Thử thách Anh ngữ hàng ngày — 4.5.2009

englishchallenge
Chào các bạn,

Cuối tuần chúng ta đã dịch thơ Anh sang Việt, hôm nay đổi chiều, dịch từ Việt sang Anh. Nhưng đây không phải là thơ, thoải mái hơn.

Dưới đây là một đoạn ngắn trong bài viết của cố Thạc sĩ Nguyễn Thị Oanh có post hôm nay trên Đọt Chuối Non. Các bạn cùng dịch để vinh danh cô Oanh nhé.

“Cuộc sống hiện đại với những tiến bộ kinh tế kỹ thuật lại tạo ra nhiều sức ép về mặt tâm lý, xã hội, đặc biệt đối với giới trẻ. Gia đình lúng túng trong nuôi dạy con, xã hội tạo lối sống bon chen… từ đó khi gặp thử thách thay vì đối diện với những vấn đề nan giải và tìm những giải pháp tích cực, các bạn trẻ dễ có xu hướng buông xuôi, tự hủy hoại bản thân với những thói quen tiêu cực như ăn chơi quá đà, thức khuya dậy trễ, tìm sự khuây khỏa với thuốc lá, rượu, ma túy… Có bạn tìm cả cái chết…

Trong khi các nước khác đã có những dịch vụ tâm lý xã hội để giúp các cá nhân tự giải tỏa thì ở nước ta lại thiếu nhiều. Thậm chí có thể nói là không có. Khi giáo dục còn khiếm khuyết, một bộ phận bạn trẻ chưa phát triển được một nhân cách lành mạnh, tự tin.”

Vì đây không phải là dịch thơ hay các văn bản quan trọng, chúng ta không cần phải theo quá sát ý nghĩa của từng chữ. Tuy nhiên, những bài thế này lại cho mình một loại vấn đề khác cũng hơi khó. Đó là làm sao dùng từ và hành văn thông suốt mạch lac như người có tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh, nếu không thì nghe rất “ngoại quốc.”

Để mình đề nghị vài cụm từ, đở cho các bạn tìm kiếm. Mấy đề nghị này chỉ dùng cho bài này thôi nhé. Cho một bài khác, thì lúc đó hãy tính.

Gia đình lúng túng trong nuội dạy con: Families struggle to raise kids

Xã hội tạo lối sống bon chen: Life outside the family is just a rat race (cuộc chạy đua của chuột) (Chữ society thường không dùng để chỉ đời sống bên ngoài gia đình)

Giúp các cá nhân tự giải tỏa: To help individuals deal with pressure (giải quyết áp lực).

Các bạn dùng vài quy luật mình đã nói qua trong các bài trước: Giản dị, sáng sủa, ngắn gọn, tránh passive voice.

Bài này không nhằm mục đích nghiên cứu vocabulary, chỉ chú tâm đến cách viết. Các bạn nên viết rồi post vào comment. Cố gắng thực hành nhé. Chỉ đọc bài của người khác viết thì chẳng lợi ích gì hết. Trust me. Thực hành, thực hành, thực hành. Chẳng có cách nào khác. Đọc không phải là thực hành. Thực hành một buổi bằng đọc 100 buổi. Hãy sử dụng thời gian và năng lực của chúng ta một cách khôn khéo. Hãy dùng 1 giờ với hiệu năng của 10 giờ.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

Một suy nghĩ 23 thoughts on “Thử thách Anh ngữ hàng ngày — 4.5.2009”

  1. The modern life with the development of technological economy creates a lot of pressure affecting many fields such as mental, society, and especially teens. Families struggle to raise children, life outside the family is the race rat, etc. Thus, teens often tend to choose some negative ways instead another positive ways to solve when they have difficulties, as giving up, destroying themselves by hanging out, going out overnight, smoking, always being drunk or even using drug to relieve the time, and even someone wants to die.

    Many countries have many social psychology services to help individuals deal with pressure but our country is recently insufficient, even nothing at all. Therefore, a part of teens does not have advantage enough to develop their personality to create a good and confident life.

    (minh lam thu, ban sua dum nha)

    Thích

  2. The modern life with the technical and economic advances, causes a lot of pressures in social and psychological aspects, especially for young people. Families struggle to raise kids, life outside the family is just a rat race… As a result, when they meet hardship, instead of facing with the teasers and finding the positive ways to overcome, they easily have a tendency to give up, injure themselves with the negative habits such as turning to debauchery, staying out, getting up late, finding solaces in tobacco, spirits, drugs.. Someone seeks for the death.

