Tỳ Bà Hành

Chào các bạn,

Ai yêu Đường thi cũng đều biết đến bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị.

Nghe não nuột mấy dây buồn bực,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu;
Mày chau tay gảy khúc sầu,
Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn.

Nhưng không mấy chúng ta thực sự nghe đàn tỳ bà, nhất là nghe nó một mình.
pipa2
Đàn tỳ bà có một ngôi vị rất lớn trong văn học và thi ca Trung Quốc.

Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỹ nhân hồi

    (Lương Châu Từ của Vương Chí Hoán)

Dịch nghĩa:

Rượu bồ đào, chén dạ quang
Muốn uống nhưng tiếng tỳ bà đã giục lên ngựa
(Nếu) tôi nằm say trên chiến trường, bạn đừng cười
(Vì) xưa nay thời chiến chinh ai đi mà trở lại.

    TDH


Đàn tỳ bà được xem là đàn Flamenco của Trung Quốc vì tỳ bà rất phổ thông trong âm nhạc truyền thống Trung Quốc, và cách biểu diễn, nhất là các tiếng rung nghe rất giống kỹ thuật tremolo của nhạc Flamenco.

Hôm nay chúng ta có ở đây bài Tỳ Bà Hành, qua lời dịch của Việt của Phan Huy Thực (có nơi ghi là Phan Huy Vịnh). Tiếp theo là lời tiếng Anh của Francis Chin; một bài dịch rất rõ nghĩa, đã đăng năm 1979 ở báo Business Times của Singapore.

Sau đó chúng ta có một số bản nhạc solo tỳ bà của Liu Fang, nhạc sĩ Trung Quốc, tuổi trẻ tài cao, danh cầm số một thế giới về tỳ bà. Tiếng đàn của Liu Fang khi vũ bão như sấm động, khi nhẹ nhàng như gió thoảng, khi nhức nhối như giọt lệ.

Liu Fang sinh năm 1974 tại thành phố Côn Minh, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Học tỳ bà năm 6 tuổi và 9 tuổi bắt đầu trình diễn. Năm 11 tuổi trình diễn cho Nữ Hoàng Anh Elizabeth khi bà qua thăm Trung Quốc năm 1985. Liu Fang cũng học thập lục huyền cầm, nhưng nổi tiếng ngày nay như là danh cầm tỳ bà số một trên thế giới. Năm 2001 chị được giải ‘Future Generation Millennium Prize’ của Hội Đồng Nghệ Thuật Canada, dành cho các nhạc sĩ dưới 30 tuổi. Chị đã trình diễn trên nhiều chương trình TV ở các nước trên thế giới. Đĩa Silk Sound của chị được giải Academie Charles Cros Award của Pháp (như là Grammy của Mỹ). Hiên nay chị ở Canada.

Sau các video trình diễn của Liu Fang là một bài viết nói thêm về Phan Huy Thực và bài dịch Tỳ Bà Hành, để các bạn cần tham khảo có thêm tài liệu.

Trước khi vào bài thơ Tỳ Bà Hành, Bạch Cư Dị có một lời giới thiệu về bài thơ. Lời này không thấy trong bản dịch tiếng Việt, nhưng có trong bản tiếng Anh của Francis Chin. Mình dịch lời giới thiệu này sang tiếng Việt, đặt trước bài dịch của Phan Huy Thực.

Kính mời!

Hoành
.

tỳ bà hành

Giới thiệu (bởi Bạch Cư Dị)

Năm thứ mười đời Hoàng Đế Yuan Ho, tôi bị giáng chức và bị đày về huyện Jiu-jiang làm tùy viên. Mùa hè năm sau đó, khi tôi đang tiễn một người bạn ra đi, chúng tôi nghe trên thuyền bên cạnh có tiếng tỳ bà theo điệu nhạc kinh đô.

