
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa – nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc – người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử: “Ngày Kỷ dậu, mùng sáu, Giảo Kỳ xuất bọn Chương Hiến Hầu đánh phá quân của người em Thế tử (Tức vua Trần Nhân Tôn) là Thái soái Trần Khải tại bến đò Phú Tân, chém ngàn người. Thanh Hóa và Nghệ An đều đầu hàng. Vua Trần sợ, khiến (sai) người trong họ là Trung Hiến hầu Trần Dương xin hòa. Lại sai kẻ cận thị là Đào Kiên đưa bà chúa em vua cho Trấn Nam vương xin hòa giải” (1).
“Bà chúa em” (Quốc muội) đó, sau tìm hiểu, chính là Công chúa An Tư, em gái vua Trần Thánh Tông…
Sự việc khởi nguồn từ lúc Thái tử Đại Nguyên Thoát Hoan thống lĩnh năm mươi vạn quân Mông – Thát cùng nhiều hổ tướng đang đe dọa vận mệnh nước Đại Việt: Quân Nguyên tiến rất nhanh; nhiều vùng đất bị chiếm, quân Trần phải vừa chiến đấu vừa rút lui để bảo toàn lực lượng; Thăng Long bị uy hiếp, hai vua Trần và triều đình phải rút khỏi kinh thành; các ải vỡ gần hết, nhiều đại thần tôn thất đem quân đầu hàng giặc, còn giặc đang xiết chặt hai gọng kìm lớn phía Nam phía Bắc bao vây hòng tiêu diệt quan quân nhà Trần… Trong cảnh nước sôi lửa bỏng, cần hãm chân giặc để có đủ thời gian củng cố lực lựơng, vua Trần Thánh Tông buộc cử sứ giả mang quốc thư giả cầu hòa tới tướng giặc Trấn Nam vương Thoát Hoan. Vì Thoát Hoan có thể đã biết tới bức họa về An Tư (suy đoán: vốn là “chiến lợi phẩm” của quân Nguyên lần thứ nhất xâm lược Đại Việt, do một viên tướng tặng trước đó), nên đòi phải đưa An Tư đem dâng cho hắn thì mới chịu “nới tay” tạm ngưng đà chinh phạt…
Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại, vào tháng 2 năm Ất Dậu (1285), khi thấy quân Nguyên Mông thế rất mạnh, quan quân nhà Trần trên nhiều mặt trận đều trong thế bất lợi nên vua Trần Thánh Tông “sai người đưa công chúa An Tư (em gái út của vua) đến cho Thoát Hoan, là muốn làm thư bớt tai nạn của nước vậy” (2).
Sách Việt sử tiêu án viết: “Thoát Hoan lên sông Nhĩ Hà, cột liền bè vào làm cầu, cho quân qua sông; quân ta theo hai bên sông lập đồn để cự lại, không được; ngày đã về chiều, quân giặc qua được sông vào kinh thành, vua sai đưa Thiên Tư (An Tư) công chúa cho chúng, để thư nạn cho nước…An Tư qua trại Thoát Hoan và không rõ kết cục ra sao” (3).
Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam có viết: “… Một ngày trong tháng 2 năm 1285, Trung Hiếu hầu Trần Dương nhận lệnh đi thương thuyết giảng hòa, rồi sai quan hầu cận là Đào Kiên đưa công chúa An Tư sang dinh tướng Mông Nguyên (Thoát Hoan). Chẳng bao lâu, dưới sự chỉ huy kháng chiến của Trần Quốc Tuấn, quân Nguyên Mông bị dẹp tan. Trong chiến công này rõ ràng là có sự đóng góp của công chúa An Tư, người đã hy sinh vì nạn nước” (4).
