Cởi bỏ lối nhìn cũ để hướng về tương lai – Giải thoát khỏi tên tuổi

Tôi biết gì? – Câu trả lời sâu thẳm nhất: Tôi không biết gì cả!

Của đáng tội là tôi có xu hướng bám lấy mấy thứ danh vị vụn vặt đó: nhà văn, tiến sĩ, nhà nghiên cứu; tôi bám lấy mấy thứ ghế: hiệu trưởng, chủ tịch, phó giám đốc,… Nên, khi dự hội nghị hay cuộc họp lớn nhỏ nào đó, nếu có ai kính thưa tiến sĩ, phó chủ nhiệm, vân vân… thì ta khoái ra mặt. Còn không thì ta giận, ta để bụng. Tôi còn bám vào mớ công trình, mấy tập thơ, vài cuốn tiểu thuyết cùng bao nhiêu thứ nữa. Ví dù có ai đó phê bình tác phẩm tôi là tôi mất ăn, thiếu ngủ ngay. Tôi tìm cách trả thù cho hả dạ mới thôi. Một tổ chức rất vu vơ với lèo tèo vài ba người, nhưng tôi cứ khoái cái nỗi chủ tịch với hội trưởng này nọ. Tôi bám, triển khai và bảo vệ cái ghế vu vơ ấy. Rồi khuếch trương chúng ra và bảo vệ chúng quyết liệt hơn nữa. Tôi cần bám cứng vào chúng để tôi được là cái gì đó. Bởi thực sự tôi không biết gì cả, không là gì cả, nếu không có chúng, nếu tôi bị lấy mất mấy thứ ghế, bằng cấp, chức danh lỉnh kỉnh kia đi.
Bạo động và chiến tranh xuất phát từ sự BÁM đó.

Chính sự bám này, chính tinh thần đồng hóa đã gây cho xã hội Chăm mấy năm qua bao phiền phức. Đồng hóa, ta gắn thân ta với cơ quan (cơ quan to chừng nào tốt chừng nấy, ví dụ làm ở Bộ này hay Đại học nọ), gắn tên ta với học vị học hàm hay danh vị vớ vẩn nào đó. Trong khi truyền thống Chăm rất sang cả. Có ai thấy tác giả Chăm nào ghi tên mình lên tác phẩm không? Tháp Ppo Klaung Girai, Tháp Dương Long, Tháp Cánh Tiên,… vô danh đã đành, ngay Glơng Anak, Pauh Catwai hay Ariya Cam – Bini,… cũng vô danh nốt!

Nguyễn Công Trứ: “Không công danh thà nát với cỏ cây”. Khổ vậy đó! Công (sự nghiệp) và danh (tên tuổi) có cái nỗi chi mà to thế chứ. Mèng ôi, chính tâm thế này kéo anh em bà con vào cuộc cãi vã vô lối, hay rộng ra: Khiến loài người lôi nhau vào mấy trận chiến tàn khốc. Hoelderlin thì khác:

Đầy tràn trong công danh sự nghiệp
Nhưng con người sống một cách thơ mộng trên mặt đất này.

Full of merit,
yet poetically, man dwells on this earth.

Tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả: tên tuổi của tôi, các công trình của tôi, để được sống thơ mộng trên mặt đất này. Sống, mà lòng nhẹ như mây trời… Bởi sống là gì, nếu không phải để ngợi ca và cảm tạ? Ngợi ca một nghĩa cử đẹp, một tác phẩm hay, một tấm lòng cao thượng. Cảm tạ một buổi sớm mai hồng, một câu nói ấm lòng hay nửa nụ cười huyền ẩn và linh diệu đột ngột xuất hiện giữa đêm tối cuộc thế và cõi người.

Inrasara

Một suy nghĩ 8 thoughts on “Cởi bỏ lối nhìn cũ để hướng về tương lai – Giải thoát khỏi tên tuổi”

  1. Cảm ơn anh Inrasara đã chia sẻ. Em thấy phân tích của anh về chức danh, địa vị, cái tôi rất thú vị 😀 Nói chung đó là thứ áo giáp để người ta dễ kiếm sống và truyền giống hơn.