Hỏi thăm thì biết là người chơi đàn từng là một ca kỷ ở kinh đô ngày trước và ngày nay là vợ của một thương nhân. Tôi mời cô ấy qua thuyền tôi chơi nhạc. Cô ấy kể lại cho chúng tôi nghe chuyện đời cô và nỗi bất hạnh của cô. Từ ngày rời kinh đô đến nay tôi không hể thấy buồn, nhưng từ đêm hôm đó, tôi bắt đầu cảm nhận gánh nặng của cuộc đời đi đày của tôi. Vì vậy, tôi viết bài thơ 612 chữ này.

Tỳ Bà Hành

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách,
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu.
Người xuống ngựa, khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn, nhớ chiều trúc ti.

Say những luống ngại khi chia rẽ,
Nước mênh mông đượm vẻ gương trong.
Đàn ai nghe vẳng bên sông,
Chủ khuây khoả lại, khách dùng dằng xuôi.
tybahanh1
Tìm tiếng sẽ hỏi ai đàn tá?
Dừng dây tơ nấn ná làm thinh
Dời thuyền ghé lại thăm tình,
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui.

Mời mọc mãi, thấy người bỡ ngỡ,
Tay ôm đàn che nửa mặt hoa.
Vặn đàn mấy tiếng dạo qua,
Dẫu chưa nên khúc tình đà thoảng hay.

Nghe não nuột mấy dây buồn bực,
Dường than niềm tấm tức bấy lâu;
Mày chau tay gảy khúc sầu,
Dãi bày hết nỗi trước sau muôn vàn.

Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt,
Trước Nghê Thường sau thoắt Lục Yêu,
Dây to dường đổ mưa rào,
Nỉ non dây nhỏ khác nào chuyện riêng.

Tiếng cao thấp lựa chen lần gẩy,
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu,
Trong hoa oanh ríu rít nhau,
Nước tuôn róc rách, chảy mau xuống ghềnh.

Nước suối lạnh, dây mành ngừng đứt,
Ngừng đứt nên phút bặt tiếng tơ;
Ôm sầu mang giận ngẩn ngơ,
Tiếng tơ lặng ngắt, bây giờ càng hay.

Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước,
Ngựa sắt giong, xô xát tiếng đao;
Cung đàn trọn khúc thanh tao,
Tiếng buông xé lụa, lựa vào bốn dây.

Thuyền mấy lá đông tây lặng ngắt,
Một vầng trăng trong vắt lòng sông;
Ngậm ngùi đàn bát xếp xong,
Áo xiêm khép nép hầu mong giãi lời.

Rằng: “Xưa vốn là người kẻ chợ,
Cồn Hà Mô trú ở lân la;
Học đàn từ thuở mười ba,
Giáo phường đệ nhất chỉ đà chép tên.

Gã thiện tài so phen dừng khúc,
Ả thu nương ghen lúc điểm tô,
Ngũ Lăng chàng trẻ ganh đua,
Biết bao the thắm chuốc mua tiếng đàn.

Vành lược bạc gãy tan dịp gõ,
Bức quần hồng hoen ố rượu rơi;
Năm năm lần lữa vui cười,
Mải trăng hoa chẳng đoái hoài xuân thu.
tybahanh2
Buồn em trảy, lại lo dì thác,
Sầu hôm mai đổi khác hình dong;
Cửa ngoài xe ngựa vắng không,
Thân già mới kết duyên cùng khách thương.

Khách trọng lợi khinh đường li cách,
Mải buôn chè sớm tếch nguồn khơi;
Thuyền không, đậu bến mặc ai,
Quanh thuyền trăng giãi, nước trôi lạnh lùng.

Đêm khuya, sực nhớ vòng tuổi trẻ,
Chợt mơ màng dòng lệ đỏ hoen”.
Nghe đàn ta đã chạnh buồn,
Lại rầu nghe nỗi nỉ non mấy lời:

“Cùng một lứa bên trời lận đận,
Gặp gỡ nhau lọ sẵn quen nhau,
Từ xa kinh khuyết bấy lâu,
Tầm Dương đất trích gối sầu hôm mai.

