chân núi ven biển.
Tuy văn hóa Trung Bộ có những đặc điểm riêng biệt với các vùng khác, nhưng xuất phát từ hệ thống địa lý liền một dải, lại có mối quan hệ tương hỗ giữa các vùng miền trong lịch sử phát triển nên vừa có tính đặc trưng lại vừa tương đồng với nền văn hoá chính thể.
Dưới đây mình có bài “Những Thể Điệu Dân Ca Xứ Huế” của giáo sư Kiêm Thêm, và 10 clips tổng hợp một số các bài “Lý” tiêu biểu của vùng đất thần kinh để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.
Âm nhạc Huế thường được phân chia ra làm ba loại: nhạc cung đình dành cho những hội lễ trong cung điện nhà vua, nhạc tôn giáo được trình diễn trong những tế lễ diễn xướng đình, chùa, miếu vũ và nhạc dân gian (dân ca). Nguồn nhạc dân gian tại Huế bao gồm những điệu hò, điệu lý, những bài vè, những bài hát chầu văn. Trong âm hưởng và nội dung, dòng âm nhạc cổ điển Huế và dân ca Huế thường những những quan hệ mật thiết với nhau; chính những thể điệu và nội dung dân ca cũng đã góp phần không nhỏ vào sự hình thành và phát triển của nhạc cổ điển Huế.
Vùng đất Huế, Quảng Trị, Thừa Thiên cũ là vùng đồng bằng chật hẹp, có nhiều sông ngòi, đầm phá; nơi đây chính là chốn sản sinh hàng chục điệu hò hát, gợi lên những hương vị đặc sắc trong miền. Hò hát thể hiện trong bất cứ trường hợp nào. trên cạn thì có hò xay lúa, hò giã gạo, hò khoan, hò hụi, hò nện, hò giã vôi… trên sông, trên đầm phá thì có hò đẩy nôốc, hò mái đẩy, hò mái nhì, hò đua ghe…Nội dung những câu hò thể hiện tình cảm, động viên cổ vũ khích lệ, lại thường pha hài hước, trách móc, châm chọc.
Hò mái đẩy:
Hò mái đẩy là một trong những điệu dân ca thịnh hành nhất cà cư dân vùng Thừa Thiên -Huế. Lọai nầy thường được hò lên trong những khi thuyền chở nặng, phải vượt qua được những cơn sóng gió lớn, qua thác, xuống ghềnh, những quảng đầm phá hiễm nghèo trong nghề đi sông hay đi biển.
Do phải làm thêm chân sào lớn và mạnh để có thể chống đẩy, ngoài ra, phải ra sức để đẩy mạnh tay chèo, cho nên nhịp điệu của lối hò nầy phải mạnh mẽ, chắc nịch. Những khoản ngân cũng ngắn hơn, lời lẽ cũng mạnh mẽ, hùng dũng.
Nội dung của thể điêu dân ca nầy thường gồm có những câu châm chọc, chế riễu. Có khi chỉ trích, bắt bẻ nhau từng lời, từng ý. Những câu thường hò như là:
– Mình anh cả chống lẫn chèo, Không ai tát nước, đỡ nghèo cho anh.
Hay là:
– Hò lên, hai mái song song, Phải cam, cam ngọt, phải bòng, bòng chua.
Những đoạn ngắt câu ngắn, mạnh, như chát chúa trong lời hò.
Hò mái nhì:
Nếu hò mái đẩy, mạnh, khoẻ, hùng bao nhiêu thì loại hò mái nhì khoan thai, tình điệu bấy nhiêu. Hò mái nhì cũng là điệu hò nổi tiếng của đất thần kinh, vang vọng khắp bến nước sông Hương, từ đồi Vọng Cảnh, đến Ngã Ba Sình, phá Tam Giang, vùng Cầu Hai, Nước Ngọt.
Hò mái nhì thường là điệu hà tình tứ, lời thơ ngọt ngào, mặn mà. Nhịp điệu của lối hò mái nhì thường ngân vọng, dàn trải rộng ra,chậm rãi, khoan thai, đưa theo mái chèo và chân đưa ra theo. Người chèo lái xướng lên, thì người chèo mũi họa lại; nguời chèo mạn bên nầy xướng thì người chèo mạn bên kia họa lại. Hơi đưa hơn ngân vang, rối cao vút lên, thì chỉ có lối hò mái nhì ở Huế mới có được.
Cũng có thể so sáng với giọng ngân của lối hò Đồng Tháp, nhưng giọng Huế thì êm dịu, đài trang hơn. Những nhà ngữ học khi phân tách hò mái nhì thường ca ngợi lời văn vẻ, giọng trữ tình vốn sẵn của hò mái nhì. “Hò mái nhì chỉ có những câu ân tình, hò hẹn, nhớ thương, trách móc thở than, chứ không có những lời đố đá, châm chọc, hài hước…” (Lê văn Hảo). Nếu so với những thể điệu dân ca khác, thì những điệu hò mái nhìtại Huế thường được gói ghém những tình ý ngọt ngào, duyên dáng, dịu nhẹ hơn cả. Phải chăng đây là nét đặc thì của tâm Huế.
Hò giã gạo:
Hò giã gạo rất thịnh hành trong sinh hoạt nông thôn. Loại hò nầy dùng nhiều thể thơ dân tộc để đối đáp, thường diễn ra chung quanh cối gạo nơi làng xóm. Tại Huế, trước khi tổ chức hội lễ, cúng tế,cần nhiều gạo nếp, thì hò giã gạo tập trung nhiều trai gái trong làng. Thậm chí những đoàn người thích hát từ những làng khác cũng hẹn nhau đến tham dự giã gạo. Mỗi cối gạo thường chỉ từ ba đến bốn người, nam hay nữ, và nhiều lúc có đến hàng ba bốn cối gạo, châu tuần quanh nhau, để có thể hát đối đáp nam nữ. Nhìn chung, hò giã gạo được xem là loại sinh họat vừa lao động vừa hát hò.
Trình tự của một buổi hò giã gạo được tổ chức như sau: – Mở đầu là những câu hò mời hò chào hỏi, giới thiệu, đưa duyên. – Tiếp đến chuyển qua những câu hát ân tình để hò hẹn, mời mọc. – Có khi dùng những câu hò đố, hò đâm bắt… như để thử thách tàinăng ứng đối của đôi bên. – Cũng có thể là hò chuyên về một câu chuyện, nhân đó, thông qua nội dung, chen vào những lời gửi gắm, hẹn hò.
Nội dung thường mượn là: Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai, Lưu Bình Dương Lễ, Thoại Khanh Châu Tuấn, Tống Trân Cúc Hoa. Cũng có thể kể tâm sự của kẻ tôi tớ, làm hầu, ăn xin, lính mộ, đánh bạc… Trong những câu chuyện, hai bên dùng lý để bắt bẻ nhau. Tuy nhiên vẫnphải dùng câu hò, điệu thơ ăn khớp, bóng bẩy. – Kết thúc: là những câu giã từ, hẹn lần sau, bày tỏ tâm tình xa cách.
Trong sinh họat, hò giã gạo thường tạo không khí hào hứng, rộn ràng hơn cả. Hò giã gạo mang tính chất tập thể. Người tham dự hòphải được rèn luyện để đối đáp. Phải biết cách dùng chữ khôn ngoan, khôn khéo, tinh vi để tấn công.
Hò chuyên nghiệp: Trong nhiều làng có những tay hò chuyên nghiệp. Chẳng hạn như trường hợp những tay hò kiệt chúng kiểu “ông Thiềm, bà Biên”. Hò giã gạo có lớp vế kể, vế sô,lớp vế trống; cũng như loại hò mái nhì, có hò cái và hò con trong trường hợp có nhiều người giả gạo. Trong hò giả gạo thường có từng cặp trai gái được xếp đặt kề bên nhau và cũng được chọn lựa từ trước như cuộc hẹn hò, trong việc đối đáp.
Hai bên phải thật khéo léo trong những câu đáp và trả lời, vì giã gạo thường có nhịp điệu nhanh và những câu hỏi vấn thì nhiều khi khó đáp. Ở Huế và Thừa Thiên, sau khi mùa màng gặt xong và thời tiết tốt thì trai gái làng nầy đua nhau sang làng kia để hát giã gạo. Không phải chỉ một cối gạo mà có khi đến ba bốn cối gạo. Từ những chuyện hò giã gạo đối đáp, đi đến chuyện tình duyên là thường tình.
Hò nện
Khi họ làm việc thì có những loại hò hụi tức là hònện của những người thợ đắp nền nhà, dùng những loại vồ khác nhauđể đập đất, cũng để đánh nhịp:
Hụ là khoan là hụ là khoan – Là hụ là khoan, là hụ là khoan – Chim khôn Hụ là khoan – Đậu nóc nhà quan Hụ là khoan -Trai khôn tìm vợ – Hụ là khoan – Gái ngoan tìm chồng – Hụ là khoan – Ở chốn ba quân… – Ô khoan là khoàn, hù là khoan…
Thông thường thì dùng loại thơ lục bát được ngắt chia ra từng đoạn hai phần, xem kẻ vào là những đoạn “hụ là khoan”. Loại hù nện trong trường hợp diễn tả nầy (theo tiếng chày vồ đập mạnh) rất mạnh mẽ, đồng thời cũng rất nhanh, thường do những người đàn ông vừa đập mạnh vồ vừa ca hát.