    Whereas the other countries have the social and spychological services to help individuals deal with pressure, our country lack! Even it’s can say nothing! With insuffficient education, a part of young people does not develop enough to have the health and confidence in their personalities.

    Hi anh Hoành,
    Biết là sai tá lả, nhưng chắc chắn có Thầy sửa rồi nên em vẫn mạnh dạn post lên.
    Cám ơn anh trước vì thế nào anh cũng mất nhiều thời gian với bài của em.
    pky.

    Thích

  3. Cám ơn WF và Yến nhé. Mình sẽ dùng cả hai bài để phân tích. Đến mức này thì ít khi ta nói sai đúng. mà chỉ làm bài viết trôi chảy hơn. Mình bắt đầu bằng bài của các bạn, rồi từ đó chỉnh thêm, chứ không dùng ý nào đã có sẵn trong đầu của mình.

    ** Điều trước nhất cho người Việt viết tiếng Anh cần để ý là chấm câu, tức là dấu chấm và dấu phẩy. Tiếng Việt, khi xưa theo truyền thống Hán ngữ không có chấm câu. Ví dụ câu đầu tiên của Đạo Đức Kinh của Lão tử “Đạo khả đạo phi thường đạo” có rất nhiều cách viết “Đạo, khả đạo phi thường, đạo” hay “Đạo khả đạo, phi thường, đạo” hay “Đạo khả đạo, phi, thường đạo” v.v… cứ di chuyển hay thêm dấu phẩy là một câu văn mới. Vì trước kia ta theo truyền thống này, nên ngày nay ta viết cũng chấm câu thong thả hơn Anh ngữ.

    • Trong Anh văn chấm câu rất kỹ luật. Hai câu đầy đủ nghĩa (2 sentences) không thể nối bằng một dấu phẩy.

    Ví dụ: “I told her I would see her later. She nodded. I started my bike and left.” Nếu ba câu này nối bằng dấu phẩy thì câu thật dài có 2 dấu phẩy đó gọi là “run-on sentence.”

    Nhưng nối như thế này thì được: “I told her I would see her later, she nodded, then I started my bike and left.”

    Chữ “then” và “and” hay các từ tương tự có thể dùng để nối các câu độc lập thành một câu dài, và chỉ cần viết một lần ở câu cuối.

    Ta sẽ nói thêm về chấm câu từ từ sau này. Chấm câu rất quan trọng vì trong các văn bản phức tạp, môt dấu phẩy có thể thay đổi tư tưởng của cả một đoạn văn.

    ** Bây giờ vào bài dịch:

    Cuộc sống hiện đại với những tiến bộ kinh tế kỹ thuật lại tạo ra nhiều sức ép về mặt tâm lý, xã hội, đặc biệt đối với giới trẻ.

    WF: The modern life with the development of technological economy creates a lot of pressure affecting many fields such as mental, society, and especially teens.

    Yến: The modern life with the technical and economic advances, causes a lot of pressures in social and psychological aspects, especially for young people.

    Câu của Yến đúng rồi. Advances là tiến bộ. Development là phát triển. Psychological và social đi theo pressure hay “aspect of pressure” như Yến dùng; chứ không đi theo một “fields” nào đó.

    Nhưng chữ “aspect” thì không cần thiết (dù là không sai). Các bạn để ý, trong đa số trường hợp của chữ “aspect”, ta thực ra không cần nó.

    Nghiên cứu câu của Yến xa hơn:

    * “A lot of pressures”. Ngày trước, nếu là “a lot” thì phải đi với vật không đếm được như “ a lot of sugar” và nếu vật đếm được thì phải là “lots of tables.”

    Chữ pressure vừa là chữ đếm được vừa là chữ không đếm được cho nên dùng đàng nào cũng được: “a lot of pressure” (nhiều áp lực, pressure không có S) hay “lots of pressures” (nhiều loại áp lực khác nhau, pressures có S).

    Tuy nhiên, vài năm trở lại đây trên báo chí Mỹ đã thường xuyên thấy người ta không dùng “lots of” mà cứ dùng “a lot” cho mọi trường hợp: A lot of pressures, như Yến dùng. Tức là, hồi trước thì sai, bây giờ thì OK. (Nhưng vì còn mới mẻ, cũng không nên dùng nhiều quá, nhỡ gặp người khó khăn thì họ nói mình viết dở).

