Nghĩ, một sớm tháng ba

Nguyên Tiêu đã qua, trăng hạ tuần  mòn dần theo vòng quay của trái đất, nhưng vẫn long lanh sáng rỡ khắp vòm trời cao nguyên. Dường như trăng đang muốn đua với những dàn đèn đủ kiểu dáng, đủ màu sắc trên phố phường Tây Nguyên ? Nào đèn lồng, đèn chùm, đèn dây, đèn cao áp, đèn tuýp, đèn tròn…trên cột điện, trong vòm lá, giữa những bụi hoa lúp xúp, quanh thân cây cổ thụ, trên mọi mặt tiền các cơ quan, cao ốc…Buôn Ma Thuột  xuân Canh Dần dồn dập những niềm vui, vào mùa hội lớn. Không chỉ kỷ niệm 35 năm ngày giải phóng, mở màn cho chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, đón nhận Huân Chương Hồ Chí Minh cao quý của Đảng và Nhà nước trao tặng, được công nhận là thành phố cấp I ( cũng còn có nghĩa là thành phố của khu vực); mà còn tròn 105 năm hình thành và phát triển Buôn Ma Thuột…một thành phố chứng nhân của lịch sử . Tây Nguyên của tôi, không chỉ có lịch sử văn hoá đầy huyền thoại của một vùng đất, mà còn cả bề dày lịch sử chiến tranh nhân dân vĩ đại của đất nước.

Ngã Sáu BMT, giữa thập niên 60s

Ngắm cờ hoa, dòng xe cộ chảy như những dòng sông phập phồng thở trên mọi con đường thảm nhựa, thêm yêu miền quê hơn trăm tuổi mà dáng dấp vẫn vô cùng trẻ trung, căng đầy sức thanh xuân trên con tàu hội nhập vùn vụt đi tới tương lai. Và những dòng ký ức bỗng tràn về ào ạt như  sông Chồng Krông Knô, sông Vợ  Krông Ana mùa nước lớn.

4 giờ sáng ngày 15-5-1975, xe chở Đoàn Ca múa Tây Nguyên chúng tôi dừng lại trước ngôi nhà của Uỷ ban Quân quản thị xã Buôn Ma Thuột. Từ các ngả đường, dòng người tham gia mít tinh chào mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng, với cờ hoa trong tay, đã từ 6 ngả đường náo nức đổ về sân vận động trung tâm. Chúng tôi nhanh chóng nhận chỗ nghỉ ngơi, để chuẩn bị cho đêm biểu diễn đầu tiên nơi đô thị còn ngổn ngang đổ vỡ, vì bị máy bay Mỹ ném bom ngay sau ngày 10/3. Chúng tôi, hầu hết là những đứa con Tây Nguyên trở về sau 21 mùa rẫy xa bến nước rừng cây, có đủ trong tâm hồn những nỗi vui, buồn, thương mến của ngày hồi lại cố hương, nên chẳng ai nghỉ ngơi mà tại những địa điểm dừng chân của Đoàn trên khắp Tây Nguyên : Buôn Ma Thuột, Plei Ku, Kon Tum… ai nấy đều dành thời gian rảo những bước chân tò mò tìm hiểu về những  tên gọi đã quá thân quen, nhưng vẫn đang hoàn toàn xa lạ, bởi đa số đều ra đi từ lúc còn là những đứa trẻ đứng chỉ ngang hông những amí, ama.

Ngày ấy, 35 năm trước, Buôn Ma Thuột, Plei Ku chỉ là những thị xã nhỏ, và Kon Tum với các nhà thờ, chủng viện bình yên, lặng lẽ, đúng như tên gọi “ miền đất bị lãng quên”. Nhà nhỏ, phố nhỏ, những con đường dầu ngắn quanh co, lên dốc, xuống đồi vây quanh các trung tâm nội thị …Cả ba thị xã Tây Nguyên chỉ có một Trường sư phạm cao nguyên duy nhất ở Buôn Ma Thuột đào tạo giáo viên cấp I, cấp II. Dòng thác Drei H’Linh xinh đẹp chỉ dồn nước cho một nhà máy thuỷ điện bé nhỏ, đủ cung cấp điện năng cho các chốn công vụ và cư dân nội thị…Thứ duy nhất làm ấm lòng du khách là hình dáng lấp vấp trong tấm váy đen của những người phụ nữ lưng mang gùi rảo bước chân trên mọi nẻo đường phố thị khắp cao nguyên ( trong bài hát của nhạc sỹ Phạm Duy “ em Plei ku má đỏ môi hồng”) .

Tây Nguyên tôi ơi, đất với người ngày ấy – hôm nay, còn có nhiều lắm những mất còn của rừng, của nước, mang đến sự se thắt con tim.Nhưng ai nói gì thì nói, những cái được, những đổi thay của mọi buôn, bon, kon, plei trên cao nguyên chan hoà nắng, chứa chan gió miền tây Tổ quốc này, không thể dùng số đếm của ngôn ngữ Êđê, Jrai, Bâhnar hay Sê Đăng xưa để kể cho hết, sau những tháng năm thật sự chuyển mình nữa rồi.

