Trong bàn tay Thượng đế ngày 30-4-1975

Sài Gòn, trưa 26-4-1975.

Người yêu Hòa nói với Hòa rằng: “Sài Gòn sẽ thất thủ vài ngày nữa vì sếp ‘me’ nói thế, công ty ‘me’ sẽ cho me và người nhà sang Mỹ, you có muốn đi cùng không?” Hòa nói: “Việt Nam chưa chết, me sẽ ở đây với đất nước, khi nào đất nước không còn nữa, me sẽ qua Mỹ tìm you.” Hòa không thích Mỹ nên không muốn tới Mỹ. Người yêu Hòa đi Mỹ một mình ngay chiều hôm đó, với toàn bộ công ty Mỹ kinh doanh thủy sản ở miền Nam Việt Nam của họ. 

Trước đó một thời gian ngắn, Dinh Độc Lập, trung tâm quyền lực của miền Nam đã bị dội bom. Hình như chẳng bị thiệt hại gì, nhưng làm cho mọi người dân ở miền Nam chấn động và sợ hãi.

Chiều 29-4-1975, trước ngày 30-4 một ngày.

Hòa cùng hai người em, một trai một gái, đi bộ từ nhà thờ Ba Chuông ở Phú Nhuận về hướng Sài Gòn. Hòa không biết đi đâu. Trên đường người đi lại cũng khá đông. Nhiều người đi bộ, nhiều người đi xe máy. Xe máy của em gái Hòa, sáng đó, đã cho anh trai của bạn Hòa mượn đi đến Hải quân Công xưởng, để tìm tàu vượt biên. Chiếc xe đó mất tích từ đó đến giờ luôn. Nên mấy anh em lúc đó phải đi bộ. Vì chẳng biết đi đâu, cái tên Hải quân Công xưởng bỗng trở thành điểm sáng duy nhất, ba anh em đi bộ tới đó.

Dọc đường đi, nhà các quan chức Mỹ và nhà các quan chức lớn của Việt Nam Cộng Hòa, vì bỏ không do các vị đã đi hết cả, nên nhộn nhịp người ra kẻ vào. Người thì khiêng bàn ghế, người thì bưng máy hát, người thì khuân tủ lạnh, máy điều hòa… Có gì lấy nấy. Người đi đường chẳng ai nói gì. Phần vì đó chẳng phải là trộm cắp, phần vì chẳng ai còn thời gian quan tâm những chuyện như thế. Ai cũng lo tìm đường đi cho mình.

Tới Hải quân Công xưởng, trời cũng mờ mờ tối. Bên trong Công xưởng đã sáng đèn. Lính gác nghiêm ngặt, chẳng thấy ai vào ai ra. Một xe hơi chạy tới cổng, một người tự xưng là đại tá của Hải quân Công xưởng, nói có việc cần vào. Lính gác từ chối: “Nội bất xuất, ngoại bất nhập. Mong đại tá hiểu cho.” Đại tá ấy cãi lộn với lính canh khoảng 10 phút, và các anh lính nhất quyết không nhượng bộ. Rốt cuộc, vị đại tá phải lui xe và đi mất.

Hòa thấy vậy, nói với hai em-Sơn em trai và Hà em gái-đi về. Bỗng nhiên, cánh cổng mở hé một chút, Hòa tò mò đến gần. Không thấy ai canh cổng, Hòa đi một mạch vào thẳng bên trong. Được chừng 20m, Hòa quay lại không thấy hai em đâu. “Mình không thể bỏ hai em lại được.” Hòa quay trở lại, đi ra. Đến cổng, Hòa lại gặp lính canh. Một cậu hỏi: “Anh đi đâu đấy?” “Mình đi từ cổng vô đây. Bây giờ mình không muốn ở đây, mình đi ra,” Hòa trả lời. Lính canh để anh đi ra. Anh gặp lại hai em, rồi cả ba lại đi bộ về nhà.

11h30 trưa hôm sau, ngày 30-4-1975.

Hòa đang ngủ, em gái Hà lay Hòa dậy: “Tổng thống Dương Văn Minh đầu hàng rồi.” Hòa bật radio, mở lớn cho cả nhà nghe: “Tôi, Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn, từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam.”