Hò thai:
Thai nghĩa là thai đố. Những người sáng tác ra những câu thai thường là nho sĩ, có học thức vững và tham hiểu nhiều, nhất là trong tục ngữ, ca dao. Có những câu thai vốn có từ trước; nhưng cũng có nhiều câu mới sáng tác ra cho nên rất khó trả lời. Hò thai không phải theo nhịp điệu, mà chỉ để dùng trong những khi nhàn hứng. Cũng có những người dùng loại bài thai để bày ra lối chơi cờ bạc. Hò thai trong những trường hợp nầy có ý nghĩa tương tự như hát bài chòi (Bình Định). Bài Thai về “tên của những con bài” trong khi chơi bài ghế hay bài chòi như sau:
Chơi Xuân gặp lúc e hè, “Ông ầm”, “Thái tử” đưa “xe” qua đò. “Lục chuôm” làm bạn “cửu chùa” Bán con “lá liễu” mà mua “nhất trò”. Nghiêng tai nghe nhặt “sưa” hò, Nâng niu “bạch tuyết”, nỏ lo chi “nghèo”. Tai “voi”, “đỏ mỏ” chạt theo, “Cột nọc” trăng gió, thả lèo “tám giây”. Đêm khuya “tứ cẳng” tới đây, Bên nớ “hai trạng” bên nầy “trạng ba” Sự tình “gà” mới gáy ra, “Gối” đầu trên “rốn”, “ngủ” mà thiu thiu. “bát bồng”, “nhị đấu” mĩ miều, Thợ cưa “một mắt” đánh liều chơi tiên. Bên nớ đã có “tám tiền”, Bên ni “tám mảng” đánh liền “thắt” lui.
Hò ô và hò đạp nước:
Loại nầy thường được dùng trong khi đạp nước vào ruộng. Trong trường hợp nầy thì người đạp nước không phải theo một nhịp điệu nào cả, khi khoẻ thì đạp nhanh, khi mỏi mệt thì đạp chậm hơn. Đây cũng là loại thơ lục bát được chia làm hai phần: phần dành cho hò cái và phần dành cho hò con. Tiếng hát thường là chậm và dùng nhiều tiếng đệm ơ..a..êhay ô..ồ..hợ.
Hò nện vôi:
Hò nện vôi là một loại hò nện nhưng mang tính chất chắc khoẻ hơn, tiết tấu lại dồn dập, khẩn trương. Khi đâm vôi, mỗi cối có khoảng 4 hay 5 người. Một người “thợ hò” đứng bên ngoài, tay cầm đôi sênh, đánh nhịp cho đều với tiếng chày giã vôi. Người thợ hò hô lên một câu và đánh môt tiếng sênh, thì tất cả mọi người đứng bên các cối đều giơ chày lên, thợ hò đánh tiếp tiếng sênh thứ 2, thì mọi người đều xô “là hô hồ khoan” và cùng nện chày đồng loạt xuống cối vôi.
Thợ hò lại tiếp và đánh sênh tiếp lần thứ 2 thì mọi người đều giơ chày lên… cứ như thế mãi. Nhịp điệu mỗi lúc một khẩn trương thêm cho đến khi nào vôi đã được quánh lại thì mới dừng nghỉ. Thợ hò xướng lên:
– Ai mà (nì), Tất cả đều xô: – là hô hồ khoan – Lợp miếu thiếu tranh, – Là hô hồ khoan .- Lợp đình (mà) thiếu ngói (nì – Là hô hồ khoan – Xây thành thiếu vôi – Là hô hồ khoan.
Hò nàng Vung:
Hò nàng Vung được dựa theo một thiên tình sử nổi tiếng tại Huế: Chuyện O Hiên, trò Siêu. Trò Siêu người làng Thanh Lương, huyện Quảng Điền (Thừa Thiên – Huế) mồ côi cha từ thuở nhỏ, được người mẹ tảo tần nuôi dưỡng, cho ăn học để nên người có địa vị trong xã hội. Trò Siêu thành công trong giai đoạn đầu của việc dùi mài kinh sử; nhưng cũng trong khi đó, trò Siêu làm quen và yêu thương một cô gái làng Phú Bài, huyện Hương Thủy tên là cô Hiên.
Nàng là con một gia đình giàu có, địa vị. Siêu được cô Hiên đáp tình lại, tuy nhiên gia đình nàng lại khinh Siêu nghèo khó, chưa đạt đến đường công danh họan lộ, nên cương quyết cắt đứt mối tình, và đem nàng gã cho một nơi môn đang, hộ đối.
Siêu và Hiên tìm cách để vượt qua khó khăn, bèn tìm kế. Chàng về thưa với mẹ mình, được chính thức hoá mối tình, bằng cách đem trầu rượu sang nhà song thân cô Hiên để xin làm lễ hỏi. Cha mẹ Hiên thấy mẹ trò Siêu sang, đoán biết được mọi chuyện, xua đàn chó dữ của mình ra cắn. bà mẹ Siêu què chân. thất vọng và xấu hổ, cam tội bất hiếu, trò Siêu đã tìm nơi vắng vẻ thắt cổ chết.
Nàng Siêu nghe chuyện đau đớn vô cùng, tìm đến gặp xác người yêu, chính nơi mà họ thường hò hẹn, rồi thắt cổ chết theo chàng.
Chuyện O Hiên, trò Siêu trở thành đề tài sáng tác của nhiều nghệ nhân hò hát. Trong các điêu hò nầy, trình tự và nội dung tương ứng trong từng đoạn của chuyện kể. Nổi tiếng nhất là “hò nàng Vung” (cô Hiên).
Trên chiếu hò nàng Vung, nữ nghệ nhân đóng vai nàng Vung, đồng thời cũng là O Hiên. Còn vai trò Siêu thì do những nam thanh niên giỏi hát xướng trong vùng dự vào cuộc hò đảm nhận.
Diễn viên nam vai trò Siêu cất tiếng hát:
Tại vì: thầy mẹ bên em phụ khó, tham sang,” Mẹ của anh không vay lúa, nỏ (chẳng) tạm vàng,” Hô vàng, hô vện, hô đốm, hô khoang…” Một đàn chó dữ cắn mẹ anh què!” Bận nầy hổ thẹn với thế gian!” Anh đi tự vẫn, bỏ nghĩa tam cang không đền!”
Diễn viên nữ trong vai O Hiên đáp lại như sau:
-“Xin chàng hãy dằn lòng tự ái,” Thiếp dang tay níu lại, khoan, khoan!” Chàng đưa ngực thiếp vuốt, cho hạ chín lá gan,” Nhất mẫu, nhất tử, chàng đòi tự tử, bỏ mẫu từ ai nuôi?”
Diễn viên nam nhân đó tha thiết hơn:
“Anh mong Hiên, thấu tình, cạn lẽ,” Sống dương trần, anh không mất lòng đứa trẻ,” Lỡ thác rồi, em có nhớ:” Tình chồng, nghĩa vợ, thì hãy nuôi lấy mẹ già thay anh!
Khi hình ảnh của trò Siêu ngã sấp xuống, thì O Hiên đáp lại:
-“Hỡi anh ơi!” Chẳng thà ta thác có đôi,” Không thà anh thác, em ngồi chịu tang?” Đây sơi dây mây, xin vái Thiên Hoàng,” Cho tôi theo kịp gót chàng thủy chung…”
Chuyện tình O Hiên, trò Siêu đến đây là trọn vẹn phần diễn xướng.
Ngay khi đó, nàng Vung chuyển sang vai khác, để hò hát nỗi lòng uẩn khúc của mình. Về phần những người tham dự bên ngoài, cũng đã thâm nhập vào cuộc diện của hai người, hát khẩn nài hồn linh thiêng của Nàng Vung như sau:
“Sai nàng Vung:” Nàng Vung: đánh trống lung tung,” Ba hồn, chín vía nàng Vung hãy -về!”- Dẫu mà đi chợ xa quê,”- Cũng xin nàng về mà nhập vô Vung.”- Vung đất khác thể Vung đồng,”- Cơm cha, áo mẹ, xây Vung cho tròn.” -Một mẹ sinh đặng ba con,”- Lưng eo, vú xách, hãy còn như xưa.”- Bà Ân, bà Quán cây dừa,” Ăn no, tắm mát, ngồi chờ nàng Vung.”- Nàng Vung! Ơi hỡi Nàng Vung!”- Có thương, có nhớ, thì vùng mà lên!” Lên trời, che đám trăng lu,” -Che lọng, che dù, chớ để nghênh ngang.”- Mặt trời đã xế mái trang,”- Hồn xiêu, phách tán, Nàng Vung cũng về…”
Hò mái xấp:
Loại nầy dùng cho những người chèo thuyền, cũng như hò mái nhì và hò mái đẩy. Mái đẩy có nghĩa là dùng chèo lướt mạnh để đẩy cho thuyền đi tới nhanh. Hò mái xấp cũng có ý nghĩa tương tự, vì sấp hay xấp có nghĩa là quay ngược chèo để đẩy tới cho thật nhanh.
Hò đưa linh Quảng Bình:
Đưa linh là tiễn đưa linh hồn của người quá cố qua bên kia thế giới. Những thể điệu về đưa linh thường là giọng bi thương, não nùng, tha thiết, gây cãm xúc thương nhớ.
Thể điệu: Hoà đưa linh thường sáng tác theo điệu ngũ ngộn trong những đoạn tự sự và lục bát trong những đoạn tình cảm. Câu cuối của khổ thơ được lặp đi, lặp lại hai ba lần và mỗi khổ thơ là một câu hò trình bày một nội dung đầy đủ.
Nội dung: Trong nội dung của một buổi hò đưa linh có thể nhiều câu hỏi , tức là nhiều khổ thơ đi liền nhau làm thành một chương đoạn ghép lại với nhau, tuy nhiên toàn thể làn điệu của một bài đưa linh thì không thay đổi.
Thành thử, trong khi đưa đám tang mà có hò đưa linh (trong buổi tế hay khi lên đường) mà khi nghe điệu hò đưa linh của những đoàn hát chuyên ngành, thì những người tham dự tiễn đưa sẽ phải liên tục cảm hoài, buồn thương không dứt.