Việc An Tư chịu hy sinh thân mình vào trại giặc đã giúp quân dân nhà Trần có thêm thời gian quý báu để củng cố lực lượng, tổ chức cuộc rút lui chiến lược an toàn về vùng Ái Châu (Thanh Hóa), trước khi tổng phản công quét sạch quân Nguyên. Một giả thuyết “táo bạo” cho rằng bà đã đóng vai trò như một “nội gián”, ngầm gửi các thông tin tình báo quân sự quan trọng từ doanh trại địch về cho triều đình… Nhưng dù không làm “nội gián” thì công chúa An Tư cũng có đóng góp to lớn giúp xoay chuyển cục diện chiến tranh, đuổi cổ bọn xâm lược ra khỏi bờ cõi. Song số phận của bà sau khi quân Nguyên đại bại, từ đó cho tới nay vẫn hoàn toàn là một ẩn số lớn và chứa đựng sự bất công chua xót. Chính sử Đại Việt chỉ chép một dòng ngắn ngủi về việc gả bà đi sang trại giặc như trên mà không hề nhắc tới kết cục của bà, cũng như không thấy ghi chép về việc phong thưởng ra sao cho bà sau chiến thắng. Không ai biết rõ bà đã sống những ngày tháng trong hang cọp dữ như thế nào? Không rõ sau khi quân Nguyên rút khỏi Đại Việt, Trấn Nam Vương Thoát Hoan, con trai Hốt Tất Liệt phải chui vào rọ bọc đồng bắt quân kéo tháo chạy về nước, bà có thoát thân khỏi đám loạn quân và quay trở về được Hoàng cung hay không? Nếu may mắn còn sống, không về Hoàng cung thì bà đã đi những đâu, làm những gì?… Triều đình làm lễ lớn khen thưởng công thần, nhưng không hề nhắc đến Công chúa An Tư một lời. Sử sách cũng không để lại thông tin gì về đoạn đời sau đó của bà. Có sách nói rằng: “Trước Thái tử (Thoát Hoan) lấy người con gái nhà Trần sinh được hai con…”. Người con gái họ Trần này là ai? Có phải là An Tư? Sách An Nam chí lược cho biết là không phải (người đó là con gái của Trần Di Ái), nhưng chưa có tài liệu tin cậy hơn để kiểm chứng. Có truyền thuyết dân gian kể bà An Tư từng ái mộ, thầm yêu trộm nhớ danh tướng Yết Kiêu… Như thế là toàn bộ sách sử từ thời đó với mấy dòng đơn sơ cho đến thời hiện đại – cả sách thông sử quy mô lẫn sách chuyên đề lịch sử(5) đều không hề có dòng nào nói đến bà An Tư cùng sự kiện dùng “Mỹ nhân kế” đau lòng bất đắc dĩ của các vua Trần! Phải chăng các nhà sử học hiện đại coi đó là sự kiện ô nhục không đáng nói tới – so với tinh thần Sát Thát dâng cao của quân dân Đại Việt và sự hy sinh oanh liệt của nhiều vị dũng tướng – như Trần Bình Trọng? Các sách viết về giai thoại lịch sử, dã sử Việt, thần tích Việt, Thần hoàng làng(6) mà tôi có trong tay đều dày trên dưới ngàn trang nhưng không hề sách nào nhắc đến bà Quốc muội – Hoàng quý muội gắn với sự kiện thương tâm này. Trong khi đó lại có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu (và tiểu thuyết) về hiện tượng “”Mỹ nhân kế” & “Hôn nhân chính trị” tương tự (như về Trần Huyền Trân, Ngô Thị Lâm, Quận chúa họ Trịnh, công chúa Ngọc Vạn, công chúa Lê Ngọc Hân, v.v); hoặc ca ngợi một người phụ nữ quý tộc, bà Lý Thụ Hiệu đời Lê – Trịnh sang Tàu với tư cách nhân viên sứ bộ, v.v (7). Hầu hết những câu chuyện dã sử về những người phụ nữ Việt thời cổ – trung đại được sử sách và dân gian tôn vinh lập miếu phụng thờ như các nữ thần đều là những nữ tướng hoặc đã sát cánh cùng chồng giết giặc ngoại xâm: Bát Nàn Vũ Thị Thục, Công chúa Vĩnh Gia, Bảo Châu công chúa (Ả Rồng), Tỳ tướng quân Nguyễn Thị Nguyệt, Mai Dương công chúa, v.v.(8).