Hòa liền lấy thẻ sinh viên Cao học [ngày nay là thạc sĩ] trường Quốc gia Hành chánh của mình, ra sau bếp, chỗ mương thoát nước, xé vụn ra, vì trường Quốc gia Hành chánh đào tạo quan chức tương lai lớn nhất của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. Hòa nói với mẹ: “Ở đây ai cũng biết con học trường Quốc gia Hành chánh, con không thể ở đây được. Con sẽ đi miền Tây, tới làng nào đó, xin người dân nào đó nhận con làm người ở, giả dạng người cuốc đất trồng rau.” Mẹ Hòa gật đầu, dúi cho Hòa một thỏi vàng. Hòa nói không cần vàng, mẹ cứ giữ để lo cho các em. Lúc đó dưới Hòa có 7 người em. Nhưng Hòa cần tiền mặt, mẹ Hòa đưa cho Hòa mấy trăm ngàn tiền mặt. Thời đó, khoảng 170 ngàn là bằng một lượng vàng. Mẹ Hòa đặt tiền trong tất Hòa.

Trước khi rời khỏi nhà, Hòa bỗng nghĩ, mấy người Bắc Việt nếu vào Sài Gòn, họ phải có dấu hiệu gì đó để nhận ra mấy người Giải phóng cùng phe với họ. Làm sao để nhận ra nhau? Bên đó thích màu đỏ nên họ có lá cờ đỏ. Nếu ta có dây lụa gì đó màu đỏ cài trên áo, trong những lúc cần kíp, chắc sẽ ổn. Nghĩ vậy, Hòa nhờ mẹ tìm dây ruy-băng đỏ và ghim cài giấy, bỏ vào túi áo.

Lúc đó Hòa mới 22 tuổi rưỡi, chưa tới 23.

Hòa rời khỏi nhà. Gặp cậu bạn hàng xóm và anh cậu, cả ba cùng đi theo đường Tự Do, đến bến Bạch Đằng.

Tại đó có rất đông bộ đội miền Bắc. Trông họ nhỏ con, cỡ 14, 15, 17. Nhưng Hòa nghĩ, có lẽ ở ngoài Bắc ăn uống kham khổ nên vậy, chứ họ có vẻ lanh lợi và trưởng thành, có lẽ họ cũng cỡ 19, 20. Vì muốn biết họ đang như thế nào, Hòa gắn ruy-băng đỏ trên túi áo, đến gần một cậu gần đó. Cậu đang bồng súng, mũi súng đang chĩa lên trời. Thấy Hòa lại gần, dù cách đó 3 thước, cậu hơi giật mình, bước lùi về sau vài bước, mũi súng vẫn chĩa lên trời. Thấy cậu lính như vậy, Hòa giơ hai tay ra phía trước như đang phân trần mình chẳng làm gì, vừa dịu giọng, vừa vui vẻ: “Chào mừng các anh đến Sài Gòn.” Cậu lính có vẻ đỡ căng thẳng, gật đầu rất nhẹ với Hòa. Hòa chào cậu lính và quay lưng đi.

Đến sát bến Bạch Đằng (nơi các con đường ở Sài Gòn tận cùng), đứng một lúc, Hòa bỗng thấy một chiếc tàu chiến của Việt Nam Cộng Hòa – tiểu vận đỉnh LCVP (Landing Craft Vehicle Personnel) – dài cỡ 15m, treo cờ trắng đầu hàng, chạy từ hướng Vũng Tàu về. Có ai đó nói, tàu đó đi Phú Quốc đấy.

Tiểu vận đỉnh LCVP vừa cập bến Bạch Đằng, Hòa nhảy xuống tàu, thấy một anh mặc đồ thường phục màu trắng. Hòa hỏi:

– “Anh định lái tàu đi Phú Quốc phải không?”
– “Ừ. Nhưng zờ tui đổi ý, tui phải zìa nhà thăm vợ con tui. Ba năm nay tui chưa gặp zợ con tui.”
– Hòa giả bộ dọa: “Anh có thấy bộ đội Bắc Việt đầy trên bờ không?” Vừa nói Hòa vừa chỉ tay lên bờ. “Giờ anh lên bờ, họ sẽ bắn anh chết đó.”
– “Có chết tui cũng zìa với zợ con tui.”

Biết không thể thuyết phục được nữa, Hòa nói:
– “Vậy anh bày mình cách lái tàu đi?”
– “Dễ lắm. Anh có thấy 2 cái gạt này hôn? Đó là 2 cần điều khiển của 2 máy tàu. Hiện thời nó đang ở vị trí ngừng. Đẩy tụi nó ra đằng trước là đi tới, kéo tụi nó ra đằng sau là đi lui. Còn bánh lái này thì như lái xe hơi, muốn wẹo bên trái thì xay bên trái, wẹo bên phải thì xay qua phải. Zậy đó. Tui đi đây.”

