
Để thành công, đầu tiên bạn phải sẵn sàng thất bại.
Nguyễn Hồng Hải dịch
.
In order to succeed, you must first be willing to fail.
Anonymous

Để thành công, đầu tiên bạn phải sẵn sàng thất bại.
Nguyễn Hồng Hải dịch
.
In order to succeed, you must first be willing to fail.
Anonymous

Sow a thought, reap an action
Sow an action, reap a habit
Sow a habit, reap a character
Sow a character, reap a destiny
(Maxim)
Gieo mầm một tư tưởng, sẽ nảy sinh hành động
Gieo mầm một hành động, sẽ nảy sinh thói quen
Gieo mầm một thói quen, sẽ nảy sinh tính cách
Gieo mầm một tính cách, sẽ nảy sinh số phận
(hoatrang phóng ngữ)

Em hạt muối như lấp đầy biển mặn
Em dung nhan sáng chói ánh mặt trời
Ngày chưa vui nhưng hoàng hôn tắt nắng
Sầu biển đông tát cạn dưới chân người
Em hạt muối như ân tình biển lớn
Vui bên đời nồng ấm những bàn tay
Người đắp đất chia bờ khai mạch sống
Em luân lưu theo dòng chảy vơi đầy
Em lóng lánh phơi mình reo nắng hạ
Gió xôn xao hồn ấm lạnh môi cười
Thân thiết lắm với men tình chua ngọt
Những đắng cay hương vị của cuộc đời
Thân bé nhỏ dập vùi cơn bão lớn
Lòng bao dung như tình nghĩa đại dương
Biển chiếm mất em sầu đau hạt muối
Niềm cô đơn dằn vặt một vết thương
Thôi mưa gió đừng tan dòng lệ ướt
Trôi về đâu cho đất lạnh bình yên
Thân hạt muối đã lìa hồn phiêu bạt
Nhớ biển xanh mất dấu thuở sơ nguyên
Phan Quang
VA 03/18/10.
Chào các bạn,
Mình vừa tìm thêm được một số bài thơ của thi sĩ Hữu Loan trên Net: Chuyện Tôi Về, Đèo Cả, Hoa Lúa, Đêm. Đăng lại đây để tưởng niệm một tâm hồn cương trực. Bài Màu Tím Hoa Sim đã đăng trong bài Nhà thơ Hữu Loan qua đời.
Chúc các bạn một ngày vui.
Mến,
Hoành

Chuyện Hữu Loan là chuyện
Một vạn chín trăm năm mươi ngày gấp hơn
mười lần chuyện Ba Tư
vô cùng căng thẳng
Giữa hai bên
một bên là chính quyền có
đủ thứ nhân dân
quân đội nhân dân
tòa án nhân dân
nhà tù nhân dân
và nhất là
cuồng tín nhân dân
thứ bản năng ăn sống
nuốt tươi
ăn lông ở lỗ nguyên thủy
được huy động đến
tột cùng
sẳn sàng hủy
cũng như tự hủy
một bên nữa là
một người tay không
với nguyện vọng
vô cùng thiết tha
được làm người lương thiện
nói thẳng
nói thật
bọn ác
bọn bịp
thì chỉ tên vạch mặt
người nhân thì
xin thờ
như Thuấn Nghiêu
Hữu Loan
Núi cao vút
Mây trời Ai Lao
sầu
đại dương
Dặm về heo hút
Đá bia mù sương
Bên quán Hồng Quân
người
ngựa
mỏi
Nhìn dốc ngồi than
thương ai
lên đường
Chầy ngày
lạc
giữa suối
Sau lưng
suối vàng
xanh
tuôn
Dưới khe
bên suối độc
cheo leo
chòi canh
ven rừng hoang
Những người
đi
Nam Tiến
Dừng lại đây
giữa
đèo núi quê hương
Tóc tai
trùm
vai rộng
Không nhận ra
người làng
Rau khe
cơm vắt
áo
pha màu
sa trường
Ngày thâu
vượn hót
Đêm canh
gặp hùm
lang thang
Gian nan lòng không nhợt
Căm hờn trăm năm xa
Máu thiêng trôi dào dạt
Từ nguồn thiêng ông cha
Giặc
từ trong
tràn tới
Giặc
từ Vũng Rô
bắn qua
Đèo Cả
vẫn
giữ vững
Chân đèo
máu giặc
mấy lần
nắng khô
Sau mỗi trận thắng
Ngồi bên suối đánh cờ
Kẻ hái cam rừng ăn nheo mắt
Người vá áo thiếu kim mài sắt
Người đập mảnh chai vểnh cằm cạo râu
Suối mang
bóng người
Trôi những về đâu….
Hữu Loan
( 1947)
Em là con gái đồng xanh
Tóc dài vương hoa lúa
Đôi mắt em mang chân trời quê cũ
Giếng ngọt, cây đa
Anh khát tình quê ta trong mắt em thăm thẳm
Nhạc quê hương say đắm
Trong lời em từng lời
Tiếng quê hương muôn đời và tiếng em là một
Em ca giữa đồng xanh bát ngát
Anh nghe quê ta sống lại hội mùa
Có vật trụi, đánh đu, kéo hẹ, đánh cờ
Có dân ca quan họ
Trai thôn Thượng, gái thôn Đoài hai bên gặp gỡ
Cầm tay trao một miếng trầu
Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay
Quê hương ta núi ngất, sông đầy
Bát ngát làng tre, ruộng lúa
Em gái quê hương mang hình ảnh quê hương
Xa em năm nhớ, gần em mười thương
Còn bàn tay em còn quê hương mãi
Em mang nguồn ân ái
Căng ngực trẻ hai mươi
Và trong mắt biếc nhìn anh
Em gái quê si tình
Chưa bao giờ được yêu đương trọn vẹn…
Anh yêu em muôn vàn như quê ta bất diệt
Quê hương ta ơi từ nay càng đẹp
Tình yêu ta ơi từ nay càng sâu
Ta đi đầu sát bên đầu
Mắt em thăm thẳm đựng màu quê hương.
Hữu Loan
(1955 – Tặng vợ, Phạm Thị Nhu)
Những đêm Hà Nội ngày xưa
Trằn trọc
Không yên
Những cửa
Từ đầu hôm
Như những mắt nhắm nghiền
Bóng nhà bóng cây
Ôm nhau
Run sợ
Đêm Hà Nội ngày xưa
Như con bệnh hạ xoài
Nung mủ
Như một nhà thương điên
Lên cơn hôn mê
Thiết giáp
Xe tăng
Lính tẩy
Phòng Nhì.
Tiếng rú của người
Tiếng rít của xe
Những chiếc jeep điên
Đuổi gái
Nghiến người
Quắc mắt đèn pha
Đỏ tia đòng đọc
Đêm Hà Nội ngày xưa
Đầu người
Và tình yêu
Treo
Trên đầu sợi tóc
Và sau từng đêm
Mệt nhọc
Hốc hác
Hồ Gươm
Như mắt thâm quầng
Hốt hoảng gọi nhau
Không kịp vớ áo quần
Những đêm Hà Nội ngày xưa
Loã lồ
Mình đầy ung độc
Đã xuống tàu đêm
Vào Sài Gòn
Tất cả
Những đêm Sài Gòn
Ngày mai
Đêm giang mai
Tẩu mã
Đang mâng
Cấp cứu gấp vạn lần
Những đêm xưa Hà Nội
“10$ 1 cốc cà phê
100$ con gái…”
Quảng cáo đóng đầy
Ngực đêm
Như áo ngủ Sài Gòn
Đêm Hà Nội
Ngày nay
Như em nhỏ nằm tròn
Ru trong nôi chế độ
Những đèn dài đại lộ
Như những tràng hoa đêm
Nở long lanh
Trong giấc ngủ
Bình yên
Ngã Tư Sở, Cống Vọng, Khâm Thiên
Nằm ngủ
Những đêm
Giữa tình cảm lớn
Gió đêm về
Thơm hoa rừng, lúa ruộng
Đặt bàn tay
Lên những cửa ô nghèo
Khi chúng ta về
Ánh sáng
Đã về theo
Và từng cặp người yêu
Đem về trong giấc mơ
Hình ảnh hồ Gươm
Đẹp như hồ thần thoại
In bóng người yêu
Chung thuỷ
Đợi chờ.
(6-56)
Hữu Loan
Nhìn lũ bạn ngả nghiêng trên những chiếc giường tầng, tôi tự hỏi : Trong số này, ai là người may mắn nắm được mảnh bằng tốt nghiệp, ai rồi sẽ phải âu sầu tiếc nuối, và phải cắm cúi thêm một năm dùi mai, còn những ai phải vĩnh viễn từ bỏ những ước mơ của mình ? Một câu hỏi dài, chốt lại sau mười bảy năm tiêu tán một khối lượng khổng lồ cơm cha áo mẹ, nếu tính toán cho thật chi li, cả bao hao tổn tâm lực của các thầy cô giáo, chỉ tính nhẩm một con số chưa chính xác thì tất cả các đốt trên mười ngón tay cũng chưa đủ hết tên các thầy cô từ lúc bắt đầu ngap nghé nhà trẻ cho đến nay. Và những gì có được trong bộ óc nhỏ như cái nắm tay này liệu có đủ để làm bàn đạp cho những tháng ngày sắp tới ? Sinh viên năm cuối, đủ chững chạc để hiểu những gì đang chờ đợi mình phía trước. Sẽ không là những hồn nhiên trong trẻo như khi nói cười trên trang sách, sẽ không là những vẽ vời mơ mộng những ảnh ảo trong thứ ánh sáng pha le. Rồi mọi thứ sẽ dần phô ra những khắc nghiệt, những thách thức, những đòi hỏi, mà những cái những ấy lại chưa từng có trong giáo trình mà mình đã qua. Tôi biết, tôi biết lắm, nhất là khi mình không có chiếc gậy thần nào trong tay để gõ những cánh cửa vào đời như một số người may mắn khác. Phải biết chứ, cần phải biết để còn chuẩn bị cho mình một tư thế chờ đón và dấn thân. Ai cũng phải đi qua tưng chiếc cầu đời nhất định, khác nhau chăng là cầu bê tông hay càu khỉ mà thôi.
Một giọng nữ dịu dàng, nhỏ nhẻ, thỏ thẻ nhưng lại mang cảm giác một mũi kim khiến cả năm thằng đang dã dượi một cách lười biếng bật dậy cùng lúc như những cái lò xo :
_ Các anh ơi ! Nướng kỹ thế không sợ chúng em bảo “ dài lưng tốn vải” à?