Trong khi một bà Vương phi người Tống chỉ vì nhảy xuống sông tự vẫn để giữ trọn danh tiết thì được tôn vinh thờ phụng với hệ thống dày đặc đình đền miếu phủ thờ Bà ở dọc hữu ngạn sông Cái (sông Hồng) hàng chục cây số, dân gian còn tạo ra các huyền thoại linh thiêng về “Bà Mỵ Ê” ở Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Bình Thuận, v.v; rồi được bàn đến trong cả một công trình nghiên cứu dày tổng hợp từ hàng trăm thần tích, thần phả, thần sắc, giai thoại và hàng trăm bài báo, bài nghiên cứu trong nước & nước ngoài(9), thì bà An Tư không hề có một gốc cây nào được thắp hương tưởng nhớ! Sử gia Ngô Sĩ Liên trong ĐVSKTT bàn về Bà Mỵ Ê như sau giúp ta hiểu thêm về nguyên do thái độ bất công phi lý của triều đình phong kiến đối với sự cống nạp An Tư theo dạng buộc Bà phải hy sinh danh tiết cho giặc dữ vì nghĩa lớn: “Phu nhân giữ nghĩa không chịu nhục, chỉ theo một chồng cho đến chết, để toàn vẹn trinh tiết của người đàn bà. Người làm tôi mà thờ hai vua tức là tội nhân đối với phu nhân. Vua khen là trinh tiết, phong làm phu nhân để khuyến khích người đời sau là đáng lắm” (10).
Ở huyện Ứng Hòa, Hà Nội lâu nay có một miếu thờ vẫn được coi là nơi thờ Công chúa An Tư. Trong các bản sắc phong công chúa là thần hộ quốc, có bản đời Tự Đức (1849) của thôn Cao Lãm, đại ý rằng đất Cao Lãm lừng vang vị thần là công chúa triều Trần. Nhưng lai lịch của nàng công chúa này theo dân gian lại là: khi giặc Nguyên xâm phạm bờ cõi nước ta, chúng vơ vét của cải và lùng bắt các thiếu nữ, nàng công chúa xinh đẹp tròn 15 tuổi cùng mười hầu cận chạy dọc bờ sông Đáy, tiến về vùng đất Sơn Minh, bị giặc đuổi ép tới thôn Khả Lãm. Không thể chống trả được quân địch, nàng tuẫn tiết để khỏi rơi vào tay giặc. Nơi nàng tử tiết chính là thôn Cao Lãm, xã Cao Thành, huyện Ứng Hòa, Hà Nội nay. Dân làng thương tiếc lập miếu thờ nàng, và thầm coi đó cũng là nơi thờ công chúa An Tư…
Tóm lại, câu chuyện về An Tư gần như biến mất tăm trong Lịch sử, để lại một khoảng trống lịch sử to lớn và đáng tiếc về sự hy sinh thầm lặng cao quý của một người phụ nữ Việt đã phải đối mặt với chiến tranh, góp vào chiến thắng chung của cả dân tộc bằng chính thân phận của mình. Phải chăng, điều đó là một nỗi oan ức của bà An Tư phải mang theo xuống Suối vàng, và cũng là nỗi ấm ức của bao thế hệ người Việt suốt nhiều thế kỷ?
Không hiểu sao, tôi chợt nhớ đến một truyện ngắn rất hay của nhà văn Pháp Guy de Maupassant: Boule de Suif (Viên Mỡ Bò). Sự nhớ lại và liên tưởng này chắc rất khập khễnh, song cũng có thể lý giải được phần nào về thái độ của lịch sử đối với thân phận bà An Tư – người phụ nữ sống trong thời đại Trung cổ Á Đông nặng nề giáo lý Khổng Mạnh… Truyện Viên Mỡ Bò kể về chuyến xe ngựa đường dài chở 10 hành khách: vợ chồng những nhà tư sản giàu có, một cặp vợ chồng bá tước quý tộc, hai vị nữ tu, một chính trị gia dân chủ và cô gái điếm Élisabeth Rousset có biệt danh “Viên Mỡ Bò” – đại diện cho các tầng lớp xã hội thời ấy. Ban đầu, những người “thượng lưu” trên xe nhìn “Viên Mỡ Bò” với ánh mắt khinh miệt, song lúc xe bị kẹt trong tuyết và mọi người đều đói lả, cô là người duy nhất đã chuẩn bị một giỏ thức ăn ngon và hào phóng chia sẻ cho mọi người, khiến họ tạm thời thay đổi thái độ. Khi xe