Người ở núi

Cầu thang thì lên nhà
Ruộng bậc thang lên Đẳm*

Người ở núi
Đâu cũng như đâu
Đi là gối
Cúi người chạm gối
Mây cũng chỉ đến lưng chừng gối

Người ở núi
Đâu cũng như nhau
Ngước lên là mặt trời
Cúi xuống là đá sắc
Lời cong không nói nổi bao giờ.

Hoàng Chiến Thắng
05/12/2009

*Đẳm: Mường tổ tiên, nơi thanh khiết.

.

Uplanders

Stairs go up to the house
Terraced fields up to pure land

Uplanders
Alike far and wide
Walking is kneeing
Stooping down to the knees
Clouds too hover around the knees

Uplanders
Alike far and wide
Looking up, the sun
Bowing down, sharp cliffs
Never is a bent word spoken

Translated by Quan Jun

Ăn uống có tâm

Chào các bạn,

Ăn uống là luôn là vấn đề thiết yếu trong đời sống con người. Cây, cỏ, hoa, lá là tạo vật của thiên nhiên. Nhưng liệu trong quá trình thưởng thức chúng, chúng ta có cảm nhận được vẻ đẹp đó không?

Mình giới thiệu với các bạn bài viết về Mindful Eating – Ăn uống có tâm (còn gọi là “ăn uống chánh nhiệm” trong thiền học) của thiền sư Thích Nhất Hanh. Hi vọng nhận được nhiều chia sẻ của các bạn về thói quen ăn uống và làm thế nào để có được cuộc sống khỏe mạnh qua cách mà chúng ta ăn mỗi ngày.

.

Ăn có tâm rất dễ chịu. Chúng ta ngồi thật đẹp. Chúng ta nhận biết được những người đang ngồi xung quanh mình. Chúng ta biết rằng đồ ăn đang để trên đĩa. Đây là một sự thực hành sâu sắc. Mỗi một miếng thức ăn là một đại sứ từ vũ trụ. Khi chúng ta gắp một miếng rau, chúng ta nhìn nó nửa giây. Chúng ta nhìn chăm chú để thực sự cảm nhận miếng thức ăn, miếng cà rốt hay là đậu đũa. Chúng ta nhận ra nó với nhận thức rằng “Tôi biết đây là miếng cà rốt. Đây là miếng đậu đũa”. Chỉ mất có vài phần giây thôi.

Khi chúng ta có tâm, chúng ta nhận ra chúng ta đang gắp cái gì. Khi chúng ta cho vào miệng, chúng ta biết chúng ta đang cho cái gì vào miệng. Khi chúng ta nhai, chúng ta biết chúng ta đang nhai cái gì. Điều đó rất đơn giản.

Một số trong chúng ta, khi nhìn vào miếng cà rốt, có thể thấy toàn bộ vũ trụ bên trong nó, có thể thấy ánh mặt trời trong nó, và có thể thấy cả trái đất bên trong nó. Điều đó đên từ toàn bộ vũ trụ cho dinh dưỡng của bạn.

Bạn có thể thích cười với nó trước khi đưa vào miệng. Khi bạn nhai, bạn nhận thức được rằng bạn đang nhai một miếng cà rốt. Đừng đưa bất cứ cái gì khác vào miệng, như các dự án của bạn, những nỗi lo của bạn, sự sợ hãi của bạn, chỉ đưa miếng cà rốt thôi.

Và khi bạn nhai, hãy chỉ nhai miếng cà rốt, không phải là các dự án hay các ý tưởng của bạn. Khi bạn có khả năng sống trong thời khắc hiện tại, ở đây và lúc này. Điều đó đơn giản, nhưng bạn cần phải rèn luyện cách chỉ thưởng thức miếng cà rốt mà thôi. Đây là một điều kì diệu.

Tôi thường dạy “thiền cam” cho học trò của mình. Chúng tôi dành thời gian ngồi với nhau, mỗi người thưởng thức một quả cam. Đặt quả cam lên lòng bàn tay, chúng ta nhìn nó và hít vào thở ra, vì thế mà trái cam trở thành một thực tiễn. Chúng ta không phải ở đây, hoàn toàn là hiện tại, trái cảm cũng không ở đây.

Có một số người ăn một trái cam nhưng không thực sự ăn nó. Họ ăn nỗi lo, sự hãi, tức giận, quá khứ, và tương lai của mình. Họ không thực sự đang ở hiện tại, với cả cơ thể và trí óc hòa quyện.
Khi bạn thực hành thở có tâm, bạn trở nên hoàn toàn ở hiện hữu. Nếu bạn ở đây, cuộc sống cũng ở đây. Trái cam là đại sứ của cuộc sống. Khi bạn nhìn vào trái cam, bạn nhận ra rằng nó chẳng là gì hơn việc quả lớn lên, chuyển màu vàng, rồi màu cam, acid trở thành đường. Cây cam mất thời gian để tạo nên kiệt tác này.

Nếu bạn thức sự ở đây, suy nghĩ về quả cam, thở và cười, trái cam trở thành một điều kì diệu. Điều đó đủ đem lại nhiều hạnh phúc cho bạn. Bạn gọt trái cam, ngửi nó, mất một giây, và đưa vào miệng có suy nghĩ, hoàn toàn cảm nhận được nước cam trong lưỡi. Đây là cách ăn một quả cam một cách có nhận thức. Tạo nên điều kì diệu của cuộc sống. Tạo nên niềm vui.

Một điều kì diệu nữa là Sangha, một cộng đồng là trong đó mọi người đang thực hành giống nhau. Người phụ nữ ngồi kế bên tôi cũng đang thực hành tâm khi ăn sáng. Thật tuyệt vời làm sao! Cô đụng vào đồ ăn một cách có suy nghĩ. Cô thưởng thức mỗi miếng ăn của bữa sáng, giống như tôi. Chúng tôi là anh chị em trên con đường thực hành. Thời gian trôi đi chúng tôi nhìn nhau và cười. Đó là nụ cười của nhận thức. Nó chứng tỏ rằng chúng tôi vui, và chúng tôi đang sống. Đó không phải là một nụ cười ngoại giao. Đó là nụ cười từ nền tảng của khai sáng,của hạnh phúc.

Nụ cười đó có sức mạnh hàn gắn. Nó có thể hàn gắn bạn và bạn của bạn. Khi bạn cười như thế, người phụ nữ kế bên bạn sẽ cười trở lại. Trước đó, có thể nụ cười của cô ấy chưa hoàn toàn chín muồi. Chỉ 90 phần trăm thôi. Nếu bạn cho cô ấy một nụ cười có tâm, bạn sẽ trao cho cô ấy năng lượng để cười 100 phần trăm.

