Thứ năm, 15 tháng 4 năm 2010

Bài hôm nay

Giới thiệu bài hát Hallelujah, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, chi Hoàng Khánh Hòa.

Mùi vị , Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hoàng Long.

Mang theo ánh nắng của chính mình , Danh Ngôn, song ngữ, chị Phạm Thanh Hằng.

Giàu thật sự , Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.

Dừng chân bên đường , Thiền thi, anh Trần Đình Hoành.

Không thay đổi, Trà Đàm, song ngữ, anh Nguyễn Minh Hiển.

Không làm, không ăn , Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Người trông cậy được, Trà Đàm, anh Trần Đình Hoành.
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

Giới thiệu bài hát Hallelujah

Chào các bạn,

Hôm nay mình giới thiệu với các bạn một bài hát tên là Hallelujah. Từ hallelujah theo tiếng Do Thái có nghĩa là “Praise His Holy Name”, lời cảm tạ Chúa.

Bài hát Hallelujah được viết bởi ca sĩ – nhạc sĩ Leonard Cohen phát hành trong album Various Positions của ông vào năm 1984. Mặc dù ban đầu bài hát không gạt hái mấy thành công nhưng mấy năm gần đây có rất nhiều các nghệ sĩ bản phối lại bài hát này.

Bài Hallelujah có âm hưởng của nhạc Waltz và thánh ca. Bối cảnh của bài hát là câu chuyện của vua David và nàng Bethesda trong kinh thánh Hebrew (Bible of Judges). Chuyện kể rằng khi nhà vua đang đi dạo trên mái nhà thì bắt gặp nàng Bathesda đang tắm. Bathesda là vợ của Uriah, con của một trong các quân sư của vua David. Vua David đem lòng khao khát Bathesda và đã khiến nàng có thai. Vua David do không muốn nhận tội lỗi của mình đã cố gắng mọi cách buộc Uriah trở về với Bathesda từ chiến trường và hi vọng Uriah nghĩ rằng đứa trẻ là con mình. Nhưng Uriah đã không về và sau đó đã bị bỏ rơi và hi sinh trong chiến trận theo lệnh của vua David. Vua David sau đó cưới Bathesda làm vợ. Hành động bất chính đó của vua David đã khiến Chúa trời phiền lòng nên đã trừng phạt vua David. Đứa trẻ sau khi sinh ra đã bị ốm nặng và qua đời sau vài ngày.

Câu chuyện của vua David và nàng Bathesda là một bài học về sức mạnh của niềm tin, tránh xa tội lỗi và sự trừng phạt thích đáng của Chúa Trời đối với kẻ phạm tội.

Các bạn cùng nghe bản Hallelujah do Cohen trình bày và một số bản phối lại rất thành công như bản của Alexandra Burke. Bài hát này của cô đã đứng đầu bảng xếp hạng các bài hát dịp Giáng Sinh của Anh vào tháng 12 năm 2008. Ngoài ra bản do Il Divo trình bày cũng là một trong những bản mà mình yêu thích nhất vì giai điệu rất nhẹ nhàng.

Chúc các bạn một ngày tươi hồng.

Hoàng Khánh Hòa

Bản gốc do Leonard Cohen trình bày

John Cale

Jeff Buckley

Alexandra Burke

Il Divo

Lời bài hát:

Hallelujah

Now I’ve heard there was a secret chord
That David played, and it pleased the Lord
But you don’t really care for music, do you?
It goes like this
The fourth, the fifth
The minor fall, the major lift
The baffled king composing Hallelujah
Hallelujah
Hallelujah
Hallelujah
Hallelujah

Your faith was strong but you needed proof
You saw her bathing on the roof
Her beauty and the moonlight overthrew you
She tied you
To a kitchen chair
She broke your throne, and she cut your hair
And from your lips she drew the Hallelujah

Baby I have been here before
I know this room, I’ve walked this floor
I used to live alone before I knew you.
I’ve seen your flag on the marble arch
Love is not a victory march
It’s a cold and it’s a broken Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

