Ta Thương Lang Liêu

Chỉ với nếp gạo đơn sơ và mấy cánh lá Dong
Chàng Lang Liêu đã gói và trải ra tấm lòng hiếu thuận
Hùng Vương đâu thiết sản vật cao sang, ngọc ngà báu vạn
Ngài cùng non sông cần tấm chân tình.

Ta thương ông hoàng nghèo khố nhàu, chân đất
Sáng sớm ra đồng cuốc bẩm, cày sâu
Thả hồn mình theo cánh diều no gió
Nghe lúa trổ đòng vẽ trời đất tròn vuông trong ngan ngát hương chiều.

Ta thương ông hoàng ở nhà tranh vách lá liêu xiêu
Trăn trở cái rét căm căm dân nghèo thiếu áo
Xót xa khi gió mưa tràn qua nát phên, dứt dậu
Thánh nhân bước ra từ hữu Đạo, tinh Hòa…

Ta mong những ông hoàng nhân từ đạt lễ đăng cơ
Làm đấng quân vương anh minh, lỗi lạc
Huyền sử thời gian. Vinh hoa được mất
Nghĩa nhân truyền tụng đến muôn đời.

Những cái bánh chưng, bánh dày từ nếp gạo quê thôi
Thần tốc hành quân Quang Trung đại thắng…
Chơn chất, giản đơn tình quê hương bất tận
Đạo lý trường miên…vạn đại dân sinh.

Ta yêu cuộc đời, ta nhớ Lang Liêu
Chiếc bánh chưng lót lòng buổi sớm
Ta học tiền nhân làm những điều chân thiện
Càng không thể quên đi hết vòng đời mới biết được…đất vuông.

Hà Diệp Thu
Phố nhỏ 04/2010

Một Mai Tôi Qua Sông

Một mai tôi qua sông
Bến xưa có còn không
Hay nằm chết bên dòng
Mồ côi từng con sóng

Một mai tôi qua sông
Em giờ chắc tay bồng
Tóc dài thôi ngóng trông
Vai gầy theo gió Đông

Một mai tôi qua sông
Mẹ tuổi đã lưng còng
Nhìn cuộc đời long đong
Tim sờn đời bão giông

Một mai tôi qua sông
Hành trang còn tấm lòng
Tìm về bờ bến mộng
Thôi một đời rêu rong
.

Phạm Lưu Đạt

04/02/2010

Về Tây Giai

Băng nhạc trong xe đang phát một bản tình ca về một mối tình dang dở. Nay anh về chốn xưa…ngỡ ngàng, nuối tiếc.  Điệp khúc ấy nhắc đi nhắc lại khiến tôi có cảm tưởng như là chuyện lòng của tôi. Đây là quê tôi và nay tôi về chốn xưa…ngổn ngang bao nhiêu hoài niệm.

Đường đi Vĩnh Lộc đất sỏi rộng rãi, có đoạn trải dài một màu đỏ khá tươi. Hai bên đường nhìn tận xa xa những ngọn đồi thấp, phẳng nhấp nhô nối tiếp nhau, thỉnh thoảng xen vào một mặt hồ, một vũng đầm. Gần sát là mía và sắn. Mía xanh mượt lá, sắn cao hơn đầu người. Buổi sáng trời âm u, gió se se khô, thoáng lạnh. Đứng ở Cầu Kiểu nhìn xuống dòng Sông Mã thuyền đậu san sát. Nơi chân trời dãy núi màu lam với những đỉnh nhọn kỳ vĩ.

Sử ký Giáo khoa thư lớp Sơ đẳng có hình vẽ thành nhà Hồ. Nhớ lại, trong trí tưởng thấy nó nhỏ nhoi. Nhưng giờ này tôi thật sự ngạc nhiên, bởi không có một sự chuẩn bị trước cho tâm lý, chẳng hạn một cánh đồng rộng để nhìn thấy từ xa. Vừa mới hết xóm nhà thành xưa đã sừng sững trước mặt. Màu rêu phong đen sẫm phủ lên mặt đá khiến cho phế tích vừa uy nghi,  đường bệ vừa lạnh lùng, hoang vắng.