Khi cô ấy cười, sự hàn gắn bắt đầu diễn ra trong cô. Bạn rất quan trọng giúp cô ấy chuyển hóa và chữa lành. Đó là lí do vì sao sự hiện diện của người anh chị em trong thực hành rất quan trọng. Đây cũng là lí do vì sao chúng tôi không nói chuyện trong bữa sáng. Nếu chúng tôi nói chuyện về thời tiết hay tình hình chính trị ở Trung Đông, chúng tôi sẽ không bao giờ nói được cho đủ.

Chúng ta cần tĩnh lặng để thưởng thức sự hiện diện của chúng ta và sự hiện diện của người anh chị em Dharma. Sự tĩnh lặng này rất sống, mạnh mẽ, nuôi dưỡng và chuyển hóa. Nó không phải là sự trán áp hay buồn rầu. Cùng nhau chúng ta có thể tạo nên sự tĩnh lặng thông thái này.

Đôi khi nó được mô tả là “sự tĩnh lặng như sấm” vì nó quá mạnh mẽ.

Hoàng Khánh Hòa dịch.

.

Mindful Eating

Mindful eating is very pleasant. We sit beautifully. We are aware of the people that are sitting around us. We are aware of the food on our plates. This is a deep practice. Each morsel of food is an ambassador from the cosmos. When we pick up a piece of a vegetable, we look at it for half a second. We look mindfully to really recognize the piece of food, the piece of carrot or string bean. We should know that this is a piece of carrot or a string bean. We identify it with our mindfulness: “I know this is a piece of carrot. This is a piece of string bean.” It only takes a fraction of a second.

When we are mindful, we recognize what we are picking up. When we put it into our mouth, we know what we are putting into our mouth. When we chew it, we know what we are chewing. It’s very simple.

Some of us, while looking at a piece of carrot, can see the whole cosmos in it, can see the sunshine in it, can see the earth in it. It has come from the whole cosmos for our nourishment.

You may like to smile to it before you put it in your mouth. When you chew it, you are aware that you are chewing a piece of carrot. Don’t put anything else into your mouth, like your projects, your worries, your fear, just put the carrot in.

And when you chew, chew only the carrot, not your projects or your ideas. You are capable of living in the present moment, in the here and the now. It is simple, but you need some training to just enjoy the piece of carrot. This is a miracle.

I often teach “orange meditation” to my students. We spend time sitting together, each enjoying an orange. Placing the orange on the palm of our hand, we look at it while breathing in and out, so that the orange becomes a reality. If we are not here, totally present, the orange isn’t here either.

There are some people who eat an orange but don’t really eat it. They eat their sorrow, fear, anger, past, and future. They are not really present, with body and mind united.

When you practice mindful breathing, you become truly present. If you are here, life is also here. The orange is the ambassador of life. When you look at the orange, you discover that it is nothing less than fruit growing, turning yellow, becoming orange, the acid becoming sugar. The orange tree took time to create this masterpiece.

When you are truly here, contemplating the orange, breathing and smiling, the orange becomes a miracle. It is enough to bring you a lot of happiness. You peel the orange, smell it, take a section, and put it in your mouth mindfully, fully aware of the juice on your tongue. This is eating an orange in mindfulness. It makes the miracle of life possible. It makes joy possible.

The other miracle is the Sangha, the community in which everyone is practicing in the same way. The woman sitting next to me is also practicing mindfulness while eating her breakfast. How wonderful! She is touching the food with mindfulness. She is enjoying every morsel of her breakfast, like me. We are brother and sister on the path of practice. From time to time we look at each other and smile. It is the smile of awareness. It proves that we are happy, that we are alive. It is not a diplomatic smile. It is a smile born from the ground of enlightenment, of happiness.

That smile has the power to heal. It can heal you and your friend. When you smile like that, the woman next to you will smile back. Before that, maybe her smile was not completely ripe. It was ninety percent ripe. If you offer her your mindful smile, you will give her the energy to smile one hundred percent.

When she is smiling, healing begins to take place in her. You are very important for her transformation and healing. That is why the presence of brothers and sisters in the practice is so important. This is also why we don’t talk during breakfast. If we talk about the weather or the political situation in the Middle East, we can never say enough.

We need the silence to enjoy our own presence and the presence of our Dharma brothers and sisters. This kind of silence is very alive, powerful, nourishing, and transforming. It is not oppressive or sad. Together we can create this kind of noble silence.

Sometimes it is described as “thundering silence” because it is so powerful.

By Thich Nhat Hanh,
Unified Buddhist Church

Cởi bỏ lối nhìn cũ để hướng về tương lai – Giải sân hận

Hirsch cho rằng “đọc thơ là một cuộc phiêu lưu trong sự cách tân, một hành động mang tính sáng tạo, một sự khởi đầu mãi mãi, một cuộc tái sinh của niềm ngạc nhiên”. Stevens gọi người đọc là “học giả của một ngọn nến”. Chăm không đọc Glơng Anak với con mắt soi mói của nhà nghiên cứu cân đong đo đếm câu chữ. Đã có kẻ làm như thế và tuyên tất cả sai bét, riêng mỗi ta đúng. Ngay lối nói ngạo mạn này đã sai lạc tinh thần thông điệp Glơng Anak rồi.

Nếu nhà bác có khả năng giảng giải lang yah, tầm chương trích cú Glơng Anak ở câu, đoạn nào bất kì mà tâm bác chưa tận diệt ppalai tung tian mọi căm thù sâu kín, là nhà bác còn chưa hiểu Glơng Anak. Khi tâm hồn bạn còn trì nặng nỗi oán trách nhỏ bé, suy nghĩ nhỏ bé, hay bạn còn nuôi ý định âm u triệt tiêu ai đó, không biết cảm thông và tha thứ, là bạn chưa hiểu tinh thần Glơng Anak. Khi bạn chưa mở lòng với con người hèn yếu xung quanh, với mọi sinh thể trên thế gian mỏng manh này, là bạn chưa thể sẵn sàng đón nhận thông điệp Glơng Anak.

Inrasara

Trà sư và kẻ sát nhân

Taiko, một tướng quân ở Nhật vào thời Tokugawa, học trà đạo gọi là Cha-no-yu, với trà sư Sen no Rikyu, một vị thầy về loại nghệ thuật diễn tả an lạc này.

Cận tướng của Taiko là Kato xem sự say mê trà đạo của chủ là bê trễ công việc quốc gia, nên Kato quyết định phải giết Sen no Rikyu. Hắn giả vờ viếng thăm trà sư và được mời vào uống trà.

Trà sư, rất thành thạo trong nghệ thuật của thầy, liếc mắt qua là biết ngay ‎ý định của viên võ tướng, nên trà sư mời Kato để kiếm ở ngoài trước khi vào phòng cho nghi lễ trà đạo, giải thích rằng trà đạo chính là biểu hiện của an bình.