Anh lính hải quân nhảy tót lên bờ. Toàn bộ buổi học lái tàu của Hòa vỏn vẹn chưa tới một phút. Hòa còn chưa kịp ngẩn ngơ với bài học, bỗng từ trên bờ nhảy xuống tàu hải quân của Hòa khoảng hơn chục người – hai bạn của Hòa, và một mớ đàn ông lẫn đàn bà. “Đi đi anh ơi”, đám đông hò reo. Hòa nhìn lên bờ, thấy vài ba cậu lính Bắc Việt bồng súng đang tiến lại gần. Hòa thấy mình đang ở trên tàu chiến của Việt Nam Cộng Hòa, dù có cờ trắng đầu hàng, cũng không thể đậu lâu ở bến Bạch Đằng được, phải đi thôi. Nhưng đi đâu, mình có biết đường đi đâu?

– “Tui là hoa tiêu nè.” Một người đàn ông trong đám người lố nhố xuống tàu với Hòa cất tiếng. “Tui biết đường đi Phú Quốc, cũng như đường đi Phi Luật Tân.” Anh ta cỡ 30 tuổi. “Anh cứ đi thẳng đi, đến Vũng Tàu, rồi đi theo hướng Đông, thì sẽ tới Phi Luật Tân.”

Hòa cảm thấy yên tâm. Nhìn thấy chìa khóa tàu vẫn còn nằm trong lỗ khóa, Hòa mở khóa. Động cơ vang rền. Hòa cầm bánh lái xoay bên trái, tàu nghiêng hẳn sang bên trái. Đám người bị ngã dồn sang bên trái, la ó. Hòa xoay bánh lái sang bên phải, tàu nghiêng hẳn sang bên phải, mọi người lại bị ngã dạt sang phải. Cả tàu nhốn nháo.

Sau vài lần chòng chành làm xiếc, Hòa liếc nhanh lên bờ. Lính Bắc Việt bồng súng đang nhìn mình, mình không thể múa may trước mặt họ được, phải giữ vững tay lái. Thế rồi, Hòa nhẹ nhàng hơn với bánh lái, con tàu được cân bằng hơn. Hòa rú ga, cho tàu chạy nhanh, thẳng về phía trước, theo sông Sài Gòn, hướng về phía Vũng Tàu, tức là phía biển.

Trên đường lái tàu, xác người nổi lềnh bềnh hai bên sông.

Chạy một lúc thấy bên bờ phía trái có một chiếc tàu cảnh sát nhỏ đang nổ máy, Hòa cập vào xem tàu đó có xăng không. Không thấy ai, hình như chủ tàu mới bỏ chạy. Cũng chẳng thấy can xăng nào. Chỉ có 2 khẩu súng lục và tiền Việt vung vãi dưới sàn. Hòa chẳng cần súng lục và tiền đồng làm gì, nên lui ra chạy tiếp.

Đi một đoạn nữa, thấy xa xa bờ tay phải có lá cờ Mặt trận Giải phóng, Hòa quay lại nói với mọi người. Bây giờ ta chẳng biết chỗ đó có Cộng sản hay không. Nếu ta đi tới đó, họ gọi ta thì ta làm gì? Lên bờ nghe theo họ, hay chạy? Đám đàn bà khóc lóc, thôi mấy anh ơi, họ kêu mình làm gì thì làm đó đi. Đám đàn ông thì bảo chạy.

Hòa đồng tình với đám đàn ông, bảo các chị xuống dưới hầm tàu, ngồi yên lặng. Hòa nói, “Được, vậy giờ ta sẽ cho tàu đi chậm, khi tới chỗ đó, mình sẽ cho tàu chạy thật nhanh, ngay đúng giữa dòng sông, dù họ có gọi mình ngừng lại hay không, để cho mình cách xa cả hai bờ. Nếu họ bắn ta thì các anh bắn lại. Tàu ta là tàu chiến nên có súng lớn. Mấy khẩu đại liên trước tàu này là đại liên 30mm, và chuỗi đạn đã được gắn sẵn trong súng. Mình đã học huấn luyện quân sự trong chương trình Sĩ Quan Dự Bị của Chính phủ, nên rành các loại súng này.” Hòa hỏi: “Các anh có biết bắn súng không?” Vài người bảo “có”. Hòa nói: “Các anh lấy tấm bạt lớn để trùm người và súng cho bên kia khỏi thấy. Nếu họ bắn mình thì mình bắn lại và chạy. Nếu họ không bắn mình, thì mình đừng bắn họ.”