Hò đưa linh – chèo cạn ở Thừa Thiên
Khác với hò đua linh Quảng Bình, đây là một hệ thống diễn xướng, gồm các điệu múa, hường, ngâm hát, hò, lý, liên tiếp nhau. Cũng như trên thể hát nầy để trình bày trước quan tài, khi đưa ngườiquá cố đến mộ và khi sắp hạ huyệt.
Theo ý nghĩa chung, thì đây là cách tiễn đưa linh hồn của người chết về cõi âm với tất cả niềm hoài cảm của những kẻ thân thương.
Thể điệu: Trong một buổi hò đưa linh – chèo cạn thường gồm các hình thức: hát nam linh, hường (một kiểu nói lối nhưng mạnh hơn,dài hơn và chặt chẻ bi thương hơn), hát bắt bài (tùy cảm hứng nói lái đưa linh, lý đưa linh và hát lui thuyền (gồm có: điệu lý ta lý và điệu hò chèo thuyền).
Phần kết thúc, thông thường là hò nện và đọc vè.
Nhạc điệu: Hò đưa linh của vùng Thừa Thiên và Quảng Trị được hò khi thì theo ngũ cung đúng, khi thì hò theo ngũ cung hơi namgiọng ai.
Nội dung: bất cứ một bài đưa linh – cửa cạn nào cũng phải được thể hiện tâm trạng đau thương thống thiết của người còn sống đối với người đã khuất. Ngoài ra, phải có những chi tiết thích hợp cho hoàn cảnh gia đình của họ trong giai đoạn vĩnh biệt nầy.
Tổ chức: trong một buổi hò đưa linh tại Huế, dẫn đầu của đoàn là kép chủ diễn, thường mang y phục như một kép diễn tuồng; theo sau là 12 chèo con, y phục giống nhau như binh phục lính thú đời xưa; sau cùng là người lái, chỉ khoác y phục bình thường.
Chèo cạn: tại làng Tùng, xã Vĩnh Giang, phủ Vĩnh Linh, tỉnh QuảngTrị có đội chèo cạn chuyên nghề. Đội nầy gồm có: cai tùy, caitấu, một dàn bát âm gồm sáo, nhị nguyệt, kèn sô-na và một tốp 12 thành niên trai khoẻ mạnh.Lễ hò đưa linh tại đây thường tổ chức ngay trước quan tài và khi đưa quan tài đến huyệt.
Lý:
Trong những thể dân ca Huế, điệu lý thường được nói bên cạnh những điệu hò và điệu vè. Điệu nầy có phải là lối ca nhạc dân gian hay mang tính chất bác học. điều nầy, cho đến nay vẫn còn trong vòng tranh luận. Thậm chí một số lại nhấn mạnh đến tính “hai mang”, vừa dân gian, vừa bác học.
Theo nhạc sĩ Phạm Duy, thì “Người miền Trung gọi lý là bài hát quê mùa (lý = làng), so với ca Huế vốn là sản phẩm của giới phong lưu (hoàng phái, nho sĩ, quan lại).
Ngoài lý giao duyên là thơ bảy chữ hát với câu đệm, câu láy, tất cả những dân ca ở hai miền Trung và Nam mà không phải là hò thì được gọi là lý” (Đặc khảo về dân nhạc Việt Nam- 1972- trang 81). Những danh xưng về loại lý trong một số bài cũng mang tính chất bác học: lý Giang Nam, lý Hoài Nam, lý Tiểu Khúc, lý Tử Vi, lý Mã Ô, lý Dạ khúc, lý Quỳnh Tương, lý Vọng Phu…
Lại có ý kiến khác như tác giả Văn Lang trong “Ca Huế và ca Kịch Huế” – 1993 – đặt vấn đề: Có người đặt câu hỏi: Lý là gì? Có phải là những bài ca được sáng tác dưới triều Lý? Không phải thế, “lý” ở đây là “ca lý”. Lý có nghĩa là “hát”.
Trước kia đã có câu nói “Chiêm Thành ca lý đa ai oán”. Như vậy, lý có nghĩa là hát, một loại hát ngắn gọn. Từ trước đến nay, một số nhà nghiên cứu cho rằng: Lý là dân ca (lý, hò, vè dân ca vùng Bình Trị Thiên).
Nhưng quan niệm đó đã không vững chắc. không riêng gì Huế, tại miền Nam điệu lý cũng thịnh hành và đa dạng: lý Con mèo, lý Con cua, lý Cây chuối, lý Dừa tơ, lý Mù u, lý Bánh ít, lý Bánh canh, lý Nàng dâu, lý Chú Chệt… tất cả đều là dân ca thuần túy. Thành thử không thể nhầm lẫn giữa các điệu lý tại Huế và điệu lý của những địa phương khác được. Những nhà nghiên cứu khi trình bày tính chất dân ca trong thể lý thường nêu ra những đặc tính như sau:
(a) Trước hết, hệ thống các điệu lý được phổ nhạc, theo những lờithơ lục bát. Thành thử, thể điệu nầy gần gủi với dân ca. Chứng cớlà một số nhạc phẩm hiện nay được sáng tác theo âm điệu của dânca nầy).
(b) Trong thể lý, bài bản thường ngắn gọn. Mỗi điệu lý chỉ có 2 vế: vế trống và vế mái. Vế trống có âm cao, vế mái có âm trung và âm thấp.
Những đọan lý thường nối tiếp nhau, có khi chồng chéo nhau. Một số tác giả khác thì cho rằng: lý từ địa hạt của lối hát giao duyên, hát chơi nhảy, rồi từ đó nhảy vào ca Huế. (Theo Phạm Duy – Sđd)
Thông thường, trong lúc hát chơi, bất cứ câu ca dao nào được ưa thích cũng được đưa vào thể lý một cách dễ dàng. Khi so sánh hò và lý, có tác giả so sánh: nếu hò là dân ca lao động thì lý lại là nhũng khúc dùng trong lúc vui chơi, gặp gỡ giữa những đôi trai gái. Lý thường dùng để giải bày tâm sự, diễn tả nỗi niềm, trạng thái tâm hồn thay đổi của mình.
Khác với hò, là những giai điệu còn mang nhiều tính chất tự do, phóng khoáng, thì thể lý là những giai điệu khá hoàn chỉnh, cố định. Mỗi điệu lý thường mang tính chất riêng biệt, khi thì mang vẻ tình tứ, tha thiết, có khi lại buồng thảm não nùng. Cũng có khi nói lên niềm phấn khởi vui tươi, nhưng cũng có thể nói lên khía cạnh tâm tư của con người.
Như đã trình bày ở trên, lý nguyên nghĩa là quê mùa, để đối lại với lối hát cung đình giành cho vua chúa thưởng thức tại Duyệt Thị Đường trong Hoàng Thành. Bài lý lúc đầu chỉ là những câu thơ lục bát (2 câu) và bất cứ câu thơ nào cũng có thể chuyển sang điệu lý cả. Nhan đề của bài lý rút ra một số chữ trong bài ca dao đó.
Lý Con Sáo:
Lý Con Sáo là điệu lý thịnh hành nhất của xứ Huế. Nhiều tác giả nhắc đến lý Con Sáo tại Nam Trung Phần và Nam Phần, nhưng lại xemlà những điệu lý vay mượn từ lý Con Sáo ở Huế, với ít nhiều biến thể cho thích hợp với làn điệu của địa phương.
Bài lý Con Sáo là một trong những trường hợp điển hình của sự biến thể của từng vùng khác nhau. Biến thể đây được hiểu theo hai nghĩa: – Cách ngắt câu – Cách thêm những tiếng đệm.
Nguyên thủy đây là bài ca dao thượng lục hạ bát:
Ai đem con sáo sang sông, Cho nên con sáo sổ lồng bay xa.
Những người dân vùng Thừa Thiên và kinh thành Huế thì hát như sau:
Ai đem con sáo sang sông,Để cho, (để cho) con sáo,(Ơi người ơi), Sổ lồng, (ơi người ơi) Bay xa…
Khi bài lý nầy được đưa vào vùng Quảng Nam (và Quảng Ngãi) thì lại không còn giữ lại cách ngắt câu và những tiếng đệm như giọng hát ở vùng Huế và tỉnh Thừa Thiên nữa:
Ai đem con sáo (tình bạn) sang sông (Ứ ư, ư ư, làm răng?) Để cho, (để cho) con sáo (Ứ ư, ư ư), Để cho (để cho) con sáo sổ lồng bay xa (Ứ ư, ư ư làm răng?) Để cho, (để cho) con sáo sổ lồng bay xa…
Một khi bài lý Con Sáo được đưa vào Nam và chuyển theo thể hát thuần túy của địa phương thì lại được biến thể điệu như sau đây:
Ai đem con sáo, (Ai sông rồi lại) sang sông? (Kià kia, kía kia, kìa kia) Để cho (nọ) con sáo (ơi) (sô) sổ lồng, nó bay…
Những lối thêm những tiếng dặm nầy không theo một quy luật nhất định. Miễn là cho thuận tai và mọi người công nhận, thì tự nhiên sẽ được phổ biến. Đây là nguyên tắc “thuận lời chứ không thuận lý” mà nhiều loại dân ca đã vâng theo.
Những nhà phân tách dân ca thường gặp khó khăn trong phân loại và tiêu chuẩn hoá, để rồi phải rút ra từng kết luận riêng rẻ của từng bài mà thôi… Lý Con sáo có nhiều thể hiệu riêng: lý Hoài Xuân, lý Tình tang, lý Giang Nam, lý Thầy Tu…
Lý Hoài Xuân
Một trong những thể điệu của lý Con sáo là lý Hoài Xuân: Trong nguyên nghĩa lý Hoài Xuân là thơ tưởng nhớ tuổi xuân xanh của những người đã luống tuổi; nhưng trong thể lý của đất Huế, thì bài lý nầy dùng để khuyên học trò:
Ơi trò đi học nhà trường, Phải chăm (phải chăm) mà bước, (Ơi trò ơi), Kẻo đường (Ơi trò ơi) Còn xa…
Dần dà về sau thì những bài thơ lục bát được dùng trong loại lý đã gia tăng nhiều, nhưng vẫn giữ được mức độ cân bằng của Lục bát đơn thuần.