    * Tuy nhiên, nếu các bạn đọc lên sẽ thấy “a lot of pressures” nghe không gọn bằng “much pressure”, vừa gọn hơn vừa bảo đảm an ninh về văn phạm 🙂

    * Chữ aspect (phương diện, mặt…) thực ra là không cần.

    Như vậy, ta có thể viết lại câu của Yến thành:

    The modern life with the technical and economic advances, causes much psychological and social pressure, especially for young people.

    Câu hỏi ở đây là: Tại sao mình không nói “many pressures” mà nói “much pressure”, trong khi cả hai đều đúng?

    Bởi vì trong ngữ cảnh này và vì sự phong phú của chữ pressure, chữ “much” mạnh hơn. Many thì chỉ nói về số lượng nhiều ít. Much vừa ám chỉ số lượng vừa ám chỉ sức mạnh: Much pressure là pressure mạnh.

    Và không cần phải dùng pressures với chữ S vì thực ra chỉ có một pressure, đụng người thì đó là psychological pressure, làm cho người đi ăn cướp thì thành social pressure. Nếu dùng pressures có chữ S thì phải dùng many; như vậy câu văn rất yếu, không bằng chữ much.

    * “Young people” thì đương nhiên là đúng (teens thì hơi quá hẹp). Nhưng “the youth “ thì nghe gọn hơn (2 syllables thay vì 3 như trong young people).

    * “the technical and economic advances” không nên có “the” vì mình chỉ nói đến tiến bộ chung chung chứ chẳng nói về một tiến bộ dặc biệt nào đó.

    Tuy nhiên, nếu thay vì bỏ “the” mình đổi nó thành “its” thì câu văn sẽ rất mạnh: The modern life with its technical and economic advances.

    * For young people: “For” thì không sai. Nhưng nếu dùng “on” thì hình ảnh mạnh hơn. Pressure on young people, áp lực trên giới trẻ.

    Vây câu của Yến đến lúc này là:

    The modern life, with its technical and economic advances, causes much psychological and social pressure, especially on the youth.

    Các bạn để ý hai dấu phẩy trước và sau phrase “with its technical and economic advances”.

    Tạm ngưng ở đây, để các bạn khỏi bị overload. Sẽ tiếp tục các câu sau.

    Cám ơn WF và Yến nhé. You both are my heroes.

    Thích

  4. Đọc bài sửa của anh mà em thấy sung sướng ghê!
    Anh mất nhiều thời gian cho WF và em lắm.
    Em phải cám ơn anh nhiều mới phải!
    Em,
    pky

    Thích

  5. Bây giờ thêm một tí nữa nhé.

    Gia đình lúng túng trong nuôi dạy con, xã hội tạo lối sống bon chen…

    WF: Families struggle to raise children, life outside the family is the race rat, etc.

    Yến: Families struggle to raise kids, life outside the family is just a rat race…
    .

    Cụm từ “families struggle to raise children” chỉ là cách mọi người nói hằng ngày, chẳng có gì đặc biệt. Dĩ nhiên là các cách nói hằng ngày này làm bài viết của ta rất quen thuộc với người Mỹ/Anh . Chữ “children” thì formal hơn là “kids”, dùng “children” như WF rất hay.

    Chữ struggle có một nghĩa là tranh đấu, và ở đây nó có nghĩa hơi khác nữa—đó là làm việc với quá nhiều khó khăn và quá nhiều cố gắng, như “I struggle through the daily Enligsh challenges” 🙂

    Nhắc lại, đời sống ngoài gia đình là “life outsife the family”, chứ không phải “xã hội” (society) như ta hay dùng trong tiếng Việt. Society là chỉ toàn xã hôi.

    Rat race (cuộc chạy đua của chuột) có nghĩa tương tự như “cuộc sống bon chen.”

    Tuy nhiên, khi nói “tên này bon chen lắm”, có lẽ ta phải nói “he is very gungho.” Gungho là hùng hục hăng hái, với một nghĩa châm biếm. (Có thể mai mốt một từ khác sẽ đến trong đầu 🙂 )

    Just” là adverb và có nghĩa là “only” ở đây. Cách dùng này cực kỳ thông dụng.

