Dấu đá chưa mờ

Hơn sáu mươi năm trước, Nguyễn văn Cổn có bài thơ Nước tôi, thể song thất lục bát, trừ hai khổ mở đầu và kết luận, còn lại mỗi khổ bốn câu nói về một nhân vật quan trọng trong lịch sử hay một di tích, thắng cảnh nổi tiếng đã đi vào văn học nghệ thuật nước nhà. Đoạn ca ngợi Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành như sau:

Ngọn cờ lau mở thời vương bá
Động Hoa Lư dấu đá chưa mờ
Nước non có tự bao giờ?
Đinh Tiên Hoàng dựng cõi bờ mấy phương?
Quân nhà Tống tìm đường chiếm cứ
Lê Đại Hành chống giữ giang sơn
Tranh phong những trận mê hồn
Quân thù khiếp sợ dám còn vãng lai…

Hôm ấy, chúng tôi từ Ngọc Lặc, Lam Kinh xuống Hoa Lư. May mắn là thời tiết đổi thay, trời mùa đông đang se lạnh bỗng nhiên ấm áp. Trong khi tâm trí tôi nhẩm lại mấy câu thơ trên thì mơ hồ văng vẳng như có tiếng ai hát:“Anh hùng xưa nhớ hồi là hồi niên thiếu. Dấy binh lấy lau làm cờ…”. Thế hệ chúng tôi là học trò và thế hệ học trò của chúng tôi bài hát này được phổ biến rộng rãi, thường là bài hát chính thức của các Liên đội mang tên Đinh Bộ Lĩnh, đứng nghiêm hát khi vừa vào lớp, sau đó là hiệu lịnh “Học sinh ngồi!”. Chúng-tôi-học-trò và học-trò-chúng-tôi thường thích thú khi đóng vai Đinh Bộ Lĩnh:

Khác thường từ thuở còn thơ.
Rủ đoàn mục thụ mở cờ bông lau

để rồi:

Hiệu xưng Vạn Thắng anh hùng ai qua.
Bốn phương thu lại một nhà.
Mười hai sứ tướng đều là quét thanh”

    (Đại Nam quốc sử diễn ca).

Cái đẹp của vị anh hùng niên thiếu này là cái đẹp đơn giản trong không gian hoành tráng và tinh thần tự tại, lồng lộng nắng gió…trên đồi rộng, dưới trời cao…dễ khiến lòng ta say sưa. Ai lúc tuổi thơ chưa có một lần say sưa cùng Đinh Bộ Lĩnh hãy thử xem lại: Có phải là thiếu sót không?

Trên đường rẽ vào đền hai vua Đinh – Lê bên trái là núi Yên Ngựa. Mộ vua Đinh trên đó. Chúng tôi rất tiếc là không trèo lên được, đành đứng ngước nhìn, cũng như lúc ở Thanh Hóa đứng bên quốc lộ nhìn mộ Bà Triệu tận lưng chừng ngọn núi cao. Khung cảnh Hoa Lư trông thật rực rỡ. Từ những ngọn cỏ dưới chân đến những tàn cây trên đỉnh đồi tròn đều cùng màu xanh và điểm thêm chút vàng để giống như màu lá mạ, chỗ này mạ non, chỗ kia mạ già. Hoa Lư có cái thế đắc địa xứng đáng với 42 năm là kinh đô nước Đại Cồ Việt trẻ trung, tiếp nối và xây dựng căn bản vững chắc cho thời đại tự chủ do Ngô Quyền mở đầu (chỉ có sáu năm, còn lại là cát cứ tao loạn). Hoa Lư xinh xinh như “mộng ban đầu”, như “tuổi đôi mươi”… để khi đất nước vào độ trưởng thành già dặn dưới thời vua Lý Thái Tổ có một Thăng Long ngàn năm văn vật.

Đền thờ vua Đinh ở làng Trường Yên Thượng.

Trường Yên đầu dựng đô thành.
Cải nguyên là hiệu Thái Bình từ đây

(Đại Nam quốc sử diễn ca).