Sử gia Lệ Thần viết: “Quý Ly định dời kinh đô vào Thanh Hóa cho dễ đường thoán đoạt, bèn sai quan vào xây thành Tây Đô ở động Yên Tôn, xã Yên Tôn, huyện Vĩnh Lộc, tục gọi là Tây Giai. Đến năm Bính Tí (1396) Quý Ly bắt Thuận Tông phải dời kinh về Tây Đô…”

Chúng tôi bước vào Cửa Nam, có ba cổng. Hai cổng hai bên chỉ thấp nhỏ hơn cổng giữa một ít, độ chín với mười. Cổng thành xây cuốn, xếp đá theo hình múi cam. Từ  Cửa Nam  một con đường chạy thẳng ra Cửa Bắc. Người đi honda, người đi xe đạp, có tốp phụ nữ gánh gồng, có tốp học sinh đồng phục. Giữa đường, hai con rồng đá không còn nguyên vẹn. Chỗ ấy là bậc thềm cung điện xưa…

Cửa Bắc chỉ có một cổng. Chúng tôi trèo lên mặt thành quan sát. Tường thành xây bằng đá, cao chừng 5 mét, rộng chừng 3 mét, một phần đã bị sụt lở. Mỗi tảng đá xây có kích thước một bề độ 0,8 m đến 1m, một bề độ 1,5m. Kích thước ấy dễ làm ta choáng ngợp. Trong các cổ thành Việt Nam như Cổ Loa, Hoa Lư đều xây bằng đất, chỉ có Tây Giai là xây bằng đá. Chúng tôi thong thả đi trên mặt thành từ Cửa Bắc sang Cửa Tây. Mặt thành kín cỏ, có những lối mòn. Hiện tại nó là một con đường.

Tôi lại nhớ trên Giáo Dục tạp chí, chuyên san của Nha Học chính Đông Dương có truyện Thành Tây Giai với Bình Khương nương kể rằng: “Lúc Hồ Quý Ly cho xây thành thì có một Cống sinh được cử vào chỉ huy công việc. Vợ của Cống sinh, bà Bình Khương theo chồng vào đây, ngày đêm nhỏ nhẹ khuyên chồng: ‘Ta là người của nhà Trần, không nên tận lực phò tá nhà Hồ?’. Từ đó Cống sinh xao lãng công vụ và bị kết án tử hình để làm gương. Bình Khương nương chạy đến bên thành than khóc, phản đối, hai bàn tay bà lún sâu vào mặt thành đang xây. Để tránh những tác động vào dân phu bất lợi cho công việc, vua nhà Hồ hạ lệnh chôn sống bà vào thành”. Truyện dẫn thêm câu ca dao :

Chàng về Hồ, thiếp cũng về Hồ.
Chàng về Hồ Hán, thiếp về Hồ Tây

và chú thích “Hồ Hán: trỏ Hồ Hán Thương, Hồ Tây: trỏ (kinh đô) nhà Trần”.

Chúng tôi đến Cửa Tây. Phần mặt bằng ngay trên cửa không còn, chỉ còn phần vòm cong. Bên ngoài thành là đồng ruộng khá màu mỡ, những mái nhà xa xa màu ngói mới. Sát chân thành nhiều khối đá ngổn ngang, hai cây cau vươn cao. Phía trong vòm cong có hai đường rãnh, có lẽ dùng lắp các cánh cửa. Từ Cửa Tây chúng tôi đi qua Cửa Đông bằng con đường thẳng góc với trục  Nam-Bắc lúc nãy thành chữ thập. Trong vòng thành ruộng xen lẫn với nhưng ao nước tưới. Những luống cao trồng bắp, giữa các luống là rãnh sâu xuống, trồng đủ loại rau. Tất cả một màu xanh hiền lành, dễ thương…

Cửa Đông cũng chỉ có một cổng và chỉ còn phần vòm cong như Cửa Tây. Có chỗ sườn đất thoai thoải do mặt thành đổ xuống, dưới chân thành một đàn gà con bươi tung tóe mớ rơm mới. Vài cậu bé chăn bò, vài phụ nữ quang gánh…họ chỉ cho tôi đền thờ Bình Khương nương.