Kata không nghe theo. “Tôi là võ tướng,” hắn nói. “Tôi luôn luôn mang kiếm theo người. Trà đạo hay không trà đạo, tôi giữ kiếm với tôi.”

“Được. Cứ mang kiếm vào và uống trà,” Sen no Rikyu bằng lòng.

Ấm nước đang sôi trên bếp than. Đột nhiên Sen no Rikyu nghiêng ấm nước. Hơi nước bốc xì xèo, khói và tro bay đầy phòng. Viên võ tướng giật mình chạy ra ngoài.

Trà sư xin lỗi. “Đó là lỗi của tôi. Vào lại và uống tí trà. Kiếm của anh bị dính đầy tro, tôi có nó đây, sẽ chùi nó sạch sẽ và trả lại cho anh.”

Trong thế kẹt này, chàng võ tướng biết là mình không thể giết trà sư được, hắn bèn bỏ luôn ‎ý định đó.

.

Bình:

• Theo truyền thuyết, trà do thiền sư Nhật Eichu (永忠) mang về từ Trung quốc, và năm 815 Eichu dâng trà xanh sencha cho Thiên hoàng.

Đến thế kỷ 12, thiền sư Eisai, cũng từ Trung quốc về, giới thiệu cách dùng trà bột gọi là Matcha mà ngày nay vẫn còn dùng trong nghi lễ trà đạo. Nghi thức Matcha này được dùng đầu tiên trong các tu viện Phật giáo.

Đến thế kỷ 13, thời Shogun Kamakura, giới võ sĩ đạo (Samurai) nắm toàn quyền cai trị và trà đạo trở thành một dấu hiệu qúy tộc.

Đến thế kỷ 16, mọi người Nhật đều uống trà, và trà sư Sen no Rikyu trong truyện này, được xem là thầy về trà đạo cho đến ngày nay. Sen no Rikyu là học tò của Takeno Jōō’s, và đi theo triết l‎ý ichi-go ichi-e của thầy, dạy rằng mỗi cuộc gặp gỡ đều qu‎ý báu vì không bao giờ có thể lập lại được.

Sen no Rikyu thiết lập các nguyên lý của trà đạo gồm: Hòa (和 wa), kính (敬 kei), thanh (清 sei), và tĩnh (寂 jaku)—là các nguyên lý vẫn còn sử dụng trong trà đạo ngày nay. (Nguồn: wikipedia).

• Trà đạo là một hình thức thiền tập, và các thiền sư uống trà thường xuyên. Đây chính là trà thiền, tức là chánh niệm trong thiền học–tập trung tư tưởng vào việc mình đang làm, như là nấu nước, múc trà, khuấy trà, mời trà, uống trà… Bởi vậy, trong khi sửa soạn trà, chủ và khách chẳng ai nói gì cả, chỉ tập trung tư tưởng vào việc làm trà, và khi uống cũng rất ít nói. Đó là trà thiền.

• Các thiền sư thường là trà sư. Và dĩ nhiên là khi quen tĩnh lặng thì sự nhậy cảm của ta tăng lên rất cao. Sen no Rikyu nhận ra tâm ‎ý của Tako cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.

Điều quan trọng là cách xử sự nhẹ nhàng lịch sự của Sen no Rikyu làm Tako biết là vị trà sư này đã đọc được hết ý nghĩ của mình. Mình không phải là đối thủ của ông ta. Rút lui là thượng sách.

• Điều quan trọng khác nữa là trà sư cho Tako con đường rút lui trong danh dự, không bóc trần ‎ý định của hắn ra ánh sáng để ép hắn vào đường cùng.

(Trần Đình Hoành bình)

.

The Tea-Master and The Assassin

Taiko, a warrior who lived in Japan before the Tokugawa era, studied Cha-no-yu, tea etiquette, with Sen no Rikyu, a teacher of that aesthetical expression of calmness and contentment.

Taiko’s attendant warrior Kato interpreted his superior’s enthusiasm for tea etiquette as negligence of state affairs, so he decided to kill Sen no Rikyu. He pretended to make a social call upon the tea-master and was invited to drink tea.

The master, who was well skilled in his art, saw at a glance the warrior’s intention, so he invited Kato to leave his sword outside before entering the room for the ceremony, explaining that Cha-no-yu represents peacefulness itself.

Kato would not listen to this. “I am a warrior,” he said. “I always have my sword with me. Cha-no-yu or no Cha-no-yu, I have my sword.”

“Very well. Bring your sword in and have some tea,” consented Sen no Rikyu.

The kettle was boiling on the charcoal fire. Suddenly Sen no Rikyu tipped it over. Hissing steam arose, filling the room with smoke and ashes. The startled warrior ran outside.

The tea-master apologized. “It was my mistake. Come back in and have some tea. I have your sword here covered with ashes and will clean it and give it to you.”

In this predicament the warrior realized he could not very well kill the tea-master, so he gave up the idea.

# 55

Lĩnh Nam Chích Quái – Truyện Trầu Cau


Thời thượng cổ có một vị Quan Lang (1) sức vóc cao lớn, nhà vua ban tên là Cao cho nên lấy Cao làm họ. Cao sinh hạ được hai người con trai, con cả tên là Tân, con thứ tên là Lang (2). Hai anh em giống nhau như đúc, trông không thể phân biệt nổi. Đến năm 17, 18 tuổi, cha mẹ đều từ trần, hai anh em đến theo học đạo sĩ họ Lưu. Nhà họ Lưu có một người con gái tuổi cũng khoảng 17, 18, muốn kết làm vợ chồng. Nàng chưa biết người nào là anh, mới bày một chén cháo và một đôi đũa, cho hai anh em cùng ăn. Người em nhường anh ăn trước. Nàng về nói với cha mẹ xin làm vợ người anh, tình vợ chồng ngày càng nồng thắm.

Về sau, người anh có thể đối xử lạt lẽo với em, người em tự lấy làm tủi hổ, cho rằng anh lấy vợ rồi nên quên mình, bèn không cáo biệt mà bỏ đi. Đi tới giữa rừng, gặp một dòng suối sâu, không có thuyền để qua, đau đớn khóc lóc mà chết, hóa thành một cây cau mọc ở ven bờ. Người anh ở nhà không thấy, từ giã vợ đi tìm. Tới chỗ đó, thấy em đã chết, gieo mình chết, hóa thành phiến đá, nằm ôm quanh gốc cây. Người vợ thấy chồng đi lâu không về bèn đi tìm chồng, tới chỗ này thấy chồng đã chết, cũng gieo mình ôm lấy phiến đá mà chết, hóa thành một cây dây leo cuốn quanh phiến đá, lá có mùi thơm cay (tức là dây trầu). Cha mẹ nàng họ Lưu đau xót vô cùng, bèn lập miếu thờ. Người trong vùng đi ngang qua chỗ đó đều đốt hương cúng vái, ca tụng anh em hòa thuận, vợ chồng tiết nghĩa.