Lái tàu chầm chậm ở giữa sông. Sông Sài Gòn có khúc rộng khúc hẹp. Khúc hẹp này, chiều rộng khoảng 70m. Tàu chạy giữa lòng sông, tới lá cờ Mặt trận Giải phóng bên phải sông thì rú ga hết cỡ, không thấy có chuyện gì xảy ra, hoặc có vài tiếng súng lẻ tẻ không đáng kể.

Chạy thêm một đoạn nữa, thì thấy một con tàu to, mang cờ Pháp, bị kẹt trên cát, trên tàu có rất nhiều người, người Việt Nam Cộng hòa di tản, lúc đó không biết bao nhiêu người, sau đó thì biết có khoảng hơn 4.000 người. Đó là tàu Trường Xuân. Tàu nặng, không hẳn vì mấy ngàn người (sau này Hòa nghe là vì trong hầm tàu có 400 xe Jeep quân đội của chủ tàu).

Người tự nhận là hoa tiêu cho Hòa nói với Hòa dừng lại, để lên tàu Trường Xuân. Hòa nói: “Tàu này đang kẹt trên cát. Mình lên đó làm gì?” Anh hoa tiêu trả lời: “Tui nói láo với anh, tui không là hoa tiêu, tui chẳng biết đường đi nước bước gì hết. Tui nói vậy để anh bình tĩnh lái tàu mà thôi.” Hòa không trách “hoa tiêu”. Thời rối ren đó, ai cũng phải tìm cách để bảo vệ chính mình. Hòa biết mình không biết đường đi, cho nên Hòa cho tàu đến sát tàu Trường Xuân để lên Trường Xuân. Hòa muốn cập vào tàu Trường Xuân rất nhẹ, nhưng rốt cuộc cũng đụng một cái rầm. Trên tàu Trường Xuân, người ta thả lưới xuống để ai muốn lên tàu thì lên. “Hoa tiêu” của Hòa và những người khác trên tàu của Hòa lên tàu Trường Xuân. Hòa bảo mọi người mang theo vài bịch gạo nhỏ và các áo phao trong tiểu vận đỉnh để có gì mà dùng. Hòa là người cuối cùng leo lưới lên tàu Trường Xuân.

Tàu Trường Xuân bị kẹt trên cát, cần phải có tàu kéo kéo ra khơi. Tàu kéo nhỏ nhưng rất mạnh. Lúc ấy, có một tàu kéo đi ngang qua. Vài người từ tàu Trường Xuân nhảy xuống tàu kéo, ép tàu kéo phải kéo tàu Trường Xuân ra biển. Một người trong số này sau này là bạn của Hòa, kể lại: “Tụi mình là lính thủy quân lục chiến, súng ống đầy đủ, nhảy lên tàu kéo, rút súng ra chĩa thẳng vào thuyền trường: ‘Nếu ông không kéo chiếc tàu này ra, tụi tui sẽ bắn ông ngay lập tức.'”

Tàu kéo móc tàu Trường Xuân vào nó và bắt đầu kéo. Vì tàu kéo không được mạnh lắm, tàu Trường Xuân bị chao đảo, hết nghiêng và chạy dạt vào bờ bên này lại nghiêng về, và chạy dạt sang bờ bên kia. Trên tàu mọi người la ó: “Đây là âm mưu của Cộng sản, muốn mình chạy sát bờ để nó bắn B40 làm mình tan tành.” Mọi người cực kỳ sợ hãi. Khi tàu nghiêng bên phải, tất cả chạy qua bên trái làm tàu nghiêng bên trái, sắp lật, khi tàu dạt qua bên trái, mọi người chạy qua bên phải, làm tàu nghiêng qua bên phải, muốn chìm.