There was a time you let me know
What’s really going on below
But now you never show it to me, do you?
And remember when I moved in you
The holy dove was moving too
And every breath we drew was Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

You say I took the name in vain
I don’t even know the name
But if I did, well really, what’s it to you?
There’s a blaze of light
In every word
It doesn’t matter which you heard
The holy or the broken Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah

I did my best, it wasn’t much
I couldn’t feel, so I tried to touch
I’ve told the truth, I didn’t come to fool you
And even though
It all went wrong
I’ll stand before the Lord of Song
With nothing on my tongue but Hallelujah

Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah

Dừng chân bên đường

Trên đường hành hương
Dừng chân bên hồ vắng
Trời trong xanh
Nước trong xanh
Ném viên sỏi vào mặt hồ tĩnh lặng
Ô những vòng đồng tâm
Của lòng ta gợn sóng
Một cánh hồng hạc
Lao xuống lòng hồ rồi lại vút lên
Mất hút vào quãng trời không
Những vòng sóng lăn tăn
Lại biến tan vào tĩnh lặng
Mây trắng
Lững lờ đáy nước
Tựa gốc phong già
Lá tím gió nắng lao xao
Con đường hành hương đất đỏ
Hun hút dài, hun hút cao
Qua dải đồi chiều
Biến mất sau cánh đồng thông
Về hướng rừng phong chập chùng vách núi

TĐH
LOW, 4;09pm, Wednesday, April 14, 2010

Không thay đổi

Chào các bạn,

Thay đổi là một vấn đề khó khăn. Một số người thay đổi cách nghĩ và cả cuộc đời trong có một giây. Một số người học tiếng Anh dễ như không. Nhưng một số người khác tốn bao công sức hàng tháng năm ròng với bao đau đớn, bao chương trình kế hoạch để thay đổi mà vẫn vô hiệu.

Tại sao vậy?  Tại sao cố gắng “leo dốc” vất vả làm vậy? Hay là cứ nhẹ nhàng yêu giọt nước mưa đang lăn trên má ta  🙂

Sau đây là một câu chuyện về Thay Đổi. Các bạn hãy đọc và cho ý kiến nhé.

Chúc các bạn một ngày dịu dàng,

Hiển.
.

Không thay đổi

“Tôi là một người điên nhiều năm rồi. Tôi lo lắng, trầm cảm và ích kỷ. Mọi người liên tục bảo tôi phải thay đổi đi.

Tôi bực tức lại họ, và tôi đồng ý với họ, và tôi muốn thay đổi, nhưng đơn giản là không thể, bất kể tôi đã cố gắng vất vả thế nào.

Điều làm tôi đau đớn nhất là, như những người khác, người bạn tốt nhất của tôi cứ đòi hỏi tôi phải thay đổi. Do đó tôi thấy bất lực và kẹt bẫy.

Rồi, một ngày kia, anh ấy nói với tôi, “Đừng thay đổi. Tôi yêu bạn đơn giản như bạn bây giờ.” Những từ ngữ đó là âm nhạc cho tai của tôi. “Đừng thay đổi. Đừng thay đổi. Đừng thay đổi… tôi yêu bạn như bạn bây giờ.”

Tôi thoải mái. Tôi sống động. Và đột nhiên tôi thay đổi.
Bây giờ tôi biết rằng tôi không thể thực sự thay đổi cho đến khi tôi tìm thấy ai đó yêu tôi bất kể tôi có thay đổi hay không.”

Đây có phải là cách Chúa yêu con không, Chúa ơi?
.

Don’t change

“I was a neurotic for years. I was anxious and depressed and selfish. Everyone kept telling me to change.

I resented them, and I agreed with them, and I wanted to change, but simply couldn’t, no matter how hard I tried.

What hurt the most was that, like the others, my best friend kept insisting that I change. So I felt powerless and trapped.

Then, one day, he said to me, “Don’t change. I love you just as you are.” Those words were music to my ears. “Don’t change. Don’t change. Don’t change. . . I love you as you are.”

I relaxed. I came alive. And suddenly I changed.