    Nếu là adjective, just có nghĩa là công chính, như “just cause” là “chính nghĩa.”

    Chấm câu: Không dùng dấu phẩy giữa hai independent clauses.

    Ba chấm “…” , hình như ngày nay chỉ dùng để ra dấu hiệu delete (không viết ra hết) một số chữ trong câu. Ví dụ: “ I go to the market and … she makes the turn.”

    Khi dùng “vân vân”, ta chỉ dùng “etc.” Nhưng “etc.” chỉ dùng khi mình liệt kê một danh sách gồm các vật lặt vặt. Dùng “etc.” sau hai independent clauses, như ở đây, không chỉnh. (Dĩ nhiên nếu bạn là thi sĩ thì cứ chấm lung tung trong bài thơ; không ai phàn nàn).

    Vậy 2 câu đầu ta phải viết:

    Families struggle to raise children. Life outside the family is just a rat race.

    Sẽ tiếp tục.

    Thích

  6. Ok, tiếp tục nghiên cứu bài của WF và Yến.

    từ đó khi gặp thử thách thay vì đối diện với những vấn đề nan giải và tìm những giải pháp tích cực, các bạn trẻ dễ có xu hướng buông xuôi, tự hủy hoại bản thân với những thói quen tiêu cực như ăn chơi quá đà, thức khuya dậy trễ, tìm sự khuây khỏa với thuốc lá, rượu, ma túy… Có bạn tìm cả cái chết…

    WF: Thus, teens often tend to choose some negative ways instead another positive ways to solve when they have difficulties, as giving up, destroying themselves by hanging out, going out overnight, smoking, always being drunk or even using drug to relieve the time, and even someone wants to die.

    Yến: As a result, when they meet hardship, instead of facing with the teasers and finding the positive ways to overcome, they easily have a tendency to give up, injure themselves with the negative habits such as turning to debauchery, staying out, getting up late, finding solaces in tobacco, spirits, drugs.. Someone seeks for the death.

    * Phần này phải bắt đầu bằng viết hoa (capitalize) như WF và Yến đã làm.

    * “Thus” và “as a result” đều tốt. Thus thì chỉ dùng trong viết, chẳng ai nói. As a result đều dùng trong cả nói và viết thường xuyên, cho nên gần gũi hơn.

    .
    * Khi gặp thử thách. WF viết “when they meet difficulties”. Yến viết “when they meet hardship” hoàn toàn tốt. Cả hai đều đúng. Chữ hardship rất creative.

    Tuy nhiên, ta có thể dùng “when meeting hardship” có thể là nhẹ nhàng hơn một tí. (Sẽ nói thêm về chữ “they” dưới đây).

    Ngoài ra, chữ meeting, ngoài nghĩa “gặp” còn có nghĩa tích cực là “đương cự,” như “meeting challenge with determination” (dùng quyết tâm để đương cự với thử thách). Cho nên nếu dùng “running into” (đi đụng, chạy đụng), với một nghĩa bị động, thì hay hơn, vì thường thường là ta “bị đụng” khó khăn. Như vậy, ta có when running into hardship (or difficulties).
    .

    * Thay vì đối diện với những vấn đề nan giải và tìm những giải pháp tích cực. Trong loại ngữ cảnh này, người ta chỉ LUÔN LUÔN nói giản dị “instead of facing the problem(s)”, mà không có thêm “nan giải” hay gì hết (trong tiếng Anh).

    To seek là tìm kiếm. To find là tìm thấy.

    “Ways to overcome” hay “ways to solve” đều đúng, nhưng mà nên thay bằng “solutions”. Gọn hơn.

    Như vậy, English phrase cuối cùng sẽ là: Instead of facing the problems and seeking positive solutions.
    .

    * Các bạn trẻ dễ có xu hướng buông xuôi. Yến viết, “They easily have a tendency to give up.” Văn phạm thì không sai, nhưng trong Anh văn không ai dùng chữ easily ở đây (dù là có trong nguyên bản tiếng Việt). Hoặc là “they have the tendency to give up”, hoặc nhẹ hơn và chính xác hơn là “they may have the tendency to give up.” Chữ easily không ai dùng, có lẽ là vì đã có tendency tức là có sẵn nghĩa “easy” trong đó rồi. Nếu không “easy” thì không thành tendency.