Chốn cùng tịch lấy ai vui thích,
Tai chẳng nghe đàn địch cả năm:
Sông Bồn gần chốn cát lầm,
Lau vàng, trúc võ, âm thầm quanh hiên.

Tiếng chi đó nghe liền sớm tối:
Cuốc kêu sầu, vượn hót véo von;
Hoa xuân nở, nguyệt thu tròn,
Lần lần tay chuốc chén son ngập ngừng.

Há chẳng có ca rừng, địch nội?
Giọng líu lo buồn nỗi khó nghe.
Tỳ bà nghe dạo canh khuya,

Dường như tiên nhạc gần kề bên tai.

Hãy ngồi lại gảy chơi khúc nữa,
Sẽ vì nàng soạn sửa bài ca”.
Đứng lâu dường cảm lời ta,
Lại ngồi lựa phím đàn đà kíp dây.

Nghe não nuột khác tay đàn trước,
Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi;
Lệ ai chan chứa hơn người?
Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh.

    (Người dịch: Phan Huy Vịnh
    Xuất bản: Thơ Đường (tập 1) – NXB Văn học, 1987)

.

The Song of the Pipa

Introduction

In the 10th Year of Emperor Yuan Ho, I was banished and demoted to Jiu-jiang district as an assistant official. In the summer of the following year, as I was seeing a friend off, we heard from a neighbouring boat a pipa [four-string lute] played in the style of the Capital.

On inquiry, I learnt that the player used to be a sing-song girl from the Capital who was now married to a merchant. I invited her to my boat to play for us. She also related to us her story and unhappiness. Since my departure from the Capital I had not felt sad; but since that night, I began to feel the weight of my exile. So, I wrote this poem in 612 words:

pipa_liufang
By the head water of the Hsin-yang River
Where maple leaves and reeds sigh in the autumn wind,
I said goodbye to a friend departing in the night.
When I got down from my horse, my guest was already in the boat.
Silently, we lifted our cups for a final farewell toast
But the wine could not soothe our sadness
That rose with the rising tide and flooded the moon.

Suddenly we heard a pipa across the water.
I, the host, forgot my return, the guest the journey on.
In the darkness we asked for the player.
The music broke off, whoever wishing to reply seemed uncertain.
So we re-lit the lamp, reset our table with food and wine,
And moved our boat nearer, hoping to see the player.
But only after much urging did she appear
Still clutching her pipa that half-covered her face.

She turned the pegs and tested the strings
And as she strummed we could sense her deep feeling
For every note was heavy with thought
Telling a sorrowful tale of life.
With lowered brows and sure hands, she poured into the music
The limitless depths of her heart.
She plucked the strings, brushed them and swept on…
With a song of the Rainbow Skirt and the Six Little Ones.
The major chords chanted like falling rain,
The minor chords whispered secrets,
In a delightful medley
Like the clinking of pearls on a jade plate,
Like the notes of a nightingale among flowers,
Like the singing of a brook as its water rushed the bank.

A cold touch suddenly froze the music,
And in the silence we heard her innermost sorrow
For now the stillness told more than any music could.

A silver jar shattered and water gushed out,
And armoured horsemen clashed in their fighting gear.
Once more she swept all four strings like the tearing of silk.
East and west, the boats were hushed by her music,
While the autumn moon rose white above the water.

Finally she inserted the peg under the strings,
Adjusted her clothes, composed herself and told her story:
pipa
“I was a girl from the Capital,
living at the foot of the Hsia-mo Hill.
At thirteen, I had already mastered the pipa
and critics praised me as the best player ever.
I was familiar with the tunes of popular songs and dances
And my talent and beauty made many girl envious.
The young men of the city competed for my favours.
One song could bring me rolls of silk,
Jewelled hairpins and silver combs.
My clothes too were often crimsoned with wine.
Year after year, the feasting and laughter went on,
As autumn changed to spring in carefree abandon.