dừng lại ở một quán trọ thuộc vùng kiểm soát của quân Phổ, một tên sĩ quan ra điều kiện: chiếc xe chỉ được phép đi tiếp nếu “Viên Mỡ Bò” chịu ngủ với hắn một đêm. Với lòng tự tôn dân tộc, cô kiên quyết từ chối phục vụ kẻ thù xâm lược. Vì muốn lên đường sớm, những người bạn đồng hành “đạo mạo” bắt đầu dùng những lời lẽ hoa mỹ, mượn cớ tôn giáo, nghĩa vụ và sự hy sinh để thuyết phục, thậm chí là ép buộc “Viên Mỡ Bò” chấp nhận yêu cầu của tên sĩ quan. Vì lợi ích của cả đoàn, “Viên Mỡ Bò” đành phải nhượng bộ trong tủi nhục… Nhưng, sáng hôm sau khi lên xe tiếp tục hành trình, những kẻ vừa được cô cứu thoát lại lập tức quay ngoắt thái độ. Họ nhìn cô bằng ánh mắt ghê tởm, cô lập “Viên Mỡ Bò” và thì thầm nhục mạ cô. Khi “Viên Mỡ Bò” không kịp chuẩn bị thức ăn cho chặng tiếp theo và phải chịu đói, không một ai trong số họ thèm san sẻ cho cô một mẩu bánh mì. Giữa lúc họ thản nhiên ăn uống và ngân nga các bài ca yêu nước giả tạo, thì “Viên Mỡ Bò vẫn khóc, và đôi khi một tiếng nức nở, cô không nén nổi, bật lên trong bóng tối, giữa hai đoạn bài hát”(11).
Năm 1943, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng là tác giả đầu tiên đã viết về cuộc đời của nàng công chúa nhà Trần mà suốt nhiều thế kỷ vô tình trở thành một nhân vật huyền thoại, với những câu chuyện không có trong sử liệu, nhà văn khai thác vào môt khoảng trống lịch sử bằng cuốn tiểu thuyết lịch sử An Tư; những trang văn như hút hồn nhiều thế hệ trẻ Việt đã hiện thực hóa thân phận đặc biệt của Bà An Tư trong cơn bão táp lịch sử ghê gớm của dân tộc chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai…
Sau tác giả Nguyễn Huy Tưởng nhiều thập kỷ mới có hai tác giả văn xuôi, cũng từ mấy dòng ngắn ngủi trong thư tịch cũ xây dựng thành nhân vật An Tư tương đối có trọng lượng trong cuốn Thăng Long nổi giận, thuộc bộ tiểu thuyết Bão táp triều Trần, Nxb Phụ nữ, 2021) của nhà văn Hoàng Quốc Hải, và truyện Công chúa An Tư trong tập truyện ngắn Xuân kia qua bạc mái đầu (Nxb Phụ Nữ Việt Nam, 2025) của Văn Bạch Yến.
Đó là trong văn học, còn trong âm nhạc, hội họa, điện ảnh thì hầu như vắng bóng câu chuyện về số phận Công chúa An Tư. Lâu nay, độc giả-khán giả nói chung, học sinh sinh viên nói riêng ở nước ta thông thạo lịch sử cổ Trung Hoa, Hàn Quốc hơn lịch sử nước nhà; và nếu có làm một cuộc phỏng vấn độc giả – khán giả về sự kiện “Chiêu Quân cống Hồ”(12) thì số người biết về sự kiện này so với sự kiện “An Tư cống giặc Nguyên” chắc chắn sẽ có tỷ lệ 90/10!
Điện ảnh và Truyền hình Trung Quốc đã có rất nhiều bộ phim “bom tấn” tái hiện cuộc đời Vương Chiêu Quân, tập trung vào nhan sắc “Lạc nhạn” và vai trò chính trị của nàng ở vùng biên ải, tiêu biểu là hai bộ phim truyện truyền hình dài tập nổi tiếng nhất: Chiêu Quân Xuất Tái (2004) và Truyền Kỳ Vương Chiêu Quân (2007)…
Tại Việt Nam, câu chuyện về bà An Tư từng được chuyển thể thành các vở cải lương, chèo, tuồng khá ăn khách. Còn trong sân khấu hiện đại và điện ảnh – truyền hình thì mới chỉ có loạt phim ngắn Sitcom(13) 16 tập Hoàng Quý Muội – phim ngôn tình, giả tưởng mượn chuyện An Tư để tạo nên câu chuyện tình xuyên không gian từ năm 1285 đến hiện tại của Công chúa An Tư và Chiêu Thành Vương, phát hành độc quyền trên nền tảng giải trí POPS App.