    Chữ “they”: Các chữ pronoun nhiều khi rất mù mờ. Who are they? What are they? Nếu chữ “they” dùng để thay thế ai đó xuất hiên trước vài câu rồi, thì nên nói rõ ra, thay vì dùng “they”. Người đọc đở thắc mắc và đở lầm với nhưng thứ khác. Ở đây nên dùng “the youths.” .

    Như vậy, “các bạn trẻ đẽ có xu hướng buông trôi” có thể viết, “the youths may have the tendency to give up.

    Tuy nhiên, thực tế hơn thì nên dùng “some” tức là nhỏ hơn toàn phần (ta đã nói đến chữ some rồi): Some youths may have the tendency to give up. Nghe chỉnh hơn.

    Như vậy đến lúc này ta có:

    As a result, when running into hardship, instead of facing the problems and seeking positive solutions, some youths may have the tendency to give up ,

    Các bạn để ý mấy dấu phẩy. Nếu mình giải thích mấy dấu phẩy, thì bài viết sẽ quá rậm, đọc rất mệt.
    .

    * tự hủy hoại bản thân với những thói quen tiêu cực như ăn chơi quá đà, thức khuya dậy trễ, tìm sự khuây khỏa với thuốc lá, rượu, ma túy…

    destroying themselves with ruinous habits, such as excessive indulgence, staying out late, smoking, alcohol, drugs, etc.

    Ở đây mình dùng present participle “destroying” như là một participle clause, để giải thích thêm về “give up”.

    Negative habits” thì chắc là chỉ có người Việt hiểu thôi. Cho nên phải tìm một từ khác thế vào. Mình dùng “ruinous” (hủy hoại) ở đây. Chữ nào cũng được, miễn không phải là “negative” 🙂

    Thức khuya dậy trễ” nói là đi chơi khuya, “staying out late”, là đủ rồi, không cần thêm dậy trễ, nghe rất thừa thải. (Tiếng Việt nói thừa nghe không chói tai mấy. Tiếng Anh nói thừa nghe rất khó chịu).

    Debauchery” (ăn chơi) rất ít nghe nói. Người Mỹ bình dân chắc chẳng ai biết từ này. Indulgence là một từ rất quen thuộc.

    Spirits: Thỉnh thoảng mình thấy ở vài nước có dùng chút đỉnh để chỉ rượu. Nhưng alcohol thì rất thông dụng trên thế giới. Hơn nữa, spirits dễ bị hiểu lầm là linh hồn, tinh thần. Sai thì không sai. Dùng cũng không sao. Nhưng có thể là nhiều người Mỹ bình dân không hiểu.

    Smoking” đủ rồi, không cần thêm “tìm sự khuây khỏa” vì ý này đã có sẳn trong mọi thói xấu ta kể ở đây.

    Các bạn thấy chữ “etc.” dùng phía sau một danh sách dài như ở đây.

    Chữ “such as” ở đây có thể thay thành một vạch ngang, để làm câu văn nghe mạnh hơn:

    Destroying themselves with ruinous habits—excessive indulgence, stayingout late, smoking, alcohol, drugs, etc.
    .

    * Có bạn tìm cả cái chết: Some even seek death. Chữ even nên đi sát chữ seek, bởi vì nó bổ nghĩa cho seek trong ngữ cảnh này.
    .

    Như vậy toàn đoạn, kể cả phần trong message trước, có thể viết:

    Families struggle to raise children. Life outside the family is just a rat race. As a result, when running into hardship, instead of facing the problems and seeking positive solutions, some youths may have the tendency to give up , destroying themselves with ruinous habits—excessive indulgence, staying out late, smoking, alcohol, drugs, etc. Some even seek death.

    Vậy là xong đoạn này. Cám ơn WF and Yến nhé. Sẽ tiếp tục đoạn sau.

    Great day !

    Thích

  7. Chào Yến , WF và các bạn,

    Thay vì đi tiếp hết đoạn cuối, mình để đó tính sau. Hôm nay muốn dùng phần đã nói hôm qua, để nói đến một cánh hành văn rất gọn và nhẹ–dùng participle phrase.

    Đây là đoạn ta đã có được hôm qua:

    Families struggle to raise children. Life outside the family is just a rat race. As a result, when running into hardship, instead of facing the problems and seeking positive solutions, some youths may have the tendency to give up , destroying themselves with ruinous habits—excessive indulgence, staying out late, smoking, alcohol, drugs, etc. Some even seek death.