Phưong Liên ghé mỗi cái mặt qua cửa phòng, nhấp nháy đôi mắt tinh nghịch. Huy nhảy phóc xuống đất, vừa xốc lại cái áo vừa nói :
_ Thằng Duy nó đang chờ nhà đòn đến đấy em ạ, mà hình như đến ma cũng chê nó thì phải.
Duy vắt cái khăn mặt lên vai, cười với Liên, nói :
_ Chấp gì cái loại trống tơ gáy trộm, phải không em?
_ A , cái thằng …
Huy định lao ra đuổi thì Duy đã ra đến cửa, còn quay lại dặn với :
_ Đợi anh tí nhé.
Phương Liên cười gật đầu, Huy hậm hực :
_ Chốc về biết tay ông.
Liên liếc nhìn quanh phòng rồi hỏi :
_ Các anh định sống bằng lý tưởng, không cần ăn à?
Tôi chợt giật thót mình nhớ ra, nhìn đồng hồ, thôi chết, hơn mười một giờ rồi, hôm nay lại đến phiên tôi thổi lửa mới khốn chứ. Thấy tôi cuống cuồng, Liên cười bảo :
_ Thôi, anh Long không phải rối lên thế, ban nãy khi đi chợ, em có ghé ngang, định hỏi các anh có cần mua gì không, mà thấy : phòng ai lẳng lặng như tờ, nên thôi. Giờ thì em thay mặt chúng nó, mời các anh sang giai quyếp giúp nồi bún riêu.
_ Trên cả tuyệt vời.
Ngữ la to, Lâm được thể nịnh đầm :
_ Người ta bảo “ Phụ nữ luôn có lý” ´đúng thật.
Huy bỉu môi :
_ Khéo nhỉ ?
Tôi thì khỏi nói, không còn niềm vui nào hơn, thở ra một hơi dài nhẹ nhõm, vô vàn cảm ơn Thượng đế đã sinh ra các nàng. Nhanh hơn tên lửa, loáng chốc năm thằng đã lăng xăng bên nồi riêu thơm phức, rổ bún trắng tươi, và đầy một ảng rau xanh trông vô cùng hấp dẫn, chưa ăn mà đã thấy ruột gan mát rượi đi rồi. Câu chuyện nở quanh những tiếng húp xoàn xoạt cũng thú vị không kém. Cũng không ngoài những nghĩ suy của tôi lúc nay. Thì ra, không ai bảo ai, những suy tư và nhận thức của một lứa tuổi, một bối cảnh không khác nhau là mấy. Phải thôi, những thiết thực của cuộc sống luôn tác động hàng ngày, cho dù chưa từng bắt tay một cách trực tiếp thì cũng đã từng chứng kiến, nên chẳng ai có thể thờ ơ được cả, huống chi đó là những gì đang chờ đón chúng tôi. Tính chất câu chuyện đã đôi lúc làm không khí cuộc vui có lắng lại. Ai Hoa chợt nói :
_ Thôi đừng nói những chuyện đau đầu ấy nữa, con khối thời gian cho nó mà. Bây giờ đổi đề tài đi, chẳng hạn như một chuyến du ngoạn trước khi chia tay ?
_ Phải rồi, phải đó …thế mà mình không nghĩ tới.
_ Quá đúng rồi, hoan hô sáng kiến.
_ Ngó lì lì rứa mà thông minh ghê nơi.
_ Xí, đừng co mà coi thường phụ nữ nhé.
Không ngờ ý kiến của Ai Hoa làm thay đổi hẳn không khí, cả bọn lại lấy lại vẻ vô tư, nghịch ngợm vốn dĩ. Mỗi người một câu, huyên nao cà gian phòng, vài ánh mắt từ những phòng “ hàng xóm” ánh sang một cách ghen tị vui vẻ. Duy nói :
_ Vậy bây giờ tính xem nên đi đâu đây ? Đi đâu để về sau còn nhớ mãi ấy.
Một vài địa điểm thắng cảnh được nêu ra, nhưng không khả thi, lý do chủ yếu là kinh phí. Đang trầm ngâm, Ngữ vụt lóa lên :
_ Tụi mày có nhớ thằng Hòa không ?
_ Nhớ nhớ…
Mấy cái miệng cùng há một lượt .
_ Không biết bây giờ nó ra sao rồi nhỉ ?
_ Phải đó, một địa chỉ rất hợp tình hợp lý.
_ Hợp túi nữa chứ. Thông minh.
_ Không thông minh sao làm người của thế kỷ hai mốt được.
Những tiếng cười tán thưởng lại cất lên rôm rả, và tiếp sau đó một kế hoạch được tính toán chu đáo.
Tôi mường tượng đến một người bạn cũ, người bạn hơi thiếu một chút may mắn của chúng tôi, vì hoàn cảnh gia đình mà bạn đã phải dừng con đường học vấn của mình với mảnh bằng trung học, mặc dù điểm số của bạn luôn khiến chúng tôi phải nể. Tôi còn nhớ rất rõ, cũng trong một cuộc chia tay như thế này, Hoà đã buồn buồn nói cùng chúng tôi: “Chúc các bạn may mắn, hãy học giùm mình nữa nhé”. Bây giờ chắc Hòa đã thành một nhà nông thực sự rồi, năm năm trên vùng cao nguyên đất đỏ, mi đã làm được những gì hở Hòa ơi?
_ Với lại cũng để xem cây cà phê như thế nào nữa chứ. Uống đến lõi mồm ra rồi mà không biết làm sao để có được hạt cà phê thì dở quá.
Huy nói thêm khi tất cả đã thống nhất điểm đến là DakLak.
oOo
_ Bác tài ơi ! Cho chúng cháu xuống đây thôi.

Ngữ kêu lên cho xe ngừng lại, tôi cẩn thận nhắc :
_ Mày có chắc là ở đây không ?
_ Chắc mà, hồi đó tao co lên thăm nó một lần rồi.
_ Mấy năm rồi, cảnh cũng khác đi nhiều chứ.
_ Có khác là cây cao hơn, tán rộng hơn, chú con đường thì không khác. Đi hết đoạn đường này thì đến một ngã rẽ đường đất, hết đoạn đường đất lại mot ngã rẽ phải nữa thì đến.
_ Ôi trời, thế thì rã chân ra còn gì.
_ Quá tệ, nghe mà mắc cở quá.
Lâm vừa rên thì gặp ngay câu độp của Huy, bèn đưa
nắm đấm lên dứ. Các chàng trai chia nhau những túi hành lý, để ba cô gái được thong dong ve vẩy hai cánh tay nhẹ nhõm. Hải Vi thích chi nói:
_ Làm con gái thích thật.
_ Coi chừng nhầm to đấy, người ta bảo tu bảy kiếp mới được làm con trai đấy nhé.
_ Có ông nhầm thì có, đừng tưởng chỉ có con trai mới là chúa nhé. Con gái thời nay khối anh theo không kịp đấy.
_ Lại tranh chè vị thế gái trai, có con nào đi nữa mà không ra người thì cũng vứt tuốt.
_ Gớm, cụ chưa kìa.
Đi bộ trên một quãng đường không ngắn, lại dưới trời nắng, thì cách tốt nhất là nên tìm chuyện để cãi nhau, khi cái đầu có chỗ để bận rộn thì nó chẳng còn thời gian đâu mà nghĩ đến cái chân nữa. Đến một đoạn đường có những tán cây to xòa ra làm dịu mát hẳn, Phương Liên nhìn quanh rồi hồ hởi :
_ Ở đây thích thật nhỉ. Cây cối xanh tươi, hoa thơm trái ngọt, thấy bình yên quá.
Câu nói đầy lãng mạn, mơ mộng của Liên chưa kịp loãng thì Ngữ đâm ngang :
_ Lâu lâu về đây chơi thì thích thế, chứ thử nhận công tác về đây xem có méo mặt đi không ?
_ Mày…
Duy sợ Liên phật ý nên nạt bạn, nhưng Lâm đã lên tiếng :
_ Thực tế rõ ràng là vậy, chối gạt làm chi.
_ Nói thế nghe có vẻ lớp trẻ bọn mình hèn quá nhỉ ? Không dám chấp nhận những khó khăn.
_ Đầu tư suốt mười mấy năm trời, thì cũng phải tìm nơi để khai thác cò hiệu quả chứ. Chả nhẽ ăn bám bố mẹ mãi sao.
_ Nói lý tưởng cho ra vẻ văn chương thôi, chứ ai mà chẳng muốn có một đời sống nhẹ nhàng sung túc. Nhưng thế nào trong số tụi mình cũng có đứa phải chịu đi xa mới có việc làm, nên tốt nhất là chuẩn bị tinh thần trước đi là vừa.
Một dự cảm mơ hồ cho không gian chùng xuống, cả bọn toá lên mừng khi Ngữ đưa tay chỉ :
\ _ Đó, cái ngõ nhỏ kia kìa, gần tới rồi.
Những bước chân như nhanh hơn, phấn chấn hơn.
_ Nó gặp tụi mình giờ chắc mừng lắm ha.
_ Còn phải nói, ờ mà không chừng dắt cả “chị nhà” ra chào cũng nên.
_ Đâu mà sớm thế ?
_ Nông thôn mà, phần nhiều lấy sớm cho có người làm việc nhà.
_ Hòa nó không vậy đâu. Tính nó đâu có chuyện vội vàng hời hợt thế.
_ Đùa vậy thôi, mà lỡ có vậy không biết có em mô khóc không hè?
Chưa có cô gái nào kịp phản ứng thì Ngữ la lên :
_ Kia kìa, nhà nó kia kìa.
_ Đâu đâu ?
_ Chỗ cái sân có giàn mướp đó.
_ Giàn hoa vàng chứ.