Now I know that I couldn’t really change until I found someone who would love me whether I changed or not.”

Is this how you love me, God?
~ Anthony de Mello, The song of the bird

Không làm, không ăn

Hyakujo, thiền sư người Trung quốc, thường làm việc lao động với các học trò ngay cả khi cả đã tám mươi, dọn vườn, cắt cỏ, tỉa cây.

Các học trò lo lắng thấy vị thầy già làm việc cực quá, nhưng họ biết thầy chẳng nghe lời khuyên của họ mà nghỉ ngơi, nên họ dấu đồ nghề làm vườn.

Ngày đó sư phụ chẳng ăn. Ngày kế tiếp thầy cũng chẳng ăn, và ngày kế tiếp cũng vậy. “Có lẽ thầy giận mình đã dấu đồ nghề,” các học trò đoán, “Mình phải trả lại thôi.”

Ngày họ trả lại đồ nghề, thầy làm việc và ăn như trước đó. Tối đó thầy dạy học trò: “Không làm, không ăn.”
.

Bình:

• Thiền sư già này là Bách Trượng Hoài Hải, đệ tử của Mã Tổ Đạo Nhất, một trong ba người có ảnh hưởng lớn nhất trong Thiền tông–Sư tổ Bồ Đề Đạt Đa, Lục tổ Huệ Năng, Mã Tổ Đạo Nhất.

Sau khi Mã Tổ sáng lập tu viện Tòng Lâm, Bách Trượng Hoài Hải nối tiếp lập ra hệ thống các quy tắc trong tu viện. Chủ trương cuộc sống “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (Ngày nào không làm, ngày đó không ăn) của Bách Trượng từng gặp nhiều khó khăn, bị chỉ trích vì trái với quy củ, giới luật trước đây của người tu hành Phật Giáo, thậm chí có người còn cho sư là kẻ ngoại đạo.

• Thiền tông từ đó trở thành tích cực hơn. Các thiền sư có lối sống “vào đời” rất tích cực. Các vị không chỉ ngồi thiền cả ngày, chẳng làm gì như mọi người lầm tưởng. Thiền có thể thực hành mỗi giây phút, dù ta đang làm việc gì. Thiền không có nghĩa chỉ là ngồi Thiền.

• Ngay trong hàng khất sĩ, khất thực (xin ăn) là một loại tu tập tích cực hàng ngày. Đi khất thực là một công việc khó khăn, để tu tập hạnh khiêm tốn và tĩnh lặng cho mình, đồng thời giúp mọi người thực hành hạnh bố thí.

• “Không làm, không ăn” hay “làm để ăn” là quy luật tự nhiên. “Sống là làm”—đây là một triết lý tự nhiên về hoạt động tích cực trong đời sống.

(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.

No Work, No Food

Hyakujo, the Chinese Zen master, used to labor with his pupils even at the age of eighty, trimming the gardens, cleaning the grounds, and pruning the trees.

The pupils felt sorry to see the old teacher working so hard, but they knew he would not listen to their advice to stop, so they hid away his tools.

That day the master did not eat. The next day he did not eat, nor the next. “He may be angry because we have hidden his tools,” the pupils surmised. “We had better put them back.”

The day they did, the teacher worked and ate the same as before. In the evening he instructed them: “No work, no food.”

# 83

Người trông cậy được

Chào các bạn,

Từ quan trọng nhất khi định điểm một người để tuyển họ vào việc nào đó là “trông cậy được” (reliable). Tất cả mọi nhận xét về đức tính và vốn liếng của người đó—thông mình, hoạt bát, kinh nghiệm…– rốt cuộc quy về một chữ “reliable.” Reliable thì tuyển, không reliable thì không tuyển.

Trong mọi liên hệ khác ở đời cũng chỉ một từ reliable—thương mãi, kinh tế, chính trị, chủ thợ, vợ chồng, bạn trai bạn gái, teamwork, v.v… Một người mà ta có thể sống chung hay làm việc chung thường xuyên là một người có thể trông cậy được. Hắn có thể đẹp trai hay xấu trai, kiêu căng hay khiêm tốn, thông minh hay khù khờ, nhưng nếu trông cậy được là được.