    Chú tâm đến phần in đậm thôi. Nếu mới viết vòng đầu (trươc khi edit lai), đa số mọi người (kể cả mình) có khuynh hướng viết như thế này:

    As a result, when some youths run into hardship, instead of facing the problems and seeking positive solutions, they may have the tendency to give up. They destroyed themselves with ruinous habits—excessive indulgence, staying out late, smoking, alcohol, drugs, etc.

    Câu như vậy là rất hay rồi chẳng có vấn đề gì cả. Tuy nhiên hãy nghiên cứu câu này:

    As a result, when some youths run into hardship, they may have the tendency to give up. (Bỏ đoạn giữa cho dễ thấy).

    Câu này chỉ có 1 subject (some youths), làm 2 hành động khác nhau (run into hardship và have the tendency to give up). Hành động bắt đầu với WHEN là hành động phụ, vì nó dùng để chỉ thời gian cho hành động kia (là hành dộng chính).

    Thì ta có thể biến hành động phụ thành một participle clause (dùng present participle), để cho nhẹ và gọn câu văn.

    As a result, when running into hardship, some youths may have the tendency to give up.

    Bây giờ thêm: Phrase “instead of facing the problems and seeking positive solutions” cũng là một participle phrase, (facing… và seeking…) dùng để bổ nghĩa cho hành động chính, “have tendency to give up”.

    As a result, when running into hardship, instead of facing the problems and seeking positive solutions, some youths may have the tendency to give up

    Đến đây ta có thể ngưng edit, và để đoạn này thành hai câu ngắn:

    (1) As a result, when running into hardship, instead of facing the problems and seeking positive solutions, some youths may have the tendency to give up. (2) They destroy themselves with ruinous habits—excessive indulgence, staying out late, smoking, alcohol, drugs, etc.

    Để hai câu như vậy thì cũng hay, vì nó giảm vận tốc đọc cho người đọc. Tuy nhiên nếu mình muốn rõ ràng là “destroy” bổ nghĩa cho (hậu quả của) “give up” thì ta lại biến nó thành participle phrase. Toàn câu như sau:

    As a result, when running into hardship, instead of facing the problems and seeking positive solutions, some youths may have the tendency to give up, destroying themselves with ruinous habits—excessive indulgence, staying out late, smoking, alcohol, drugs, etc.

    Đoạn này vừa ngắn gọn hơn các cách viết khác, vừa có một “cơ cấu ý tưởng” rất dễ hiểu cho người đọc:

    . Hành động chính: give up (động từ)
    . Hành động phụ chỉ thời gian: When running…
    . Hành động phụ chỉ thái độ tâm lý: instead of facing… and seeking…
    . Hành động phụ chỉ hậu quả: destroying

    Thành ra khi đọc, người đọc không những có các ý tưởng mà còn thấy cả một cơ cấu của các ý tương này– liên hệ giữa các ý tưởng với nhau như thế nào.

    Nếu các bạn hơi struggle với phần này thì đừng thất vọng. Vì, ngoại trừ những người có năng khiếu về ngôn ngữ, nói chung sinh viên ở Mỹ đã xong master đa số cũng chưa sử dụng participle phrase giỏi.

    John Steinbeck (Nobel Prize văn chương) chỉ cần viết một câu 5 chữ, với 3 hay 4 chữ trong đó là present participles, để diễn tả điều mà người khác có thể cần 15 hay 20 chữ. Ông ta có lẽ là người sử dụng present participles (và prepositions) hay nhất thế giới.

    Have a great day!

    PS cho Yến: Yes, bữa hôm qua viết xong, mệt quá trời.

    Thích

  8. Chào anh,
    Em biết anh mệt lắm, nên em đã gửi vitamine cho anh qua lời comment ở bài Ở đây lúc này rồi đó. Anh đọc đi…
    Chúc anh một ngày mới tốt lành.
    pky.

    Thích

  9. Chào WF, Yến và các bạn,

    Hôm nay đi vào đoạn cuối của bài dịch của WF và Yến.

    Trong khi các nước khác đã có những dịch vụ tâm lý xã hội để giúp các cá nhân tự giải tỏa thì ở nước ta lại thiếu nhiều. Thậm chí có thể nói là không có. Khi giáo dục còn khiếm khuyết, một bộ phận bạn trẻ chưa phát triển được một nhân cách lành mạnh, tự tin.