Bài lý Mười Thương (còn gọi tên là lý Tình Tang) chứng minh điều đó:
Một thương tóc bỏ đuôi gà, Hai thương, hai thương, ăn nói, Ô tang, ố tang, tình tang, Mặn mà, duyên, có duyên, Ô tang, ố tang, tình tang, Mặn mà, duyên có duyên… Ba thương…
Cứ như thế trình bày cho hết mười thương.
Lý Tình Tang:
Thể điệu lý Con sáo khác là lý Hoài Xuân. Nếu trong bài lý Con Sáo tại vùng Huế và Thừa Thiên có thêm những câu dặm theo “Tình, Tình Tang” thì không còn tên như cũ, mà lại đổi thành là lý Tình Tang. Điều nầy cho thấy rõ là những bài lý đã dung hợp được nhiều thể điệu khác nhau trong ca dao, đồng dao, phong dao Việt Nam và như vậy dễ dàng làm giàu cho câu ca, điệu hát.
Mặt khác, cho ta thấy rõ là ngay trong văn chương bình dân đã ẩn tàng sẵn những âm thanh rồi. Nội dung của bài lý chỉ gồm hai câu đơn giản,cộng thêm những tiếng dặm cho nên chỉ nói lên được một bài tư tưởng, tình cảm đơn thuần. Nếu muốn diễn tả sâu rộng hơn thì lại dùng các thể hát chèo, quan họ, ả đào, trống quân. Thể lý là giai đoạn đầu của những thể nhạc khác trong dân ca.
Lý Giang nam:
Thể điệu thứ ba của lý Con sáo là lý Giang Nam. Đây là một trong những điệu lý ở Huế có cả một hệ thống tiếng đệm lót, đệm nghĩa tiếng đưa hơi láy luyến phong phú.
Nhịp điệu của thể nầy thường khoan thai, chậm rãi, dập dìu. Giai điệu cũng khá uyển chuyển, êm nhẹ, lên bổng, xuống trầm, khá uyển chuyển. Khi đến phần cuối cùng của lý Giang Nam thì thường có những âm giai vang vọng, lời nhạc nói đến niềm chia ly luyến tiếc.
Nhìn chung, lý Giang Nam chứa chan nhiều tình cảm, đam mê, say đắm. Trong phân tách, loại lý nầy gần với những bản ca nhạc Huế cổ điển thuộc điệu nam, hơi ai.
Về cấu trúc âm thanh rất uyển chuyển, làm đảo lộn ngữ âm bình thường, biến những từ không dấu thành có dấu sắc hay dấu huyền.Cứ phân tách một đoạn lý Giang Nam sau đây thì rõ:
Ai đem con sáo – ư ừ ứ,- sàng sang sáng sang sàng sồng, sáo sang sồng, tình bạn sàng sồng- ư ư ừ – tình bạn sàng sồng- ứ ư ừ.- Để cho, để cho, còn sáo,- ừ ư,- sồ sổ sổ sổ sổ sồ lồng, sáo sổ lồng, tình bạn, xa – ư ừ,- tình bạn bày xa – ư ừ-.
Lý Thầy Tu:
Thể điệu thứ tư của lý Con Sáo là lý Thầy Tu. Loại lý nầy có nhịp điệu chậm vừa, được đệm bằng nhịp mõ. Đây là điệu hát dân gian có mang âm hưởng của điệu tán tụng ở chùa chiền; hơi nhạc gần với các bài bản của nhạc Huế, thuộc điệu “nam âm thiền”.
Những đoạn hát ngắn, lại được đệm thêm những tiếng lót như “a li”, những tiếng đưa hơi như “ứ ừ ư” kéo dài ra, tạo một nét buồn sâu sắc:
Ai đem con sáo (tình bạn) sang sông;- a li, sông sang sông,- Nên chi (nên chi) con sáo (ừ hừ ư) – Nên chi (nên chi) con sáo – sổ lồng bay xa (a lai) – xa bay xa…
Lý Giao Duyên:
Lý giao duyên tại Huế được trình bày qua thể điệu như sau đây:
Gặp nhau đây, mới đầu trăng gió, Hỏi một lời: tên, họ là chi? Hỡi nàng, nàng ơi!Hỏi một lời, tên, họ là chi?
Trong trường hợp người con gái muốn đi vào những liên hệ tình cảm (trong đối đáp mà thôi) thì sẽ trả lời tương tự như sau đây:
Bạch Lai thơ, quê nơi Trung lĩnh, Thung huyên mất rồi, muộn cảnh chồng con..
Thịnh hành nhất là loại lý Giao Duyên hay lý Vọng Phu. Lý giao duyên thường được sáng tác rất sâu sắc và do những nho sĩ hay những tàitử nổi tiếng đặt lời hát.
Lý Giao duyên có nhiều nội dung khác nhau, về tình cảm, về thời tiết,về mây nước. Lý Giao duyên thường hát trong những điệu Ca Thư Phòng. Chẳng hạn như bài lý Giao Duyên Mười hai Tháng sau đây:
Đầu tháng Giêng, mãn thiên xuân sắc,Ai nấy vui mừng, thiếp bắt mặt trông, – Qua tháng Hai, hoa nhà ướm nở, Thiếp trông chàng, vừa trở gió đông. – Qua tháng Ba, trăm hoa cảnh phát, Thiếp trông chàng, bát ngát niềm tây. – Qua tháng Tư, mùi hương phảng phất, Thiếp trông chàng, hạ bất hồng liên. – Qua tháng Năm, ve sầu kêu oán, Thiếp trông chàng, như đại hạn trông mưa, – Tháng Sáu trông già hoè im mát, Thiếp trông chàng: phấn nhạt, hương phai. -Tháng bảy trông: bắc cầu Ô, Thước, Qua Ngân Hà, mới thấy được phu nhân. – Tháng Tám trông, gương trăng tròn vạnh, Thiếp trông chàng, một gánh tương tư. – Tháng Chín trông gương trong đài trùng cửu, Ngày vắng, đêm dài, ly cốc tửu giải khuây. – Tháng Mười: bông hoa lài nở nhụy, Ngắm cảnh thêm buồn, thêm nhớ, thêm thương. Tiết Dương sanh: tùng mai xanh tốt, – Thiếp trông chàng: tháng Mười Một vắng tin. – Tháng Mười hai: xuân lai bất tận, Tháng hết, năm cùng, lận đận theo anh…
Đây là trường hợp đặc biệt của một thể hò, vì chứa nhiều câu, diễn tả nhiều tâm sự, theo diễn biến của thời gian và của tâm trạng của con người.
Thể điệu nầy không còn là hát đối ca của nam nữ, mà lại dùng để trình bày tình cảm biến chuyển của con người. Từ bài hò đơn giản đến bài hò dài, phức tạp, đa dạng, tự sự, quả là một chuyển biến lớn trong các giai điệu nầy.
Lý cửa quyền:
Ðây cũng là một loại lý được phổ biến nhất trong vùng Huế, Thừa Thiên. Cửa quyền là nhà cửa của quan lại trong triều đình Huế. Người dân quê chỉ đề cập đến một số nét, gần như là dùng thể hoạt kê để chỉ trích một phần nào những trò chơi ngông, phách lối, kiểu cọ của lớp người nầy:
“Cửa quyền chạm bốn câu thai. Hai câu thơ phú hay bài ca ngâm”…
Trong điệu lý Cửa Quyền thịnh hành ở miền Trung, nơi có triều đình Huế đóng đô, đã trở thành như sau:
Cửa quyền chạm bốn câu thai – Hai câu (tình mà) thi phú, (A ớ a, a ớ a) – Hai bài (hai bài) thơ ngâm… – Cửa quyền khắc những bài văn, Khen che (khen che) rất mực – (A ớ a, a ớ a) – Mặn nồng (mặn nồng) với ai. Cửa quyền có những quan sai – Có đoàn (có đoàn) lính lệ (A ớ a, a ớ a) – Ra oai (ra oai) cửa quyền…
Những bài hát như vậy cứ kéo dài mãi, mà mỗi người có thể theo nhận định và phê phán của mình để tấn công Cửa quyền. Có thể đây là tinh thần đối kháng của người dân nghèo khi nhìn vào cửa quyền; nhưng cũng có thể là những lối trào lộng, vui chơi, vô tội vạ.
Những thể nói lý của miền Trung đều xoay chung quanh những đề tài như vậy: đời sống an nhàn, quan lại hống hách, lao động cần cù, tình duyên trai gái, làng trên xã dưới. Nói chung mọi sinh hoạt dân chúng đều có thể thể hiện trong thể lý, vốn nghĩa là tác phẩm của người bình dân.
Lý Tử Vi
Một trong những bài ca lý nổi tiếng ở Huế là bài lý Tử Vi, nhưngnội dung và giọng điệu thì thuộc về loại ca phòng hơn là bài hát ngoài dân gian.
Lý Tử Vi còn gọi là lý Trăm Huê, một trong những điệu lý xứ Huế, đã có những tính chất xa dần tính chát đơn thuần, mộc mạc của dân ca Huế, để tiến sang phạm vi tinh tế cuả ca nhạc Huế.
Nỗi niềm được trang trải rộng, ý thơ mang tính biểu tượng, nỗi xa xa lai láng như trang trãi khắp không gian. Tử Vi là tên một loài hoa do thi hào Bạch Cư Dị đặt tên, sau khi viết khúc Tỳ bà hành.