    Mỗi lần đọc báo Việt Nam, em phì cười khi tác giả ký tến TS/PGS/GS/ThS/Nhà văn … Em nghĩ: Chao ôi, thật là sến, có ai dám công bố công trình nghiên cứu để thế giới thẩm định không?

    @Anh Hoành: Cái này là lỗi do Khổng giáo và sự háo danh của người Việt Nam nói chung, Nguyễn Công Trứ chỉ là một trong số ấy thôi. Chúng ta vẫn thờ ông Khổng trong Văn Miếu và hàng chục con rùa vẫn è cổ vì đội bia tiến sĩ đó thôi. Dạo trước lãnh đạo HN còn đòi thông qua nghị quyết đến 2020 tất cả lãnh đạo phải là tiến sĩ trở lên (tiến sĩ giấy hay tiến sĩ vải cũng được, ưu tiên Mác-Lê). Sau khi người dân phản biện, các vị mới thôi đấy chứ.

    Số lượt thích

  2. Ý tưởng của Inrasara rất hay, nhưng thật là khó …thực hiện.
    Ảnh hưởng Nho giáo trong xã hội VN vẫn còn rất sâu đậm, đến nỗi nó đã thành một phần bản sắc. Đâu dễ gì buông bỏ trong một sớm một chiều…

    Người Chăm ảnh hưởng văn minh Ấn Độ, và tư duy Ấn rất khác so với Trung Hoa.

    Ngày xưa người Ấn Độ không chép sử, họ không quan tâm và thậm chí không có khái niệm về việc ghi chép lịch sử.

    Thật là một quan niệm hết sức lạ lùng, phải không anh Hoành?

    Số lượt thích

  3. Em nghĩ không cần công danh của admin ĐCN là một giai đoạn khi con người về già hay đã đạt mọi công danh chức tước nên quy về ở ẩn giống Độc Cô Cầu Bại thủa xưa…

    Đó cũng thể coi là một giai đoạn thoát tục khi con người đủ hết mọi khía cạnh về học thức, độ chín chắn, tư duy ổn định, rảnh rang suy ngẫm lại mình và thế giới..

    Số lượt thích

  4. Chào anh Inrasara và các bạn,

    Cho mình phản biện nha. Trước hết mình suy nghĩ theo 1 lý thuyết nói nôm na là cái gì tồn tại thì có lý (lý do, lý lẽ…) và cái gì có lý thì tồn tại.