Cổng ngoài (Ngọ môn quan) có ba gian lợp ngói, mặt trong cổng ghi bốn chữ “Tiền triều phụng khuyết”. Qua một sân ngắn vào đến cổng trong (Nghi môn) với bốn trụ biểu, hai trụ bên ngoài cao hơn hai trụ bên trong, hai bên là cây cao bóng mát, là hồ sen. Hết chính đạo đến sân rồng, giữa sân có một long sàng bằng đá xung quanh chạm nổi. Nhưng tôi thích nhất là hai con nghê bằng đá xanh nguyên khối, tác giả đã tạo cho nó bộ mặt rất vui, không trịnh trọng như rồng, không đài các như phụng, nó có vẻ thật hồn nhiên, thật dễ thương, như tuổi thơ của chúng ta, của mọi người – trong đó có cả Đinh Tiên Hoàng đế.

Bái đường năm gian, bàn giữa thờ vua Đinh. Một bên là tượng Đinh Liễn quay mặt về nam, một bên là Đinh Toàn và Hạng Lang quay mặt về bắc. Tượng đồng vua Đinh với chòm râu dài và thưa. Tôi mong tìm thấy ở một bên tường hay đâu đó…nếu có bức tranh hay cụm tượng cờ lau tập trận thì sẽ hay hơn biết bao!

Đền thờ vua Lê cách đây khoảng nửa cây số, thuộc làng Trường Yên Hạ, nhìn xuống sông Hoàng Long, có núi Đèn trước mặt, núi Đìa sau lưng. Kiến trúc cũng tương tự: gian nhà dài, trụ biểu, vườn hoa, cây cỏ, hai dãy nhà vọng, non bộ “Phượng ấp” và non bộ “Long mã”. Cổng vào đề chữ Trường Xuân linh tích. Ở sân rồng gần gian giữa của bái đường cũng có long sàng bằng đá. Tượng Thái hậu Dương Vân Nga bên trái tượng vua Lê, bên phải là tượng Lê Long Đĩnh. Đệ nhất công thần Phạm Cự Lượng thờ ở tòa Thiêu hương.

Nhớ lại lời các tác giả Đại Nam quốc sử diễn ca nói về vua Đinh:

Nội đình năm vị nữ quân.
Nặng tình kiêm ái quên phần di mưu

mới thấy rằng Dương Vân Nga thật có phúc. Bốn vị nữ quân kia tên tuổi, số phận thế nào…chắc không ai biết. Để qua một bên những lời xưa nay khen chê phần nhiều đánh giá Dương Thái hậu qua địa vị,  để qua một bên chuyện chính sự và chuyện miệng đời, cái hơn người của bà là đã yêu và được yêu bởi hai bậc anh hùng vĩ đại. Trong lịch sử nước ta bà là người duy nhất có hai đời chồng làm vua. Hai ông vua đều sáng danh. (Chuyện bà Ngọc Bình chỉ là chuyện kể, hơn nữa bà Ngọc Bình không thấy sử sách ghi “danh phận”).

Điều khác nhau giữa hai đền thờ là đền vua Đinh có tượng đôi rồng chầu trên nóc, đền vua Lê thì không. Người chủ trương việc này suy nghĩ thế nào mà cho xây dựng như vậy? Lê Đại Hành Hoàng đế cũng là một vị vua, tuy rằng nối nghiệp Đinh Tiên Hoàng đế nhưng vẫn có chiến tích lẫy lừng, công lao chống ngoại xâm phương Bắc và tạo dựng uy thế với lân quốc phương Nam, đâu kém công lao trừ nội loạn? Lời Phạm Ngự Lượng khi tôn phò (theo sử chép) thiết tưởng đã đánh giá đúng về con người Đại Hành.

Rời Hoa Lư, một lần nữa ngẩng trông núi Yên Ngựa, riêng tôi một lần nữa nhớ đến bài hát  Anh hùng xưa, thêm vào đó “Với tiếng gió Hoa Lư ơi, với tiếng gió Hoa Lư ơi…”. Quả thật trời Hoa Lư đang đầy ắp mênh mang nắng và gió…

Trần Huiền Ân

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s