Bài báo dưới đây có từ năm 2013 nhưng vẫn đúng với hiện tại.
Tội nghiệp anh chị em ta. 50 năm vẫn chưa giải quyết xong chính sách đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số, nên anh chị em ta vẫn mãi bị cầm tù, có muốn thoát nghèo cũng không thoát được.
Lãnh đạo người Kinh chúng ta có thể mỗi ngày ăn no ăn ngon và nhắm mắt làm ngơ trước cơn đói cồn cào của anh chị em sao?
Phạm Thu Hương
***
Bảo đảm chính sách đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số
Nội chính – Thứ Tư, 16/10/2013, 15:54 [GMT+7]
Nước ta là nước nông nghiệp, khoảng 70% dân số là nông dân, 90% lao động người dân tộc thiểu số sống bằng nghề nông, vì thế đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng đối với cuộc sống của đồng bào ở nông thôn, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Khu vực đồng bào dân tộc thiểu số cư trú thường là vùng có vị trí chiến lược, quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng và môi trường; chủ yếu là đất lâm nghiệp, diện tích đất nông nghiệp và đất ở rất hạn chế.
Trước năm 1980, diện tích đất nông nghiệp, đất rừng rất lớn, mật độ dân số rất thấp, các gia đình đồng bào dân tộc thiểu số đều có đất ở, đất sản xuất (do tự khai hoang, phục hóa, hoặc do chính quyền cấp). Thời gian từ năm 1976 trở lại đây, do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan, việc quản lý, sử dụng đất của các hộ dân tộc thiểu số có những biến động, xuất hiện ngày càng nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất ở, đất sản xuất, nhất là đồng bào ở các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long.
![]() |
| (Ảnh minh họa) |
Tại Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) đã ra Nghị quyết số 24-NQ/TW về công tác dân tộc; thể hiện rõ chủ trương, định hướng và những nhiệm vụ, giải pháp cụ thể để thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống, phát triển kinh tế – xã hội cho khu vực miền núi, vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt là giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số: “Giải quyết cơ bản tình trạng thiếu đất sản xuất, đất ở và vấn đề tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở Tây Nguyên, Tây Bắc và vùng đồng bào dân tộc Khơme Nam Bộ”.
Cụ thể hóa chủ trương trên, trong hệ thống các văn bản luật hiện hành, Luật bảo vệ và phát triển rừng, Luật đất đai 2003 và một số văn bản dưới luật đã quy định về chính sách giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số. Theo đó, đối với đất ở, đồng bào dân tộc thiểu số được Nhà nước giao đất có thu tiền nhưng được miễn đối với vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Đồng bào dân tộc thiểu số được hỗ trợ tối thiểu 200 m2/hộ. Đối với đất sản xuất nông nghiệp, đồng bào dân tộc thiểu số được giao đất không thu tiền sử dụng đất đối với diện tích trong hạn mức; được thuê đất đối với diện tích vượt hạn mức và được hỗ trợ đất sản xuất theo từng loại đất và điều kiện cụ thể của địa phương. Đối với đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đồng bào dân tộc thiểu số được giao khoán đất rừng đặc dụng thuộc khu phục hồi sinh thái, rừng phòng hộ đầu nguồn cho hộ đồng bào sinh sống tại chỗ để bảo vệ và phát triển rừng, sản xuất lâm nghiệp, bảo tồn bản sắc dân tộc gắn với phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số; được công nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất. Ngoài ra, đồng bào dân tộc thiểu số còn được nhận chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái rừng đặc dụng, trong khu vực rừng phòng hộ nếu sinh sống ở đó; được giao đất nông nghiệp, đất ở lần 02 nếu không còn đất hoặc thiếu đất và không được chuyển nhượng, tặng cho trong 10 năm và được miễn tiền sử dụng đất khi được giao đất ở đối với trường hợp ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.
Như vậy, với các quy định nêu trên, Luật đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo hành lang pháp lý quan trọng giải quyết chính sách về đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số. Đến nay, hàng trăm ngàn hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, không có đất ở, nhà ở, không có hoặc thiếu đất sản xuất, nhiều hộ nghèo đói, du canh, du cư, di cư tự do, sinh sống trong vùng thiên tai, nguy hiểm… đã có đất ở, nhà ở, cuộc sống ổn định hơn. Đồng bào rất phấn khởi, yên tâm lao động sản xuất, tình trạng du canh, du cư đã giảm. Các khu định canh định cư, tái định cư được quy hoạch, đầu tư đồng bộ về kết cấu hạ tầng, xây dựng khu dân cư, bố trí đất sản xuất… đã đáp ứng cơ bản nhu cầu sinh hoạt, sản xuất của đồng bào. Đây là những kết quả quan trọng để ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, tăng cường khối đoàn kết các dân tộc, củng cố niềm tin của đồng bào ở vùng đặc biệt khó khăn, vùng miền núi, biên giới, vùng dân tộc thiểu số với Đảng, Nhà nước.
Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất (2002-2012), vẫn còn trên 300.000 hộ dân tộc thiểu số nghèo, thiếu và không có đất ở, đất sản xuất. Tình trạng chuyển dịch đất nông nghiệp, đất ở của đồng bào trái pháp luật còn đang xảy ra khá phổ biến. Các hộ dân tộc thiểu số có đất vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận, quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực đất đai. Trong khi đó, một số địa phương vùng Tây Nguyên, Bình Phước và đồng bằng sông Cửu Long có nhiều doanh nghiệp, cá nhân ở nơi khác đến mua gom ruộng, đất của các hộ dân tộc thiểu số. Việc tích tụ ruộng, đất ở các vùng này diễn ra ngày càng tăng và khá phổ biến, đối tượng bị thua thiệt nhiều nhất vẫn là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số.
Kết quả thực hiện chủ trương thu hồi đất của các doanh nghiệp, nông, lâm trường rất hạn chế. Trong khi đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất, các nông, lâm trường chiếm giữ một diện tích đất rất lớn, đóng cửa rừng, sử dụng kém hiệu quả, sai mục đích, làm phát sinh tranh chấp đất đai giữa nông, lâm trường với đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương. Trong diện tích đất đã thu hồi, một số diện tích đất lại tiếp tục giao cho các hộ thuộc doanh nghiệp quản lý, sản xuất kinh doanh; một số diện tích không đáng kể giao cho các hộ dân tộc thiểu số thiếu đất sản xuất, nhưng lại giao đất xa, đất xấu nên đồng bào dân tộc không sử dụng được.
Các chính sách liên quan việc hỗ trợ đất ở, đất sản xuất chưa sát tình hình thực tế tại các địa phương, vùng miền và hầu hết đều trong tình trạng thiếu vốn, dẫn đến các chương trình, dự án đều thực hiện dang dở, không đạt kế hoạch. Số lượng lao động được đào tạo nghề khá lớn nhưng số lao động sau đào tạo có việc làm còn thấp, chưa có sự kết nối giữa đào tạo nghề, thu hút lao động, tạo việc làm của doanh nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương.
Công tác quy hoạch chưa quan tâm nhiều đến việc sử dụng đất cho vùng dân tộc thiểu số. Việc quy hoạch không gian sinh tồn cho các buôn, làng, cộng đồng dân tộc thiểu số hầu như chưa có địa phương nào thực hiện được. Việc cấp Giấy chứng nhận đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất ở tại các tỉnh miền núi, biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống còn thấp.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập nêu trên. Xuất phát từ nhận thức, tầm nhìn về xây dựng, hoạch định chính sách đất ở, đất sản xuất đối với đồng bào dân tộc thiểu số còn chưa sâu, chưa toàn diện. Công tác tổng hợp, rà soát, xác định đối tượng thụ hưởng chính sách rất hạn chế, số liệu thiếu chính xác, các định mức hỗ trợ (giải quyết đất ở, đất sản xuất, bồi thường, đền bù tái định cư…) cơ bản thấp hơn nhiều so với giá thực tế và không được điều chỉnh, sửa đổi kịp thời. Quỹ đất của các địa phương rất hạn chế, với mức đầu tư của các chính sách hiện tại, không thể đủ giải quyết nhu cầu thiếu đất ở, đất sản xuất của các hộ dân tộc thiểu số nghèo…
Có thể thấy, đồng bào dân tộc thiểu số là nhóm đối tượng yếu thế, cần được sự quan tâm đặc biệt và các chính sách hỗ trợ kịp thời, phù hợp của Nhà nước. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành chưa giải quyết được những bất cập nêu trên. Thực tiễn cho thấy, việc giải quyết đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số còn liên quan trực tiếp tới Luật cư trú, Luật đầu tư và Luật doanh nghiệp. Các luật này lại không hề có điều nào quy định nhằm khắc phục quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa đang diễn ra rất mạnh, tập trung ở những vùng đất nông nghiệp có chất lượng tốt với diện tích rộng lớn để bảo đảm đất ở, đất sản xuất cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Mặc khác, pháp luật về đất đai chưa dành được sự quan tâm đầy đủ, sâu sắc và nhiều chiều để giải quyết vấn đề đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số. Việc chỉ quy định mang tính nguyên tắc về những bảo đảm của Nhà nước cho người sử dụng đất tại Điều 10 Luật đất đai 2003 (tạo điều kiện cho người trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối có đất để sản xuất…) sẽ không đáp ứng được nhu cầu về đất đai cho đồng bào dân tộc thiểu số; không giải quyết được tình trạng đói nghèo và khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, các dân tộc như hiện nay. Do vậy, để giúp đồng bào ổn định đời sống và phát triển kinh tế bền vững, bảo đảm bình đẳng trong tiếp cận và sử dụng đất cho đồng bào dân tộc thiểu số, tôn trọng giá trị truyền thống và đặc điểm của đồng bào dân tộc thiểu số, tạo cơ hội cho các nhóm dân tộc thiểu số thích nghi và hưởng lợi từ cơ chế thị trường, giảm bất ổn trong xã hội, cần thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung Luật đất đai 2003 theo hướng:
– Bổ sung vào Điều 10 các nội dung, quy định có tính nguyên tắc về bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số trong lĩnh vực đất đai: “Nhà nước có chính sách bảo đảm đất ở, đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số trực tiếp sản xuất nông nghiệp mà không có hoặc thiếu đất ở, đất sản xuất. Nghiêm cấm việc đầu cơ, mua bán, bao chiếm đất đai trong vùng dân tộc thiểu số vùng biên giới”.