    Tư tưởng chính danh được đề cập trong Khổng giáo đã tồn tại suốt gần 3000 năm thì nó phải có cái lý của nó. Nó phải có ích lợi cho những người đi theo nó nên những người ấy mới duy trì điều này.
    Nhưng đồng thời, cũng có các tư tưởng yêu cầu gia giảm và sử dụng cái danh một cách có liều lượng. Vì không phải “danh” là tốt thì muốn có bao nhiêu cũng được. Đến một mức nào đó, khi có quá nhiều danh và sự háo danh, con người trở thành nô lệ của danh.
    Danh là một thứ thuốc bổ nhưng vô cùng nguy hiểm nếu cơ thể bạn có dư chất bổ. Thà thiếu thì còn có thể cho thêm vào. Khi đã dư thì lấy ra rất khó.
    Bạn nghĩ sao nếu tôi copy một số đoạn trong bài viết này của anh Inrasara rồi cho vào 1 bài của tôi. Tôi xào nấu chế biến, tiêu hành tỏi ớt vào thật nhiều và quên mất cái việc ghi rõ nguồn trích dẫn từ anh Inrasara.. Câu hỏi này cho thấy ta không thể loại bỏ cái danh ra khỏi cuộc đời riêng của ta, cũng như cuộc đời chung của toàn xã hội.
    Danh đến nay vẫn còn là thứ hàng nhu yếu phẩm trong đời sống xã hội. Câu hỏi kế tiếp là sử dụng món nhu yếu phẩm này thế nào? Khi đặt ra câu hỏi về mục tiêu, chắc là chúng ta phải phân tích thêm một chút nữa.
    1. tôi muốn có danh và chỉ cần dùng nó tối thiểu sao cho danh ấy vẫn tiếp tục được lớn lên. Nhưng chỉ lớn ở nơi nào, lúc nào mà tôi thích hoặc tôi cần. Không phải lúc nào tôi cũng phải vác cái danh to đùng ấy đi theo.
    2. Cái danh của tôi sẽ là động lực thúc đẩy người khác tìm kiếm cái danh cho riêng họ bằng những phương cách hợp lý.
    Mình có thể kể thêm nhưng lại thấy các từ ngữ nói ra quá cô đọng và trừu tượng dễ gây hiểu lầm. Chính lúc ta đang loay hoay tìm cho mình một mục tiêu cho danh của ta, ta nhận ra cái mục tiêu khác nằm sâu bên trong danh. Chính là mục tiêu của đời ta. Ta muốn có một cuộc đời thế nào thì cái danh của ta sẽ thế nấy.
    Tôi nghĩ một cách tử tế nhất, mọi người sẽ nhận ra mục tiêu sống của mỗi người là được sống trong bình an, vui vẻ và cùng nhau tiến bộ. Đại khái, ta có thể kể ra như vậy.
    Khi có cái mục tiêu ngầm bên trong này, ta nhận ra cái mục tiêu nổi bên ngoài thực ra chỉ là phương tiện để đi tới mục tiêu ngầm. Danh chỉ là phương tiện, không phải mục đích.
    Mỗi khi phương tiện ấy không giúp ta đi tới mục đích thì cất nó đi, xài nhiều làm chi cho nó mòn. Cái lỗi xảy ra trong bao thế hệ chính là sự ngộ nhận về mục đích và phương tiện.
    Cái danh sẽ trở nên rất dễ thương, đáng kính, đáng quý, đáng để các thế hệ trân trọng và tìm đến khi cái danh làm cho đời ta thêm hạnh phúc. Hạnh phúc đời người lại được định đoạt bởi các ý nghĩa, giá trị mà ta gán ghép vào hành vi, vào vật chất, vào những thứ có thể cầm nắm, nghe, nhìn được. Nói ngăn ngắn thì hạnh phúc không phải là những cái cụ thể nhưng là cái giá trị trừu tượng ta đặt cho cái cụ thể.
    Vì vậy khi ta dùng cái danh để đạt đến thứ hạnh phúc, mà ta lại bất chấp mọi phương tiện… theo kiểu cứu cánh biện minh cho phương tiện. Như thế một mặt ta đem thuốc tẩy để rửa cái danh của ta, mặt khác ta lại quên thay nước hoặc dùng nước bẩn để rửa danh. Điều này khiến cái danh trở nên lố bịch. Cái hạnh phúc bên trong trở nên thô lỗ…

    Mến

    Số lượt thích

  5. Hi Thiện và Long,

    Danh là cái tôi. Học Danh là sai. Không có thầy nào dạy ai chạy theo cái tôi hết. Học cái tôi là học sai đường.

    Chính danh là “danh chính ngôn thuận”, tức là thành thật, chứ không phải “danh” là “tên tuổi” kiểu “phải có danh gì vói núi sông”.

    Ví dụ: “Chính danh” là nếu nói đây là chính phủ dân chủ thì dân phải thực sự là chủ. Đó là chính danh. Nếu dân chỉ là đầy tớ, thì không là chính danh.

    Và ở ẩn hay không, chẳng liên hệ gì với danh hết. Làm việc giúp đời là để giúp đời không phải vì danh. Về ở ẩn là vì lớn rồi thì về nhà nghỉ mệt.

    Hãy nhìn vào xã hội Việt Nam bao nhiêu năm nay, “trí thức” danh thì cao tài thì thấp, bằng thì sáng đầu thì tối. Chỉ biết dạ dạ vâng vâng ù ù cạc cạc. Không mấy người có dũng khí nói sự thật, có sáng tạo để suy nghĩ ra điều mới, có thông thái để biết đúng sai, có sâu sắc để nhìn sự vật sâu hơn lớp da. Thế thì không nghèo hèn cả mấy ngàn năm sao được! Vì cái danh làm cho người ta hèn đi.

    Đó cũng vì người ta dạy nhau trong học đường chạy theo cái danh, mà không dạy nhau bỏ cái tôi.

