Vấn đề nóng nhất của điện ảnh Việt hôm nay: Chất lượng văn học trong phim

Những cuộc tranh luận sôi nổi thậm chí gay gắt trên MXH và các phương tiện truyền thông vừa qua sau hàng loạt bộ phim điện ảnh nội địa chiếu rạp có thể nói là một hiện tượng tích cực, hết sức đáng mừng trong đời sống thưởng thức & kinh doanh phim ảnh nước nhà, giữa lúc Điện ảnh VN đang nỗ lực vươn lên để có tên trên bản đồ Điện ảnh thế giới. Và trung tâm của những cuộc bàn luận chưa đến hồi kết đó chính là Chất lượng văn học của một bộ phim, mà nhân lõi của vấn đề lại là Kịch bản văn học.

Điện ảnh thế giới ngay từ thời thơ ấu của mình đã mau chóng tìm đến văn học và kịch mục sân khấu; các nhà sản xuất phim đã đặt hàng các nhà văn lớn nhất của Pháp viết kịch bản phim hoặc mua bản quyền tác phẩm của họ. Trên con đường lớn của Nghệ thuật thứ bảy, qua thực tế của nhiều nền diện ảnh lớn, nhiều tác phẩm trở thành kinh điển và sống lâu dài với mọi thế hệ khán giả đều là những bộ phim chuyển thể tác phẩm văn học có gía trị. Và một Giải thưởng danh giá đối với những người làm phim nhiều quốc gia như của Viện Hàn lâm Khoa học Điện ảnh Hoa Kỳ đã dành riêng một giải Oscar cho phim chuyển thể từ tác phẩm văn học gốc! (Ví dụ gần nhất: các phim The Social network -2011, The Descendants -2012, Argo -2013, 12 Years a slave -2014, The Imitation game -2015, Conclave– 2025, One Battle After Another -2026).

Việc khán giả náo nức chờ đón đến với một bộ phim Việt hôm nay, lý do mạnh nhất không chỉ là tìm đến “Ngôi sao màn bạc” hoặc kỹ xảo tân kỳ, mà chủ yếu là bởi những vấn đề Tâm lý – Xã hội của các nhà làm phim đưa ra ở một tác phẩm điện ảnh hai tiếng đồng hồ được triển khai trong một kịch bản phim (scenario film) giàu tính nghệ thuật, cũng có nghĩa đậm chất văn học. Đòi hỏi này cũng là dấu hiệu trưởng thành của một nền điện ảnh dân tộc đang vươn ra Biển lớn…

Trong không khí đáng phấn khởi này, chúng tôi xin gửi tới đông đảo khán giả điện ảnh nước ta tham khảo bài viết xem ra vẫn còn ý nghĩa thời sự: “Ấn tượng về Điện ảnh Việt hiện tại và một kiến nghị” – vốn là Tham luận hội thảo ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM TỪ SAU NGÀY ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT: 50 NĂM MỘT CON ĐƯỜNG tại Nha Trang sáng 10/9/2024.