“Then my brother left for the Army and my aunt died.
Evening and morning passed and my beauty waned.
At last, no longer young, I was married to a merchant.
But he cares more for his business than his wife.
Last month, he left for Fouliang town to buy tea
Leaving me to look after an empty boat.
With only the moon and cold river for companions.
In the deep of the night, I dreamt of my girlhood
But the happy memories hastened my tears.”

When I heard her playing the pipa, I sighed
When I heard her story, I became sadder still.
“There are no strangers on the world’s horizon,
Meeting and sharing the same fate,
What does past acquaintance matter?

“A year ago, I left the Capital
To become a sick exile in this town.
The place is so forsaken there is no good music.
For an entire year I heard nothing of string or pipe.
My house near the river is low and damp,
Surrounded by reeds and rushes.
Morning and night, all I hear
Are the blood-cuddling cuckoo calls and the cries of apes.

“In spring mornings among the flowers
And under a moon in autumn nights,
I would bring wine, only to drink alone by the river.
There are mountain songs and village piping
But they cut my ears with their grating sound.
Tonight, hearing you play the pipa
Is like listening to fairy music from afar.
Don’t go just yet, but play us another tune
And I will compose the words of a song for you.”

Moved by my words she stood for a moment,
Then sitting down she began strumming anew.
But the forlorn notes were different from before
And everyone listening could not hold back their tears.
Who among them was most affected?
The author, a junior official, with his blue sleeves wet.

.

Bản này có nhan đề “Vua Chu cởi chiến bào” (King Chu doffs his armour — Ba Wang Xie Jia), là một bản nhạc tỳ bà truyền thống. Nói lại một câu chuyện thương tâm xảy ra năm 202 trước công nguyên.

.

Bản này tên là “Tuyết bay làm đẹp ngàn thông” (Swirl snow decorating the evergreen — Fei Hua Dian Cui). Đây là một bản nhạc rất nhẹ nhàng, ngược với các bản nhịp quân hành (như bản trên).


.

Bản này gọi là Trên Nhịp Vũ (On a theme to dance — Ge Wu Yin), do Liu Tianhua (1895-1932) viết. Video này là trình diễn tại hội chợ TFF Rudolstadt ngày 9 tháng 7 năm 2006, do German TV (ARD1) phát sóng.

.

Bản này Liu Fang biểu diễn cùng tiếng trống của Ziya Tabassian. Nhan đề Đêm lễ hội lửa trại (The night of bonfire festival) do Wu Junsheng soạn trong thập niên 1980s cho tỳ bà solo, thu hình buổi trình diễn ngày 27 tháng 3 năm 2002.

.

Thế Anh

.

.

Gần đây do một sự tình cờ chúng tôi phát hiện được một bài viết có nhan đề “Tỳ bà hành bạt” chép chung trong cuốn Nam phong giải trào ở Thư viện Quốc gia (R1674). Bài dài khoảng 450 chữ. Sau lời bạt là nguyên văn chữ Hán bài “Tỳ bà hành” của Bạch Cư Dị và lời dịch ra quốc âm. Đáng chú ý là bài viết có ghi cụ thể dòng lạc khoản “Minh Mệnh thập nhị niên ngô nguyệt trung hoán. (Hà ái) Nhâm Ngọ Hội nguyên Tiến sĩ Hình bộ Thị lang sung biện Nội các sự vụ Phương Trạch Hà Tốn Phủ cẩn bạt”. Hà Tốn Phủ chính là Hà Tông Quyền bạn đồng liêu với dịch giả bài Tỳ bà hành mà ở đoạn đầu lời bạt ông đã giới thiệu dịch giả là “Cựu Bộ trưởng Xuân Khanh” (Tên hiệu Phan Huy Thực).