Sự việc cực kỳ hỗn loạn, đến mức, một người đàn ông bỗng từ tàu rớt xuống biển. Hòa nhanh chóng quăng áo phao của Hòa xuống biển. Người đàn ông chộp lấy áo phao và nói to để người trên tàu có thể nghe: “Các anh chị, chúng ta ai cũng sẽ chết. Chúng ta không thể sống được nữa đâu. Không phải tôi rớt xuống biển, tôi tự nhảy xuống. Vĩnh biệt các anh chị.” Người đàn ông thả tay khỏi áo phao và chìm xuống lòng biển. Vài phút sau, một đám bọt khí nổi lên trên mặt biển. Hòa bực mình, nói thầm: “M. Biết thế thì nói ngay từ đầu. Làm mất áo phao của tui.” Vài người đàn ông khác thấy vậy cũng nhảy xuống biển tự tử. 

Sự việc hỗn loạn đến vậy, trên tàu lại nhiều sĩ quan cấp tá của Việt Nam Cộng hòa, nhưng chẳng thấy ai làm gì. Hòa thấy nếu để thêm 20 phút, chính mọi người sẽ làm con tàu chìm. Hòa trèo lên chỗ cao nhất trên boong tàu, xua 2 bàn tay trên trời và nói:

“Bà con, bà con, nghe mình nói này.” Mọi người im lặng. “Đứng sợ gì cả, đừng lo gì cả, mình từ bến Bạch Đằng ra đây, mình tận mắt gặp mấy người lính miền Bắc, mấy người đó chỉ muốn yên ổn, không muốn làm rộn lên, họ sẽ không làm gì chúng ta hết. Thế nên, đừng sợ gì hết, đừng lo gì hết, ai muốn lần hạt mân côi thì hãy lần hạt, ai muốn cầu nguyện với Phật thì hãy cầu nguyện với Phật.” Mọi người yên lặng làm theo Hòa nói. Một giọng nói của người đàn ông lớn tuổi, phía sau Hòa, nói: “Cậu em làm tốt lắm. Tôi là trưởng an ninh của tàu này. Nhưng bây giờ tôi nói không ai nghe. Cậu em tiếp tục làm như vậy đi.”

Tuy vậy, chỉ một lúc cậu bạn đi cùng từ Sài Gòn nói nhỏ với Hòa: “Chị này có vẻ như đang tính leo lên thành tàu nhảy xuống biển. Hòa nói: “Tới đứng sát chị.” Và đúng là chị leo lên thành tàu. Cậu bạn chụp chị, ôm eo kéo xuống, và chị la lối: “Tôi muốn chết, để cho tôi chết.” Hòa nói nghiêm nghị: “Chị không đi đâu hết. Gia đình chị đâu?” Chị chỉ vào một nhóm người ngồi gần đó. Hòa hỏi họ: “Chị này là người nhà của các chú bác phải không?” Họ gật đầu. “Chị mới tính nhảy xuống nước tự tử. Giữ chị cẩn thận nha,” Hòa nói.

Hòa tiếp tục nói lớn với mọi người: “Nếu mọi người muốn, hãy cho vào cái nón mấy đồng tiền VN để cảm ơn chủ tàu kéo, vì ra nước ngoài rồi, tiền VN chẳng xài được nữa.” Lúc đó tàu chưa ra hải phận quốc tế nhưng Hòa nói trước. Chiếc nón được truyền tay nhau. Chắc cũng được kha khá tiền. Hòa lôi mớ tiền đồng mẹ cho trong tất ra, bỏ hết nào nón. Có một chị ngồi gần chỗ Hòa đứng, nói với Hòa: “Tiền đồng thì không cần, nhưng tiền đô thì cần. Anh cầm vài đồng đô khi cần.” Và chị dúi vào tay Hòa 5, 7 đô gì đó. Hòa thật sự cảm động. Và đó là toàn tài sản của Hòa lúc đó.

Khi tàu ra tới hải phận quốc tế, vài giờ sau, ai đó trên tàu bắt sóng đài BBC. Đài nói, có một tàu kéo kéo tàu Trường Xuân với lá cờ Pháp ra hải phận quốc tế, khi về, tàu kéo này bị B40 của phía Cộng sản bắn tan tành. Tại sao quý vị không đánh tàu kéo lúc nó đi, mà lại đánh nó khi nó về? Có phải lúc đi, phía Cộng sản không đủ thông tin, nhưng lúc tàu kéo về, các vị đã có thông tin đầy đủ? Chẳng ai hiểu. Nhưng đó là một chuyện không vui.