—-

Là một khán giả đang làm nghề, ấn tượng mạnh nhất của tôi về nền Điện ảnh nước nhà mấy năm qua chính là sự hồ hởi đến rạp xem phim đến “cháy rạp”, không chỉ do các chiêu thức quảng bá mà chủ yếu là bởi nhu cầu nội tại của khán giả, trước hàng loạt tác phẩm điện ảnh liên tục ra đời mang tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế và đáp ứng được tâm lý chờ đợi của nhiều tầng lớp người xem. Chỉ trước đó không lâu, và ngay cả giữa lúc khán giả đang ngao ngán thất vọng với loại phim “mỳ ăn liền”, phim kinh doanh thuần túy chạy theo tình dục – bạo lực… thì xã hội bắt đầu lên cơn sốt phim ảnh với những tác phẩm thu hút đông đảo giới trẻ và các bậc phụ huynh bởi những vấn đề thiết thân, gần gũi được tái hiện trên màn ảnh lớn – như lựa chọn nghề nghiệp, tìm tình yêu đôi lứa, quan hệ gia đình, dạy dỗ con trẻ, xác định lẽ sống hiện tại, v.v. Đó là những phim của Vichto Vũ, Trấn Thành, Lý Hải… Trong khi có không ít đạo diễn mầy mò làm phim tác giả có tính chất thể nghiệm, hay vẫn cố khai thác vào đề tài ma quái kinh dị cũ rích, thì những đạo diễn kể trên phải nói đã “tiên phong” xông xáo vào cuộc sống đời thường dung dị – dù cách thể hiện còn không ít sự sống sít, thô thiển, song đã lấy được nước mắt của hàng triệu khán giả chủ yếu là giới bình dân… Còn ở loại phim do Nhà nước đặt hàng tài trợ, cái ấn tượng xưa cũ là “phim Cúng Cụ” cũng đã dần mất đi. Có thể kể tới phim “Đào Phở Piano”, không ai – ở trong ngành lẫn ngoài ngành điện ảnh lại có thể ngờ rằng: bộ phim này sau một hai tuần công chiếu lại trở thành hiện tượng “cháy rạp”, và xóa tan đi cái nghi hoặc: phim đề tài Chiến tranh – Cách mạng phải đến “mùa quýt” mới có thể ăn khách! Những người làm phim có lương tâm và đang mệt mỏi chợt được thức tỉnh rằng, cái mà khán giả mong đợi là phim hay, hấp dẫn, chân thực, đáp ứng được nhu cầu hiểu biết quá khứ và được rung động thật sự với lịch sử đau thương – anh dũng của dân tộc…

Sau hàng loạt phim ăn khách tưng bừng nói trên, tôi đã tâm sự với nhiều bạn đồng nghiệp và có được đồng cảm sâu sắc: Quả là lâu nay người làm phim chưa hiểu khán giả, thậm chí coi thường khán giả: Họ đang mong chờ biết bao các bộ phim đề cập tới mọi vấn đề của cuộc sống và lịch sử – từ những rung động thầm kín riêng tư nhất được phanh phui trên màn ảnh đến những đề tài vĩ mô của loại phim “Bom tấn” – nhưng dĩ nhiên phải chân thực, sinh động, hoàn toàn thoát khỏi vòng kim cô tuyên truyền lộ liễu thô thiển của điện ảnh “Cúng Cụ“ suốt một thời kỳ dài…

Cần kể về bộ phim “Tiểu đội hoa hồng” sản xuất năm 2023, tôi đã phải viết bài: “Bộ phim dễ thương”! Xưa nay, các phim nói về chiến tranh Cách mạng dường đã để lại ấn tượng là “khô cứng”, “ta thắng địch thua”, “tuyên truyền khẩu hiệu”, v.v. Nhưng “Tiểu đội hoa hồng” nói về quân đội thời bình, thông qua một khóa huấn luyện QS lại cho khán giả một ấn tượng khác hẳn. Bề ngoài của một anh Đại đội trưởng phụ trách khóa huấn luyện vẫn là khô đanh, cương nghị, tuân thủ điều lệnh, song, sự diễn xuất khá tinh tế qua một truyện phim mềm mại đã cho người xem thấy một chàng trai có tâm hồn lãng mạn, yêu cái đẹp, biết rung động và đáp lại tình yêu xứng đáng khi nó đến với mình một cách tình cờ!

Hoặc bộ phim “9” – bộ phim đầu tiên tại VN có sự kết hợp của nhiều đạo diễn cùng một lúc, do 9 đạo diễn trẻ thực hiện. Điều đáng quý nhất là, từ những tìm tòi thể nghiệm mang tính chất “học đường”, các đạo diễn trẻ đã quyết tâm thực hiện được một tác phẩm điện ảnh đủ tiêu chuẩn ra hệ thống chiếu rạp, biến được những ý tưởng nghệ thuật vốn nằm trên giấy và các bài tập thành hình tượng điện ảnh đến với đông đảo công chúng, và có thể liên tưởng tới suy tư nghệ thuật của đạo diễn người Nga nổi danh A. Tarkovsky… Mặc dù sự thể nghiệm tìm tòi trong phim “9” chắc chắn còn không ít non nớt, vụng dại, song tôi nghĩ: chính tình yêu Điện ảnh cộng với lòng dũng cảm của các đạo diễn trẻ đang là sinh viên đã làm được cái việc “khai sơn phá thạch” cần thiết cho nền Điện ảnh nước nhà phát triển, và chỉ có vậy, Điện ảnh Việt mới mong có tên trên bản đồ Điện ảnh thế giới!