    Dạy nhau phục vụ, vì ta yêu người, yêu đời, yêu tổ quốc. Chứ không vì danh, vì tên tuổi.

    Danh đến hay không là tự nó, chứ không phải vì kẻ sĩ chạy tìm nó. Danh tự đến là khác, chạy theo nó lại là chuyện khác. Cũng như tiền. Tiền tìm đến mình vì mình làm tốt là một chuyện; làm việc chỉ vì chạy theo tiền lại là một việc khác.

    Cái tôi càng mất đi, người ta càng thông thái và càng tích cực hoạt động cho đời. Chỉ có thực hành thì ta mới trải nghiệm được điều này. Không phải là lý luận lý thuyết.

    Nếu chúng ta không hiểu được điều này, thì chúng ta còn tạo thêm nhiều thế hệ “trí thức” vừa dốt vừa háo danh nữa. Một quốc gia đang nghèo đói không có xa xỉ phẩm đào tạo trí thức bất tài.

    Phục vụ đời, và phục vụ đời như một “người phục vụ”.

    “Người phục vụ” còn có một tên nữa là “đầy tớ”. Kẻ sĩ là đầy tớ cho đời, đầy tớ cho nhân dân, đầy tớ cho tổ quốc.

    Các bạn có hiểu được tinh thần đầy tớ vô danh đó không?

    Liked by 1 person

  6. Anh Hoành mến,

    Thời Nho giáo, danh được hiểu như một dấu ấn của cá nhân để lại lịch sử trong các câu như: lưu danh thiên cỗ, lưu xú thiên thu…

    Trong văn hóa, danh còn được hiểu bao gồm một hay nhiều yếu tố như lợi ích, lợi nhuận, uy tín nghề nghiệp, uy tín xã hội….

    Từ đó ta thấy các hiện tượng như hữu danh, ẩn danh, mạo danh, vô danh…

    Theo bài của anh Inrasara thì danh bị lầm lẫn trong cách sử dụng khi đi đâu cũng vác theo cái chuỗi giáo sư, tiến sĩ, giải thưởng này, huy chương nọ…

    Như thế chúng ta đã thảo luận về danh theo cách nhìn động của nó, nghĩa là có sự tương tác đa dạng với các yếu tố xã hội khác. Ta cũng nhìn danh trong cái nhìn tĩnh khi xét nó cô lập với các yếu tố khác mà chỉ xét trong bối cảnh đạo đức hoặc nhận thức bản thân.

    Theo ý anh Inrasara, nhận thức bản thân bởi cái danh mà thiên hạ tặng cho ta hoặc ta đạt được gây ra ngộ nhận về bản thân chính mình. Sự ngộ nhận ấy biến thành những tai họa cho tương lai cá nhân và sự phát triển chung của cộng đồng.

    Nhưng từ đó lại đi đến kết luận từ bỏ cái danh thì Thiện e rằng chúng ta đã chưa suy xét hết các mối tương quan của danh với tổng thể xã hội. Trong xã hội, cái gì là xấu, cái gì là tốt? Nho giáo đề cao sự thành danh trong quá trình lập thân. Danh là công cụ để đo lường mức đóng góp hoặc dấu ấn của cá nhân. Do vậy cần có danh để đo lường mức đóng góp của mình. Ai đó nói rằng: thành công của con người không ở cái mà họ đạt được nhưng ở cái mà họ để lại trong lòng cộng đồng chung quanh. Câu này có lẽ phản ánh đúng tinh thần Nho giáo.

    Đối lập với khái niệm này là khái niệm vô danh, ẩn danh của Lão giáo, Phật giáo. Con người phải nhận thức bản thân bằng chính bản thân mình chứ không chỉ qua tấm gương soi mặt của xã hội.

    Chúng ta có nên tranh luận theo các từ ngữ này hay không? Thiện nghĩ xét về tinh thần thì Nho Thích Lão không đối lập nhau. Cả 3 tư tưởng này đều nhắm vào việc mưu cầu hạnh phúc chung cho toàn xã hội. Việc tranh luận vào các khái niệm có vẻ không ổn lắm.