Đền thờ, hoặc là ngôi miếu nhỏ, dưới tàn cây không cao lắm. Mái ngói cũ đầy xác lá, tường loang lổ, cửa khóa, hai cột trước giả làm trụ biểu thấp…Có một điều gì đó rất lạ trong niềm xúc động. Không ngờ hôm nay được đứng trước nơi hồi tám tuổi đọc thấy trong sách, xa lắc xa lơ, một tuần lễ trước chưa hề nghĩ là mình sẽ đến đây. Tôi đang ngơ ngác thì thấy sát trên mặt thành sau đền có tấm bia, rộng độ ba tấc, cao độ năm tấc, mặt đá đã rạn, phần nhô lên có dòng chữ  “Trần triều cống sinh Bình Khương nương đại quân chi…” , chữ cuối cùng bị đất lấp, chắc chắn là chữ “mộ”. Chúng tôi phân vân: Tại sao nươngđại quân ?

Phải nhờ đến sách của cụ Vệ Thạch. Trong Hán Việt từ điển cụ giảng chữ  “quân” ấy là: “Vua – Làm chủ – Người đồng bối gọi nhau là quân – Vợ gọi chồng – Thiếp gọi thê”. Phải chăng sau khi  nhà Hồ thua trận, rồi nhà Lê lấy lại giang sơn, một người thiếp của Cống sinh đến dựng bia nơi Bình Khương nương bị chôn sống vào thành, gọi bà là “đại quân”?

Quay lại nơi đôi rồng đá nghỉ chân trò chuyện về Hồ Quý Ly, nhân vật xuất chúng trong lịch sử, nhưng đương thời không được toàn dân quý trọng, yêu mến. Có lần ông đã bỏ chạy khi vua Trần Duệ Tông tử trận ở Đồ Bàn, có lần ông đã giả dối khóc lóc vớí vua Trần Nghệ Tông để che  đậy chủ tâm và loại trừ Đế Hiển…Trên bình diện chung thì ông đã có những sách lược lớn, cải cách lớn về hành chánh, kinh tế, quân sự…để mong đưa đất nước tiến lên. Tiếc rằng “Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà, trí sử nhân tâm chi oán bạn”(Bình Ngô đại cáo) nên nhà Hồ đã thất bại. Đến giờ phút cuối Quý Ly còn giết Ngụy Thức. Cho nên khi vua tôi bị giặc bắt ở núi Cao Vọng có tương truyền là do một con cáo trắng chỉ đường. Sau đó khi Bình Định vương bị vây khốn thì có tương truyền nhờ một con cáo trắng đánh lạc hướng giặc Vương mới thoát được. Ngày nay trong đền thờ vua Lê ở Lam Kinh có bàn thờ “Bạch y thần nhân”. Dân gian đã đưa quan niệm “ơn đền oán trả” vào dã sử và bổ sung cho chính sử.

Bây giờ trời bỗng nắng, nắng vàng đậm, đẹp và ấm. Những chiếc bóng của chúng tôi hiện ra, đổ dài trên đường đi, trên mặt ruộng cùng với bóng những người qua lại. Chợt ai đó đọc lên câu đố :

Nắng ba năm ta không bỏ bạn
Mới mưa một ngày bạn vội bỏ ta

Và giảng là : Cái bóng của ta.