Có một ấn tượng đáng kể đối với một người đang làm nghề và mong ước có nhà sản xuất thực thụ cho bản thân, là hầu hết phim điện ảnh mấy năm qua rất chỉn chu, cẩn thận, có nhiều tìm tòi về ngôn ngữ Điện ảnh, hết sức công phu về tạo dựng & tái hiện bối cảnh, về phục trang, diễn xuất, thể hiện bài hát, âm thanh… – được thực hiện bởi các nhà tổ chức sản xuất chuyên nghiệp đáng kính nể – như “Kiều”, “Em & Trịnh”, “ Người vợ cuối cùng”, “Thám tử Kiên”, v.v. Đó là những phim có chất lượng âm thanh & hình ảnh cao, diễn viên diễn có hồn thoát hẳn khỏi cái bệnh cố hữu của Điện ảnh-Truyền hình ta lâu nay là “đọc thuộc lời thoại”, v.v – nhất là sau nhiều năm tháng mơ ước nền ĐA ta có được những phim lịch sử-dã sử ít nhất cũng sánh được với loại phim này dù chỉ là hạng tầm tầm của Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản… Những điều này đã lý giải vì sao khán giả đã hào hứng đến rạp xem các phim cổ trang Việt mấy năm qua, và giúp cho dân ĐA hy vọng về tương lai của phim cổ trang Việt sẽ sớm đàng hoàng đến với các chợ phim Quốc tế.  Những tìm tòi về ngôn ngữ Điện ảnh trong các phim này khiến chúng trở thành tác phẩm Điện ảnh đúng nghĩa, có “đẳng cấp” – giữa cái thời mà Điện ảnh đã bị “truyền hình hóa”, “sân khấu hóa” “phát thanh hóa” rất nặng nề, quả là điều thực đáng quý, cần được ghi nhận một cách xứng đáng!

Một điều rất đặc biệt là cả bốn công trình Nghiên cứu lý luận phê bình tham dự giải Cánh Diều Vàng của Hội Điện ảnh lần này: “Điện ảnh như là thủ pháp” (Vũ Ngọc Thanh), “Bụi vàng lấp lánh” (Lê Ngọc Minh), “Từ ngôn ngữ văn học đến ngôn ngữ điện ảnh” (Vũ Thị Ngọc Dung), “Xây dựng cấu trúc và cách kể chuyện trong kịch bản phim truyện” (Nguyễn Cao Thanh – Đặng Thu Hà), đều chứa đựng hàm lượng lý luận khoa học rất đáng nể, lại đúng vào thời kỳ Điện ảnh Việt đang chuyển mình mạnh và tiến tới hình thành các Studio Film cùng các thành phố Điện ảnh tương lai…

Song, nếu bình tĩnh lại ngẫm, từ những thành công “cháy rạp” hay mới bước đầu chinh phục được khán giả, tạo ra được lớp khán giả cho mình của nhiều bộ phim Việt mấy năm qua, chúng ta thấy cần rút ra không ít bài học nghề nghiệp để nền Điện ảnh đang khởi sắc có thể tiếp tục phát triển và bước vào con đường lớn của Điện ảnh thế giới.