Là người làm điện ảnh phim truyện, lâu nay chúng tôi đau đáu, ấp ủ đưa câu chuyện bi thương này lên màn ảnh lớn một cách xứng đáng, như một sự “giải oan” thiêng liêng và cần thiết cho công chúa An Tư, như một nén nhang thơm xin được tạ lỗi với Bà… Những thu hoạch & suy ngẫm trên đây chỉ là sự gợi ý bước đầu cho việc viết kịch bản điện ảnh (Scénario film), mong nhận được sự quan tâm góp ý của những khán giả Vàng tương lai…
_______
1. An Nam chí lược – Lê Tắc (Trắc), Bản dịch của Ủy ban phiên dịch sử liệu VN – Viện Đại học Huế, 1960. Trọn bộ 19 quyển – Nxb Hồng Đức, 2016, tr.115.
2. Đại Việt sử ký toàn thư – Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu dịch, NXB Khoa học xã hội, 2017.
3. Việt Sử tiêu án (Từ Hồng Bàng đến ngoại thuộc nhà Minh) – Ngô Gia Văn Phái, Nxb Hồng Đức 2022
4. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam – Nguyễn Q. Thắng & Nguyễn Bá Thế, Nxb KHXH, 1992 (mục từ “An Tư”).
5. Lịch sử Việt Nam 15 tập – Viện hàn lâm KHXH-Viện sử học, Nxb KHXH, 2017; Lịch sử Việt Nam Thế kỷ X – Đầu thế kỷ XV, Trung tâm KHXH &NV Quốc gia-Viện sử học, Nxb KHXH, 2002; Lịch sử Việt Nam. Từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX – Lê Thành Khôi (Nguyễn Nghi dịch từ tiếng Pháp), Nxb Thế giới, HN, 2014; Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim, Nxb Văn học, 2015; Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông thế kỷ XIII – Hà Văn Tấn, Phạm Thị Tâm, Nxb KHXH, 1970; v.v.
6. Thần linh đất Việt – Vũ Thanh Sơn, Nxb Văn hóa Dân tộc HN, 2002; Kho tàng giai thoại Việt Nam – Vũ Ngọc Khánh, Nxb Văn hóa – Thông tin HN, 2001; Giai thoại lịch sử Việt Nam (2 tập) – Kiều Văn, Nxb Văn hóa – Thông tin HN, 2002; Việt Nam kho tàng dã sử – Vũ Ngọc Khánh-Phạm Minh Thảo, Nxb Văn hóa – Thông tin HN, 2004; Thành hoàng Việt Nam (2 tập), Phạm Minh Thảo-Trần Thị An-Bùi Xuân Mỹ, Nxb Văn hóa – Thông tin HN, 1997; Đền Miếu Việt Nam – Vũ Ngọc Khánh, Nxb Thanh niên, 2007; Hồn sử Việt & Những giai thoại và truyền thuyết nổi tiếng – Minh Châu & DSC, Nxb Thanh Hóa, 2016; v.v.
7. Giai thoại lịch sử Việt Nam, tập 1, Sđd.
8. Thần linh đất Việt, Sđd.
9. Vương phi Mỵ Ê trong lịch sử và văn hóa Việt, Châu Hồng Thủy-Hoàng Thị Hiệp, Nxb Văn hóa dân tộc, 2024. “Bên cạnh chuyện Bà Mỵ Ê trừng phạt thầy phù thủy, dân làng Lý Nhân ngoại, Lý Nhân nội, Lam Cầu, Phúc Mãn, Thanh Nga còn truyền tụng thêm nhiều chuyện về sự hiển hiện linh thiêng của bà Mỵ Ê, giúp dân có cuộc sống an lành. Những khi có thiên tai dịch bệnh, người dân tiến hành cầu đảo, mong Bà giúp cho dân làng tai qua nạn khỏi… Vì vậy, các nhà vua qua các triều đại ban cho Bà nhiều mỹ tự và khẳng định công lao của Bà trong các sắc phong là “hộ quốc tý dân, nẫm trứ linh ứng” (giúp nước che chở cho dân chúng, rất mực linh ứng)”. Tr.32.