Khoảng tháng bảy tháng tám, khí nóng chưa tan, Vua Hùng đi tuần thú, dừng chân nghỉ mát ở trước miếu, thấy cây lá xum xuê, giây leo chằng chịt, vua leo lên phiến đá xem xét, hỏi rồi mới biết có chuyện như vầy, than thở hồi lâu, truyền cho bầy tôi hái lấy lá trầu, vua nhai rồi nhổ bọt lên phiến đá, thấy có sắc đỏ, mùi vị thơm ngon bèn lấy mang về. Rồi cho lấy lửa nung đá làm thành vôi, lấy vôi ăn với trái cau và lá trầu, mùi vị thơm nồng, dòn, ngọt, má đỏ môi hồng, nên cho thiên hạ ai ai cũng trồng cau trầu khắp nơi, gặp việc cưới hỏi, tế lễ lớn nhỏ đều lấy trầu cau làm đầu. Đó chính là cây cau, cây trầu và vôi vậy.

Nguồn gốc cau trầu nước Nam ta là như thế đó.

Chú thích:

1) Đời Hùng Vương, con trai gọi là Quan Lang, con gái gọi là Mỵ Nương
2) Tân Lang: chữ Hán 檳榔, hai chữ Tân Lang ghép lại chữ Hán có nghĩa là cây cau.

(Nguyễn Hữu Vinh dịch)
.

Bình:

• Tục nhai trầu và cau là tục lệ chung từ thời cổ đại tại nhiều quốc gia vùng Nam Châu Á Thái Bình Dương–Ấn Độ, Pakistan, vài tỉnh ở Trung Quốc, Thái Lan, Sri Lanka, Papua New Guinea, Bangladesh, Đài Loan, Miến Điện, Kampuchia, Solomon Islands, Lào, Maldives, Indonesia, Phi Luật Tân, và Việt Nam.

Tại các nơi này trầu cau thường là một phần của giao tế xã hội, có lẽ vì tích cách kích thích nhè nhẹ của nó, như là chúng ta uống rượu nhẹ ngày nay. Cau còn được dùng nhiều trong y học cổ truyền, như thuốc trừ đau răng và sán lãi.

Trong tiếng Anh, cau là areca nut (không phải là betel nut như nhiều người lầm tưởng), và lá trầu là betel leaf. Ăn trầu (nhai trầu cau) là “chewing areca nut and betel leaf”.

• Dù lý do giải thích (em thấy anh có vẻ thương chị dâu hơn mình nên bỏ đi) nghe gượng ép và không hợp lý mấy, bài này rất rõ là sự chấm dứt của tình trạng một người phụ nữ sống chung với 2 anh em dưới một mái nhà. Đây là một dấu hiệu khác của sự dẫy chết của chế độ mẫu hệ trong văn hóa chính thức của người Việt, nói đúng ra là người Kinh. Vì văn hóa mẫu hệ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay tại vài bộ tộc miền cao của nước ta.

Theo tục nối dây của người Êđê chẳng hạn, khi người chồng mất, người phụ nữ có quyền lấy một người khác trong gia đình chồng, như là anh hay em chồng, hay chú chồng, cháu chồng, v.v… để tiếp tục “nối dây” cho hai gia đình. Dĩ nhiên, đó không phải là đa phu, nhưng nó nói rằng liên hệ tình cảm giữa người phụ nữ và thân nhân bên nhà chồng là chuyện trong vòng lễ giáo một lúc nào đó, không phải là chuyện vô đạo đức đến mức sống chung trong một mái nhà cũng là chuyện không nên, như truyền thống Khổng giáo mà truyện này ám chỉ.

(Trong truyền thống đa thê của Trung quốc, đàn ông có thể lấy vài chị em một nhà, nhưng đàn bà chì có một chồng. Chồng chết thì ở vậy nuôi con. Tam tòng: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.)

• Lịch sử cổ đại của Việt Nam có nhiều điểm chính chỉ ra chế độ mẫu hệ:

Truyện Hồng Bàng là huyền thoại, dù là có vẻ phụ hệ bên ngoài, nhưng như đã phân tích, tính mẫu hệ rất nặng trong truyện.

— Kế đến là An Dương Vương, lại là huyền thoại, dù là đàn ông, nhưng nhân vật chính trong đó là phụ nữ, Mỵ Châu, nắm bí mật quốc gia. Chẳng thấy chàng hoàng tử nào của An Dương Vương có mặt.

— Hai vị vua đầu tiên trong lịch sử (không phải là huyền thoại) là Hai Bà Trưng.

— Người tên tuổi kế tiếp trong lịch sử, đến cả 400 năm sau, là Triệu Thị Trinh, tức Bà Triệu.

— Sách sử nói hai thứ sử của nhà Hán cai trị Việt Nam là Nhâm Diên (Giao Chỉ) và Tích Quang (Cửu Chân) phải dạy dân ta cưới hỏi và các lễ nghĩa khác. Dĩ nhiên không phải vì dân Việt không biết các lễ nghĩa này, nhưng có lẽ dân Việt dùng một lễ nghĩa khác—lễ nghĩa mẫu hệ thay vì lễ nghĩa phụ hệ của Khổng giáo từ Trung quốc.

• Các tên dùng trong truyện trầu cau rất thú vị:

1. Quan Lang họ Cao, rất gần âm Cau. Phải chăng cây cau có tên đó vì cao?

2. Theo Nguyễn Hữu Vinh, Tân Lang (tên hai cậu con trai), chữ Hán viết chung có nghĩa là “cây cau”.

Nhưng “tân lang” cũng có nghĩa là “người đàn ông mới”, đại diện cho văn hóa mới, phụ hệ, từ phương Bắc?

3. Tên của “hai” cậu (Tân và Lang) lại có nghĩa là “một” cây cau, hay “một” người đàn ông. Đây là nghĩa l‎ý chính trong tục “nối dây”: Tất cả các người đàn ông trong một gia đình là “một” sợi dây để nối vào vợ. (Hay ngược lại).

4. Họ của cô con gái là họ Lưu. Một trong những nghĩa thông dụng nhất của chữ “lưu” mà ta vẫn dùng cho đến ngày nay là “giữ lại, lưu lại”.

Vậy thì giữ lại gì? Thưa, giữ lại đạo nghĩa (cổ truyền), vì trong truyện bố cô gái là đạo sĩ họ Lưu.