Ở trên, tôi đã nói về sự dễ thương của bộ phim “Tiểu đội Hoa hồng”. Nhưng nếu nhìn dưới góc độ nghệ thuật Điện ảnh hôm nay, thì sự “dễ thương” đó của bộ phim là không đủ! Dù bộ phim đã “vượt thoát” khỏi lối miêu tả anh Bộ đội như một sự “tập hợp” các đức tính tốt đẹp, song khán giả còn cần được hiểu thêm về chiều sâu nội tâm, cả những bi kịch cùng sự chiến thắng vượt bi kịch ra sao của những thế hệ chiến sĩ trong thời bình đầy nhiễu nhương xã hội này… Trong phim, Hoàng và Phương Chi “kết” nhau hơi vội, hơi dễ dàng, thụ động, thiếu những “thử thách” kịch tính mà một cô phóng viên xinh đẹp cần có tạo ra cho người mình yêu… Thành ngữ Pháp có câu: “Không hoa hồng nào là không có gai”. Hoa hồng được trồng trong doanh trại QĐ nọ và Hoa Hồng trong tâm hồn & tính cách cô gái quả là ít gai! Đã tới thời kỳ mà người xem, nhất là khán giả trẻ, họ cần được sống với những trăn trở lớn, cả những nỗi đau lớn của một giai đoạn xã hội đầy khó khăn thử thách còn ghê gớm hơn cả thời chiến tranh, kể cả đối với những sĩ quan từng trải- để có thêm được dũng khí bước vào đời…

Xem phim “Memento Mori: Đất” (và một vài bộ phim khác) dù rất ủng hộ kiểu phim phá bỏ cốt truyện để thu hút người xem bằng cảm xúc, nhưng tôi ngẫm nghĩ mãi để rồi vỡ lẽ ra điều này: nhiều đạo diễn phim hiện nay – trong đó có những đạo diễn các bộ phim trên đã rơi vào một thái cực bên kia của những phim thương mại thuần túy, tức là chỉ chạy theo những mảng miếng nghệ thuật (đôi khi chỉ mang tính kỹ thuật); và tôi liên tưởng tới nhiều họa sĩ trẻ hiện nay chạy theo lối “Hậu hiện đại”, phá cách rùm beng, nhắm mắt “sáng tạo” trong khi chưa nắm vững quy luật tạo hình kinh điển. Các nhà làm phim ở đây dù đáng quý ở chỗ rất tôn trọng ngôn ngữ Điện ảnh song lại chưa thông thạo quy luật của nghệ thuật Điện ảnh – trong đó có quy luật tiếp nhận & cảm thụ của khán giả (cụ thể là những mối liên hệ bên trong giữa tác phẩm sẽ thực hiện với tâm lý công chúng đông đảo – như các nhà biên kịch ĐA hàng đầu của Mỹ từng đề cập – theo cái thang 7 bậc về những nhu cầu của con người do nhà tâm lý học nổi tiếng Abraham Maslowe nghĩ ra, giải thích và làm sáng tỏ: cái gì đã điều khiển chúng ta, chúng ta thực sự muốn điều gì, và đâu là sự nguy hiểm nếu ta không đạt được nó, v.v.). Vì vậy, các chi tiết, tình tiết phim nếu cắt rời ra thì có màu sắc đặc thù của Điện ảnh, có tìm tòi ngôn ngữ Điện ảnh, song tổng thể lại rời rạc, vụn vặt, không được liên kết với nhau trong một kết cấu phim có tính nghệ thuật. Những khuôn hình cực đẹp, ánh sáng, góc máy quay đầy sáng tạo, diễn viên diễn khá tinh tế; song những vẻ đẹp thuần túy Điện ảnh đó không đủ cho người làm phim tạo ra các số phận có sức thuyết phục, và hấp dẫn đối với đông đảo người xem phim!

Và trên tất cả, cũng là nguyên nhân sâu xa điều “chưa tới” của những phim dù có thành công ít nhiều hay hoàn toàn thất bại về nghệ thuật mấy năm qua có liên quan đến chất lượng văn học – một nan đề khá dai dẳng của điện ảnh & truyền hình Việt suốt nhiều thập kỷ!

Cuối năm 2023, Cục Điện ảnh VN có tổ chức cuộc Hội thảo “Điện ảnh Kết nối và lan tỏa giá trị văn hóa”, theo tôi là rất kịp thời, cần thiết, bởi muốn “kết nối và lan tỏa giá trị văn hóa” ra thế giới bằng Điện ảnh thì chỉ có phương cách hữu hiệu nhất là nâng cao chất lượng Văn hóa – Văn học của chúng. Thế nhưng, lĩnh vực Điện ảnh và Truyền hình, tức là một lĩnh vực nghệ thuật hiện đại và Nghe – Nhìn thời Kỹ thuật số, cái thời hơn bao giờ hết chúng cần phải gắn bó với văn học thì cũng chưa bao giờ chúng xa cách đối với văn học và trống rỗng về văn học đến thế, ở nước ta!