Ai Hoa cãi, giàn gì thì chúng tôi cũng đã đến cổng, một con chó đốm xù ra sủa. Tiếng la chó theo cùng một dang người đàn ông lớn tuổi, nhìn rõ là một lão nông thuần phác. Tôi đã đoán không lầm, đó là cha của Hòa. Ong săm soi nhìn một lũ gái trai lôi thôi, lếch thếch cung những túi xách lỉnh kỉnh, và rồi khi sự ngạc nhiên của ông được giải đáp thì ông đổi ngay ra nét hớn hở vui mừng :
_ Trời ơi ! Các cháu làm bác bất ngờ quá, đi, đi vô nhà tắm rửa cho mát đã, nắng nôi thế này mà lặn lội đến tận đây thăm bạn, nó gặp các cháu nó mừng lắm thôi. Bà ơi…
Tiếng gọi của ông làm hiện ra nơi khung cửa một vóc ngươi nhỏ nhắn nhưng nhanh nhẹn, có lẽ đã kịp nghe dăm câu, nên mẹ Hoà đã cười vui vẻ, đon đả đón chúng tôi vào nhà. Sự đón tiếp nồng nhiệt của hai người lớn tuổi đã tạo cho chúng tôi cảm giác thoải mái. Không nói ra sợ các bạn mất hứng, chứ dọc đường tôi cứ lo lo, bỗng nhiên tha lôi từng này mạng đến nhà người ta không một lời báo trước, rủi gặp sự cố thì biết làm sao, cùng lắm thì ra xe quay về luôn thôi. Rất may là những lo lắng của tôi đã là vô ích. Ba Hòa lớn tiếng gọi :
_ Bình, Hưng có đứa nào rảnh lấy xe đạp chạy ra rẫy kêu anh hai bây về, nhanh đi.
Một tiếng dạ và âm thanh chuyển dịch của chiếc xe đạp lao vút qua cánh cổng. Mẹ Hòa dẫn chúng tôi ra giềng, bà nắm cái tay quay định thả gàu quay nước, tôi vội nói :
_ Dạ, bác cứ để tụi cháu làm được ạ.
Miệng nói, tay cầm luôn cái tay quay, tôi thả gàu quay nước một cách thành thạo, mẹ Hòa cười :
_ Con trai thành phố mà cũng giỏi đấy nhỉ ?
_ Bác ơi, việc này mà không làm được còn làm được gì nữa hở bác ?
_ Ở thành phố quen sài nước máy, với tay mở là có, đâu khổ như ở quê vầy chớ, phải không các cháu ?
_ Ở đâu cũng có sướng có khổ, bác ạ. ở đây tuy có hơi mất công một chút, nhưng nước sạch tự nhiên, không cần phải xử lý bằng hóa chất, lại sài thoải mái không lo cúp, chúng cháu ở ký túc xá khổ nhất là nước đấy bác ạ.
_ Thế à ? Bác lại cứ tưởng….thôi các chàu cứ thoải mái đi nhé. Tí nữa nó về chắc nó mừng lắm đó, khổ, chẳng mấy khi chơi bời bạn bè gì cả, cứ đi làm miết thôi.
Nói rồi bà quay quả đi vào trong bếp, một lúc sau có tiếng gà kêu quác lên. Liên vội kêu lên :
_ Bác ơi ! Chúng cháu không ăn đâu , bác đừng giết nó tội nghiệp.
_ Mấy khi có dịp, các cháu không phải ngại, nhà bác nuôi đầy ra đây này.
Tiếng mẹ Hòa vọng ra từ trong bếp, ba cô gái bảo nhau nhanh nhanh còn vào phụ bếp. Lâm đưa mắt nhìn quanh những cây cối, cảnh trí. Thiên nhiên luôn đem đến cho con người cam giác nhẹ nhàng, dễ chịu, thư thái và bình yên. Có lẽ đó là lý do mà khi về già người ta thường muốn hướng về vườn tược cây quả. Khi chúng tôi vào trong nhà đã thấy một buồng dừa xiêm đợi sẵn. Cha Hòa chỉ mấy cái ghế nói

_ Ngồi đi các cháu, uống nước dừa cho mát nhá. Nhà quê đãi khách không được đầy đu lắm, các cháu thông cảm.
_ Bác nói thế làm tụi cháu ngại quá, nhà chúng cháu cũng phần lớn ở quê cả đấy bác ạ.
_ Thế hả ? Ừ thế càng hay, bác là nông dân, có sao nói vậy, hổng có màu mè gì hết. Các cháu uống dừa đi.
Huy cầm con dao chặt dừa, những nhát chặt không chuyên làm cai vỏ dừa bị băm nhiều chỗ, nhưng điều quan trọng là chúng tôi được thưởng thức một thứ nước giai khát vô cùng chất lượng. Vừa uống, chúng tôi vừa thay nhau trả lời cha Hòa những câu hỏi về cuộc sống, gia đình và sự học tập, và rồi ông chép miệng :
_ Giá bác đủ điều kiện để thằng Hòa được học tiếp thì bây giờ nó cũng được như các cháu vậy.
Gương mặt ông buồn buồn, Duy nói như an ủi :
_ Cuộc sống có nhiều cách phấn đấu khác nhau, có thể Hòa không có duyên với chữ nghĩa, bằng cấp, nhưng bạn ấy sẽ có những kinh nghiệm tốt về cuộc sống hơn các chúng cháu nhiều, cháu nghĩ đó mới là điều quan trọng bác ạ.
Cha Hòa mỉm một nụ cười thật hiền, tôi thoáng nghĩ, mấy mươi năm nưa, chắc Hòa cũng như thế. Chợt ông ngóng cổ ra cổng la lên :
_ Nó về kìa.
Tất cả chúng tôi đều bật dậy, nếu không có cha Hòa báo trước, chắc tôi khó nhận ngay ra Hòa. Hòa khác trước nhiều quá, da đen sạm, nhưng rất đô con và rắn chắc, trong Hòa chững chạc hẳn lên. Hòa buông cái xe đạp cho nó đổ kềnh ra để nhào đến với chúng tôi . Niềm vui hội ngộ không gì tả nổi, năm đứa tôi bâu kín Hòa, anh chàng thì cuống quýt ôm đứa nọ kéo đứa kia. Đến chừng Hòa quay ra nhìn thấy ba cô gái đang đứng ở cửa bếp nhìn chúng tôi với gương mặt đầy xúc động thì lắp bằp :
_ Ủa…cả các bạn nữa hả ? Mình…mình vui quá.
_ Hòa khác trước nhiều quá.
Hòa cười hiền lành :
_ Năm năm rồi còn gì.
_ Chỉ có đôi mắt là không khác chút nào. Vẫn trong và sáng như đèn pha.
Tôi nói sau khi nhìn rõ gương mặt Hòa. Đôi mắt là điểm nổi nhất trên gương mặt. Người ta bảo “ Người có đôi mắt sáng là một người thông minh và chính trực, quả cảm và đoan quyết”. Có lẽ câu nói này không xa với bản chất Hòa. Tôi dám chắc, nếu không ngại phái tính, chắc Hòa cũng không dằn nổi cảm xúc của mình. Cuộc vui càng rổn rảng, náo nhiệt hơn khi mâm cơm đã sẵn sàng. Gần như mâm cơm chỉ dành riêng cho chúng tôi, vì gia đình đã xong bưa trước lúc chúng tôi đến, nên cả nhà chỉ ngồi để tiếp thức ăn cho chúng tôi và góp chuyện. Tám đưa chẳng còn chút khách khí, ngại e gì nữa, một phần là quá đói, phần nữa là không khí gia đình tự nhiên, thân mật và trầm ấm, nên cảm giác như đang ở nhà mình vậy. Cơm xong cũng đã xế chiều, Hòa nói :
_ Bây giờ các bạn nghỉ ngơi cho khoẻ đã, mai mình dẫn ra rẫy chơi.
_ Có trái gì ăn được không ?
Vi nhanh nhảu hỏi, Huy trêu :
_ Đúng là con gái, đi đâu là cái miệng đến trước.
_ Bây giờ thì dài mồm ra chê con gái rồi phải không?
_ Ai chê đâu, ý mình nói là các mợ đi trước cho tụi mình ké với.
_ Đồ con trai lẻo lự, miệng mồm như tép nhảy.
Hòa dàn hòa :
_ Thực ra thì ai cũng như ai thôi, thấy trái chín trên cành hong mê sao được, yên chí đi, mùa này có nhiều thứ lắm, chỉ sợ không có bụng mà chứa thôi.
Cha mẹ Hòa nhìn chúng tôi ỏm tỏi mà cười luôn miệng, tôi chắc đã lâu, nhà Hòa không có sự ồn ào nhộn nhịp như hôm nay. Tối đến, trời vằng vặc một màu trăng dãi dễ. Một khung cảnh êm đềm đẹp đẽ mà ở nơi thành thị không bói đâu ra được. Đúng là mỗi nơi đều có cái được và cái mất, thành phố thì đầy đủ các thứ tiện nghi phục vụ đời sống vật chất cho con người, nhưng lại thiếu đến trầm trọng nhu cầu tinh thần, nhất là không gian thanh tịnh, yên ả như thế này. Có cơ hội rời xa thành phố, mới thấy cuộc sống của người thành phố hối hả, tất bật, bon chen và mệt mỏi đến thế nào. Con người luôn đòi hỏi, không bao giờ hài lòng với những gì đang có quanh mình, người nông thôn thì mơ ước một đời sống dư dả, sang cả nơi thành thị, người thành phố thì ao ước sự êm đềm nhẹ nhõm nơi thôn dã. Vấn đề là con người phải nhận thức được mình thích hợp với môi trường nào, và phải biết cách chấp nhận cả được lẫn mất vậy.
Vuông sân nhà Hoà lóc nhóc một bầy lớn nhỏ, những người bạn trong xóm Hòa nghe Hòa có bạn thành phố về cũng kéo sang chơi, lúc đầu họ còn khá rụt rè vì sự lạ lẫm chen một chút mặc cảm phân cách, nhưng chỉ một lúc sau, nhờ cây giutar mà mọi sự trở nên vui vẻ một cách tự nhiên, đúng là âm nhạc và tuoi trẻ không có đường biên. Cuộc vui kéo đến tận khuya, nếu không có sự nhắc nhở của cha mẹ Hòa chắc chúng tôi còn chưa nhớ đến cơn buồn ngủ.
Trời còn mờ mờ, mọi người đã lục tục trở dậy, tôi ra sân, vươn vai trong khí trời se se, tiếng gà gáy, tiếng chim líu ríu trên những tán cây to, tinh thần thật sảng khoái dễ chịu, khác với các bạn, tôi không có mot chốn quê bình dị thế này, vì nhà tôi thuộc một quận của thành phố, tuy thuộc vùng ven, nhưng nhịp điệu sống thì không khác trung tâm là mấy, nên một khoảng không gian, thời gian trong lành dễ chịu là một món quà tuyet vời cho tôi vậy. Sau môt chầu cơm nếp đậu xanh, chúng tôi rộn rịp lên đường, rẫy nhà Hòa chỉ cách độ hơn ba cây số, nên cả nhóm lục tục leo lên chiếc công nông, hay còn gọi là xe cày càng, một loại xe chuyên dụng cho những vùng nông trang, nhìn Hòa xăn tay áo, cầm cái tay quay quay cho máy nổ, các cơ bắp gồng lên cuồn cuộn, thật rắn rỏi và mạnh mẽ, tôi nghĩ thầm, liệu có ai trong số chúng tôi đây đủ sức lực mà khởi động bộ máy bằng cách này nhỉ ? Tiếng máy nổ giòn, Lâm hát tếu “ Năm anh em trên một chiếc công nông …” “ Còn ba cô mày bỏ đâu hả ?” “ Đâu dám bỏ, ngu gì bỏ”. Cả bọn cười ầm lên. Nắng sớm âm ấm, gió hây hây, quá lý tưởng cho một cuộc ngao du trong một miền xanh ngút ngát. Hòa lanh lẹ điều khiển chiếc đầu máy dềnh dàng một cách thành thục.Vừa đi Hòa vừa giải đáp những thấc mắc của chúng tôi về những công việc nhà nông, nhất là về cây cà phê, một loại cây chủ lực của địa phương, mặc dù nó luôn làm cho bao người phải chìm nổi vì nó. Nghe Hòa nói, chúng tôi mới thấy, làm ra được hạt cà phê chẳng dễ dàng gì, vậy mà đến lúc thu hoạch còn phụ thuộc vào giá cả thị trường, ngược đời ở chỗ, người trực tiếp làm ra nó, lại không có quyền quyết định vận mệnh của nó, mà lại phải chờ vận may giá cả từ tận chân trời góc bể nào đó. Hòa nói thêm :
_ Năm trước do bị hạn hán nặng, cây mất sức nên đến giờ chưa mẩy hạt lắm, may mà nhà mình còn đu nước tưới cầm cự đến mưa, chứ nhiều nơi cháy khô cả. Chăm sóc được một cây cà phê từ khi xuống giống cho đến lúc được thu, biết bao nhiêu công sức, vậy mà có những ngưới bị chết tiêu cả mấy hec ta, không còn khả năng phục hồi, tiếp đến là giai đoạn khủng hoảng thị trường cà phê trầm trọng, nợ nần lớp này đè lớp khác, nên có mot số người quẫn trí tự tử.
_ Trời ơi, tội quá. Phương Liên kêu lên.