Tôi hiểu…Hơn một tuần trong chuyến du khảo này chúng tôi chỉ gặp mưa và thời tiết âm u…Làm sao không mừng được. Hôm nay giữa lòng Tây Giai, được nhìn thấy tận mắt…thành lũy của một triều đại qua bao lớp lớp phế hưng, đền mộ của một bậc liệt nữ tuy ngày thơ ấu chỉ được xem qua trên sách báo còn đọng lại ấn tượng sâu xa trong ký ức…và trong buổi chiều mùa đông bỗng nhiên hửng nắng, chúng tôi gặp lại bóng mình như gặp lại cố nhân…Thật thú vị biết bao. Tôi muốn nói vậy với đôi rồng đá xương cốt thịt da đang rạn nứt theo thời gian vẫn cố gắng tồn tại…

Trần Huiền Ân

Tính nóng

Một thiền sinh đến than phiền với Bankei: “Thưa thầy, con có tính nóng không trị được. Làm sao để con sửa nó.”

“Con có một cái thật lạ,” Bankei trả lời. “Đưa cho thầy coi cái con có.”

“Ngay bây giờ thì con không đưa cho thầy coi được,” thiền sinh trả lời.

“Khi nào thì con cho thầy coi được?” Bankei hỏi.

“Nó đến bất chợt,” thiền sinh trả lời.

“Vậy thì,” Bankei kết luận, “nó nhất định không phải bản tính thật của con. Nếu nó là bản tính thật, thì con có thể cho thầy coi bất kỳ lúc nào. Khi con sinh ra con không có nó, và cha mẹ con không cho con cái đó. Hãy nghĩ lại xem.”
.

Bình:

• Vậy thì nó từ đâu tới?

Nóng giận đến khi có điều gì đó không hợp ‎ý ta, như làm việc gì không được, nói điều gì đó mà người không nghe, người nói điều gì đó ta không thích, người làm điều gì đó ta không ưa, thấy điều gì đó mà ta kỵ…

(1) Gặp một điều không thích, (2) ta phản ứng lại bằng cách nổi nóng.

Vậy thì, muốn hết nóng thì phải phá một trong hai vế trên.

1. Hoặc biến điều không thích thành điều trung tính hay điều mình thích. Ví dụ: Ghét người da đen thì tập không ghét người da đen hay tập yêu người da đen.

2. Hoặc điều không thích đến thì cũng không phản ứng bằng cách nổi nóng.

Hệ thần kinh của ta đã quen phản ứng kiểu nổi nóng, không dễ để “đổi đường dây” trong một ngày. Nhưng nếu ta cố gắng luyện tập mỗi ngày thì hệ thần kinh của ta có thể tự “đổi dây” từ từ, vì hệ thần kinh là một hệ thống sống, có thể đâm chồi nẩy mộng, lập thêm lối mới, thay đổi lập trình được.

• Điểm quan trọng ở đây, đúng với tất cả các hiện tượng tâm lý—nóng giận, buồn vui, tự ái, lo lắng, sợ hãi…–là, tất cả các hiện tượng tâm lý đều là phản ứng của ta với một tác nhân nào đó, chứ chúng không phải là bản tính thật của ta. Nếu ta luyện tập để tâm ta không còn phản ứng kiểu phản xạ như thế nữa, thì tâm sẽ hoàn toàn tĩnh lặng, đúng bản chất thật của tâm là tĩnh lặng.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

Temper

A Zen student came to Bankei and complained: “Master, I have an ungovernable temper. How can I cure it?”

“You have something very strange,” replied Bankei. “Let me see what you have.”

“Just now I cannot show it to you,” replied the other.

“When can you show it to me?” asked Bankei.

“It arises unexpectedly,” replied the student.

“Then,” concluded Bankei, “it must not be your own true nature. If it were, you could show it to me at any time. When you were born you did not have it, and your parents did not give it to you. Think that over.”

# 75

Nhẹ để đi xa

Chào các bạn,

Các bạn đã kinh nghiệm du lịch nhiều hẳn nhiên biết rất rõ luật “đi nhẹ” (travel light). Người càng nhẹ thì đi càng xa, càng khỏe. Nếu bạn du lịch với 5 vali đồ đạc 30 ký một vali thì hỏng. Kẹt cứng trong khách sạn, và đi xe hay đi máy bay cũng rất mệt, nhất là qua các cửa an ninh phi trường và các cửa khẩu. Nếu chỉ có một balô trên vai với các vật dụng cần thiết tối thiểu, thì tha hồ đi mọi chỗ bất kỳ lúc nào. Sướng ơi là sướng!