Văn học ở đây là muốn nói chung về nền kiến thức văn hóa – trong đó, văn học nhiều khi giữ vai trò chủ chốt, mang tính quyết định đối với giá trị và thành công của tác phẩm điện ảnh, đặc biệt với các thành phần sáng tạo cao nhất trong phim như biên kịch, đạo diễn. Người biên kịch, lao động của họ tuy tạo ra sản phẩm scénario chỉ là hạng thứ so với tác phẩm văn học như tiểu thuyết, kịch, trường ca, song lại có vai trò quyết định sống còn đối với bộ phim tương lai… Các Festival Film quốc tế bao giờ cũng coi kịch bản văn học là thành phần cần được tôn vinh đầu tiên.

Thế nhưng, ở nước ta, sau một thời dài xa lánh những vấn đề về số phận con người, “dị ứng” với những gì gọi là “Thao thức” – tên một cuốn tiểu thuyết của A. Kron – thì điện ảnh do phim thương mại áp đảo thống trị đã tạo ra những sản phẩm ngày càng xa lạ với những vấn đề nhân văn mà điện ảnh thế giới đã tạo ra con đường lớn cho nó, để chạy theo thứ thị hiếu tầm thường đã bắt đầu tràn ngập xã hội và ngấm sâu vào tâm hồn đông đảo giới trẻ. Chất liệu đời sống – lịch sử ngồn ngộn và kho tàng văn học dân gian, văn học viết từ thời trung đại tới hiện đại đủ cung cấp cho hàng trăm tác phẩm điện ảnh thực sự, đã bị đẩy lùi thật xa để nhường bước cho những “váy ngắn váy dài, chân ngắn chân dài”, những cuộc tình tay ba sướt mướt, những mối tình đồng giới, cuộc sống vương giả nhà lầu, xe hơi, thời trang, trang điểm quý tộc… Không ít nhà biên kịch và đạo diễn từng mơ ước làm phim nghệ thuật đã bị “ngã gục” trước cuộc tấn công dữ dằn kèm mua chuộc ngọt ngào đó, đành gạt lệ chia tay “văn học thứ thiệt” để phục vụ – đúng hơn là làm nô lệ cho những nhà sản xuất và phát hành phim bất chấp “con nghệ thuật” như họ vẫn mỉa mai, những người tôn thờ kim tiền hơn cả mụ Tú Bà tôn thờ thần Mày Trắng!