Thể điệu của bài lý Tử Vi miền Trung như sau:
Dầu giải nắng mưa, – Tử Vi dầu giải nắng sương, – Huê cam (tình như) huê quít, Biết thương huê nào? – Anh thương huê mận, huê đào, (Huê mận, huê đào) – Anh đây thương huê mận, huê đào, – Cầu bông (tình như) huê cúc, Biết vào tay ai? – (Ơi tình ơi) thăm thắm chớ phai (Ơi tình ơi) – thăm thắm chớ phai, – Ham bông (tình) huê lài ,- Mà lại thơm lâu, (Ơi tình ơi) chớ phụ huê ngâu, – Chớ phụ huê ngâu, (Ơi tình ơi) – Chớ phụ huê ngâu, – Ham nơi (tình như) phú quý, – Lại hầu mẫu đơn, – Anh tìm em, trăm giận nghìn hờn, – Trăm giận nghìn hờn, – Anh tìm em, trăm giận nghìn hờn, – Ước chừng (tình như) cho đặng, – Xích lại gần đây,- Có thương, xích lại gần đây, – Thời xích lại đây, – Đừng còn (tình như) mơ tưởng – Núi mây cơ nghèo. Trèo lên hòn núi cheo leo, – Hòn núi cheo leo,- Anh trèo lên hòn núi cheo leo, – Cảm thương (tình như) nỗi mẹ,- Lo nghèo phận em , — Anh tìm em đã khắp núi non.
Dù là điệu lý, nhưng qua bài lý Tử Vi trên đây thì giọng Ngũ Cung Oán Nam được chuyển hệ một cách tài tình, cho nên bài ca được liệt vào một trong ba bài ca hay nhất của vùng đất Thần Kinh thế kỷ thứ XIX cho đến nay vẫn là bài mở đầu cho những tổ chức nhạc ca phòng và cả nhạc cung đình nữa. Miền Nam cũng có những bài lý, nhưng vần điệu thì khác nhau, về cách ngắt câu, tiếng đệm, nhịp điệu, nhất là Ngũ Cung oán được chuyển hệ.
(PKT)
oOo
Làn điệu Việt: Lý Trung Bộ – Học Viện Âm Nhạc Quốc Gia VN:
Lý Giang Nam – NSUT Hồng Vân – Thu Âm Trước 1975:
Liên khúc Lý chiều chiều – Ngựa ô Huế – Vân Khánh:
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn một bộ môn độc đáo khác trong Dân ca Dân nhạc Miền Nam: “Nói Thơ Vân Tiên”.
“Nói Thơ Vân Tiên” là một giai điệu thấm sâu trong lòng người dân Lục tỉnh mỗi khi trà dư tửu hậu. Giai điệu này còn được các bà mẹ dùng trong thể loại Hát Ru Con (Hát Đưa Em).
Câu truyện Lục Vân Tiên, truyện thơ nổi tiếng nhất miền Nam do cụ Nguyễn Đình Chiểu viết những năm 50 của thế kỷ 19, và được xuất bản lần đầu năm 1874, có cốt truyện tóm tắt như sau: Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Nói Thơ Vân Tiên→
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn bộ môn Nhạc lễ của miền Nam.
Nhạc lễ là một loại nhạc nghi thức quan trọng được dùng trong các dịp hôn lễ, tang lễ, và cúng tế. Theo truyền thuyết thì nguồn gốc của Nhạc lễ miền Nam khởi nguồn từ Nhạc lễ cung đình xưa.
Đình Trung Gò Công thuở nhỏ mình hay theo ông ngoại vào cúng đình. Ảnh ở đầu bài là bên trong đình.
Hiện nay trong các Đình, Miếu và Lễ tang, Nhạc lễ là một phần âm nhạc không thể thiếu trong khi cúng tế. Tất cả các bài Nhạc lễ rất khó về ký âm. Cùng với nhiều nhạc cụ đi liền bài, phù hợp với nội dung cúng tế. Tính cách sáng tạo các bài và các nhạc cụ dòng nhạc này vẫn hiện đang tiếp tục phát huy.
Hôm nay chúng ta nói đến Hát Bộ, còn gọi là Hát Bội, có lẽ là bộ môn nghệ thuật sân khấu cổ nhất của Việt Nam mà chúng ta được biết.
Hát Bộ/Bội có lẽ phỏng theo kinh kịch của Thanh Triều tại Bắc Kinh. “Bộ” đây có nghĩa là Vũ Bộ, tức là các cách đi đứng và diễn xuất đều phải theo các bước chân như con nhà võ, và các màn biểu diễn võ thuật cũng thường có trong Kinh Kịch hay Hát Bộ.
Hát Bộ còn được gọi là Hát Bội, có lẽ đó là cách nói trại ra. Ngoài ra còn có giải thích rằng gọi là “Hát Bội” vì trong nghệ thuật hóa trang đào kép phải đeo, phải giắt (bội) những cờ phướn, lông công, lông trĩ… lên người. Theo nhà nghiên cứu Vũ Khắc Khoan, cả hai tên gọi ấy đều đúng. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Hát Bộ/Bội Miền Nam→
Tiếp theo trong bộ môn Cải lương, mình giới thiệu đến các bạn Cải lương Hồ Quảng, mà ngày nay người ta gọi là Cải lương tuồng cổ.
Nói đến Cải lương Hồ Quảng thì không thể không nói đến những nghệ nhân tiên phong của bộ môn này. Đó là gia đình cả 3 thế hệ của nghệ sĩ Thanh Tòng, được gọi là vị tướng soái của Cải lương Hồ Quảng.
Cải lương Hồ Quảng gồm các nhạc cải lương miền Nam, và một loại nhạc mới được mượn từ các bản nhạc mới du nhập từ Đài Loan vào Việt Nam thời đó, và các tuồng tích thường là các câu truyện lịch sử Trung Hoa thời cổ đại. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Cải lương Hồ Quảng→
Dưới đây là 3 bài báo về: (1) Các rạp cải lương xưa ở Sài Gòn và di tích còn lại ngày nay, (2) Tình trạng thiếu rạp cải lương hiện nay và dự án tái thiết rạp Hưng Đạo trên đường Trần Hưng Đạo và (3) Tình trạng suy yếu của cải lương ngày nay.
Ba bài này có thể cho chúng ta cái nhìn tổng quát về sự suy yếu của bộ môn nghệ thuật truyền thống này. Vấn đề có lẽ có nhiều lý do khác nhau. Một lý do rõ ràng nhất mà mình thấy là ngày nay mọi người đều quá bận rộn không còn thời giờ để vào rạp xem cải lương. Lý do thứ hai mà mình thấy là tuồng tích ngày nay thường có khuynh hướng tuyên truyền chính trị, trong khi đó ngày trước cải lương được hưng thịnh phần lớn là do các tuồng tích mang nhiều tình cảm cá nhân và gia đình. Tức là sự sáng tạo của cải lương hình như bị các đề tài chính trị làm cho nghẹt thở. Continue reading Dân ca dân nhạc VN: Các rạp cải lương xưa ở Sài Gòn – Tình trạng cải lương hiện nay→
Tiếp theo bộ môn Đờn Ca Tài Tử, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn bộ môn Cải Lương trong Cổ Nhạc Việt Nam.
Lịch Sử Hình Thành Cải Lương Nam Bộ
Cải lương là một loại hình kịch hát có nguồn gốc từ miền Nam Việt Nam, hình thành trên cơ sở dân ca miền đồng bằng sông Cửu Long và nhạc tế lễ.
Giải thích chữ “cải lương” theo nghĩa Hán Việt, giáo sư Trần Văn Khê cho rằng: “cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn”, thể hiện qua sân khấu biểu diễn, đề tài kịch bản, nghệ thuật biểu diễn, dàn nhạc và bài bản. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Cải lương→
Phần giới thiệu tiếp theo của mình với các bạn trong Dân ca Dân nhạc Việt Nam hôm nay sẽ là “Hệ Thống Tổng Quát Bài Bản Cổ Nhạc Miền Nam“, một số bài bản trong hệ thống này đã trở thành những bài thông dụng trong bộ môn Cải Lương qua nhiều thế hệ.
Cổ Nhạc Miền Nam bao gồm nhiều bài bản lớn nhỏ. Và đã được xếp loại chia các bài ra 10 nhóm thứ tự như sau:
– Nhứt Lý: các điệu Lý
– Nhì Ngâm: ngâm Kiều, ngâm thơ, ngâm sa mạc…
– Tam Nam: ba bài Nam lớn
– Tứ Oán: các bài Oán
– Ngũ Điểm: sáu bài Bắc lớn
– Lục Xuất: sáu bài ngắn
– Thất Chính: bảy bài nhạc lớn lễ, cung đình
– Bát Ngự: tám bài Ngự
– Cửu Nhĩ: 2 bài do nhóm tài tử miền Đông biên soạn
– Thập Thủ: thập thủ liên hoàn, 10 bài ngắn Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Hệ thống bài bản cổ nhạc miền nam→
Tiếp nối theo chuỗi bài Dân ca Dân nhạc Miền Nam, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn một thể loại dân nhạc phổ thông nhất của Miền Nam. Đó là Vọng Cổ. Giai điệu chính trong bộ môn Cải Lương.
Nhạc sĩ Giang Tuyền trong bài Nguồn Gốc Cổ Nhạc Việt Nam dưới đây sẽ cho chúng ta tìm hiểu tổng quát hơn về lịch sử của thể loại dân nhạc độc đáo này:
“Các nghệ sĩ cổ nhạc [miền nam] đã không ngừng sáng tác trong gần một thế kỷ qua, với mục đích ngày càng phát triển bộ môn cổ nhạc được phong phú hơn. Theo tài liệu ghi lại, thì vào khoảng năm 1915 – 1916 có một loại hát gọi là “ca salon”. Ðó là một lối hát rất đơn giản, không có cảnh trí gì hết. Chỉ có một bộ ván. Trước bộ ván để một cái bàn chưn cheo. Các tài tử đều ngồi trên bộ ván và mặc quốc phục xem rất nghiêm trang. Có lẽ do ảnh hưởng của loại nhạc triều đình từ xưa còn rớt lại. Thường thì ca bản tứ đại lớp đầu. Chuyện thì dựa trên chuyện Lục Vân Tiên hay Kiều… Sau đó mới đến “ca ra bộ” có tánh cách tài tử. Continue reading Dân ca dân nhạc VN – Vọng cổ→
Hôm nay mình giới thiệu đến các bạn thể loại “Hò” trong Dân ca Miền Nam.