5. Và họ nhà trai, là Quan Lang, tức là quyền lực chính trị.

Rất rõ đây là đụng chạm giữa hai nền văn hóa: Văn hóa mẫu hệ cũ tại bản xứ, và văn hóa mới của quyền lực chính trị từ phương Bắc sang.

Hậu quả là sống theo kiểu cũ không được, thì chết để cùng sống chung mỗi khi ai đó ăn trầu.

(Trần Đình Hoành bình)

Thứ sáu, 12 tháng 3 năm 2010

Bài hôm nay

Mặt trời đến đây rồi – The Beatles, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Nguyễn Minh Hiển.

Điệu sầu Tiến sĩ – PhD Blues, Nhạc Xanh, Video, Văn Hóa, anh Nguyễn Minh Hiển.

Chìa khóa thất bại , Danh Ngôn, song ngữ, anh Nguyễn Hồng Hải.

Phụ nữ khóc, Danh Ngôn, song ngữ, chị Phạm Thanh Hằng.

Mang giận, Danh Ngôn, song ngữ, chị Trần Thị Thu Hiền.

Mái tóc không ngôi , Thơ, anh Nguyễn Đức Hòa.

Tự Khúc, Thơ, chị Vũ Hồng.

Chiều Lam Kinh, Văn Hóa, Nước Việt Mến Yêu, anh Trần Huiền Ân.

Cởi bỏ lối nhìn cũ để hướng về tương lai – Huyền nghĩa của Xả , Trà Đàm, anh Inasara.

Di chúc, Thiền, Trà Đàm, Văn Hóa, song ngữ, anh Trần Đình Hoành.

Suy nghĩ “ra ngoài cái hộp”, Trà Đàm, anh Trần Đình Hoành.
.

Scholarship

Australian Leadership Awards Scholarships

http://www.ausaid.gov.au/scholar/ala.cfm

Applications for the 2011 intake open on 10 March 2010
and close on 30 June 2010

The Australian Leadership Awards (ALA) aim to develop leadership and build partnerships and linkages within the Asia-Pacific, while addressing priority development issues of the region.

The ALA program comprises ALA Scholarships and ALA Fellowships. These awards are for leaders or those who have potential for leadership roles that can influence social and economic reform, both in their own countries and in the Asia-Pacific region.

ALA Scholarships are for study at Masters or Doctorate level in an Australian university. Study programs must relate to a priority development area: disability, economic growth, education, environment, food security, gender, governance, health, human rights, infrastructure, regional stability, rural development, water and sanitation. ALA scholars also undertake a Leadership Development Program in Australia.

As ALA Scholarships are an investment in the future of the Asia-Pacific region, ALA scholars are required to return to their home country or the region for two years after they have completed their studies in Australia.

Selection for ALA Scholarships is competitive, based on leadership qualities, academic excellence and potential impact on return home. To be eligible to apply, you must meet the following criteria.

For more information, please see:

http://www.ausaid.gov.au/scholar/ala.cfm
.

Tin quốc tế và quốc nội tại vn.news.Yahoo >>>
.

Tin học tập – việc làm

IIE Vietnam news

American Center Hanoi Event news

ICVE: Học bổng Hoa Kỳ 2010

Japan/World Bank Scholarship

Rotary World Peace Fellowships

Fellowship at UNFPA Special Youth Programme

PhD Scholarships at The IT University of Copenhagen

Thông Tin Kinh Tế

Chứng khoán

* VNINDEX

* HNX

Giá vàng VN

Giá vàng Mỹ

Tỷ giá ngoại tệ

Thống kê kinh tế

Thời tiết hôm nay
.

Bài hôm trước >>>

Chúc các bạn một ngày tươi hồng !

:-) :-) :-) :-) :-) :-)

Đọt Chuối Non

“Mặt trời đến đây rồi” – The Beatles

Chào các bạn,

Những ngày đầu tháng 3 này ở miền Đông Bắc nước Mỹ thời tiết thay đổi thật kỳ diệu. Chỉ trước thứ 7 tuần trước, trời còn xám và lạnh, mà sau thứ 7 chủ nhật ngày 8/3 vừa rồi, thời tiết ấm hẳn và ông mặt trời chiếu sáng cả ngày.

Ánh nắng vàng trải đều trên các ngọn cây tuy chưa ra lá. Nắng ấm tràn vào xe cộ trên đường. Trời nắng, xanh và cao hơn. Mình bắt đầu đi bộ buổi trưa để tập thể dục. Chỉ sau chủ nhật cuối tuần này, cả nước Mỹ sẽ bắt đầu ngày mới sớm hơn một tiếng để ngày có nhiều ánh sáng mặt trời hơn. 🙂

Chúng ta hôm nay hãy cùng nghe bài hát “Here comes the sun” của ban nhạc Beatles nói về sự vui mừng chào đón sự đến của mặt trời tuyệt vời đó nhé. 🙂

“Here comes the sun” được sáng tác bởi George Harrison và ra mắt trong album “Abbey Road” của Beatles vào năm 1969. George kể như sau về bài hát trong Beatles Anthology:

“Here Comes the Sun” was written at the time when Apple was getting like school, where we had to go and be businessmen: ‘Sign this’ and ‘sign that’. Anyway, it seems as if winter in England goes on forever, by the time spring comes you really deserve it. So one day I decided I was going to sag off Apple and I went over to Eric Clapton’s house. The relief of not having to go see all those dopey accountants was wonderful, and I walked around the garden with one of Eric’s acoustic guitars and wrote “Here Comes The Sun”.

“Mặt trời đến đây rồi được viết vào thời điểm mà (hãng thu âm) Apple thích trường học, nơi chúng tôi phải đi và làm dân kinh doanh: ‘ký cái này’ và ‘ký cái kia’. Dù sao, tưởng như mùa đông ở nước Anh kéo dài mãi mãi, khi mùa xuân đến bạn thực sự xứng đáng (vì đã đợi mùa xuân mỏi cổ?). Do đó một ngày tôi quyết định bỏ Apple sớm và qua nhà Eric Clapton chơi. Sự thoải mái của việc không phải thấy hội kế toán ẩm ương đó thật tuyệt vời, và tôi đi dạo quanh vườn với một trong những cây ghi ta của  Eric và viết “Here Comes The Sun”.

Sau đây chúng ta có 3 video, 2 video đầu do George Harrison, ca sĩ/nhạc sĩ thể hiện. Đặc biệt ở video thứ 2 là do George và những người bạn chơi  trong buổi hòa nhạc cho Bangladesh vào năm 1971 ủng hộ cho đất nước Bangladesh sau cuộc chiến tranh giành độc lập và tai nạn thiên nhiên. Video thứ 3 là độc tấu ghi ta bài hát này của anh Per-Olov Kindgren. Sau đó là lời nhạc.