Từ đó tất yếu nảy sinh ra cái hiện tượng ngày càng phổ biến, là copy kịch bản nước ngoài – gọi một cách lịch sự là phim “remake”, “phim Việt hoá từ kịch bản nước ngoài”. Thí dụ tiêu biểu nhất là phim ăn khách gần đây: “Tiệc trăng máu” (2020), đã “thuổng” hết ý tưởng và nội dung cơ bản của phim Italya: “Perfect Strangers” của đạo diễn Paolo Genovese, sản xuất năm 2016 với doanh thu hơn 16 triệu Euro ở quê nhà, còn trên toàn cầu phim thu hơn 31 triệu USD, thắng hai giải Phim hay nhất và Kịch bản xuất sắc nhất tại giải David di Donatello – một “Oscar” nước Ý – (sau đó được chiếu tại Liên hoan phim Châu Âu tại Việt Nam năm 2020, với tên “Người lạ hoàn hảo”)… Không chỉ dùng lại kịch bản ngoại, không ít đạo diễn trẻ đã làm phim hoàn toàn bắt chước phong cách Tây, như bộ phim có doanh thu khá cao “Em chưa 18” đã được xưng tụng một cách đầy tự hào mà không biết nhục nhã là: “phim Mỹ nói tiếng Việt”! Phim truyện truyền hình cũng vậy, giờ vàng của các Đài Truyền hình, nhất là Đài Truyền hình Trung ương tràn ngập những phim “remake” như vậy – như phim “Người phán xử” chuyển thể của phim Israel, rồi sau đó là cả một séri phim “Việt hoá” ra đời: “Cả một đời ân oán” (từ phim Đài Loan), “Sống chung với mẹ chồng” (từ tiểu thuyết “Phù thuỷ dưới đáy biển” của Giả Hiển, Trung Quốc)… Rồi một loạt các kịch bản Hàn Quốc như “Gạo nếp gạo tẻ” (từ phim “Wang Family”), “Mối tình đầu của tôi” (từ “She Was Pretty”); rồi “Hướng dương ngược nắng”, “Hương vị tình thân” đã được “Việt hoá” từ phim Hàn Quốc; cả série phim sit-com của Hàn Quốc cũng được “Việt hoá” thành “Gia đình là số 1”, v.v. Chúng là sự tiếp nối của thảm họa “phim mỳ ăn liền“ xuất hiện từ những năm 80 thế kỷ trước kéo dai dẳng tới hôm nay. Nhiều trí thức đã than phiền, lắc đầu về hiện tượng quái dị, quái thai này của điện ảnh – truyền hình, tiêu biểu như nhà văn Nguyễn Hiếu: “Nghiện biện pháp dễ dãi trong nghệ thuật, làm phim bằng cách Việt hoá kịch bản nước ngoài là một trong những nguyên nhân sâu sa làm lệch lạc, méo mó tâm lý, nhân cách người Việt, chưa nói đến trong lâu dài sẽ làm người Việt rơi vào tình trạng vong quốc nô văn hoá(1).

Trong phim tài liệu – một thể loại của điện ảnh –, tình hình cũng vậy. Khi người làm phim về chân dung danh nhân văn hóa mà thiếu hụt kiến thức văn học – cụ thể ở đây là kiến thức văn học sử về tác giả, tác phẩm, trên cái nền văn hóa tổng hợp, thì sẽ tạo ra những “hạt sạn” khủng tra tấn khán giả. Ví dụ tiêu biểu hơn cả là bộ phim “Đại thi hào Nguyễn Du” dài 180 phút gần đây nhất được thực hiện với kinh phí khổng lồ (tôi đã phân tích sự thất bại của bộ phim này trong bài: “Đại thi hào ND vì sao không đoạt giải gì tại LHF quốc gia”)… Những loại phim như vậy rõ ràng đã thiếu vắng văn học, tức là đã thiếu đi hoặc rất mờ nhạt cái mà người xem đang cần, rất cần, đó chính là ngọn lửa ở bên trong tác phẩm, là cái thái độ ngay thẳng bênh vực con người, là cái thông điệp về nhân sinh ngầm sâu mà những người làm phim cần gửi đến người xem qua hàng loạt những hỉ, nộ, ái, ố, những cảnh sắc, những trang phục và diễn xuất…

Những năm qua, nền Điện ảnh của ta đã xuất hiện “thế hệ đạo diễn “bạc tỉ” mà một số lớn trong đó đó là sản phẩm đặc sệt của công nghệ điện ảnh Mỹ, nghĩa là điện ảnh thương mại chuyên sản xuất loại “phim chợ” (kể cả phim “bom tấn”), họ được đào tạo khá bài bản các thủ pháp của nền công nghệ ấy mà mục tiêu lớn nhất của những “Ông hoàng Hollywood” (tên một tiểu thuyết của nhà văn Mỹ Fitzgerald) là câu khách đến rạp thật nhiều. Thế nhưng, điều đáng buồn nhất là họ không học được ở nghệ thuật điện ảnh Mỹ những giá trị lớn vượt khỏi thương mại có văn học làm gốc (kể cả ở một ông chủ Hollywood từng tuyên bố sẵn sàng bỏ tiền ra làm phim dù chỉ một người vào rạp nhưng có thể tiến tới thảm đỏ Oscars và các giải danh giá khác của thế giới!). Ngoài điện ảnh Mỹ ra, còn những nền điện ảnh lớn khác như Pháp, Italy, Nga… với những giá trị kinh điển quý giá kết tinh từ văn học, thì thế hệ đạo diễn vừa nói (cùng những thành phần khác của điện ảnh như quay phim, âm thanh, biên kịch…) đã không có điều kiện hấp thu! Với những “thế hệ đạo diễn bạc tỉ” nói trên, cùng với phim ngoại nhập “loại ba” tràn lan và sự làm ngơ hoặc dung túng của các cấp lãnh đạo văn hóa, phim Việt đã, đang và sẽ làm khán giả bội thực bởi thứ phim thương mại – giải trí thuần túy; đó sẽ là một trong những “thảm họa” lớn nhất của phim Việt (theo một cách nói quen thuộc gần đây của công luận); thế nhưng họ đang có ảnh hưởng rất mạnh, là cái đích, là mẫu hình phải vươn tới của nhiều người làm phim trẻ, nhiều sinh viên điện ảnh!