– Bổ sung quy định: “Nhà nước có chính sách ưu tiên và thực hiện chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất ở, đất sản xuất, tiền thuê đất sản xuất nông nghiệp cho các đối tượng: người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng biên giới, hải đảo, an toàn khu”.
– Để bảo đảm các điều kiện sống và tôn trọng những đặc điểm về cư trú, sinh hoạt, bảo vệ bản sắc văn hóa, không gian sinh tồn của cộng đồng các dân tộc thiểu số, cần quy định “giao đất không thu tiền cho cộng đồng để phân bổ theo hương ước, luật tục và sự đồng thuận cộng đồng cho những hộ gia đình thiếu đất ở, đất sản xuất”. Phương án cộng đồng giao đất cho các hộ dân trong cộng đồng sử dụng được xây dựng theo quy tắc của luật tục và được đưa ra bàn bạc cụ thể trong cộng đồng dưới sự chủ tọa của người đứng đầu hoặc người đại diện của cộng đồng, có sự chứng kiến của đại diện chính quyền cơ sở. Trong quá trình thực hiện, các thành viên của cộng đồng có quyền giám sát và đề xuất giải quyết khi thấy xuất hiện tư lợi, có sự tham gia giám sát của chính quyền cơ sở.
– Quy định giao Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thu hồi diện tích đất mà tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp công không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, giao khoán, cho thuê, cho mượn trái pháp luật, bị lấn, bị chiếm để tạo quỹ đất giao, cho thuê cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân. Việc giao đất, cho thuê đất phải ưu tiên cho hộ gia đình, cá nhân là đồng bào dân tộc thiểu số không có đất hoặc thiếu đất sản xuất ở địa phương.
Thứ hai, sửa đổi Luật đầu tư theo hướng: Bổ sung các quy định cụ thể hơn, rõ ràng hơn về điều kiện, cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đầu tư vào vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng dân tộc thiểu số. Bổ sung các quy định, cơ chế ràng buộc trách nhiệm của nhà đầu tư đối với các cá nhân và cộng đồng dân tộc thiểu số theo hướng đền bù xứng đáng tài sản; trách nhiệm đào tạo nghề, chuyển nghề, giải quyết việc làm, bảo đảm thu nhập sau tái định cư.
Thứ ba, về tổ chức thực hiện, cần ưu tiên nguồn lực, bố trí đủ kinh phí cho các chính sách, các chương trình mục tiêu quốc gia, các dự án đầu tư tại vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng đặc biệt khó khăn. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chính sách pháp luật về đất đai, về bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn. Tổ chức hiệu quả các chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất phải gắn với mục tiêu ổn định đời sống, phát triển kinh tế – xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo đảm an sinh xã hội, môi trường sinh thái, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa, truyền thống đoàn kết các dân tộc. Tăng cường các biện pháp và trách nhiệm quản lý, thực hiện chính sách pháp luật về lĩnh vực đất đai, nhất là thực hiện quy hoạch dân cư, kế hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp, quy hoạch các loại rừng. Chủ động nắm chắc tình hình di biến động dân cư, dân số trên địa bàn. Khẩn trương hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, sơ kết, tổng kết đối với việc thực hiện các chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất cho hộ dân tộc thiếu số. Xử lý thu hồi đất của các nông, lâm, ngư trường, các doanh nghiệp sử dụng chưa hiệu quả, sai mục đích, đất gần khu dân cư để tạo quỹ đất, giao cho các hộ đồng bào dân tộc thiếu số thiếu hoặc không có đất ở và đất sản xuất. Thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo nghề, chuyển đổi nghề phi nông nghiệp, thu hút lao động vào các doanh nghiệp trên địa bàn, xuất khẩu lao động…
Nguyễn Phương Thảo
(Ban Nội chính Trung ương)