Chúng tôi cũng ngao ngát, thẫn thơ với những gì Hòa vừa nói. Thật không phải khi cho là mình may mắn trước những bất hạnh của người khác, nhưng quả thật tôi muốn cảm ơn định mệnh khi không phải lâm vào những hoàn cảnh khó khăn như thế. Không muốn chúng tôi mất vui, Quang Hòa đổi đề tài, và lại là đề tài hấp dẫn, vì thế mà khi đến nơi, không ai bảo ai, tóa hết ra vườn để tìm trái chín. Đúng như Hoà nói, trước nhưng chùm chôm chôm vàng đỏ, nhưng trái ổi to mọng giòn tan, và cả những trái mít thơm lừng lựng, đố ai dửng dưng cho được. Hái và ăn ngay tại gốc, sao thấy ngon gấp mấp lần mua ở chợ, một lý do nữa là…không mất tiền. Bụng đã no căng rồi mà miệng vẫn chưa thấy chán, trước khi quay về cái choi rẫy nho nhỏ ở giữa vườn, chúng tôi còn om theo một mớ trái đủ thứ. Vào đến chòi , ba cô gái kêu ầm lên là mỏi chân, nhưng những cái cười phô những hạt răng thì không mỏi một chút nào. Trong khi Hòa đi đâu đó để làm nhiệm vụ của một chủ nhà hiếu khách, thì chúng tôi thi nhau đào bới căn chòi để xem thế giới riêng của ông chủ vườn có những gì. Lâm lôi từ gầm giường ra một đống cuốc xẻng, ống phun thuốc, và cả một thùng đựng những thứ đồ nghề sửa chữa máy móc. Duy lấy cái áo lính trên vách khoác vào và nhảy luôn một điệu tango trong tiếng đàn miệng của Ngữ , căn chòi muôn nứt ra vì những tràng cười. Tôi tò mò mở chiếc ngăn kéo bàn duy nhất, tôi suýt kêu to lên “Sách”. Hầu như có đủ cả bộ giáo trình mà chúng tôi vừa học qua. Một bộ luyện thi đại học, sách Anh văn trình độ C, và cả những sách kỹ thuật nông nghiệp. Thấy tôi ngẩn người, Ai Hoa ghé nhìn và bật kêu lên, ca bọn quay lại, một khoảng lặng trùm lên tất cả, một tâm trạng sững sờ và cảm phục. Hòa bước vào đúng lúc đó, ngạc nhiên vì sự im lặng bất thường, nhưng Hòa chợt lúng túng khi nhận ra chúng tôi đang đứng quanh chiếc bàn .:
_ Mình…mình tự học thôi mà.
Không dừng được nữa, chúng tôi nói lên những lời thán phục, ngưỡng mộ, Hòa cười nhẹ :
_ Có gì đâu, mình không đi được đường lớn như các ban, thì mình đi lối nhỏ vậy.
Thật thế sao? Tất nhiên là có rất nhiều con đường dẫn đến thành quả, đi đến một tương lai tốt đẹp, nhưng đi bằng “Lối nhỏ” thì quả thật bây giờ tôi mới nghe.
Hôm sau chúng tôi chào tạm biệt gia đình Hòa trong sự lưu luyến, tha thiết cả từ hai phía, nhìn chúng tôi bằng một ánh mắt thân thương chứa đầy tia sáng , và tôi hiểu, người ta đã nói đúng. Quang Hòa ơi ! Tôi biết bạn sẽ có được những thành công nhất định, con đường lớn của chúng tôi đi chưa chắc đã bằng “Lối nhỏ” của bạn đâu.
Đàm Lan
Đất Đại La năm xưa vua Lý Công Uẩn dời đô nay đã gần tròn nghìn năm tuổi. Đã có bao thế hệ nhà thơ từng chắp bút viết về mảnh đất rồng bay này: từ những người con ở phương trời Nam cũng đã viết “Ai đi xứ Bắc ta đi với – Thăm lại non sông giống Lạc Hồng – Từ độ mang gươm đi mở cõi – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”,
hay tình cảm của những người chiến sĩ năm xưa rời thủ đô đi chiến đấu “Người ra đi đầu không ngoảnh lại, sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” đã trở thành hình ảnh bất tử trong mảng thơ văn dành riêng cho Hà Nội.
Hà Nội đó của ta ngàn năm tuổi vẫn đẹp. Cái đẹp mộc mạc và thanh bình, giản dị đấy mà vẫn làm đắm say biết bao lòng người. Vẻ đẹp đó len lỏi trong từng góc phố, núp trong từng gánh hàng rong, luẩn quẩn trong tà áo dài của các thiếu nữ Hà thành, vẻ đẹp đó hiện lên dũng mãnh khi Hà Nội từng bao lần rung chuyển chống lại sự xâm lược của kẻ thù. Con rồng Thăng Long năm xưa đã từng bay lên báo hiệu cho Vua nhà Lý đây là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, đã từng bừng bừng khí thế trong “cơn lốc” cách mạng tháng 8, đã từng vùng đứng lên trong mùa đông năm 1946 theo lời bác, đã từng ầm ầm rung chuyển trong đau thương bom Mỹ năm 1972… và con rồng đó đã bay cao hơn nữa khi Việt Nam gia nhập WTO… Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, Hà Nội vẫn đứng vững vàng là thủ đô của một đất nước đang thuận đà phát triển. Hãnh diện lắm chứ, tự hào lắm chứ. Trong thời kì hội nhập hiện nay, bất lợi có không ít nhưng lợi thế cũng không phải là nhỏ, chúng ta đã và đang nỗ lực hết sức mình để tạo đà giúp con rồng Thăng Long bay cao hơn, xa hơn nữa.