Chúc các bạn một ngày mặt trời đến,

Hiển.


Here Comes The Sun – George Harrison
.

Concert for Bangladesh: Here Comes The Sun.
.

Per-Olov Kindgren plays Beatles’ Here Comes The Sun in his arrangement for classical guitar

The Beatles – Here Comes The Sun
Artist: The Beatles

Here comes the sun, here comes the sun,
and I say it’s all right

Little darling, it’s been a long cold lonely winter
Little darling, it feels like years since it’s been here
Here comes the sun, here comes the sun
and I say it’s all right

Little darling, the smiles returning to the faces
Little darling, it seems like years since it’s been here
Here comes the sun, here comes the sun
and I say it’s all right

Sun, sun, sun, here it comes…
Sun, sun, sun, here it comes…
Sun, sun, sun, here it comes…
Sun, sun, sun, here it comes…
Sun, sun, sun, here it comes…

Little darling, I feel that ice is slowly melting
Little darling, it seems like years since it’s been clear
Here comes the sun, here comes the sun,
and I say it’s all right
It’s all right

Điệu sầu Tiến sĩ – Ph.D blues

Frans Prins và Pascal Wilhelm

Chào các bạn,

Một phần lớn độc giả của vườn chuối là các bạn du học sinh đang theo học các chương trình Thạc Sĩ, Tiến Sĩ ở nước ngoài. Hôm nay mình giới thiệu với các bạn bài hát vui “Ph.D blues” để cùng cười mỉm với các anh chị em đang làm tiến sĩ và phần nào giúp các bạn tính toán chuyện học tiến sĩ hiểu được phần nào tâm sự nhé 🙂

Mình hồi trước cũng ngồi phòng thí nghiệm cả ngày nên mình có lẽ hiểu được phần nào nỗi vất vả, sự thử thách rất ly kỳ thú vị của các anh chị em nghiên cứu sinh. Cùng trên hành trình lên tây trúc thỉnh kinh, cũng có bao suy tư đời thường khác xen vào “cuộc sống kinh kỳ với bút nghiên” 🙂

Tâm sự này được chia sẻ trong bài hát Ph.D blues sau đây. Ph.D blues được sáng tác bởi hai anh bạn Frans Prins and Pascal Wilhelm khi họ làm nghiên cứu sinh về lĩnh vực tâm lý giáo dục ở trường Leiden, Hà Lan. Các bạn có thể đọc thêm về “dự án Ph.D blues ở trang web của bài hát 🙂

Dưới đây là video của bài hát, trước đó là lời dịch Việt, sau đó là lời nhạc Anh.

Chúc các bạn một ngày “Ph.D sunshine” 🙂

Hiển.
.

Điệu sầu Tiến Sĩ

Tôi là sinh viên tiến sĩ
Tôi làm việc đêm ngày
Tôi đang viết luận án
Và lãnh lương ăn mày.

Tôi nghĩ đến kinh doanh
Nhưng chẳng quyết định được
Tôi đợi và đợi
Rốt cuộc vào đường khoa học

Lấy một mảnh bằng, nếu bạn chẳng biết làm gì
Tôi tìm phiêu lưu
Tôi tìm chân l‎ý

Tôi đọc
Mọi thứ tôi lục được
Tiêu cả hai tháng cạnh máy photo
Đến mờ cả mắt
Rồi cần thêm thống kê
Và ngạc nhiên thay
Thấy chẳng có gì liên hệ.
Thiên đàng là đây sao?

Lấy một mảnh bằng, nếu bạn chẳng biết làm gì
Tôi tìm phiêu lưu
Tôi tìm chân l‎ý

Bàn luận với một hai
Tay đàn anh
Khen họ đấo để
Vì cái Tôi họ cần được vuốt ve.

Rồi tôi gởi bài tường trình đến tòa báo
Vào mùa thu
Đến mùa xuân bài bị gạt bỏ
Vì thí nghiệm không đủ mẫu.

Lấy một mảnh bằng, nếu bạn chẳng biết làm gì
Bạn biết tôi cảm giác thế nào không?
Tôi cảm như cọp trong sở thú.

Phải thuyết trình
Trong cuộc họp lớn thật lớn.
Tôi trong cuộc học lớn này
Chẳng có ma nào tham dự.

Về đến nhà, vợ đã bỏ đi
Vì nàng chẳng hiểu được.

Theo đuổi khoa học
Làm bạn cô đơn cuối đường.
Theo đuổi khoa học
Làm bạn cô đơn cuối đường.
Theo đuổi khoa học
Làm bạn cô đơn cuối đường.


Ph.D. Blues

Ph.D. Blues (Prins/Wilhelm)

I’m a Ph.D. student,
I’m working night and day.
I’m writing a dissertation,
and get a lousy pay.

I thought I’d be in business,
but I could not decide.
I waited and I waited,
and ended up in science.

Getting a degree. If you don’t know what to do.
I was looking for adventure
I was looking for the truth.

I started out with reading,
all pieces I could find.
Spent two months at the xerox,
till I was half blind.

Then I needed some data,
and much to my surprise.
I found low correlations,
Is this paradise?

Getting a degree. If you don’t know what to do.
I was looking for adventure
I was looking for the truth.

Having a discussion,
with a senior or two.
Giving all these compliments,
’cause their egos need a boost.

Then I sent my work to a journal,
it was in the fall.
In springtime it got rejected,
’cause my sample was too small.

Getting a degree. If you don’t know what to do.
You know how I feel?
Feel like a tiger in the zoo.

Had to do a presenation,
at a big big big conference.
I was in this great symposium,
which no one would attend.

When I got home my love had left me,
’cause she could not understand.
Leading your life in science,
makes you lonely in the end.

Getting a degree. If you don’t know what to do.
Leading a life in science,
Makes you lonely in the end.

Leading a life in science,
Makes you lonely in the end.

Leading a life in science,
Makes you lonely in the end.

Mang giận

Holding on to anger is like grasping a hot coal with the intent of throwing it at someone else; you are the one who gets burned.

Buddha

.

Mang giận dữ trong người giống như việc cầm một hòn than nóng đỏ với dự định ném nó vào người khác, chính bạn là người bị phỏng.

Trần Thị Thu Hiền dịch

Mái tóc không ngôi

Như mái tóc không ngôi

Dù gắng chải chẳng bao giờ thẳng nếp

Đời sương gió trên vũng lầy…tuổi tác

Được làm kiếp rong chơi cũng vui thú lắm rồi!

Đã bao lần tôi tự hỏi trong tôi

Liệu mình có thỏa lòng cho cuộc sống

Khi áo cơm, gạo tiền quẩn quanh bận rộn

Song hành cùng lối tư duy như kẻ sỹ giang hồ.

