Giải Mã Ẩn Số “Chữ Người Tử Tù”

Nguyễn Tuân đã chọn cho siêu phẩm của mình cái tựa đề đích đáng. “Chữ người tử tù” là chuyện một viên quan cai ngục bất chấp luật vua phép nước, ngầm thách đố với nhục hình tử tội mà tìm cầu một bức lụa trắng trên đó tung hoành nét chữ vuông tươi tắn của người tù Huấn Cao.
thu phap tam_2
Cái nét chữ của người tử tù tài hoa ấy đã trở thành ẩn số có sức hút mãnh liệt, nó hội tụ mọi chú ý của người đọc khi hồi hộp theo dõi lịch trình tác phẩm. Để tạo được hấp lực ấy Nguyễn đã kì công đến bao nhiêu khi lúc gần, lúc xa; lúc đậm lúc nhạt mà tạo tác ấn tượng về con chữ.

Song kì lạ thay, đến khi ông Huấn “thay bút con đề xong lạc khoản”, người đọc mới bất ngờ nhận ra: Nguyễn Tuân đã không giúp cho người đọc biết nốt ông Huấn đã ban tặng cho người có cái nhã thú cao quí là ngục quan ấy chữ gì. Vậy là đến khi thiên truyện khép lại, chữ- người – tử – tù vẫn còn là một ẩn số. Và, vì kết trong một tư thế rất mở nên chữ người tử tù vẫn không ngừng khơi gợi liên tưởng của người đọc xưa nay.

Tôi cũng thuộc loại người chịu tác động dữ dội của lối kết lấy không gợi có, vẽ mây nẩy trăng rất tài tình kia.Và tập tành theo dấu người xưa, tôi đã quyết tìm thầy xin chữ, may ra gặp duyênngộ được ít nhiều.

Và để tìm một đáp số cho mình, tôi đã lần dò về phép chơi chữ của người xưa.
Các cụ xưa dạy:

Đệ tử tầm sư dị
Sư tầm đệ tử nan.

Trong phép chơi chữ, lời truyền phán ấy càng thể hiện mình ở một chân lí ghê người. Làm sao tìm đúng được người học trò có cái căn cơ cốt cách tìm ẩn năng lực của một đoá kì hoa dị thảo mà lĩnh hội cho bằng hết sở học vĩ đại của người thầy khi mọi uyên áo thâm sâu lại cứ kín đáo ẩn mình sau con chữ? Có thể xem phút giây người thầy cho chữ trò cũng là phút giây mà sư phụ chân truyền tuyệt học, trao luôn y bát cho người đệ tử thành tâm. Một chữ mà ngầm dấu cả một trăm năm công lực. Chính vì vậy mà phải hiểu đến từng công đoạn tu luyện của người thầy.

Trước là nét chữ.

Người xưa thường bảo: Nét chữ nết người. Người giàu nộ khí, nét cương ngạnh cứng cõi, phóng cao mà chọc sâu , như sẵn sàng gãy đổ, như ngàn núi lửa cuộn khí chỉ chực phun trào. Người khoan khoái ung dung, kinh mạch điều hoà, lòng không phiền não, nét chữ mềm mại khoan thai như hành vân lưu thuỷ, coi chỗ sắc mà đoán độ thâm trầm uyên áo, coi đường mềm mà hiểu được hàm dưỡng công phu.

Đọc được nét chữ là khởi đầu có thể chơi chữ.

Sau, chọn người mà cho chữ.

Cái chữ là cái nghĩa , còn hợp với tạng người.

Chữ sâu sắc cho người cạn cợt thì hoa nhài cắm bãi cứt trâu. Chữ vung vít cho người đứng đắn thì ngạo đời khinh mạn. Người nào chữ ấy thì mới hợp lí hợp tình. Chính vì vậy mà tác giả viết về ông Huấn là “tính khoảnh” nên “trừ chỗ tri kỉ ít khi ông chịu cho chữ”. Huấn Cao cũng tự nhận là “đời ta chỉ viết có hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân”. Có phải cùng một lẽ ấy chăng mà đường đường một cụ Tam Nguyên đầy mình chữ nghĩa mà khi cho chữ những người hàng xóm, Nguyễn Khuyến lại chỉ dùng toàn những “xanh”, “đỏ”, ”tím”, “vàng” hay “lầm” , “than”, “rèn”, “cặp” …là những chữ nhặt nhạnh được từ rổ rau luống cày trong cái sở học bình dân.

Và như thế, nét chữ, nghĩa chữ thâu tóm cả hoài bão, ước vọng và quan hệ của người cho kẻ nhận.

Đến đây tôi hoài ngẫm nghĩ: ông Huấn trong cái đêm thiêng đến chưa từng có ấy đã ân cần trao cho thầy Quản chữ gì?

snowy_bambooNhân – nghĩa – lễ – trí – tín chữ giành cho người quân tử trọn tài vẹn đức đạt đạo ở đời, há có thể đặt vào tay thầy Quản ?

Đức lưu phương giành cho người đạo cao đức trọng danh để muôn đời; một viên quan cai ngục có chút lòng thành le lói thiên lương, hẳn ông Huấn cũng không khinh xuất mà tùy tiện ban tặng.

Hòa vi quí giành cho người cao niên lão thực, yêu người và lấy cái yêu người làm căn cốt để trọng mình xem chừng cũng không hợp với thầy Quản.

Chữ gì đây?

Tôi chợt nghĩ một Huấn Cao tài hoa khinh bạc vì cảm động trước tấm lòng thầy Quản mà cho chữ.

Tôi nghĩ một Huấn Cao lòng thành khi ban tặng cho người cai ngục cái chữ thì cũng ban luôn cả một huấn thị thiêng liêng.

Tôi nghĩ đến tấm lòng thành của viên cai ngục.

Trong tôi hài hoà đến hiển nhiên một Huấn Cao- một Cao Chu Thần một thời vang bóng.

Tôi nghĩ mãi lời khuyên “thay đổi chỗ ở”, “tìm về nhà quê” để “giữ thiên lương cho lành vững” mà ông huấn chân thành khuyên thầy Quản. Chao ôi! Phải chăng đó là khát vọng ẩn cư để tịnh cái tâm giữa đời hỗn loạn xô bồ mà danh sĩ họ Cao đã ngầm dấu trong hai chữ Cúc Đường. Phải chăng đêm trước ngày ra pháp trường ông Huấn đã ân cần trao gửi lại cái khát vọng một đời cho người quản ngục? Là ban cho, là trao gửi, là dặn dò…

Ôi, cái chữ người xưa!

Bất giác tôi cũng vái người tù một cái, nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào:

Kẻ mê muội này xin bái lĩnh!

Quế Sơn
Nguyễn Tấn Ái.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s