Du hành qua cuộc đời cũng vậy. Càng mang nhẹ trên người, ta càng du hành nhanh và xa, trèo đèo vượt suối, thám hiểm được mọi hang hốc dễ dàng. Thông thường thì ở đời, càng lớn tuổi ta càng khó đi. Nếu là sinh viên mới ra trường khố rách áo ôm, có công việc gọi bất kỳ đâu đó, từ Cà Mau đến ải Nam Quan, hay cả đến nước ngoài, thì trong vòng 24 tiếng là có thể khăn gói quả mướp lên đường. Nhưng người đã có gia đình, một căn nhà, một vợ và 3 đứa con chẳng hạn, thì công việc gọi cũng phải suy tính lại xem có thể di chuyển được không, bán nhà được không, con cái bỏ học chuyển trường tiện không, đồ đạc đưa đi được không… Cả một lô câu hỏi, nếu thấy không tiện thì không đi, tìm công việc khác ngay tại địa phương vậy.

Sở dĩ người lớn tuổi di chuyển khó khăn vì càng sống lâu ta càng “thu góp” (collect) nhiều. Con người là một con vật thu góp—thu góp kiến thức, bằng cấp, tiếng tăm, danh vọng, tài sản… Càng sống lâu càng thu góp nhiều, càng nặng nề, càng khó di chuyển.

Về phương diện tâm linh cũng thế, càng sống lâu ta càng đụng chạm nhiều người, càng làm mất lòng nhiều người, càng bị nhiều người xúc phạm, càng có nhiều điều để ghét, nhiều người để cay cú, nhiều thứ để hận… Con nít 3 tuổi thì chưa có ai làm gì để hận đời, 30 tuổi thì cả có hàng trăm người mạo phạm ta đủ điều trong 30 năm, đến 60 thì con số đó đã lên đến hàng nghìn.

Cho nên nếu ta không thông minh đủ đề vất bỏ rác rến trên người, đến 30 ta đã oằn oại dưới vài trăm ký‎ rác trên mình, lết không nổi. Đến 60 chỉ còn nằm dưới rác mà thoi thóp thở. Sống sao được!

Cho nên buông xả là nguyên lý sống thông thái.

1. Lỗi lầm người khác: Đây có thể là rác loại căn bản nhất. Bạn đã thực sự buông xả lỗi lầm cho bao nhiêu người? Người ta xúc phạm ta, ta không xúc phạm lại, không đạp cho vài đạp, đó là nhịn, nhưng không là buông xả, nếu trong bụng ta vẫn hận thù người đó, đôi khi kéo dài cả đời. Buông xả thực sự là nghĩ đến người đó cũng như nghĩ đến hàng trăm người khác ta biết mà không thù oán bực bội. Đó mới là buông xả. Nếu không buông xả, thì dù ta có nhịn, cái bực bội vẫn nằm đó với sức nặng nguyên thủy. 20kg thì vẫn là 20kg, mang theo mỗi ngày, cả đời. Chịu gì nổi!

2. Lỗi lầm của chính mình: Đây mới là cái khó buông xả. Nhiều người chúng ta tha thứ cho người khác thì được, nhưng đến tội của mình thì không bỏ qua được, cứ mang nó kè kè, cho nên lúc nào cũng thấy mình tồi, mình tội lỗi, mình không có năng lực… và mình mất tự tin và tự trọng. Đây mới là chết người. Một lỗi của người khác nặng 5kg, mình mà có cũng lầm lỗi đó, nhiều khi nặng tới 20kg trên vai mình, chỉ vì mình xử với mình quá nặng. Mình cũng chỉ là một người như triệu người khác. Nếu mình có thể buông xả cho người khác được thì cũng có thể buông xả cho người này được.