Tháng 10 này, con rồng Thăng long tròn nghìn năm tuổi, một năm tuổi để tái sinh, một năm tuổi hứa hẹn nhiều điều mới mẻ hơn nữa. Bạn và tôi, chúng ta có thể làm một điều gì đó để góp phần kỉ niệm đại lễ 1000 năm này. Dù chúng ta có ở Việt Nam hay đang học tập và làm việc ở khắp các phương trời trên thế giới, chúng ta vẫn có thể làm được điều gì đó dù là nhỏ bé cũng được. Các members của “Đọt Chuối Non” (hay là người thân của members lại càng tốt) hãy cùng nhau viết những cảm nhận của mình về Hà Nội qua từng năm tháng thông qua những bài hát, những bài thơ từ xưa đến nay hoặc là những cảm xúc, suy nghĩ, tình cảm của mình để làm một món quà sinh nhật dành tặng thủ đô văn hiến.
Đừng ai e ngại là muộn, vì “better late than never” ^^, chúng ta đâu có thi đua với ai, chỉ là để bày tỏ tình cảm của mình với Hà Nội thôi mà. Chẳng cần vỗ ngực đi khắp nơi, “tôi yêu hà nội đây này”, chúng ta chỉ cần giữ hình ảnh thân thương của Hà Nội trong trái tim mình là đủ. Hà Nội hào hoa, Hà Nội hào hùng, Hà Nội đổi mới…Hà Nội của chúng ta
Sinh ra và lớn lên ở thủ đô ngàn năm văn hiến, như một lẽ tự nhiên, tôi yêu Hà Nội. Tôi cũng chắc chắn là không chỉ có mình tôi mà đã có hàng ngàn, hàng vạn hàng triệu thế hệ người Hà Nội đã, đang và mãi yêu Hà Nội. Cho dù bạn là ai, bạn ở nơi đâu, bạn đang làm gì, bạn có phải người Việt Nam hay không, tôi tin chắc rằng dù nếu một khi bạn đã từng ở, hay từng gắn bó với nơi này, bạn cũng sẽ yêu Hà Nội như (hoặc thậm chí là yêu hơn) tôi yêu Hà Nội.
Hãy cùng tôi, chúng ta thực hiện “dự án NGHÌN NĂM” này nhé. Cảm ơn các bạn!
Nguyễn Thu Hiền
Chào các bạn,
Mùa xuân đến cũng là mùa cây cỏ bắt đầu đâm chồi nảy lộc. Nắng ấm cũng nhiều hơn và ngày dài hơn.
Bắt đầu từ tháng 3 ở những vùng lạnh trên nước Mỹ, các hội chợ nông dân (Farmer’s Market) bắt đầu rục rịch và kéo dài suốt từ đầu mùa xuân, mạnh nhất là mùa hè, và kết thúc vào mùa thu.
Hội chợ nông dân được tổ chức thường xuyên như vậy khoảng 2 tuần đến 1 tháng một lần. Mình tạm dịch là hội chợ, nhưng thực ra quy mô của chúng cũng không nhất thiết phải lớn cỡ vài trăm gian hàng. Ví dụ đầu tháng 3 vừa rồi mình có ghé qua một hội chợ nhỏ thì có khoảng 20 gian hàng thôi. Gian thì bán bánh mì, gian thì bán mật ong, gian thì bán rau, gian thì bán trứng gà và các loại bơ, pho-mát vv… Tất cả đều là do nông dân tự trồng hoặc sản xuất được và đem ra vừa bán kiếm lời và giới thiệu về nông trang của mình.
Theo Bộ Nông nghiệp Mỹ, việc tổ chức các hội chợ như thế này ở các vùng dân cư trên khắp nước Mỹ là nhằm một số mục đích:
– Đáp ứng nhu cầu tiếp cận các thực phẩm sạch, do nông dân tự trồng của người tiêu dùng
– Giúp cho người nông dân có cơ hội tiếp xúc với người tiêu dùng, tạo mối gắn kết giữa người tiêu dùng và việc tiêu thụ các sản phẩm địa phương
– Đưa các sản phẩm nông nghiệp của nông dân trên thị trường nhanh hơn
Hiện nay có khoảng 4,800 hội chợ nông dân hoạt động trên toàn nước Mỹ. Phần lớn các hội chợ này được tổ chức bởi một hiệp hội hay một tổ chức phi lợi nhuận.
Ví dụ Portland Farmers Market là một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động tại thành phố Portland, tiểu bang Oregon (tìm hiểu thêm về cách thức hoạt động của các tổ chức phi lợi nhuận ở Mỹ trong bài Hoạt động của các NPOs ở Mỹ). Họ không nhận bất cứ một nguồn tài trợ nào từ chính quyền liên bang, bang, hay thành phố mà tiền hoạt động có được thông qua thu phí những hộ nông dân tham gia hội chợ, qua tài trợ của doanh nghiệp, qua hoạt động gây quỹ, và rất nhiều giờ làm miễn phí của các tình nguyện viên.
Một số chương trình khác đi cùng với các hội chợ do Portland Farmers Market tổ chức:
– Các đầu bếp hàng đầu được mời đến để giới thiệu về cách thức nấu ăn ngon từ các thực phẩm được trồng theo mùa
– Tổ chức lớp nấu ăn cho trẻ em. Trẻ em từ 7 đến 15 tuổi được tham gia các lớp dạy kĩ năng nấu ăn vào thứ 7 hàng tuần. Các lớp này do các đầu bếp chuyên nghiệp đảm nhiệm.
– Chương trình Hộp đựng thức ăn trưa địa phương: chương trình mời các gia đình đến thưởng thức các thực phẩm và tham gia các hoạt động khác nhau ở hội chợ ví dụ như nấu các món ăn cho trẻ em, làm thơ về rau củ quả, làm một hộp đồ ăn trưa bằng thực phẩm theo mùa của địa phương.
– Hướng dẫn người đi chợ cách thức bảo quản thực phẩm để giữa được chất dinh dưỡng và tốt cho sức khỏe.
– Âm nhạc và giải trí, do nông dân tự tham gia biểu diễn.
– Vận động vì môi trường xanh: tăng cường ý thức của mọi người về việc giảm sử dụng túi nilon, tăng cường tái sử dụng vật liệu và giảm thiểu rác thải tại các hội chợ, xúc đẩy một lối sống yêu môi trường trong vùng.
Các hội chợ như thế này đã trở thành một phần không thể thiếu trong quá trình thúc đẩy nền sản xuất nông nghiệp và giúp cho người nông dân Mỹ tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm của mình nhanh hơn.
Mặc dù nông nghiệp Việt Nam chúng ta chủ yếu là trồng lúa gạo và sản xuất quy mô nhỏ, nhưng ngày cũng càng có nhiều các nông trại trồng cây ăn trái, nuôi gia súc lấy thịt, trồng cây công nghiệp như chè, cafe vv…ở khắp mọi miền. Nếu có những hội chợ thường xuyên như vậy, chắc chắn là người tiêu dùng cũng có dịp được biết đến các sản phẩm này nhiều hơn, người nông dân thì quảng bá được sản phẩm của trang trại đến thị trường nhanh hơn và vì thế càng có động lực để nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp của mình.
Chúc các bạn một cuối tuần vui vẻ 🙂
Hoàng Khánh Hòa
Thiên hoàng Goyozei học Thiền với Gudo. Thiên hoàng hỏi: “Trong Thiền, tâm này là Phật. Phải không?

Gudo trả lời: “Nếu bần tăng nói ‘đúng’, hoàng thượng sẽ nghĩ là hoàng thượng hiểu trong khi không hiểu. Nếu bần tăng nói ‘sai’, bần tăng có thể nói ngược lại với điều hoàng thượng đã hiểu rất rõ.”
Một hôm khác Thiên hoàng hỏi Gudo:: “Người giác ngộ đi đâu khi chết?”
Gudo trả lời: “Bần tăng không biết.”
“Tại sao thầy không biết?” Thiên hoàng hỏi.
“Tại vì bần tăng chưa chết,” Gudo trả lời.
Thiên hoàng ngại hỏi thêm về những điều mà trí óc Thiên hoàng không hiểu nổi. Nên Gudo vỗ tay xuống sàn như là để đánh thức Thiên hoàng, và Thiên hoàng giác ngộ!
Sau khi giác ngộ Thiên hoàng càng tôn trọng Thiền và sư già Gudo hơn trước, ngay cả cho phép Gudo đội mũ trong cung trong mùa đông. Khi Gudo quá 80 tuổi, thiền sư thường ngủ gục trong khi giảng bài, và Thiên hoàng chỉ lặng lẽ lui sang phòng khác để người thầy yêu quý hưởng được giấc nghỉ cơ thể già lão của thầy đòi hỏi.
.
Bình:
• Các thiền sư cho học trò câu hỏi, nhưng không cho câu trả lời. Người học trò phải tự tìm ra câu trả lời bằng trực nghiệm (không phải bằng đọc sách hay nghe người khác). Và khi các câu trả lời đến, đó là lúc giác ngộ.
• Thiền sư không bao giờ đoán (bằng lý luận) chuyện mình không biết được bằng trực nghiệm, như là khi chết thì đi đâu.
(Ngoại trừ một câu trả lời ai trong chúng ta cũng thấy được, là khi ta chết ta tan rã vào vũ trụ, mà các thiền sư nói là “trở về với Không” như sóng tan vào biển. Xem bài thơ Các Bộ Xương của thiền sư Ikkyu).
• Giác ngộ xong càng trọng Thiền và thầy vì lúc đó mới biết được Thiền sâu đến đâu, thầy sâu đến đâu và mình chỉ mới đến đâu. Chưa giác ngộ thì chưa thấy được các điều này.
(Trần Đình Hoành dịch và bình)
.
Gudo and the Emperor
The emperor Goyozei was studying Zen under Gudo. He inquired: “In Zen this very mind is Buddha. Is this correct?”
Gudo answered: “If I say yes, you will think that you understand without understanding. If I say no, I would be contradicting a fact which you may understand quite well.”
On another day the emperor asked Gudo: “Where does the enlightened man go when he dies?”
Gudo answered: “I know not.”
“Why don’t you know?” asked the emperor.
“Because I have not died yet,” replied Gudo.
The emperor hesitated to inquire further about these things his mind could not grasp. So Gudo beat the floor with his hand as if to awaken him, and the emperor was enlightened!
The emperor respected Zen and old Gudo more than ever after his enlightenment, and he even permitted Gudo to wear his hat in the palace in winter. When Gudo was over eighty he used to fall asleep in the midst of his lecture, and the emperor would quietly retire to another room so his beloved teacher might enjoy the rest his aging body required.
# 61
Hùng Vương truyền tới đời thứ ba sinh được một Mỵ Nương (1) đặt tên là Tiên Dung, đến tuổi 18 dung nhan đẹp đẽ, không muốn lấy chồng, thích chu du vui chơi khắp nơi trong thiên hạ. Vua đành chịu vậy, không cấm đoán được. Mỗi năm vào khoảng tháng hai tháng ba Tiên Dung lại sắm sửa thuyền bè chèo chơi ở ngoài biển, vui quên trở về.

Hồi đó ở làng Chử Xá ven sông, có người dân tên là Chử Vi Vân sinh được một người con trai là Chử Đồng Tử. Cha từ, con hiếu, nhà gặp hỏa hoạn, của cải sạch không, chỉ còn lại một khố vải duy nhất, cha con ra vào thay nhau mà mặc. Tới lúc cha già lâm bệnh gần chết bảo con rằng: “Cha chết cứ để trần mà chôn, giữ khố lại cho con, để khỏi xấu hổ”. Con không nỡ làm theo, liệm khố rồi đem chôn. Đồng Tử thân thể trần truồng đói rét khổ sở, đứng ở bên sông cầm cần câu cá; hễ nhìn thấy có thuyền buôn qua lại thì đứng ở dưới nước mà xin ăn.
Bất ngờ thuyền của Tiên Dung xốc tới, chiêng trống nhã nhạc, cờ lọng huy hoàng, kẻ hầu người hạ rất đông. Đồng Tử rất kinh sợ, không biết chạy trốn đi đâu. Trên bãi cát có khóm lau sậy, lưa thưa dăm ba cây, Đồng Tử bèn nấp trong đó, bới cát thành lỗ nằm xuống phủ cát lên mình. Lát sau, Tiên Dung cắm thuyền dạo chơi trên bãi cát, ra lệnh đào hố, lấy lau vây màn làm chỗ tắm. Tiên Dung vào màn, cởi áo dội nước, cát trôi mất để lộ ra thân hình của Chử Đồng Tử. Tiên Dung hổ thẹn hồi lâu, thấy là con trai bèn nói: “Ta vốn không muốn lấy chồng, nay lại gặp ngươi, cùng ở trần với nhau trong một hố, đó chính là do trời xui khiến vậy. Ngươi hãy mau đứng dậy tắm rửa”. Tiên Dung ban cho quần áo mặc rồi cùng xuống thuyền mở tiệc vui chơi. Người trong thuyền đều cho đó là cuộc giai ngộ xưa nay chưa từng có. Đồng Tử kể lại tình cảnh của mình, Tiên Dung ta thán, muốn nên vợ chồng. Đồng Tử cố từ chối, song Tiên Dung nói rằng: “Đây do trời chắp nối, sao lại cứ chối từ?”.