Trông cậy được (reliable, reliability) tối thiều được thành hình nhờ các tính chất sau:

1. Thành thật: Nếu bác không thành thật thì Diêm Vương gặp bác cũng phải chạy, nói chi người.

2. Lời nói chắc chắn: Nói 3 giờ có mặt thì động đất cũng có mặt lúc 3 giờ. Nói là sẽ làm việc gì thì sẽ làm việc đó. Việc gì chưa biết thì nói chưa biết, biết mơ hồ thì nói biết mơ hồ.

Dĩ nhiên là người nói chắc chắn cũng là người thành thật, nhưng đôi khi có người thành thật nhưng lại ăn nói không chắc chắn. Ví dụ: Hắn nói có mặt 3 giờ, thì thế nào hắn cũng có mặt, nhưng có thể là 4, 5 giờ. Tên này rât lỏng lẻo về thời gian.

3. Trung thành: Đã là bạn thì luôn là bạn, không vì bất đồng ‎y’ kiến về việc gì đó mà đổi bạn thành thù, hay vì cả hai mê một cô hoặc giành một chức vị mà không chơi với nhau được nữa, hay bực nhau chuyện gì đó rồi đổi bạn thành thù.

Trung thành không có nghĩa là luôn luôn đồng ý. Trung thành là luôn luôn giữ vững liên hệ nền tảng, dù có bất đồng ý về chuyện gì đó.

Trung thành là không bỏ chạy khi đụng chuyện—khi bạn lên thì là bạn, khi bạn bị đời chối bỏ và ngyền rủa thì ta bỏ bạn. Thế thì ruồi chạy theo mật chứ bạn bè gì. Bạn có nghĩa là: Khi cả thế giới bỏ bạn, bạn có thể đến tựa vào vai mình.

Vợ chồng, thầy trò … cũng vậy.

4. Hiểu ‎ý nhau: Người reliable nghe rất kỹ và luôn cố để hiểu đúng ý người kia và làm đúng ý. Rất ít khi có chuyện “Ồ, em tưởng thế này.”

Người reliable chẳng cần nói nhiều. Nói một từ với nhau là đã hiểu trọn ý.

Nhưng làm sao thực hiện được nghệ thuật hiểu nhau này? Thưa, lắng nghe với sự nhậy cảm của cả con tim và khối óc.

4. Không có ngạc nhiên: Một người reliable không bao giờ làm người kia ngạc nhiên. “Ủa, sao anh làm kỳ vậy?” “Trời, tui đâu có ngờ anh làm việc này.”

Người thường đưa cho bạn ngạc nhiên là không reliable.

Người reliable, nếu có việc gì không rõ thì luôn luôn hỏi lại. Muốn làm gì cũng nói chuyện qua với nhau trước.

Nói chung, người reliable là người nếu làm việc chung với bạn, buôn bán chung với bạn, ngủ chung với bạn, thì bạn luôn cảm thấy an tâm, thấy được thêm đồng minh, thêm sức mạnh; có thể đi chơi xa, để công việc lại cho người này chăm sóc mà không mảy may lo lắng.

5. Không dễ tin việc nhảm. Người reliable là người nếu có người nói xấu với họ về bạn, bạn biết là họ sẽ không tin, vì họ hiểu bạn.

Nếu có người nói xấu bạn mà họ tin ngay thì họ không reliable.

6. Tha thứ: Người reliable dù biết bạn sai cũng không thay đồi tình cảm với bạn, sẽ tha thứ cho bạn, và sẽ vẫn thương yêu bạn.

Nếu đọc đến đây mà bạn vẫn chưa hiểu reliable là thế nào thì theo công thức này: Người reliable nhất với bạn mà bạn đã biết là mẹ bạn. Hãy theo đó mà sống reliable với mọi người.

Chúc các bạn một ngày vui.

Mến,

Hoành

© copyright 2010
Trần Đình Hoành
Permitted for non-commercial use
www.dotchuoinon.com