3. Kỷ niệm đớn đau: Những kỷ niệm quá đớn đau, không bỏ qua được. Ví dụ: Nhiều người đã từng phải đi cải tạo thời 1975, bị đối xử quá tàn tệ và đau đớn cho chính họ và gia đình họ, nên đến ngày nay không bỏ qua được. Chính họ xác nhận một cách khách quan và thành thật như thế. Họ cũng biết như thế là không nên, và trái với lời Chúa Phật, nhưng họ không đủ sức mạnh để vượt qua các cảm xúc quá mạnh bên trong.

4. Kỷ niệm đẹp: Đây là một trong những điều khó buông xả nhất, và chẳng ai nghĩ là nên buông xả. Kỷ niệm đẹp thì mắc mớ gì mà buông xả? Thưa, vì cái đẹp khi trước thường là cái đau bây giờ. Ngày xưa nơi đây là một vùng quê hẻo lánh nên thơ, ngày nay xe cộ inh ỏi, cướp bóc tràn lan, những ai đã gây ra điều này? Ngày xưa mới quen, em hiền như ma sơ, bây giờ ma sơ đâu? Ngày xưa bạn bè trung học dễ thương, bây giờ nhiều đứa là ma đầu tham nhũng, cuộc đời thật tồi tệ!

Cuộc đời vô thường, mọi thứ điều thay đổi, đó là qui luật. Sao lại cứ ôm khư khư vào quá khứ?

4. Kiến thức: Kiến thức là cái thường làm cho ta mù nhất. Ví dụ: Kiến thức về Thiên chúa giáo có khả năng cao sẽ làm bạn mù về Hồi giáo và Phật giáo, nếu bạn không biết buông xả kiến thức đó, ít ra là một lúc nào đó, để mà học thêm cái mới. Kiến thức cao về luận l‎ý học có thể làm bạn rất yếu trong lãnh vực am hiểu cảm xúc và trực giác. Bằng cấp cao có thể làm bạn quên cách thông cảm với người nghèo khổ.

5. Danh lợi: Bao nhiêu người làm quan kiểu gọi dạ bảo vâng, bưng mắt bưng tai, không cần biết sự thật, không muốn nghe sự thật, không muốn nói sự thật, chỉ vì muốn giữ tí lợi danh đang có?

6. Cái tôi: Cái làm chúa tất cả mọi thứ kể trên là “cái tôi.” Cái tôi dễ hiểu nhất là sự tự cao, nhưng đó là mức thấp, dễ thấy. Tại mức thâm sâu, cái tôi là “chấp vào tôi” – ngã chấp – bám vào “tôi” như một hiện hữu vĩnh viễn cho đời sống này. Không buông xả “cái tôi” thì buông xả mọi cái khác cũng chỉ là hời hợt bên ngoài. Công phu tu tập thực sự là buông xả cái tôi. Nếu buông xả tất cả thứ khác mà còn cái tôi, thì chỉ cái tôi thôi đủ là bao gạo 100 kg mang trên lưng rồi.

Dù là tôi quan trọng thế nào trong cuộc đời này, so với toàn cảnh, toàn vũ trụ của ta, tôi chỉ là một cái chớp mắt trong cõi vô cùng, chẳng nghĩa lý gì hơn vậy cả. Cho nên dù ta có đóng một vai quan trọng trong gia đình hay trong tổ quốc ta, thì đó cũng chỉ là sự quan trọng của cái chớp mắt trong cõi vô cùng. Không nên quên sự thật này.

Nếu ta có thể buông xả hết các điều này. Tức là, nếu cần thì dùng, nhưng đừng bám vào chúng, và khi nào xả được thì xả ngay, thì ta sẽ rất nhẹ nhàng để đi qua cuộc đời một cách thoải mái, khỏe khoắn, và đầy hiệu năng. Bằng không thì ta sẽ chỉ có thể bò lết ì ạch dưới gánh nặng từng giây đồng hồ.

Nếu bạn hay căng thẳng, buồn giận, bực bội…, thử xét lại xem bạn đang mang bao nhiều quả tạ đủ loại trên mình.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com