Người theo hầu vội về tâu lại với Hùng Vương. Vua giận nói: “Tiên Dung không thiết tới danh tiết, không màng tới của cải của ta, ngao du bên ngoài, hạ mình lấy kẻ nghèo khổ, còn mặt mũi nào trông thấy ta nữa, rồi cấm không cho Tiên Dung trở về”. Tiên Dung nghe sợ không dám về, bèn cùng Đồng Tử mở chợ búa, lập phố xá, cùng dân buôn bán, dần dần trở thành phố chợ lớn (nay là chợ Thám). Thương nhân nước ngoài tới lui buôn bán, kính nể tôn Tiên Dung và Chử Đồng Tử làm chủ.
Có người lái buôn giàu có nói với Tiên Dung rằng: “Người bỏ một dật (2) vàng, cùng tôi ra ngoài bể mua vật quí, sang năm có thể thành mười dật”. Tiên Dung cả mừng bảo Đồng Tử: “Vợ chồng chúng ta do trời tác thành, đồ ăn thức mặc do người làm nên, vậy nên đem vàng cùng phú thương ra biển buôn bán làm ăn”. Đồng Tử bèn cùng lái buôn đi buôn bán. Đến núi Quỳnh Vi, trên núi có am nhỏ, bọn lái buôn thường ghé lại đó lấy uống nước. Đồng Tử lên am chơi, trong am có sư tên gọi Phu Quang truyền phép cho Đồng Tử, Đồng Tử ở lại học phép, giao tiền cho lái buôn mua hàng. Sau bọn lái buôn quay lại am chở Đồng Tử trở về. Sư bèn tặng Đồng Tử một cây trượng và một chiếc nón mà nói rằng: “Linh thiêng ở những vật này đây”.
Đồng Tử trở về, giảng đạo lại cho Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ, liền bỏ phố phường, chợ búa cơ nghiệp, rồi cả hai đều tìm thầy học đạo. Có lần, trên đường đi xa, trời tối chưa về kịp nhà, tạm nghỉ ở giữa đường, cắm trượng che nón mà trú thân. Đến canh ba, thấy hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện vàng, đền đài, kho tàng, xã tắc, vàng bạc, châu báu, giường chiếu, chăn màn, tiên đồng, ngọc nữ, tướng sĩ, thị vệ, la liệt trước mắt. Sáng hôm sau, ai nấy trông thấy cũng kinh ngạc lạ lùng, đem hương hoa, lễ vật tới dâng xin làm bề tôi, có văn võ trăm quan, chia quân túc vệ, lập thành nước riêng.

Hùng Vương nghe tin, cho rằng con gái làm loạn, bèn sai quân tới đánh. Quần thần của Tiên Dung xin đem quân ra chống giữ. Tiên Dung cười mà bảo: “Điều đó ta không muốn làm, do trời định đó thôi, sống chết tại trời, há đâu dám chống lại cha, chỉ xin thuận theo lẽ chính, để mặc cho cha chém giết”. Lúc đó, dân mới tới theo đều kinh sợ tản đi, chỉ có dân cũ ở lại với Tiên Dung. Quan quân tới, đóng trại ở bãi Tự Nhiên, chỉ còn cách con sông lớn thì trời tối không kịp tiến quân. Nửa đêm, bỗng nhiên gió lớn nổi lên, cát bay, cây đổ, quan quân hỗn loạn. Tiên Dung cùng thủ hạ, thành quách phút chốc bay bổng lên trời. Đất chỗ đó sụt xuống thành cái đầm lớn. Ngày hôm sau, dân chúng không thấy thành quách đâu cả, đều cho là linh dị. Về sau, dân lập miếu thờ, bốn mùa cúng tế, gọi đầm là đầm Nhất Dạ (Nhất Dạ Trạch, nghĩa là đầm một đêm), gọi bãi là bãi Tự Nhiên, còn gọi là bãi Mạn Trù (hố tắm), và gọi chợ là chợ Hà Thị (chợ Hà).
Sau đến đời tiền Lý Nam Đế, bọn nhà Lương đem quân sang xâm lược, vua Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự địch. Quang Phục đem quân ẩn nấp trong đầm. Đầm sâu rộng lớn, bùn lầy, rất khó ra vào, Quang Phục dùng thuyền độc mộc, dễ bề đi lại, quân giặc khó biết tung tích ở đâu. Đêm đến dùng thuyền độc mộc lẻn ra đột kích, đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối diện chiến đấu. Bá Tiên than rằng: “Ngày xưa, nơi đây một đêm mà thành đầm nhà trời, đúng vậy!” (3). Nhân gặp loạn Hầu Cảnh, vua nhà Lương bèn gọi Bá Tiên về, cho tì tướng là Dương Sàn thống lĩnh sĩ tốt, Quang Phục ăn chay lập đàn ở giữa đầm, đốt hương cầu đảo, bỗng thấy thần nhân cưỡi rồng bay vào trong đầm mà bảo Quang Phục rằng: “Ta tuy đã lên trời, nhưng linh hiển còn đó, ngươi có lòng thành cầu tới, ta đến để giúp đánh dẹp giặc loạn”. Dứt lời, tháo vuốt rồng trao cho Quang Phục, bảo: “Đem vật này đeo lên mũ đâu mâu (4), đánh đâu diệt đó”. rồi bay mất lên trời. Quang Phục được vuốt rồng, xông ra đột kích, quân Lương thua to, chém được Dương Sàn ở giữa trận, giặc Lương phải lùi. Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn lên ngôi lấy hiệu là Triệu Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh (5).
Chú thích:
1) Con gái của Vua Hùng gọi là Mỵ Nương (xem truyện Hồng Bàng).
2) Dật: Một đơn vị đo lường thời xưa.
3) Bản A 2914 còn có thêm câu: “Ôi, mà ngày hôm nay, đêm đêm đồn quân án giữ mà chẳng biết giặc núp nơi đâu”
4) Mũ đâu mâu: Đâu mâu兜鍪 là cái mũ trụ, mũ quân lính đội lúc ra trận.
5) Nay là Bắc Ninh
(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.
Bình:
• Đa số các truyện trong Lĩnh Nam Chích Quái nói đến đời Hùng Vương thứ 3, như truyện này. Số 3 là số thiếu dương trong Dịch học. Thiếu dương là bắt đầu khởi động, bắt đầu đi lên, cho nên là con số quan trọng, dù chỉ là nhỏ (“thiếu”).
Thực ra số 3 rất quan trọng cho tâm thức con người, hầu như trong tất cả mọi nền văn minh trên thế giới. Có một điều gì đó làm cho con người mê chuộng số 3: Trời đất người, body mind spirit, chúa ba ngôi, bố mẹ con, đầu mình tứ-chi, bắc trung nam, tam bảo Phật Pháp Tăng…

• Lòng hiếu thảo của Chử Đồng Tử với cha thì rất rõ — nhường cái khố duy nhất cho cha.
Nhưng điều này còn nói lên sự quan trọng của việc tiễn người ra đi. Cho đến ngày nay người Việt vẫn tin người chết ở cõi âm cần dùng nhiều thứ, cho nên tục đốt vàng mã vẫn còn rất mạnh. Cái khố cho bố không phải chỉ để mai táng cho trịnh trọng, mà vì bố còn cần dùng nó hàng ngày ở cõi âm.
Cho đi cái khố duy nhất còn là để chuẩn bị cho đoạn sau—một Chử Đồng Tử hoàn toàn trần trụi.
• Con người trần truồng là con người thật sự, chính hắn ta, như là trời sinh, không một mảnh vải để làm cho hắn nhìn khác đi một tí. Con người không trau chuốt, không giả tạo, không dối trá, không ảo tưởng… Khi chúng ta đến với nhau bằng con người thật của mình, chúng ta dễ gần gũi nhau hơn, dễ “kết” nhau hơn.
Con người trần truồng còn là biểu tượng của cái tâm nguyên thủy của con người. Tâm trong sáng chưa bị lu mở bởi mọi chấp trước thế gian.
Con người trần truồng, về mặt vật thể, còn có nghĩa là người nghèo nhất trong thiên hạ, thực sự nghèo đến mức không có khố che thân.
• Chử Đồng Tử câu cá ở bờ sông, và phải đứng dưới nước để xin ăn: Văn hóa “nước” của người Việt mà ta đã nói đến trong Truyện Hồng Bàng. Nước là quê mẹ, nước là tổ quốc. Liên hệ tâm thức giữa người Việt với quê hương tổ quốc, ít ra là trên bình diện ngôn ngữ, có lẽ mạnh nhất trên thế giới, vì chẳng có gì quan trọng cho đời sống con người bằng nước, và ta dùng từ đó để gọi tổ quốc.
• Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau là duyên tiền định: Số lấy con vua thì nghèo rớt mồng tơi vẫn lấy con vua. Số lấy chồng nghèo thì mình là con vua vẫn lấy anh chàng nghèo nhất nước. Đây là thuyết nhân duyên của nhà Phật. Nghiệp của các kiếp trước dự một phần lớn trong việc định đời sống của ta kiếp này. Tâm hiếu thảo của Chử Đồng Tử kiếp này cũng dự một phần trong việc định đời sống của chàng kiếp này.

• Tiên Dung và Chử Đồng Tử gặp nhau khi cả hai cùng trần truồng cũng là biểu tượng của tâm nguyên thủy của con người. Trong vũ trụ quan Phật giáo, tâm nguyên thủy của ta và nền tàng nguyên thủy của vũ trụ là một—là Không. Khi chúng ta giác ngộ, tâm ta không còn si mê, trở về trạng thái tinh tuyền nguyên thủy—Không. Ta và Không là một. Hai người trần truồng (Tiên Dung và Chử Đồng Tử) là biểu tượng cho hai tâm nguyên thủy, mà hai tâm nguyên thủy thì chỉ là một—là Không—biểu tượng của sự kết hợp thành vợ chồng, hai thành một.
• Lấy nhau làm vua cha cả giận. Đây nói lên tính tự chủ của Tiên Dung, tự định đoạt đời mình. Tiên Dung là người nổi bật nhất về tự chủ trong truyện này. Về sau ta thấy Tiên Dung cũng chủ động trong việc làm ăn buôn bán. Dấu vết của chế độ mẫu hệ rất mạnh trong văn hóa Việt, như đã nói trong Truyện Hồng Bàng và Truyện Trầu Cau.
• Ở đây chúng ta thấy có sự phối hợp của “duyên tiền định” và “ý chí” của con người. Thực ra dây không phải là hai điều khác nhau và trái ngược nhau như nhiều người lầm tưởng. Ý chí của con người cũng là một “nhân/duyên” trong hàng triệu “nhân/duyên” khác ảnh hưởng đến đời sống của hắn ta. Nhân duyên gồm có (1) nhân duyên của bao kiếp trước, (2) nhân duyên của các sự việc trong kiếp này và (3) ý chí và nỗ lực của ta.