Đã bao lần những suy nghĩ vẩn vơ

Về con người, về đất trời, tâm tưởng…

Sao không là cảnh yên bình hay nụ cười thân thiện

Sao không coi nhau như bạn hữu tình thâm…?

Chà, có lẽ mình tựa một kẻ hâm hâm

Lạc lõng ngu ngơ trên lối đời nghiêng ngã

Bước chân thấp…cao trật trầy bỡ ngỡ

Liệu có đi qua nhân gian chai đá tật nguyền.

Chà, có lẽ rằng mình rồi sẽ cô đơn

Vác “Thập tự…lo toan” trong chiều lặn lội

Lòng vòng đến bở hơi đường tít mù vô lối

Vẫn ngoảnh mặt nghênh ngang tên gàn dở…điên khùng.

Tôi đấy. Trước gương soi mái tóc ngôi…không

Có chải bao nhiêu chẳng khi nào thẳng nếp

Thôi thì đành lỡ lúc mình nhọc mệt

Cười một cái…bâng quơ quên hết chuyện. Đời ơi!

Phố nắng 03/2010.
.
Nguyễn Đức Hoà

Tự Khúc


Trù trưa,

tiếng võng năm nào

Nghe như năm tháng

đụng vào… tháng năm

Thôi rồi!

chợt tuổi mười lăm

bay theo phía gió

xa xăm…

bóng gầy

Sợ là

một hạt sương bay,

rơi vào mắt mẹ

thêm cay …một đời.

Vũ Hồng

Chiều Lam Kinh

Từ Thanh Hóa theo quốc lộ 47 đi về hướng tây, ruộng đồng và xóm làng nối tiếp. Núi Vọng Phu xa mờ in màu xanh đậm hơn lên nền trời có dáng người mẹ dắt con rõ hơn núi Mẹ Con ở tây bắc Khánh Hòa, đi trong đồng Tuy Hòa (Phú Yên) thấy hai đỉnh cao thấp liền nhau, đúng nghĩa Mẹ/Con chứ không hề bồng bế, ngóng trông.

Đã đến Lam Kinh, trời chiều đầy mây xám âm u. Một vài tia nắng lóe lên rồi tắt ngấm. Không gian thật tĩnh mịch. Ở đây có dấu vết của một khúc mương rộng. Người hướng dẫn bảo đó nguyên là con sông đào, tên là sông Ngọc. Ông Lê Hối, tiền bối ba đời của vua Lê Lợi từ Ngọc Lặc đưa gia đình về đây xây dựng cơ ngơi. Sông dẫn nước về cái hồ gọi là Hồ Tây. Bắc qua sông có cầu Bạch Ngọc, thượng gia hạ kiều. Năm 1433 điện Lam Kinh được xây dựng, sau đó là những bia, mộ các vua Lê, nay thuộc xã Xuân Lâm huyện Thọ Xuân, huyện nằm ở vị trí trung tâm tỉnh Thanh Hóa. Qua khỏi sông đào thấy một hố trũng sâu, được biết xưa là một giếng nước lớn.

Cung điện Lam Kinh còn lại là một bãi cỏ rộng. Rải rác khắp bãi cỏ, xếp hàng ngay ngắn là những phiến đá táng chân cột, phần dưới hình vuông mỗi cạnh chừng 6 tấc, phần trên là khối viên trụ nội tiếp, màu đen xám, nhẵn láng. Vài ba con rồng đá không còn đủ hình dạng, con thì vỡ đầu, con thì mất thân, con thì rạn nứt. Nhìn những chân cột ta có thể hình dung được bề thế nguy nga của cung điện Lam Kinh ngày ấy. Nền phía trong cao hơn, và như để chống đỡ sự đổ nát, có chất một dãy bao cát mà phần lớn đã mục rách, trông thật thảm thương! Một vài người dân nói: “Cho đến năm 1960 cung điện Lam Kinh còn khá tốt, sau đó mới bị dỡ phá”. Chúng tôi nhìn chung quanh, nhận biết khá rõ ràng dấu tích của chân thành. Ở một góc là cây đa già tua tủa rễ phụ. (Mấy năm sau, xem truyền hình thấy Lam Kinh được trùng tu, tôi mừng thầm. Không phải mừng việc trùng tu mà mừng mình được đến Lam Kinh khi còn là phế tích hoang tàn, khỏi phải chứng kiến một Lam Kinh mới toanh, chẳng biết chỗ nào thật chỗ nào giả). Trong nhà bảo tàng có trưng bày mấy viên gạch xây thành, khối chữ nhật có hai lỗ vuông để đóng chốt lại với nhau, ghi số đo: dài 75cm, rộng 20cm, cao 15cm, nặng 43kg. Gạch nền cung điện lớn hơn, dài 85cm, rộng 40cm, cao 15cm, nặng đến 85kg.

Vào trong nữa là mộ vua Lê Thái Tổ. Qua khỏi hàng trụ biểu đến vòng thành thấp. Nền sân lát gạch. Bốn con voi quay đầu vào mộ. Hai bên mỗi bên một hàng các con vật: kỳ lân, tê giác, ngựa, cọp. Rồi hai vị quan văn võ. Tất cả đều bằng đá, nét chạm khắc có phần đơn sơ. Mộ vua hình chữ nhật, xây gạch, không có hoa văn, họa tiết. Một bệ nhỏ hình chữ nhật để cắm nhang. Dẫu là mộ thật hay mộ giả thấy cũng rất giản dị, hết sức giản dị.

Bia Vĩnh Lăng dựng ở phía trước, góc ngoài thành nơi có cây đa già. Nhà bia mới xây lại, phía trước thềm còn dấu hai chân cột cũ. Bia thì người hướng dẫn nói vẫn là bia xưa, cao 2,97m, rộng 1,94m, dày 0,27m. Chân rùa đội bia có 6 móng, móng cuối bị khuyết, nhỏ hơn. Hình rồng chạm trên bia trông giống con rắn, nhỏ và dài, uốn lượn gấp khúc nhiều đoạn, chân có 3 móng. Tại Bảo tàng lịch sử Hà Nội có một bia Vĩnh Lăng phục chế, đường nét còn mới, sắc sảo.

Bên kia đường đi Ngọc Lặc là lăng mộ của các vua Lê Thái Tông, Thánh Tông, Hiển Tông, Túc Tông và bà Ngọc Dao… hoang vu hơn. Có chỗ bia đã mất chỉ còn con rùa và con rùa cũng không có đầu!