“Hò là một thể loại diễn xướng trong đời sống người Việt Nam từ thời xa xưa, khởi nguồn từ tập quán sinh hoạt vùng chiêm trũng, diễn tả tâm trạng của người lao động. Hò và Lý tuy có phần giống nhau nhưng Hò thường gắn liền với một động tác khi làm việc còn Lý thì không.” (Giáo sư Trần Văn Khê. Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt nam. Tp HCM: nxb Trẻ, 2004. tr 81).
Trong sinh hoạt cộng đồng, thường thì một người hò đại diện cho một nhóm cho cùng một việc hay một mình tự thuật, kể lể. Điệu hò giao duyên giữ hai bên đối đáp với nhau, người con gái hay người con trai trong nhóm hai phía sẽ hò đáp trả lại ngay khi đó. Trên vùng sông nước khi đi ghe hay đò, người hò thường hò điệu giao duyên giữa hai chiếc ghe, đò gần nhau.
Miền Nam có những điệu hò đặc sắc mang âm điệu luyến láy đặc thù của từng vùng thường làm rung động lòng người như: Hò Miền Tây, Hò Đồng Tháp, Hò Đối, Hò Đố, Hò Cần Thơ, Hò Giọng Đồng, Hò Bản Đờn, Hò Cảnh Chùa, Hò Huê Tình, Hò Bắt Xác, Hò Ngạnh Trê, vân vân…
Trong các điệu hò, Dân ca Miền Nam còn có một điệu hò rất cổ, rất độc đáo là Hò Cấy Lúa (ngày nay được gọi tắt là Hò Cấy). Điệu hò này thường được các nam nữ hò giao duyên với nhau trong lúc họ cấy lúa vào những mùa cấy. Độc đáo nhất điệu Hò Cấy Lúa còn cho phép người hò tự do sáng tạo tùy theo trường hợp, bối cảnh, mỗi khi đối đáp trong khi nếu thích – hai bên còn có thể đề nghị và đồng ý với nhau hai thể loại có qui luật trước khi hò là: (1) Hò Bắt Xác. (2) Hò Ngạnh Trê.
Hò Bắt Xác có qui luật một bên đối và một bên đáp – nếu như bên nào không đối hoặc đáp được thì sẽ bị người thắng cuộc rượt đuổi bắt cho bằng được mới thôi rồi sau đó sẽ kết nghĩa thành vợ chồng với nhau. Lẽ dĩ nhiên là cuộc kết nghĩa này phải có sự đồng thuận của hai bên cha mẹ trong gia đình.
Còn Hò Ngạnh Trê thì có qui luật hai bên hò đối đáp chọc ghẹo móc ngoéo lẫn nhau cho đến khi một bên bị bí không thể đối đáp được nữa phải chịu thua và không được hờn giận.
“Hò Cấy là điệu hò mái ngắn (còn gọi là mái đoản, mái cụt) thường diễn ra ngay trên đồng ruộng, có thể kéo dài từ sáng cho đến chiều tối. Các nhóm hò, có kẻ xướng người xô, vừa lao động, vừa trổ tài đối đáp.
“Xưa kia, mỗi vạn cấy thường tập trung từ 20 đến 30 người, đứng đầu là một “trùm vạn” – người trung gian giữa chủ ruộng và thợ cấy. Những thợ cấy hò giỏi thường được mọi người trọng vọng, công xá bao giờ cũng được nhận phần cao hơn so với các người khác trong vạn.
“Hò Cấy Miền Tây Nam Bộ trước đây diễn khắp các tỉnh, nhất là ở miệt ruộng của huyện Giồng Trôm, Ba Tri, Thạnh Phú, Mỏ Cày, Bình Đại, Giồng Lãnh, Trại Cá, Bình Ân…. Nay Hò Cấy có thể coi là điệu hò cổ nhất hiện còn được gìn giữ ở Tiền Giang.
“Hò Cấy Gò Công được chia thành 3 loại: Hò Đối Đáp, Hò Đậu, Hò Hội (phải có đông người tham dự hơn). Về âm điệu, tiết tấu và tiếng hò (hay vế xô) sau mỗi nhịp trong Hò Cấy Gò Công là ‘hò… hò… ơ… ơ…’ ”. (Tình Mặc. Sau Những Bài Hò Cấy Gò Công. Hội Thân Hữu Gò Công – Hoa Thịnh Đốn – USA)
Trong ca khúc Hò Lơ của nhạc sĩ Phạm Duy ông đã dùng phần xướng của bài Hò Cấy Lúa để mở đầu ca khúc Hò Lơ của ông. Hiện nay mình không tìm được một video clip nào có phần diễn xướng nguyên thủy cho bài hò độc đáo này nên mình ghi xuống đây lyric nguyên thủy tiêu biểu của nó để giới thiệu đến các bạn để các bạn cùng có một khái niệm tổng quát chung:
“Hò lơ hó lơ… lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ hò lơ hó lơ…
Tay ôm bó mạ xuống đồng… a li hò lờ… miệng hò tay cấy ờ… a li hò lờ… mà lòng nhớ ai.
Hò lơ hó lơ… lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ hò lơ hó lơ.
Mạ xanh mơn mởn nên tình… a li hò lờ… bao nhiêu lá mạ ờ… a li hò lờ… thương mình là bấy nhiêu…
Hò lơ hó lơ… lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ hò lơ hó lơ.
Thương sao cho được mà thương… a li hò lờ… nước kia muốn chãy ơ… a li hò lờ…mà mương không đào…
Hò lơ hó lơ… lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ hò lơ hó lơ.
Bây giờ chưa rỏ âm hao… a li hò lờ… còn chờ chi nửa ơ… a li hò lờ… má đào phôi pha…
Hò lơ hó lơ… lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ hò lơ hó lơ.
Em chờ cho hết sức chờ… a li hò lờ… chờ cho rau nhút ờ… a li hò lờ… lên bờ mà trổ bông…
Hò lơ hó lơ… lắng tai nghe tiếng ai đang hò lờ hò lơ hó lơ…”
Dưới đây mình có bài “Hò Nam Bộ” của ông Trần Trọng Trí, bài “Nhớ Điệu Hò Đồng Tháp” của ông Nguyễn Văn Trí, và bài “Hò Chèo Ghe Bạc Liêu” để các bạn tiện việc tham khảo thêm về bộ môn “Hò” của miền Nam, Việt Nam.
Tiếp theo mình có: 1 clip giới thiệu “Câu Hò Đồng Tháp”, 1 clip giới thiệu “Câu Hò Chèo Ghe Bạc Liêu”, và 8 clips các điệu “Hò” tiêu biểu của vùng đất Chín Rồng để các bạn rộng đường tham khảo và thưởng thức.
Lùi vào quá khứ, ba trăm năm trước, khoảng cuối thế kỷ 17, khi người Việt đặt chân xuống đồng bằng Cửu Long khai sơn phá thạch để lập nghiệp cũng là lúc họ phát huy bản lĩnh, khí phách của dân tộc Việt Nam có truyền thống văn hiến lâu đời. Trước khi gieo hạt giống làm nảy nở mùa màng, họ đã gieo tục ngữ ca dao, tiếng hò, điệu hát.
Có thể nói thức ăn tinh thần chính của dân Nam Bộ trong buổi đầu là tiếng hò câu hát. Những điệu hò cấy lúa, hò quốc sự, hò lờ, đã làm thổn thức, xao xuyến lòng người từ xưa đến nay vẫn còn văng vẳng bên tai. Những cuộc hò làm bớt nặng nhọc trong lúc cày bừa, sạ tỉa giữa nơi nước mặn, đồng chua, làm phấn khởi tinh thần trước cảnh thiên nhiên, đồng thời là đầu mối cho duyên tình trai gái dẫn tới những cuộc vuông tròn vàng đá trăm năm.
Tiết điệu và âm điệu
Tiết điệu trong câu hò biến đổi khá nhiều, nhưng có thể gom trong hai điệu chính: Hò huê tình, tức là hát chậm và kéo dài ra, còn hò lăn, tức tiếng hát mau và ngắn lại. Dù hò huê tình, hò lăn hay hàng chục điệu hò khác biệt của mỗi địa phương Sa Đéc, Tháp Mười, Gò Công, Rạch Giá, Hà Tiên, Cai Lậy, Tiền Giang… người mộ điệu hò bao giờ cũng sành cung đoạn, âm giai. Họ không bao giờ chịu hạn chế lời ca trong một điệu, hò tuỳ hứng mà sáng tác, tuỳ nội dung mà định hình thức của nốt nhạc. Nhưng luôn luôn, họ có cung đoạn riêng để quyết định cho sự hô ứng, cho lúc nghỉ ngừng. Chúng ta thử nghe một câu hò lục bát:
“Hò… ơ… ơ… ờ… ờ…
Gió đưa con buồn ngủ lên bờ… ờ… ờ… ờ…
Mùng ai có rộng… ờ… ờ… ờ… cho tôi ngủ nhờ một đêm… ờ… ờ…”
Và một câu dài trong lục bát biến thể:
“Hò… ơ… ơ… ờ… ờ…
Vận bạc tình bất hủ… Nhơn phi nghĩa bất giao… ờ… ờ… ơ…
Anh nguyền thưởng bận một dao… ơ… ơ… ơ… ơ…
Răn người lòng dạ mận đào lố lăng… ơ… ơ… ơ… ơ”
Thử nghe một anh trỗi giọng và một cô hoà điệu tiếp theo. Đây là câu của giới nam:
“Hò… ơ… i… i… i… Thấy em có cái gò má hồng hồng… ì… ì… ì…
Hoà hơ… ơ… ơ
Phải chi em đừng mắc cỡ…
Hoà hơ… ơ… ơ
Đừng mắc cỡ, thì anh xin bồng… em hôn…i… i… i…”
Và đây là câu của nữ giới hoà theo:
“Hò… ơ… ơ… ơ… ứ… ứ…
Chuyện vợ chồng đâu có khá bôn chôn… ư… ư…ư…
Hoà hơ… ơ… ơ
Anh thương em nên dè dặt… ư… ư… ư…
Hoà hơ… ơ… ơ
Chớ để thiên hạ đồn không hay… ư… ư… ư…”
Tiếng dùng và cách xưng hô khi hò.