• Thay vì cùng nhau ở ẩn, Tiên Dung và Chử Đồng Tử lại mở chợ búa buôn bán. Đây là triết lý nhập thế rất tích cực.
• Nhờ ra bể buôn bán và gặp thầy học đạo: Đây là triết lý hướng ngoại trong việc trị quốc. Mở rộng ra ngoài, liên hệ với bên ngoài, giao thương với bên ngoài, thì trí tuệ mới mở rộng được.
Đương nhiên là điểm này còn nói đến việc Phật giáo du nhập vào nước ta qua đường biển, trực tiếp từ Ấn độ như nhiều sử gia Phật sử đã nói đến (cùng với đường từ Trung quốc ở hướng Bắc sang).

• Thầy cho Chử Đồng Tử cây gậy và cái nón: Đây rõ ràng là các vật để đi đường. Tức là triết lý nhập thế, “đạo vào đời”, của các thiền sư. Sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma thường xuất hiện với cây gậy mang một chiếc dép; Phật Di lặc, gọi là hotei ở Nhật, là vị sư thường mang cây gậy và một bao (đồ chơi trẻ em).
Nón thì che nắng, cây gậy là để bảo vệ và chống thú dữ trên đường đi, v. v… Nhưng chúng còn là biểu tượng gì?

— Nón là một vòng tròn lớn, trống rỗng, trên đầu, là biểu tượng của Không–chân tánh của chính mình và của toàn thể vũ trụ–chân lý tối hậu của Phật pháp. “Không” bao trùm tất cả, như nón che toàn thân ta. (Đây cũng tương tự như một chiếc dép của Bồ Đề Đạt Ma thường được xem là biểu tượng của Một. Tất cả là Một, và một đó là Không).
— Cậy gậy chống đở thường xuyên là biểu tượng cho giáo pháp—giới , định, tuệ–mà ta phải tu tập hàng ngày, để chống chọi lười biếng, si mê và thoái hóa.
• Thành quách xuất hiện trong một đêm, trên đường học đạo: Chuyện này rất giống với phẩm Hóa Thành Dụ trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, khi một đạo sư làm thành quách giả cho các đệ tử nghĩ tạm trên đường tu học gian nan.
Phật giảng tam thừa–Thanh Văn thừa (giác ngộ thành Alahán), Duyên giác thừa (giác ngộ thành Bích Chi Phật), Bồ Tát thừa (giác ngộ thành Bồ tát)–cũng chỉ là các “hóa thành” để tạm nghĩ, trên cùng một con đường Phật thừa (thành Phật).
• Thành quách hiện ra một đêm, biến mất một đêm, cũng nói đến lẽ vô thường của đời sống—thành quách lâu đài vương giả cũng chỉ là phù du, hiện mất mất hiện chỉ một đêm.
Tên “Đầm Một Đêm” (Nhất Dạ Trạch) nhấn mạnh đến lẽ vô thường đó.
• Truyện này rõ là huyền thoại và triết lý 100 %, ngoại trừ việc Triệu Quang Phục sau này dùng Đầm Dạ Trạch làm căn cứ kháng chiến chống quân Lương là lịch sử. Truyện vuốt rồng và mũ đầu mâu của Triệu Quang Phục, nếu có vào thời Triệu Quang Phục, thì hẳn nhiên đó là mưu kế chiến tranh tâm lý.
(Trần Đình Hoành bình)
Bài hôm nay
Trouble is a friend – Lanka , Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Nguyễn Hoàng Long.
Nhà thơ Hữu Loan qua đời , Chứng nhân, Thơ, Văn Hóa, Nhạc Xanh, Video, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
Bút sa gà chết , Danh Ngôn, song ngữ, chị Nguyễn Thu Hiền.
Ta có thể có nhiều hơn , Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hồng Hải.
Âm thanh của tĩnh lặng , Danh Ngôn, song ngữ, chị Hoa Trang.
Nỗi nhớ đồng lúa quê nhà , Thơ, chị Giọt Sương Tím.
Sông tạnh chiều cuối xuân nhớ bạn – Hàn Tông , Đường Thi, anh Nguyễn Hữu Vinh.
Những bộ phim ý nghĩa, Văn Hóa, chị Trần Thị Thu Hiền.
Củ cà-rốt và cái gậy, Trà Đàm, Kỹ năng quản lý, chị Hoàng Khánh Hòa.
Đường Hầm, Thiền, Văn Hóa, Trà Đàm, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.
.
Scholarship, Grants & Jobs
World Challenge 2010 is a competition organised by BBC World News Limited (“BBC World News”) aimed at finding projects or small businesses from around the world that have shown enterprise and innovation at a grass roots level (“Competition”). We want to hear from our viewers about the social entrepreneurs who are making a difference without costing the earth. It could be you or someone you know. All nominations, entries and votes related to the Competition must comply with these terms and conditions (“World Challenge Competition Rules”); failure to do so may result in disqualification. Now in its sixth year, World Challenge is a global competition aimed at finding projects or small businesses from around the world that have shown enterprise and innovation at a grassroots level. World Challenge is brought to you by BBC World News and Newsweek, in association with Shell and is about championing and rewarding projects and businesses which really make a difference.
Readmore:
http://cambodiajobs.blogspot.com/2010/03/world-challenge.html
The Tech Awards is an international awards program that honors innovators from around the world who are applying technology to benefit humanity.The Tech Awards program inspires global engagement in applying technology to humanity’s most pressing problems by recognizing the best of those who are utilizing innovative technology solutions to address the most urgent critical issues facing our planet. People all over the world are profoundly improving the human condition in the areas of education, equality, environment, health, and economic development through the use of technology. It is the goal of The Tech Awards to showcase their compelling stories and reward their brilliant accomplishments.
Readmore:
http://cambodiajobs.blogspot.com/2010/03/tech-awards.html
The $1.5 million (U.S.) Conrad N. Hilton Humanitarian Prize is awarded annually to an organization making extraordinary contributions toward alleviating human suffering anywhere in the world. Nominations are sought from throughout the international community and will close APRIL 30, 2010. An independent international panel of jurors will make the final selection; the award recipient will be announced in the spring of 2011.
Readmore:
http://cambodiajobs.blogspot.com/2010/03/conrad-n-hilton-humanitarian-prize.html
.
Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.
Tin học tập – việc làm
American Center Hanoi Event news
Rotary World Peace Fellowships
Fellowship at UNFPA Special Youth Programme
PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen
Thông Tin Kinh Tế
Chứng khoán
* VNINDEX
* HNX
Chúc các bạn một ngày tươi hồng !
![]()
Đọt Chuối Non
Các bạn mến,
Mới đây mình có dịp nghe bài phát biểu của chủ tịch Apple – Steve Jobs tại lễ trao bằng tốt nghiệp của trường đại học Stanford có 2 điểm rất hay mà ông ta phát biểu trên video:
1. Những điều khó khăn nhất mà cuộc đời xô đẩy ông ta, ông đều coi là bước ngoặt đáng nhớ và cảm ơn thất bại
2. Ông ta tự coi rằng mỗi ngày là ngày cuối đời của ông ta, bình thản, trung thực và tự tin cố gắng hết sức làm mọi việc cần giải quyết – sáng tạo cho mỗi ngày !
Nhớ lại mình cũng đã có dịp giới thiệu các bạn bé Thái Trinh hát nhạc Lenka giỏi, mình lại lôi album của Lenka ra nghe (Album cùng tên tác giả) và thấy quả thật nhạc của cô ta trong sáng và nhiều ý nghĩa.
Nhân tiện về chủ đề thất bại trong cuộc đời, mình giới thiệu với các bạn một bài hát của Lenka rất hay có tên là Trouble Is A Friend.
Hãy coi thất bại hay khó khăn đều là bạn bè, Phật cũng chả đã nói biến thù thành bạn sẽ kiết hung hóa lành sao.
Mong sao tất cả chúng ta học được thói quen tâm lý đáng sợ này “chiến thắng nỗi sợ trong bản thân”
Mời các bạn nghe và thưởng thức :
LENKA Trouble Is A Friend(Official music video)
Lenka – Trouble Is a Friend
Trouble he will find you no matter where you go, oh oh
No matter if you’re fast, no matter if you’re slow, oh oh
The eye of the storm or the cry in the mourn, oh oh
You’re fine for a while but you start to lose control
He’s there in the dark, he’s there in my heart
He waits in the wings, he’s gotta play a part
Trouble is a friend, yeah trouble is a friend of mine, oh oh!
Trouble is a friend but trouble is a foe, oh oh
And no matter what I feed him he always seems to grow, oh oh
He sees what I see and he knows what I know, oh oh
So don’t forget as you ease on down the road
He’s there in the dark, he’s there in my heart
He waits in the wings, he’s gotta play a part
Trouble is a friend, yeah trouble is a friend of mine, oh oh
So don’t be alarmed if he takes you by the arm
I won’t let him win, but I’m a ****er for his charm
Trouble is a friend, yeah trouble is a friend of mine, oh oh!
Oh how I hate the way he makes me feel
And how I try to make him leave, I try
Oh oh, I try!
He’s there in the dark, he’s there in my heart
He waits in the wings, he’s gotta play a part
Trouble is a friend, yeah trouble is a friend of mine, oh oh
So don’t be alarmed if he takes you by the arm
I won’t let him win, but I’m a ****er for his charm
Trouble is a friend, yeah trouble is a friend of mine, oh oh!
Chào các bạn,
Nhà thơ Hữu Loan, tác giả của tuyệt tác Màu Tím Hoa Sim, đã qua đời tại quê nhà ở Thanh Hóa, ngày 18 tháng 3, 2010, lúc 21 giờ, hưởng thọ 95 tuổi.