Ngã Sáu BMT 2010

Đã 35 mùa rừng khộp thay lá . Buôn Ma Thuột, Plei Ku và cả Kon Tum nay đều đã là những thành phố khang trang, hình thành những dấu chấm son lớn hơn của Tây Nguyên trên tấm bản đồ hình chữ S.Đường Hồ Chí Minh nối Tây Nguyên với mọi miền quê từ bắc vào nam. Đường nhựa các phố núi rộng thênh với hệ thống đèn giao thông xanh đỏ điều hành mọi hướng đi đến cả những huyện xa xôi. Các công trình thuỷ điện trên sông Sê San, sông Srê Pôk, sông Đăk Bla… mang ánh điện tràn đến khắp núi rừng, từ tận đỉnh Ngok Linh cho tới đồng cỏ M’Drăk ven chân núi Mẹ bồng con Cư H’Mú, kéo theo truyền hình cáp, “ ăng ten chảo” đem cả thế giới đến mọi buôn, bon, kon plei quê tôi. Thuỷ lợi A Yun Hạ, Đăk Uy, Plei Krông, Ea Kao, Ea Suop thượng…biến đất hoang nên ngàn cánh đồng 5 tấn lúa, cho cái đói chạy xa khỏi miền đất cao nguyên;  cho Buôn Ma Thuột mơ một ngày không chỉ mang thương hiệu Cà phê Ban Mê được quốc tế công nhận, mà còn sẽ là thủ phủ của món đồ uống gắn kết toàn cầu; cho Hoàng Anh Gia Lai kết nối cùng bóng đá thế giới; để sâm Ngok Linh, bauxit Nhân Cơ có thể làm thay đổi bộ mặt của một vùng đất nghèo….Trường đại học Tây Nguyên, hệ thống các trường Cao đẳng & Trung học chuyên nghiệp, hàng ngàn trường, lớp từ Mầm non đến cấp III cho con em mọi người dân tận buôn, bon, kon, plei đều có thể tung tăng áo trắng mỗi sớm chiều nghe tiếng trống đến trường. Và vượt lên tất cả là sự tôn vinh của thế giới đối với di sản đầy sáng tạo cuả những nghệ nhân chân đất, góp phần làm sang cho Văn hoá Việt nam, không chỉ có “ Không gian văn hoá cồng chiêng”, mà còn cả kho tàng sử thi dân gian lớn nhất thế giới của cả 6 tộc người Êđê, Jrai, Mnông, Bâhnar, Sê Đăng, Răk Glay …

Tôi nhìn thấy bóng các Tù trưởng Dam San, N’Trang Lơng, Săm Brăm, Ama Thuột…lừng lững trên ngọn gió mang hương hoa bay khắp núi đồi; Vua săn voi Y Thu Khun Zu Nốp oai nghiêm trên bành voi ung dung vượt sông . Các vị lão thành cách mạng Nay Der, Nay Phin, Y Wang Mlô Dun Du, Y Ngông Niê Kdam…hể hả cười nâng cần rượu mừng ngày hội lớn. Vang vang trong gió, tiếng các nàng H’Linh, H’Ly hát trong ánh cầu vồng nơi đầu những dòng thác tung nước trắng xoá, bài hát “ Tây Nguyên giải phóng” phới phới niềm vui của tháng ba một chín bảy lăm, mà nhạc sỹ người Jrai – Kpă Púi năm ấy đã nhanh chóng gửi ra Hà Nội, rằng :  “ Cồng chiêng ơi cùng ta nhảy múa / đàn tr’ưng ơi ca hát vang lên / kết đoàn lại, vững một lòng / gìn giữ lấy buôn làng Tây Nguyên ” .

5h sáng 10/3/010

Linh Nga Niê Kdăm

Một bình luận về “Nghĩ, một sớm tháng ba”

  1. Cám ơn chị Linh Nga đã chia sẻ. Mình có thể tưởng tượng đến niềm vui của chị sau bao nhiều năm xa cách, trở về nhà trong khúc khải hoàn.

    Ngày đó mình đang học cao học Quốc Gia Hành Chánh (nay là Học Viện Hành Chánh), thuộc thành phần thế nào cũng phải đi tù không ít thì nhiều với chính phủ mới, cho nên mình chẳng vui gì mấy. Nhưng sự thực là trong lòng mình vẫn vui vì chiến tranh chấm dứt. Vào thời đó thấy anh em hò hét giết nhau như hai thằng điên, mình còn nhỏ nhưng vẫn cảm được sự điên rồ đó tận xương tủy. Cho nên lúc đó mình hay vào nhà thờ cầu nguyện cho chiến tranh chấm dứt mà chẳng bao giờ cầu nguyện cho bên nào thắng. 🙂

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s