    WF: Many countries have many social psychology services to help individuals deal with pressure but our country is recently insufficient, even nothing at all. Therefore, a part of teens does not have advantage enough to develop their personality to create a good and confident life.

    Yến: Whereas the other countries have the social and psychological services to help individuals deal with pressure, our country lack! Even it’s can say nothing! With insuffficient education, a part of young people does not develop enough to have the health and confidence in their personalities.

    Từ “whereas” chỉ có luật sư dùng trong tòa hàng ngày, nhưng ở ngoài tòa thì chẳng ai dùng nó bao giờ và cũng chằng ai hiểu nó là gì. (Nếu ai không là luật sư mà hiểu nó thì có lẽ người đó phải 150 tuổi là ít. Hmm… wonder if I should call Yến “cụ”?). Có thể thay bằng chử “while”. Nhưng dùng như WF, dùng chữ “but” trong clause sau, thì hay hơn (vì while có nghĩa nguyên thủy là thời gian, sau này người ta mới dùng để so sánh, không chỉnh 100%).

    “Nước ta” thường thường nên dùng là “we”, trừ khi “we” không đủ rõ nghĩa, hay nhất định phải là “our country” như cách viết trong câu ta đang nguyên cứu (dưới đây).

    “Nước ta lại thiếu nhiều” có lẽ nên dịch là “we lack such services” hay “we are short of such services” hay “such services are insufficient in our country” hay “in our country such services are insufficient.” Nhưng ta cần chọn phrase cuối cùng này vì đoạn văn kế tiếp.

    “Ở nước ta lại thiếu nhiều. Thậm chí có thể nói là không có.” In our country such services are insufficient, even non-existent.

    Như vậy câu đầu sẽ là: Many other countries have social and psychological services to help individuals deal with pressure, but in our country such services are insufficient, even non-existent.

    .

    “Khi giáo dục còn khiếm khuyết, một bộ phận bạn trẻ chưa phát triển được một nhân cách lành mạnh, tự tin.”

    Mình combine ý của WF và Yến, và đổi chữ insufficient của Yến (vì mới dùng bên trên) thành:

    With our weak education, some youths have not been able to develop a healthy and confident personality.

    Thay vì “some youths have not developed” mình thêm một tí thành “some youth have not been able to develop” để nhấn mạnh chữ “được” một tí.

    To be able to == có thể làm = can (nhưng không dùng “can” trong present perfect tense được).

    Như vậy toàn đoạn cuối cùng này là:

    Many other countries have social and psychological services to help individuals deal with pressure, but in our country such services are insufficient, even non-existent. With our weak education, some youths have not been able to develop a healthy and confident personality.

    Như vậy toàn đoạn dịch là:

    The modern life, with its technical and economic advances, causes much psychological and social pressure, especially on the youth. Families struggle to raise children. Life outside the family is just a rat race. As a result, when running into hardship, instead of facing the problems and seeking positive solutions, some youths may have the tendency to give up, destroying themselves with ruinous habits—excessive indulgence, staying out late, smoking, alcohol, drugs, etc. Some even seek death.

    Many other countries have social and psychological services to help individuals deal with pressure, but in our country such services are insufficient, even non-existent. With our weak education, some youths have not been able to develop a healthy and confident personality.

    Cuộc sống hiện đại với những tiến bộ kinh tế kỹ thuật lại tạo ra nhiều sức ép về mặt tâm lý, xã hội, đặc biệt đối với giới trẻ. Gia đình lúng túng trong nuôi dạy con, xã hội tạo lối sống bon chen… từ đó khi gặp thử thách thay vì đối diện với những vấn đề nan giải và tìm những giải pháp tích cực, các bạn trẻ dễ có xu hướng buông xuôi, tự hủy hoại bản thân với những thói quen tiêu cực như ăn chơi quá đà, thức khuya dậy trễ, tìm sự khuây khỏa với thuốc lá, rượu, ma túy… Có bạn tìm cả cái chết…

    Trong khi các nước khác đã có những dịch vụ tâm lý xã hội để giúp các cá nhân tự giải tỏa thì ở nước ta lại thiếu nhiều. Thậm chí có thể nói là không có. Khi giáo dục còn khiếm khuyết, một bộ phận bạn trẻ chưa phát triển được một nhân cách lành mạnh, tự tin.”

    Cám ơn two heroines (hay là một hero một heroine vậy?) nhé.