    Nói không tranh luận vào các từ ngữ, khái niệm không hoàn toàn đúng mặc dù có lẽ chúng ta dễ đạt được sự đồng thuận rằng tinh thần của 3 phái này giống nhau. Vấn đề đặt ra là khái niệm chữ danh theo ảnh hưởng Nho giáo nơi thơ Nguyễn Công Trứ và cái tôi, cái bản ngã…

    Thiện nghĩ một cách dung hòa hơn là trở lại ý của anh Inrasara, cái danh phải dùng đúng nơi, đúng lúc. Đi đâu cũng khệ nệ vác cái danh thì trông quá sức lố bịch. Chúng ta đang nói đến dùng cái danh lúc nào và bỏ cái danh lúc nào.

    Cái danh có thể bỏ đi khi ta muốn nhận thức đầy đủ về chính mình. Cái danh cần có khi ta muốn định hướng xem tương lai của ta nên theo hướng nào.

    Thiện có một kinh nghiệm khác xin kể với anh Hoành và các bạn. Thiện từng làm việc với đối tượng thất thế trong xã hội-vulnerable… Họ là gái mãi dâm, ma cô, dân nghiện ma túy, kẻ ăn xin… Họ nghĩ là họ chẳng còn gì cả: tài sản, danh dự, khí tiết, gia đình… Thế là họ liều mạng, phá đời và hủy hoại danh tính của mình. Xem cũng hơi giống với các ẩn sĩ, thiền sư đắc đạo muốn đạt đến sự vô danh vậy.

    Để giúp (cũng có thể là để hại) họ, ta phải làm sống lại ý thức bản thân, cái tôi, cái danh và nói chung là phẩm giá của họ. Qua thời gian làm việc, mình lại có kinh nghiệm khác. Phải biết gìn giữ cái danh, cái tôi, lòng tham, sân si… Đừng cố gắng loại bỏ hoàn toàn các trạng thái như tham, sân si, đừng cố gắng loại bỏ hoàn toàn cái bản ngã, cái tôi, cái danh của mình. Trong môi trường ống nghiệm-khi ngồi thiền chẳng hạn, ta có thể loại bỏ cái danh trong nhất thời để rảnh tay suy nghĩ. Nhưng ta không có cách nào loại bỏ nó hoàn toàn trong tâm thức của mình được.

    Nếu ai đó nói rằng có thể loại bỏ cái danh ra khỏi tâm thức thì xin vui lòng chứng minh. Trước hết, hãy cho biết dấu hiệu của việc loại bỏ hoàn toàn cái danh khỏi tâm thức là gì? sau đó xin hãy cho bằng chứng về điều này….

    Mến

    Số lượt thích

  7. Hi Thiện,

    Chính ví bám vào những cái bên ngoài như là “danh” mà Trung quốc hơn 1000 năm sau này yếu từ từ, không còn mạnh như thời cổ đại. Và cái “danh” đó không phải là cái mà Không tử dạy, mà là của đám hủ nhỏ giữ Trung quốc (và các nước ảnh hưởng văn minh Trung quốc như Việt Nam) trong vòng dốt nát cả nghìn năm.

    Khổng tử dạy “nhân lễ nghía trí tín”. Nhân là gốc, Và nhân là tình yêu con người, đạo làm người. Không tử không dạy “phải có danh gì với núi sông.”

    Ở đời ta luôn bị “lệ thuộc” bởi cái danh, vì danh là tên. Tên của mình, chức vị của mình cũng là nó. Nói là “luật sư A” nói về chuyện luật, thì cũng cho người nghe chút tin tưởng hơn là “ông A” chưa bao giờ học luật mà nói chuyện luật.

    Nhưng “lệ thuộc” vào đời sống có danh là một chuyện, sống “vì” danh là một chuyện khác.

    Lệ thuộc vào đời sống có tiền là một chuyện, sống vì tiền là một chuyện khác.

    Chúng ta cần giải thoát tư tưởng khỏi “lệ thuộc” càng nhiều càng tốt. Sao lại mang cái còng ra làm mục đích sống”?

    Đây là vân đề hệ trọng về giáo dục cho bao nhiêu thế hệ. Không phải chuyện trà dư tửu hậu.

    Liked by 1 person

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s