Trong điệu nghệ hò, riêng có một số từ ngữ nghe lạ tai và vài cung cách xưng hô tự do. Thí dụ bên nữ cất giọng trao tình trước:
“Hò… ơ… ơ… ơ… ơ…
Em đến đây kiếm anh như con cò trắng bay cao… ơ… ơ… ơ
Này bạn ơi… Còn thân em đâu khác thể… ơ… ơ… ơ… ơ…
… Đâu khác thể vì sao trên trời… ơ… ơ… ơ…”
Giọng hò thiệt hay, có nhiều bỡn cợt lơi lả, nhất là ở cuối câu cái hơi ngân dài như nói lên một niềm lưu luyến. Câu hò có ý kèo trên và khó đối. Phía bên nam vẫn không chịu thua, vừa nghĩ câu hò đối lại ngay:
“Hò… ơ… ơ… ơ… ơ…
Thân anh như tấm da trời… ơ… ơ… ơ…
Ơ… mình ơi, bốn mùa sương lạnh… ơ… ơ… anh không rời vì sao… ơ… ơ… ơ…”
Nếu chúng ta là những người chưa sành điệu, tất sẽ lạ lùng qua cách xưng hô “bạn ơi”, “mình ơi” quá tự do đến mức “sỗ sàng”. Còn những tiếng khác nữa như: “Này bậu ơi”, “Này người nghĩa ơi”, “hai đứa ta”, “đôi ta”… được xưng hô một cách thân mật tự nhiên. Người ta không bắt lỗi nhau và coi như cuộc trao đổi tâm tình chân chính…
Sông Cửu Long quanh năm chở nặng phù sa cho bãi bồi bến lở, nơi có Đồng Tháp Mười thẳng cánh cò bay với nửa mùa nắng cháy, nửa mùa nước dâng.Chính nơi đây đã sản sinh ra một điệu hò kỳ diệu, nó len lỏi và sống mãi trong tâm hồn mọi người, một tâm hồn chứa đựng những hoài niệm, những ký ức, những ước mơ cháy bỏng. Đêm Tháp Mười thanh vắng nghe một giọng hò lảnh lót ngân vang và hòa tan vào khoảng không gian cao vời vợi nghe mà nhớ, mà đau thắt lòng.
Hò Đồng Tháp ra đời đầu thế kỷ XIX và giao thoa từ nhiều dòng văn hóa của người bản địa (các dân tộc Kinh, Chăm, Khmer, Hoa) lúc bấy giờ. Phát triển cực thịnh, trở thành điệu hò nổi tiếng nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long vào nửa đầu thế kỷ XX .
Hò Đồng Tháp là một loại hò trên đồng nước, âm điệu của hò Đồng Tháp thể hiện rỏ tâm tư tình cảm của con người, nhất là vào các mùa trăng nước mênh mông thơ mộng. Đây là một âm điệu đặc biệt được hò ở tốc độ chậm, buông lơi, nhịp điệu lúc nhặt, lúc khoan, lúc trầm, lúc bổng, có lúc thì thật thấp, có lúc thì thật cao chót vót. Nó có sức lôi cuốn, hấp dẫn mọi người một cách kỳ lạ.
Có nghệ nhân tâm sự: “Nếu xưa kia người nào mời hò thì ngay lập tức được đáp lại với câu hò:
Câu hò tôi đựng một nia Chị em nào thích tôi chia cho hò…
Còn ngày nay nhiều nghệ nhân tuổi cao sức yếu, không thể hò được nữa mà chỉ còn có câu:
Câu hò tôi đựng một khạp da bò, Tôi quên đậy nắp nó bò hết trơn.
Hò Đồng Tháp được chuyển thơ thành lời để đưa hơi, lấy đà, ngắt nhịp, ngân, thường chen vào từ ơ.
Rượu lưu ly chân quỳ tay rót ơ.ơ.ơ ơ.ơ.ơ ơ.ơ.ơ Cha mẹ uống ơ..ơ… rồi Em dời gót theo anh ơ hò…ơ…
Nghệ sĩ Linh Phượng. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Lời hò Đồng Tháp đều xuất phát từ thơ lục bát, song thất lục bát hoặc từ ca dao tục ngữ.
Ơ à. Ngó lên trời thì trời trong mây trắng Dòm xuống nước thì nước trắng lại trong Nhỏ như ai chứ nhỏ nhỏ như em đây mà chắc dạ ơ à Bền lòng ơ à Ơ à… Lỡ duyên thời em chịu lỡ chớ đóng cửa loan phòng ờ ơ à… Em chờ anh, ơ à
Hò Đồng Tháp có những đặc trưng riêng mà không điệu hò nào ở Nam bộ có được. Mỗi bài hò thường chia 3 phần hơi khá rõ: từ tầm trung đến thấp nhất, từ tầm cao đến tầm trung, tầm thấp nhất đến tầm cao… nối với nhau chặt chẽ. Đặc trưng nhất đó là hò tâm tình, là tự sự của con người về tình duyên, về số phận, những buồn vui cuộc đời. Cũng có khi có bài hò để… phê phán, lên án những cái ác, cái xấu. Phản ánh mọi mặt của đời sống nên nội dung của Hò Đồng Tháp vô cùng phong phú.
Hò Đồng Tháp có 3 thể loại: Hò cấy, Hò huê tình, Hò khoan. Từ một đứa trẻ lên 5 cho đến một cụ già 70 – 80 tuổi đều có thể hát lý, hò… Cái hay của nó là gắn với công việc hàng ngày của người dân, họ có thể vừa đi cấy, đi cày vừa hát, hay những đêm trăng, trẻ em vui chơi ở sân đình làng cũng đem điệu lý ra hát với nhau. Đồng Tháp là vùng đất sen hồng thơ mộng và lãng tử. Đất và người Đồng Tháp chân chất, mạnh mẽ, khẳng khái nhưng thuần khiết như hồn sen. Với điều kiện tự nhiên là một miền quê sông nước và bề dày lịch sử văn hóa rất đỗi nhân văn. Nơi đây đã sản sinh ra hàng trăm điệu lý câu hò sâu lắng, mênh mang thấm đậm tình đất, tình người. Đặc biệt giá trị văn hóa phi vật thể trong vùng đó là điệu Hò Đồng Tháp nổi tiếng vang bóng một thời trên diễn đàn nghệ thuật truyền thống của dân tộc.
Hò Đồng Tháp đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân, góp phần làm cho phong trào văn nghệ quần chúng trong tỉnh phát triển mạnh mẽ và đều khắp, phục vụ có hiệu quả nhu cầu hưởng thụ và tham gia sáng tạo văn hóa- văn nghệ của nhân dân. Hò Đồng Tháp vẫn khẳng định giá trị là loại hình di sản văn hóa phi vật thể có ảnh hưởng sâu sắc đến sinh hoạt văn hóa của người dân Nam bộ nói chung, Đồng Tháp nói riêng.
(Nguyễn Văn Trí/TTXVN)
Nghệ sĩ Linh Phượng trong tiết mục trình diễn Hò Đối. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Hò chèo ghe Bạc Liêu là một làn điệu dân ca mang hình thức diễn xướng của cư dân Bạc Liêu hình thành trong môi trường chèo xuồng, ghe trên sông nước có từ thời khẩn hoang nhằm gửi gắm tình cảm, bày tỏ nỗi lòng của mình cho con người và thiên nhiên.
Trong dân ca Bạc Liêu thì hò Bạc Liêu (chủ yếu là hò chèo ghe) chiếm vị trí rất quan trọng trong kho tàng văn học dân gian của vùng đất trẻ này. Tiếp xúc với những nghệ nhân cao tuổi hoặc tham khảo nhiều tư liệu về hò, sẽ thấy rằng giọng hò Bạc Liêu xuất hiện gần như cùng lúc với giọng hò Đồng Tháp, Bến Tre, Trà Vinh, hò sông Hậu… vì có xuất xứ cùng gắn liền với quá trình phiêu bạt ngược xuôi trong hệ thống sông ngòi chằng chịt vùng Đồng bằng sông nước Cửu Long. Trong cuộc Nam tiến, nhiều dòng người từ các nơi đã đến vùng đất mới này sinh cơ lập nghiệp, trên bước đường chinh phục hoang vu, từ những chiếc ghe bầu, ghe chài, tam bản, xuồng ba lá…, hành trang mang theo của những cư dân mới có cả những câu hò, điệu lý… làm chỗ dựa tinh thần trên bước đường xa xứ. Trên bước đường bôn ba, lênh đênh sông nước, những hành trang tinh thần này được các tiền nhân sáng tác, phổ biến, cách tân cho phù hợp với hoàn cảnh của mình. Thậm chí vùng đất Bạc Liêu thực tế đã lưu hành nhiều loại hò của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long như hò sông Hậu, hò Bến Tre, hò Trà Vinh, hò Vĩnh Long, nhưng mỗi loại hò khi được sử dụng đều có pha trộn, giao thoa tiết tấu hay giai điệu để phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh thực tế.