Trường Xuân nổi lềnh bềnh trên hải phận quốc tế, chẳng đi đâu được, vì máy tàu không hoạt động. Và nước rò rỉ vào tàu. Máy bơm nước không hoạt động vì cả tàu chẳng có gì hoạt động. Mọi người đàn ông phải thay phiên nhau xuống hầm tàu bơm bằng máy tay. Nặng kinh khủng, bơm chừng ba cái là thở không ra hơi. Mọi người trên boong tàu ngồi xích ra một chút để làm một con đường hẹp bằng một bàn chân cho các ông đi bơm. Tự nhiên có một cậu bé khoảng 11 tuổi đi lan man trên con đường đi bơm đó. Hòa đến cầm tay cậu bé: “Đường này để người lớn làm việc.” Rồi Hòa soát người cậu bé vì nghi cậu đang đi móc túi. Trong áo cậu, ở bụng dưới có cục gì rất lớn và cứng. Hòa lôi ra. Đó là cả lố vàng thẻ. Hòa hỏi cậu: “Đây là gì đây?” Cậu mếu máo: “Đây là tài sản của gia đình em. Bố mẹ em không dám giữ trong người sợ nguy hiểm, nên giao cho em giữ, để không ai để ý.” Hỏa bảo cậu bé đưa Hòa gặp bố mẹ cậu, ngó quanh xem có ai để ý gì đến mình và cậu bé không. Gặp bố mẹ cậu, Hòa nói nhỏ: “Coi chừng em, và cái cục trong bụng em.”

May thay thương thuyền Maersk của Đan Mạch đang trên đường đến Hồng Kông, chạy qua. Thương thuyền này liên lạc với lãnh đạo Hồng Kông, và Nữ hoàng Elizabeth II đồng ý cho Maersk mang 4 ngàn người trên tàu Trường Xuân đến Hồng Kông tị nạn. Tàu Maersk cập vào sát tàu Trường Xuân, thấy lớn bằng 10 lần Trường Xuân nhỏ xíu. Các thủy thủ thả lưới từ trên Maersk xuống đến tận tàu Trường Xuân để mọi người bám lưới leo lên.

Tàu Trường Xuân bị bỏ hoang giữa biển. Nhưng sau này, hình như có ai đó “lượm” nó và mang về.

Qua đến Hồng Kông, chính phủ Mỹ nhận người Trường Xuân rất nhiều và nhanh hơn tất cả mọi nước khác. Thế là Hòa xin đi Mỹ, để đoàn tụ với người yêu đang chờ. Hòa đã giữ được lời hứa với người yêu: “Me sẽ qua Mỹ tìm you.”

Chuyện này được kể lại cặn kẽ vì Chúa Phật ở cùng Hòa dù Hòa biết hay không biết, hoặc vì Hòa điếc không sợ súng. Có thể lúc đó Hòa còn nhỏ, Hòa không biết Chúa Phật ở cùng Hòa, nhưng nguyên tắc vẫn là: Một trái tim trong sáng và tin vào Chúa Phật có sức mạnh làm điều không tưởng thành sự thật.

Câu chuyện này là một chuyện phim hay là một phép lạ của Trời Đất? I don’t know. But it moves me greatly.

Phạm Thu Hương

o0o

Chuỗi truyện ngắn thời chiến cùng tác giả PTH

  1. Vườn mía Dương Minh Châu
  2. Cai tù và tù nhân
  3. Trong bàn tay Thượng đế ngày 30-4-1975

Tái bút:

Mình đang viết một tập chừng 20 truyện ngắn về thời chiến như vậy, tập trung vào tình người, thay vì chính trị. Những truyện này đều dựa trên các câu chuyện thật, hoặc là từ các nhân chứng trong truyện kể lại cho mình, hoặc một số ít chuyện có thật trên báo chí.

Mục đích là để người thời nay và thời sau hiểu được một chút xíu nào đó con người thời chiến, vì đó là những khoảng thời gian lớn lao và quan trọng trong suốt chiều dài lịch sử đất nước.

Mình sẽ cố gắng chuyển thông tin về toàn loạt bài này đến các bạn, vào những thời điểm tốt nhất cho các bạn. Mình cũng rất mong muốn các bạn theo dõi loạt truyện ngắn này, vì đó là những sự thật lịch sử mà mình đã cố gắng sưu tầm.

Chúc các bạn một ngày vui.

Phạm Thu Hương

o0o

© copyright 2026
Phạm Thu Hương
Permitted for non-commercial use
http://www.dotchuoinon.com

Leave a comment