10. Vương phi Mỵ Ê… Sđd, tr. 272.
11. Tuyển tập truyện ngắn Guy de Maupassant, Hướng Minh dịch, Nxb Hội Nhà văn, 2000
12. “Chiêu Quân cống Hồ” là một điển tích lịch sử nổi tiếng kể lại câu chuyện đầy bi tráng và nước mắt của Vương Chiêu Quân – một trong “Tứ đại mỹ nhân” Trung Hoa: Vào thời nhà Tây Hán, triều đình suy yếu và thường xuyên bị giặc Hung Nô (phương Bắc) quấy nhiễu. Để giữ gìn hòa bình, Hán Nguyên Đế đã quyết định gả một cung nữ sang làm vợ Thiền vu Hô Hàn Tà của Hung Nô. Người được chọn là Vương Chiêu Quân. Tương truyền, vì nàng không chịu đút lót cho thợ vẽ chân dung là Mao Diên Thọ, hắn đã cố tình vẽ thêm nốt ruồi xấu xí lên bức họa của nàng, khiến hoàng đế không hề hay biết đến nhan sắc thực sự của nàng cho đến ngày nàng chuẩn bị lên đường. Khi nhận ra vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành của Chiêu Quân thì đã quá muộn, nhà vua chỉ biết ngậm ngùi tiễn biệt nàng. Câu chuyện ôm đàn tỳ bà bước đi trong tuyết lạnh của nàng đã trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho thơ ca và nghệ thuật Trung Hoa nhiều thế kỷ.
Tại Trung Quốc, điển tích “Chiêu Quân cống Hồ” thường được gọi bằng những cái tên mang ý nghĩa chính trị như “Chiêu Quân xuất tái” (Chiêu Quân ra biên ải) hay “Chiêu Quân hòa thân”. Trong Sân khấu truyền thống và điện ảnh Trung Quốc, hình tượng Vương Chiêu Quân đã chuyển dịch từ một người phụ nữ mang nỗi oán hận ly hương thành một nữ anh hùng ngoại giao, người mang lại hòa bình cho vương triều nhà Hán và tộc Hung Nô. Sân khấu truyền thống (Tạp kịch, Kinh kịch) khai thác rất sâu tâm trạng bi tráng của Chiêu Quân rời bỏ đất Hán, như một nạn nhân cam chịu, đáng thương. Vở Hán cung thu (Mùa thu cung Hán) của Mã Trí Viễn thời Nguyên tả tấn bi kịch tình yêu giữa Hán Nguyên đế và Chiêu Quân, lên án sự bất lực của triều đình và sự tham lam của tên họa sư cung đình Mao Diên Thọ. Thời hiện đại, hai kịch tác gia Quách Mạt Nhược, Tào Ngu đều từng viết lại về Chiêu Quân. Trong vở kịch Vương Chiêu Quân của Quách Mạt Nhược (1923), bi kịch của Chiêu Quân được soi chiếu dưới góc nhìn hoàn toàn mới: Chiêu Quân cùng con gái Mao Diên Thọ quyết định ra biên ải kết thân với vua Hung Nô, bộc lộ khát vọng giải phóng cá nhân: Thà chọn một cuộc sống phóng khoáng, đối mặt với bão cát thảo nguyên hơn là chấp nhận chôn vùi tuổi thanh xuân trong sự tù túng đầy âm mưu hiểm ác của cung cấm Tây Hán. Kết vở kịch của Quách Mạt Nhược là lời độc thoại cay đắng của Hán Nguyên đế trước bức tranh chân thực vẽ Vương Chiêu Quân và cái đầu lâu tên họa sư mà ông ta vừa cho chặt… (Vương Chiêu Quân – Hà Như-Kim Anh dịch, Tuyển tập kịch Quách Mạt Nhược, Nxb Văn hóa 1962, tr.106). Còn vở kịch của Tào Ngu (1970) cũng thay đổi hoàn toàn góc nhìn: Chiêu Quân không còn là nạn nhân bị “cống” đi trong oán hận, mà là một người phụ nữ chủ động, tự nguyện đi hòa thân để thiết lập bang giao hòa bình cho nhân dân hai nước.
13. Sitcom: Kiểu quay phim truyền hình nhiều máy cùng một lúc (Multi-cam) với bối cảnh đơn giản, cố định (nội cảnh) và hệ thống ánh sáng cố định.
Đạo diễn Mai An NGUYỄN ANH TUẤN
(Tranh minh họa sưu tầm)