Hò chèo ghe Bạc Liêu có 2 loại là hò đơn lẻ và hò đôi.
Hò đơn lẻ là loại hò suông. Trong thời kỳ đầu khẩn hoang đến đầu thế kỷ XX giọng hò chèo ghe Bạc Liêu thường xuất hiện trên các ghe, xuồng xuôi ngược trên các dòng sông như Gành Hào, Cái Tàu, Bảy Háp, sông Trẹm u Minh… hoặc thịnh hành ở các bến sông có nhiều con đò ngang, đò dọc. Giai đoạn này hò chèo ghe Bạc Liêu chủ yếu là hò đơn. Hò đơn có 2 giọng là hò chậm và hò nhanh. Câu hò của lối hò chậm thường chỉ là một câu ca dao lục bát hoặc lục bát biến thể ngắn. Nội dung hò đơn lẻ hầu hết mang tính tự sự, gửi gắm tâm trạng xa xôi với thiên nhiên .Giọng hò mênh mang, chậm rãi trải dài trên sông nước rồi lan toả, tan biến trong không gian vô tận…
Hò ơ… Bạc Liêu là xứ quê mùa – Dưới sông cá chốt (ơ ơ ơ) trên bờ Triều Châu (ơ ơ).
Nội dung giọng hò nhanh tuy vẫn mang tính tự sự nhưng có chủ ý, có đối tượng cụ thể để gửi gắm tâm trạng, thời gian hò nhiều hơn, một phần nhắn nhủ cho con người, một phần gửi vào thiên nhiên sông nước vô tận để san sẻ nỗi lòng. Câu hò gồm một hoặc nhiều câu song thất lục bát hay lục bát biến thể dài để có đủ dung lượng ngôn ngữ mà bày tỏ nỗi lòng. Lời kể đều có ngân hơi (ờ ờ). Hơi hò đầu cần cao giọng (ơ ớ ơ) và hơi hò sau ngang giọng một chút (ơ ơ ơ). Giai điệu và tiết tấu nhạc cũng như lời kể nhanh hơn phù hợp với điều kiện con nước chảy nhanh, ghe xuồng đi nhanh hơn.
Nghệ sĩ Linh Phượng và nghệ sĩ Xuân Thưởng trong tiết mục trình diễn Hò Đối. (Photo: Nhạc sĩ Nguyễn Túc)
Lối hò thứ hai là hò đôi. Sau cách mạng tháng Tám, cả nước bước vào cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp, vùng đất Bạc Liêu là căn cứ cách mạng vững chắc, giọng hò chèo ghe Bạc Liêu vẫn tiếp tục thịnh hành và phát triển, giọng hò lúc này không còn mang tính tự sự đơn giản nữa mà mang đậm nét trữ tình, giao lưu, trao đổi tình cảm, hình thức hò nhanh chóng trở thành sinh hoạt tập thể như đối đáp, huê tình và được nâng lên thành hình thức sinh hoạt văn hoá văn nghệ của cộng đồng. Hò đối đáp chậm:
Nam: Hò ơ ớ ơ… Gió năm non thổi lòn hang chuột – Tui thấy cô Ba chèo xuồng (ờ ờ) đứt ruột … đứt gan (ơ ơ)…
Nữ: Hò ơ ớ ơ… Gió năm non thổi lòn hang chuột – tui thấy anh chèo xuồng (ờ ờ) tui cũng đứt ruột … bầm gan (ơ ơ)…
Hò đối đáp nhanh:
Nữ: Hò ơ ớ ơ …Thấy anh hay chữ, em hỏi thử đôi lời – Sao trên trời mấy cái, nhái ngoài ruộng mấy con, đất Ba Xuyên một mẫu mấy sào (ơ ờ) – Hò ơ ớ ơ ơ… Anh mà đối đặng…, gái má đào thương anh (ơ ơ)…
Nam: Hò ơ ớ ơ … Thấy em đố tức, anh nói phức cho rồi – Sao trên trời sao vua chín cái, nhái ngoài ruộng bắt cặp hai con, đât Ba xuyên một mẫu mười sào (ơ ờ) – Hò ơ ớ ơ ơ… Anh đà đối đặng… gái má đào tính sao ? (ơ ơ)…
Hò chèo ghe Bạc Liêu có những nét tương đồng và giống với tiếng hò sông Hậu song phần lấy hơi hò (ơ ớ ơ ơ ơ) của Sông Hậu thường kéo dài hơn để phù hợp với điều kiện sông nước mênh mông trên dòng sông Hậu và không nhiều tiếng ngân hơi ờ ơ như hò Bạc Liêu.
Vào những năm 1960, phương tiện giao thông thuỷ từ chèo được thay bằng phương tiện cơ khí nên giọng hò chèo ghe Bạc Liêu từ từ thưa dần, ít xuất hiện trên các sông rạch. Tuy không còn thịnh hành trong thực tế nhưng nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ đã tìm cách đưa làn điệu hò chèo ghe lên bờ thành hò ru khi tiếng ru đã cạn hoặc bước vào lĩnh vực âm nhạc hoặc lên sân khấu tham gia vào nhiều loại hình nghệ thuật khác.
Ngày nay trong điều kiện phát triển của xã hội hiện đại, hò chèo ghe hầu như không còn tồn tại trong thực tế, môi trường hò đã bị thu hẹp, điều kiện sông nước thuận lợi cho các sinh hoạt chèo ghe, xuồng hầu như không còn. Từ đó làn điệu hò cũng mai một dần, hầu như chỉ tồn tại trong ký ức của con người mà chủ yếu là ký ức của những người lớn tuổi. Để tiếp tục tồn tại và phát triển, hò chèo ghe Bạc Liêu đã thâm nhập vào nhiều bộ môn nghệ thuật khác, hò chèo ghe thâm nhập vào vọng cổ, tân nhạc, điện ảnh… thể hiện trên các đĩa CD,VCD, hoặc tham gia vào hoạt động sân khấu hoá, quảng cáo… trên sóng phát truyền hình …Sự tồn tại và biến đổi phù hợp theo hoàn cảnh xã hội này của hò chèo ghe đều mang tính dân gian, tự phát. Với những nét gần gũi, trữ tình và với chủ trương bảo tồn phát, huy giá trị văn hoá truyền thống, hy vọng rằng hò chèo ghe Bạc Liêu sẽ được bảo tồn, phát huy và thích ứng với cơ chế thị trường, phục vụ cho yêu cầu phát triển của đất nước./.
(Theo baclieu.gov.vn)
oOo
Ký Ức Miền Tây – Nhớ Câu Hò Đồng Tháp – Giới Thiệu:
Câu Hò Bạc Liêu – Giới Thiệu:
Hò Cấy Lúa: Clip dưới đây là bản nhạc tên Hò Lơ của Phạm Duy do Thái Thanh hát; đoạn xướng “Hò lơ hó lơ…” đầu bài hát này là một đoạn đầu của Hò Cấy Lúa, trước khi cô Thái Thanh hát:
Hò Đồng Tháp – Giáo sư Trần Văn Khê & Thùy Dương:
Hò Đồng Tháp – Thiên Kiều
Hò Đối – Nghệ sĩ Linh Phượng & Nghệ sĩ Xuân Thưởng: (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Dân Tộc Việt – USA)
Hò Nam Bộ
Hò Cần Thơ – Đinh Thanh Huyền: Đoạn mở đầu của bài hát
Hò Đố Trái Cây – Nghệ sĩ Linh Phượng & Nghệ sĩ Nga Mi (Trung Tâm Văn Hóa Nghệ Thuật Tuyền Thống Dân Tộc Việt – USA):
Mình muốn chia sẻ với các bạn một điều mà khi mình nhận ra đã khiến mình như vỡ òa đó là mình đã luôn được nâng lên bằng cách nâng người khác lên để cho mình và họ đều có thể show được những màu sắc thật trong con người mình mà không e ngại.
Mình được nâng lên không phải trong những cuộc chiến thắng hay đôi co, tranh luận hay giành giật điều gì với ai. Mà mình được nâng lên bởi những người yếu mềm nhất, giản dị nhất, khiêm tốn nhất, kiệm lời nhất. Continue reading Màu sắc thật – True colors→
Chuỗi bài này được thực hiện trước hết dành cho mình và các bạn cơ hội ôn lại những kỷ niệm âm nhạc thời xa xưa thân ái đó, đồng thời lưu giữ những tài liệu về kỹ thuật và lịch sử âm nhạc Việt Nam cho chúng ta và các con cháu sau này.
Các bạn click vào các đề mục có gạch dưới để đọc bài.
Mời các bạn cùng thưởng thức và khảo nghiệm.
Trần Lê Túy Phượng
(Hi all,
This series was created foremost for me and you to relive the memories of those old days, but most importantly it is to preserve the historical and technical information about Vietnamese music for posterity.
Có lẽ mọi chúng ta đều biết đến bài Bóng Cây K’nia vì đây là một bài hát cách mạng rất nhẹ nhàng, trữ tình, và tự nhiên, có âm điệu Tây nguyên quyện với âm điệu cổ điển rất hay, và rất nổi tiếng. Điều lạ mà mình khám phá ra hôm nay, là có rất nhiều ca sĩ hát bài này, và trong đó có một số đúng là đại cao thủ trong nghề hát mà mình không biết đến. Tức là Việt Nam có nhiều nhân tài ca hát hơn là chỉ một số người nổi tiếng trong nền thương mại âm nhạc mà mình biết đến. What a pleasant surprise!
Cây K’nia, mình được biết, trong văn hóa Tây nguyên thường được tôn trọng là nơi các thần thánh và linh hồn người chết trú ngụ, cho nên cây K’nia thường không bị đốn, và giữa một cánh đồng hay vùng rẫy người ta thường thấy một cây K’nia đứng sừng sững làm nơi cho bà con nông dân ngơi nghỉ dưới bóng cây. Continue reading Bóng cây K’nia→