Chiều đang xuống nhanh. Trên tàn cây những con ve sầu réo dài từng khúc ca buồn. Bãi cỏ sẫm màu lại, gần với màu của những khối đá chân cột. Vài ba con bò vừa bước đi chậm chạp vừa nhởn nhơ gặm cỏ. Rừng núi Lam Kinh dần dần chìn ẩn trong màn sương đang dần dần hiện lên. Người già nhất trong nhóm chúng tôi, ông Ba Nhữ, mắt mơ màng đọc hai câu thơ Thanh Quan:

Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương…

Trần Huiền Ân

Cởi bỏ lối nhìn cũ để hướng về tương lai – Huyền nghĩa của XẢ


Xả là buông bỏ, một trong những đức hạnh quan yếu của đạo Phật. Xả, tâm thức ta vững như bàn đá. Xả, ta độc lập với vui buồn, sân hận.

Câu chuyện: Rija Nưgar vừa qua, vài bạn văn Chăm đề cập đến tính ích kỷ của Chăm. Không là ích kỷ sao, khi bí quyết xây tháp đã tiệt mất kỹ thuật cao cường? Không là ích kỷ sao, khi lớp học ngày xưa chỉ có mỗi thầy với một hay vài trò, như thể bí truyền? Hay lối viết giấu chữ ppadơp akhar, sách không cho ai mượn, v.v…, không gọi là tâm ích kỷ thì còn kêu là gì? Anh bạn viện dẫn tục ngữ:

Sunuw đơ bauh habei – Gru si brei đa ka abih.
Bùa bé chỉ bằng củ khoai – Thầy muốn cho ai, e là mất hết.

Kiến thức bé xíu thôi, nếu thầy cho hết thì cái bụng trống trơn, còn chi để ra oai thể hiện uy quyền. Một bạn phản đối quyết liệt lối hiểu này. Rằng Chăm rất nghệ sĩ tính, nghĩa là hào hoa, chịu chơi. Anh muốn dịch câu trên theo kiểu khác, qua dị bản khác, mang ý nghĩa khác:

Sunuw đơ bauh habei – Gru si brei đa ka o hacih.
Bùa bé chỉ bằng củ khoai – Thầy muốn cho sợ [ai] chưa sạch.

Nghĩa là, thầy muốn ban phát lắm, nhưng sợ đầu óc trò không mang vác nổi, hay tâm trò chưa tẩy sạch tham sân si, sẽ dùng chính cái bùa này làm điều bậy bạ. Ý này tôi đã một lần đề cập trong một bài viết. Ông Thành Tín được Nưbi ban cho bài thuốc trừ rắn độc, ông không truyền cho ai, ngay cả với con. Ví ông giấu kín bí quyết để trục lợi thì miễn bàn, đằng này, ông sẵn sàng bỏ buổi cày lặn lội qua chục cây số để chữa trị vô vị lợi cho người bị nạn. Không phải ông không tin người, nhưng biết sao bây giờ? Đã xảy ra bao nhiêu chuyện đau lòng nơi cõi nhân gian này, ai biết được?

Đúng sai không bàn, sự thể ở đây chứng tỏ ông không mang tâm ích kỉ.

Chăm ít cho sách mượn, có lí do chính đáng của nó: văn hóa Chăm chưa trải qua kỹ thuật in ấn, có được một bản chép tay là chuyện thiên nan vạn nan. Nơi đó không ít vị ppalơm tapuk mượn rồi giấu đi. Nên, nếu bác thích thì hãy qua nhà tớ mà chép. Không hợp tình sao?

Các vị đạo sư Bà-la-môn như Vivekananda, Chandra có bao giờ giấu bí quyết đâu! Họ nói tất đấy chớ. Nói và bỏ đi. Buông bỏ, chối bỏ, cắt đứt, thả đi, phóng thích, ra đi, từ bỏ, rời khỏi, triệt tiêu, xua đuổi, dứt bỏ, nhổ bật, bứt rời… là huyền nghĩa của XẢ. Thầy không truyền dạy cho bạn, e là bạn chưa chuẩn bị tâm và trí để đón nhận. Trí chưa thông, bạn bị tẩu hỏa nhập ma như chơi. Tâm chưa sạch, bạn dùng tri thức hay bùa phép lừa người, hại đời. Có thể lắm chứ! Hãy nghĩ đến truyện cổ: Đi tìm học bán vợ, cũng đủ biết Chăm đã quý mến tri thức như thế nào, người học phải trải nghiệm thử thách ra sao.

Xả có nghĩa là buông bỏ những gì mình có, mà không tính toán, không kể số.

Năm 1992, vào Sài Gòn, tôi vô cùng kinh ngạc khi hỏi mượn của một ông anh Ariya Glơng Anak, anh đã nói rất ngây thơ rằng: Sara có gì để trao đổi không? Tôi nói không phải tôi không có nó, chỉ vì vội vào nên quên mang theo. Tôi còn có cả đống bản chép tay ở phòng trọ, anh cần gì cứ sang lấy. Khi tâm hồn ta giàu sang thực sự, ta mới dám cho, dám buông bỏ. Giàu – ta luôn giữ bàn tay mở. Để cho mọi thứ đi vào và đi ra bàn tay ta. Bàn tay ta luôn mới mẻ, mới mẻ để phong phú hơn. Còn thái độ nắm chặt một dúm, thì một dúm đó cứ còn lại mãi thế, không giàu lên được.

Xả là tự do là sáng tạo. Tự do chắc chắn không đồng hành với vô trách nhiệm.

Tự do khỏi Chúa, Phật, khỏi tất cả ý thức hệ tôn giáo và chính trị, khỏi mọi vướng bận truyền thống và định kiến. Càng tự do ta càng trách nhiệm. Khi sai lầm hay phạm tội, ta không còn đổ lỗi cho hoàn cảnh, đổ tội cho thầy, quy trách nhiệm cho truyền thống giáo dục, ta hết còn bởi-tại-vì Chúa, Phật, Allah hay bất kì đảng phái hoặc cơ chế chính trị nào ta tự nguyện quy thuộc vào.

Buông bỏ để giải thoát khỏi vướng bận cũ, những triền phược nô lệ, để dấn mình vào chân trời mới đầy tự do và sáng tạo. Nghĩa là dám đối mặt với cái không biết, kiếm tìm thách thức mới, qua đó làm phong phú tâm hồn và cuộc sống mình. Gauguin từ bỏ cuộc sống hạnh phúc gia đình trong yên ngoài ấm, rời bỏ thành phố văn minh để lên tàu thẳng hướng hòn đảo Tahiti còn hoang sơ, quyết mở hướng đi mới cho nền hội họa phương Tây đang bế tắc và tù túng giữa bao nhiêu trào lưu, trường phái.

Sự buông bỏ có thể dẫn đến thất bại, thậm chí tại họa; nhưng chính nó làm nên sự thay đổi. Từ đó, nó thổi luồng gió đại dương vào lục địa đã quá già cỗi.

Inrasara