Hà Tông Quyền (1789-1893) quê huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây, đỗ Hội nguyên năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), lúc nhỏ đi học nổi tiếng thông minh, làm quan đến chức Lại bộ Tham tri, Sung đại thần Viện cơ luật, khi mất được truy tặng Thượng thư bộ Lại. Ông là một nhà khoa bảng nổi tiếng văn chương, được các sĩ phu đương thời ca ngợi. Ngoài thơ chữ Hán ông còn để lại 30 bài vịnh Kiều bằng chữ Nôm hưởng ứng cuộc thi vịnh Kiều do Minh Mệnh đề xướng năm 1830. Ông được Minh Mệnh tin dùng và thường xuyên được vào bái kiến nhà vua.

Trong lời bạt ông ca ngợi và đánh giá cao bài dịch “Tỳ bà hành” của họ Phan, đồng thời ông cũng nêu lên quan điểm về dịch thuật của mình là không nên quá chú trọng về mặt kỹ xảo mà làm sai lạc nội dung của nguyên tác. Qua lời bạt chúng ta còn được biết thêm về thời điểm ra đời của bản dịch (trước năm 1831).

Thực ra từ trước tới nay đã có nhiều người đề cập đến địch giả bài “Tỳ bà hành” nổi tiếng của Bạch Cư Dị. Ngay từ năm 1926 Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến cũng đã thông báo trên tạp chí Nam Phong dịch giả “Tỳ bà hành” là Phan Huy Thực. Tiếp đó Hoàng Xuân Hãn, Hoàng Ly, Trương Linh Tử và sau này Phạm Văn Diêu, Tạ Ngọc Diễn, Hoàng Thị Ngọ cũng khẳng định như vậy. Khi viết về dòng họ Phan Huy ở Sài Sơn, GS. Phan Huy Lê cho biết gia phả họ Phan ở Thạch Châu và Sài Sơn đều chép thống nhất người dịch “Tỳ bà hành” là Phan Huy Thực. Chúng tôi cũng đã được đọc cuốn Phan tộc công phả hiện đang lưu giữ ở Thư viện Quốc gia (A2963) do Phan Huy Dũng – cháu nội Phan Huy Thực biên tập, trong đó có ghi tóm tắt tiểu sử 6 người con của Phan Huy ích. Trong đoạn nói về Phan Huy Thực, gia phả có ghi rõ các trước tác của ông như: Hoa thiều tạp vịnh, Tỳ bà hành diễn âm khúc, Nhân ảnh vấn đáp… Riêng đối với Phan Huy Vịnh thì gia phả không hề nói đến việc ông dịch “Tỳ bà hành”.

Như vậy gia phả họ Phan Huy là nguồn tư liệu duy nhất đáng tin cậy để xác định người dịch Tỳ bà hành và đồng thời cũng để đính chính những ngộ nhận lâu nay được gán ghép cho Phan Huy Vịnh. Sở dĩ có sự nhầm lẫn kéo dài có lẽ là do nguồn tư liệu của Trần Trung Viên trong cuốn Văn đàn bảo giám (soạn năm 1926) và nhất là cuốn Thi văn hợp tuyển dùng trong các trường trung học trước năm 1945 đã có ảnh hưởng sâu rộng trong giới học sinh lúc bấy giờ. Hai cuốn sách này gần đây đã được in lại vài ba lần nhưng vẫn không được đính chính, ngay cả bộ Từ điển văn học 2 tập in năm 1983-1984 cũng ghi Phan Huy Vịnh là người dịch “Tỳ bà hành” và Phan Huy Thực không có tên trong bộ Từ điển này (Cuốn Từ điển văn học bộ mới in năm 2004 đã có đính chính và bổ sung). Vì đã thành thói quen nên những cuốn sách mới gần đây như Thơ Đường trong nhà trường dùng cho học sinh Trung học, sinh viên và người yêu thích thơ Đường hoặc cuốn Bạch Cư Dị Tỳ bà hành của Hồ Sỹ Hiệp tập hợp những bài viết của nhiều nhà nghiên cứu và cuốn Thơ Bạch Cư Dị của NXB Hội Nhà văn vừa mới in xong trong quí IV-2006, vẫn để tên người dịch là Phan Huy Vịnh.

Để góp thêm một minh chứng cho vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu toàn văn lời bạt của Hà Tông Quyền cho bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực.