Màu Tím Hoa Sim, ai đọc qua mà không buồn da diết!
Cuộc tình trong thời nhiễu loạn phân ly…
Nhưng không chết người trai chiến sĩ
Mà chết người gái nhỏ hậu phương…
Chiến tranh không có quy luật phân ly!
Chiều hành quân qua những đồi sim
Những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt…
Tiểu sử
Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ông học Thành chung ở Thanh Hóa, đậu tú tài Tây năm 1938 tại Hà Nội (vì vậy ở quê thường gọi là cậu Tú Loan). Thời đó, bằng tú tài rất hiếm, rất ít người có nên ông được mời vào làm trong Sở Dây thép (Bưu điện) Hà Nội nhưng ông không làm mà đi dạy học và đã từng là cộng tác viên của các tập san văn học xuất bản tại Hà Nội. Năm 1939 ông tham gia Mặt trận Bình Dân rồi về tham gia Mặt trận Việt Minh tại thị xã Thanh Hóa.
Năm 1943, ông gây dựng phong trào Việt Minh ở quê nhà, và khi cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, ông làm Phó chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn, rồi được cử làm Ủy viên Văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính.
Trong kháng chiến chống Pháp, Hữu Loan tình nguyện đi bộ đội, phục vụ trong sư đoàn 304 và làm chính trị viên tiểu đoàn, đồng thời làm chủ bút tờ Chiến Sĩ của sư đoàn.
Tháng 2 năm 1948, lúc ấy ông 32 tuổi, được nghỉ phép hai tuần lễ, về quê cưới cô Lê Đỗ Thị Ninh là người học trò cũ mới 16 tuổi, con gái của ông bà tham Kỳ, một gia đình nền nếp, gia sản có tới hàng trăm mẫu ruộng ở Thanh Hoá mà trước đây ông đã từng làm gia sư dạy kèm cho các con của ông bà suốt nhiều năm liền. Cô Ninh yêu ông bằng một tình yêu kỳ lạ, nửa như người anh, nửa như người thầy. Ông cũng coi cô bé xinh đẹp 16 tuổi đó nửa như em gái, nửa như cô học trò vì khi ông mới đậu tú tài, được ông bà tham Kỳ nhờ đến dạy học cho hai người anh của cô Ninh thì cô mới 8 tuổi. Sau, ông cũng làm gia sư cho cô luôn.
Cưới nhau xong, ông lại lên đường ra mặt trận. Sư đoàn lúc ấy ở vùng Tuyên Quang, Cao Bằng, Lạng Sơn. Ba tháng sau, tháng 5 – 1948, từ ngoài mặt trận, ông được tin người vợ trẻ tuổi ở nơi quê nhà vắn số: cô giặt đồ ở ngoài sông, xảy chân ngã xuống sông, bị nước cuốn đi, chết đuối. Ông quá đau khổ, định sẽ ở vậy suốt đời, đồng thời đem nỗi lòng mình viết thành những câu thơ rồi dần dần thành bài Màu tím hoa sim đầy kỷ niệm. Mấy năm sau – khoảng các năm 1951-1953 – bài thơ này nổi tiếng, được lưu truyền trong dân chúng nhưng bị phê bình là ủy mị, mang tính chất tiểu tư sản!

Năm 1954, sáu năm sau ngày vợ chết, hoà bình lập lại nhưng chuyện đấu tố diễn ra. Bộ đội đóng ở Nghệ An, ông về nhà chơi, được biết ở làng bên có một gia đình địa chủ ngày trước vẫn tiếp tế lương thực cho sư đoàn của ông, nay bị đấu tố chết rất thê thảm, chỉ trừ cô gái 17 tuổi tên Phạm Thị Nhu thì được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà, cấm không cho ai được phép liên lạc. Ông nhớ tới ơn xưa, bèn đi tìm xem cô ta ra sao thì gặp cô đang đói khát, mặt mũi lấm lem, quần áo rách rưới, đang đi mót những củ khoai người ta bới xong còn sót lại ở ngoài cánh đồng, chùi sơ rồi bỏ vào miệng ăn sống. Thấy ông, cô khóc rưng rức vì cảnh khốn cùng của mình và cho biết ban đêm cô ngủ trong một ngôi miếu hoang, chỉ sợ có kẻ làm bậy và không hiểu mình sẽ tồn tại được bao lâu. Ông rất thương xót, đồng thời cũng nhớ tới những kỷ niệm mà hồi trước, khi cô còn nhỏ, ông dạy học ở xã bên ấy, cô thường núp nghe ông giảng truyện Kiều.
Ông quyết định đem cô về nhà cha mẹ và lấy cô làm vợ. Cấp trên không đồng ý. Ông là đảng viên, lại trưởng phòng Tuyên huấn kiêm chính trị viên tiểu đoàn, không được lấy con cái địa chủ, nếu lấy thì sẽ bị đuổi khỏi quân đội và bị khai trừ khỏi đảng. Tính ông ngang bướng, ông chấp nhận điều kiện thứ hai và cô Phạm Thị Nhu trở thành người vợ sống với ông cho đến bây giờ, sinh cho ông được 10 người con cùng với 37 đứa cháu như chúng ta sẽ biết.
Đầu năm 1955, ra khỏi quân đội, ông về Hà Nội xin vào làm việc tại báo Văn Nghệ. Trong thời gian 1956-1957, ông tham gia Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm do nhà văn Phan Khôi chủ trương. Ông sáng tác những tác phẩm lên án quyết liệt những tiêu cực của các cán bộ nịnh hót, đố kỵ, ám hại lẫn nhau vv… Như trong tác phẩm Cũng những thằng nịnh hót và trong truyện ngắn Lộn sòng, ông coi mình là nạn nhân và phê phán một cách gay gắt.
Phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dập tắt vào năm 1958, nhà thơ Hữu Loan bị đi cải tạo mấy năm rồi được thả, cho về địa phương và bị quản chế tại địa phương. Hiện nay tất nhiên lệnh quản chế đó đã hết từ lâu nhưng ông vẫn sống tại quê nhà.
Các tác phẩm
Hữu Loan chưa xuất bản tập thơ nào. Một số bài thơ đã được phổ biến trên các báo chí của ông: Màu tím hoa sim, Đèo Cả, Yên mô, Hoa lúa, Tình Thủ đô…
Tại miền Nam, bài Màu tím hoa sim đã được các nhạc sĩ Dũng Chinh, Phạm Duy, Anh Bằng và Duy Khánh phổ nhạc… Trong đó bài của Dzũng Chinh và Phạm Duy là nổi tiếng nhất.
Vào tháng 10 năm 2004, Màu tím hoa sim đã được Công ty Cổ phần Công nghệ Việt (viết tắt: vitek VTB) mua bản quyền với giá 100 triệu đồng. (Nguồn: datviet.com)
Để tưởng niệm Hữu Loan, sau đây là:
1. Nguyên văn bài thơ Màu Tím Hoa Sim
2. Bản dịch bài thơ sang tiếng Anh (“Berryflower Violet”) của TĐH.
3. Video bài thơ Màu Tím Hoa Sim, do Quốc Anh ngâm.
4. Video bản nhạc “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà”, Phạm Duy viết, do Elvis Phương hát.
5. Video bản nhạc “Những Đồi Hoa Sim”, Dzũng Chinh, do Phương Dung hát.
6. Audio link “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, do Hương Lan và Duy Quang hát.
7. Video bản “Chuyện Hoa Sim” của Anh Bằng, do Như Quỳnh hát.
8. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do chính Duy Khánh hát.
9. Audio link bản “Màu Tím Hoa Sim” của Duy Khánh, do Giao Linh hát.
10. Tiếp theo đó là lời kể của Hữu Loan về cuộc tình đã tạo nên bài thơ này.
Các bài thơ khác của Hữu Loan có thể đọc tại linh này.
Cầu xin cho linh hồn Hữu Loan được an lạc nơi chín suối.
Hoành
Màu Tím Hoa Sim
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng đang xanh.
Tôi người vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái.
Ngày hợp hôn
Nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh bết bùn
Đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo.
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi.
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Lỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…
Nhưng không chết
Người trai khói lửa
Mà chết
Người gái nhỏ hậu phương.
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được nhìn nhau một lần.
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình
đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…
Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất
trước tin em lấy chồng;
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí.
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Nhìn áo rách vai
Tôi hát
trong màu hoa
(áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…).
Hữu Loan
She had three brothers in the army
The younger ones
some weren’t yet talking
When her hair was still soft
I was a soldier
away from home
Loving her as a little sister
The wedding day
she didn’t ask for a new dress
I wore army uniform
The hobnail boots
Battlemud-smeared
Lovely she smiled
beside the odd husband
I came back from the front
Wedding done, I left.
From the far war zone
I thought of her, uneasy
Marrying in war time
Who leaves and would return?
If I don’t come back
how pitied would it be
for the little wife waiting
in the country evenings…
Yet the boy in the firing lines didn’t die
but died
the little girl behind
I came back
seeing her not
My mother sat by her tomb in darkness
The wedding day’s flowerpot
had become an incense vessel
besieged in expired coldness
Her hair was soft
too short to pin up
O my beloved, the last minute
we couldn’t hear each other
we couldn’t see each other even once
Those days she loved violet berryflowers
Her dress was berryflower violet
Those days
night lamp
small shadow
She mended for her husband the shirt
those days…
An afternoon
rain over the forest
the three brothers in the northeastern front
received words of the sister’s death
before the wedding news
An early autumn wind
made the river waters creep
The little brother grew up
lost
looking at the sister’s picture
When came the early autumn wind
the grass withered by the tombstone
In the afternoons
my platoon passes through berry hills
berryflower hills infinitely long in the afternoons
Berryflower violet
endlessly purples the desolate afternoons
Looking at the torn shirt shoulder
I sing
in the flower’s color
“My shirt is torn by the seam
My wife died
My mother has not yet mended it.”
TĐH translated
(June 13, 1998, March 2, 2000; March 18, 2010)
Bài thơ Màu Tím Hoa Sim – Quốc Anh ngâm
.
Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà – Phạm Duy – Elvis Phương
.
Những Đồi Hoa Sim – Dũng Chinh – Hương Lan & Duy Quang (Nhấn chuột vào đây)
.
Chuyện Hoa Sim – Anh Bằng – Như Quỳnh
.
Màu Tím Hoa Sim – Duy Khánh (nhấn chuột vào đây)
.
Màu Tím Hoa Sim – Duy Khánh – Giao Linh (nhấn chuột vào đây)
Phần 1: Mà chết người gái nhỏ hậu phương…
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.
Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.
Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..
Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi: -Thầy có thích ăn sim không ? Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ….Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng. -Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!
Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa…
Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….
Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”. Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!
Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.
Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.
Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn….Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng có em chưa biết nói “Khi tóc nàng đang xanh …” …Tôi về không gặp nàng…
Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.
Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chổ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : Chiều hành quân, qua những đồi sim Những đồi sim, những đồi hoa sim Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt Và chiều hoang tím có chiều hoang biết Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.
Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!
Đến vụ Nhân văn Giai phẩm
Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông … Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?
Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi…
Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!
Phần 2: Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ…
Vợ nhà thơ Hữu Loan – Bà Phạm Thị Nhu
|
|
Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.
Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .
Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.
Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.
Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no….Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai , 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!
Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.
© Hữu Loan

.
Never write what you dare not sign.
Bút sa gà chết.
(Thành ngữ Anh Việt
Nguyến Thu Hiền)

Chúng ta có thể có nhiều hơn những gì chúng ta đã có bởi vì chúng ta có thể trở nên tốt hơn chúng ta bây giờ.
Nguyễn Hồng Hải
.
We can have more than we’ve got because we can become more than we are.
Anonymous

I teach and they run away
I listen and they come
My strength is my silence
(Akiane Kramarik,age 9)
Tôi dạy bảo thì thiên hạ chạy biến
Tôi lắng nghe người ta mới lại gần
Sức mạnh của tôi chính là tĩnh lặng
(hoatrang phóng ngữ)