Chúng tôi đã nhiều lần nhấn mạnh mối liên hệ khăng khít giữa văn chương và điện ảnh với sinh viên các khoa Điện ảnh – Truyền hình – Báo chí và nhắc tới câu nói của nhà văn Nga K. Pautovsky: “Sự tiếp nhận cuộc đời một cách thi vị là món quà vĩ đại nhất mà tuổi thơ đã cho ta. Nếu sau nhiều năm tháng, người ta vẫn giữ được món quà quý đó, người ta sẽ trở thành nhà thơ, nhà văn…”. Và tôi đã xin phép Pautovsky bổ sung: Người ta cũng có thể trở thành cả nhà điện ảnh nữa! Người nghệ sĩ ngôn từ và người nghệ sĩ nói chung đều cần có phẩm chất tâm hồn như nhau, mà điều quan trọng nhất là tình yêu sâu xa đối với con người, với thiên nhiên – điều đó chỉ có thể tìm thấy trong văn học, và văn chương bao giờ cũng là cái gốc, là cái hồn vía của điện ảnh.

Rõ ràng là, khi văn học bị buộc rời xa điện ảnh, điện ảnh chỉ còn là sản phẩm thương mại thuần túy nhằm “móc túi” loại khán giả vốn sùng bái nghệ thuật Pop Art và không thể thưởng thức nổi âm nhạc không lời của Chopin, Mozart, Schubert… Một nền điện ảnh dân tộc xứng đáng để có thể xuất hiện trên bản đồ điện ảnh thế giới, bắt buộc phải lấy Giá trị – Thước đo của văn học làm cơ sở gốc, làm trọng tài chính cho mình. Có thế, tác phẩm điện ảnh mới đạt được cái tiêu chuẩn Triết – Mỹ mà nhà Ký hiệu học người Nga I.M. Lotman đã từng nêu ra từ giữa thế kỷ trước: “Con người có kết cấu trên màn ảnh phức tạp sẽ làm cho con người ngồi trong rạp về mặt trí tuệ và xúc cảm cũng phức tạp hơn (ngược lại, một kết cấu nguyên thủy thì tạo ra một khán giả nguyên thủy). Chỗ đó là sức mạnh của nghệ thuật điện ảnh, cũng chính là trách nhiệm của nó”(2).

Nhưng, với những khởi sắc phim ảnh chiếu rạp mấy năm qua, sự non kém về nghệ thuật do thiếu hụt chất lượng văn học đang buộc phải trở thành quá khứ; và chính lớp khán giả mới nhiều tri thức và tinh tường về nghệ thuật sẽ là trọng tài lớn nhất trong cuộc tranh đua sản xuất & phát hành tác phẩm Điện ảnh – Truyền hình đưa tới đông đảo người xem cũng như tới các Liên hoan phim trong nước – quốc tế…

 _______

1. “Mối họa tiềm ẩn từ dòng phim Việt hóa kịch bản nước ngoài” – lethieunhon.vn).

2. I.M. Lotman: Ký hiệu học và mỹ học Điện ảnh (Bạch Bích dịch). Viện Nghệ thuật & Lưu trữ Điện ảnh Việt Nam xuất bản, Hà Nội 1997, tr. 674.

Đạo diễn Mai An NGUYỄN ANH TUẤN

Leave a comment