    Great day!

    Hoành

    Thích

  10. Oh, anh Hoành,

    Anh cho em lên Yến “cụ”, em không chịu đâu, nên em phải “nguỵ biện” chỗ này một chút. Trong mớ sách vở chuyên môn của em, người ta xài “whereas” nhiều, nên em cứ nghĩ trong văn viết (báo chí), dùng chữ này không có vấn đề gì.
    Tởn tới “cụ” luôn đó, hổng dám xài chữ này nữa đâu!

    Cám ơn anh nhiều hen.

    pky

    Thích

  11. Anh Hoành giảng tiếng Anh hay quá ạ! Em cám ơn anh!

    Em cám ơn chị WF và chị Pky đã gửi bài để chúng em cùng học ạ.

    Chúc cả nhà luôn vui.

    Thích

  12. Cảm ơn Thu Hương và Ngọc Hợp.

    Anh ngưng mục “Thử thách Anh ngữ hàng ngày” lâu rồi vì ít người tham dự. Nhưng anh thấy đó là một mục tốn để các bạn học tiếng Anh ở cấp cao.

    Nếu có nhiều bạn muốn học, và tham dự thường xuyên, thì anh sẽ activate múc này trở lại.

    A. Hoành

    Thích

  13. Em rất thích tham gia mục này. Có thể việc tham gia ở đây sẽ giúp em dạn dĩ hơn ở DCN và mạnh dạn mở lòng mình ra. Mọi người gọi em là Hợp được rồi.
    Anh Hoành thật hay, có thể nhìn đâu cũng thấy nhu cầu của anh chị em và sẵn lòng phục vụ. Em mong sẽ học thêm ở anh về điều này.
    Cảm ơn anh!

    Thích

  14. Chị Hợp ơi,

    Em nghĩ trong khi đợi anh Hoành mở mục này lại, chị em mình có thể học lại các bài trước đấy ạ.

    Em sẽ đọc chầm chậm các bài trước đây để hiểu.

    Nếu chị em mình ở cùng một lớp, chị giúp em học với nhé. Em cám ơn chị. 🙂

    Em Hương,

    Thích

  15. Cảm ơn Hương,

    Ý kiến của Hương hay đó. Hương đang bắt đầu từ bài nào? Những bài đầu tiên của mục “Thử thách Anh ngữ” phải không? Mình chưa quen với cách phân chia mục bài của trang web nên hơi bối rối. Mình thấy có nhiều mục liên quan đến tiếng Anh, như là “Thử thách Anh ngữ”, “Trang tiếng Anh”, “Thảo luận bằng tiếng Anh”, … Hương bắt đầu ở đâu cho mình biết để đi chung cho vui 🙂

    Tiếng Anh của mình cũng còn lôm côm lắm nên có gì giúp đỡ nhau Hương nhé! Mình rất thích bản dịch mấy bài hát của Hương.

    Hợp

    Thích

  16. Chị Hợp ơi,

    Em bắt đầu từ bài này ạ – Thử thách Anh ngữ hằng ngày – Daily English Challenge. Đây là bài đầu tiên của chuyên mục này đấy ạ.

    Để tìm bài tiếp theo, chị có thể Google: Thử thách Anh ngữ hằng ngày và ghi số ngày. Ví dụ: Bài thứ nhì là Thử thách Anh ngữ hằng ngày 28.4.2009.

    Nếu chị đi trước được thì cứ đi trước đi ạ, không cần phải đợi em đâu ạ. Em mong là chị luôn cảm thấy có bạn đồng hành, ít nhất là em. 🙂

    Em rất vui khi biết chị thích các bản dịch bài hát của em. Em cũng mong có dịp dịch tiếp các bài về Đạt Lai Lạt Ma mà em dang dở từ năm ngoái. 🙂

    Em Hương,

    Thích

  17. Hi Hợp và Thu Hương,

    Cột bên trái ĐCN, bên dưới các ảnh là “Chuyện mục” ở đó có “Thử thách Anh ngữ” và mọi Chuyên mục khác của ĐCN.
    (nhưng bài cuối cùng sẽ hiện ra trước, phải đi ngược lại).

    Thích

  18. Cảm ơn anh Hoành và Hương đã rất tận tình, thấy ấm áp quá!
    Cầu chúc mọi người một tuần mới an bình và thăng tiến!

    Em Hợp

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s