*

Lời bạt cho bài dịch “Tỳ bà hành”

“Tỳ bà hành” là tác phẩm của Bạch Lạc Thiên, các sĩ phu nước ta rất hâm mộ và đã diễn ra quốc âm, nhưng vì lời văn dài mà ngôn ngữ lại có phần mới nên đôi khi vẫn gặp những chỗ khó dịch và người dịch thường giữ lấy ý chính mà lại bỏ qua nhiều chi tiết trong nguyên bản. Khi dịch một bài văn nếu chỉ chú ý về mặt kỹ xảo (cầu công) mà không bám sát nội dung của nguyên tác thì có khác gì “gãi không đúng chỗ ngứa” và thử hỏi như vậy đã phải là người hiểu được thi sĩ họ Bạch chưa?

Khi tôi tiếp xúc với bài diễn âm của cựu Bộ trưởng Xuân Khanh họ Phan, tiên sinh bảo: Đó là bài tôi dịch ra đấy. Khi xem tôi thấy lời dịch bám sát nội dung, từng chữ từng câu răm rắp không sai mà âm vận thì lại vừa khoan thai vừa hùng tráng. Tôi đã ngâm nga, đọc đi đọc lại nhiều lần và rất lấy làm tâm đắc tưởng như đang được tiếp xúc với thi nhân cự phách đời Đường – người đang bị biếm trích ở đất Giang Châu trước cảnh thê lương của hơi thu và lau lách đìu hiu để tạo nên một thiên tuyệt bút, như đang được chứng kiến cảnh:

Bình bạc vỡ tuôn đầy mặt nước
Ngựa sắt dong sàn sạt tiếng đao[1]

Tiên sinh đã diễn ra quốc âm trong lúc chưa gặp vận còn đang phải ẩn náu nơi sơn dã, chẳng khác cảnh sông Bồn và đã mượn chén rượu của người khác để giải nỗi sầu riêng, nếu không phải là người có thiên tư và chịu ảnh hưởng truyền thống học vấn của gia đình thì làm sao mà có được? Tiên sinh vốn sở trường về văn chương, thanh luật, nên âm vận trong câu dịch hài hoà toát lên cảnh phong lưu tao nhã, xứng đáng cùng với Lạc Thiên là những bậc hào hoa một thủa. Có những chỗ Lạc Thiên chưa diễn đạt hết thì tiên sinh lại dùng thanh âm mà giãi bày một cách tường tận.

Tôi thô vụng và quê mùa, không biết được nhiều, nhưng bề trên đã bảo, tôi không dám từ nan, bèn mạo muội viết ra lời bạt này và nếu như tác phẩm của tiên sinh nổi tiếng thì tôi cũng được thơm lây và cũng coi như được dự buổi tiễn đưa trong đêm trăng trên bến Tầm Dương để được cùng chia sẻ nỗi niềm u hoài của kẻ cô thần khoáng phụ, như thế còn gì sung sướng cho hơn, chắc tiên sinh cũng không cười tôi là kẻ ngông cuồng và Bạch Lạc Thiên cũng sẽ thông cảm cho tôi.

Trung tuần tháng 3 năm Minh Mệnh thứ 12 (Hà ái) Nhâm Ngọ Hội nguyên Tiến sĩ Hình bộ Thị lang sung biện Nội các sự vụ Phương Trạch Hà Tốn Phủ cẩn bạt.

*

Qua lời bạt ta thấy Hà Tông Quyền đánh giá rất cao bài dịch của Phan Huy Thực. Trước Phan Huy Thực cũng đã có người dịch “Tỳ bà hành”. Trên tạp chí Văn học số 4/1975, Trần Thị Băng Thanh cho biết đã tìm được một bản dịch chép trong cuốn Thạch Động tiên sinh thi tập. Sau Phan Huy Thực, Phan Văn Ái cũng dịch “Tỳ bà hành” thành hai bài: một bài theo thể thất ngôn trường thiên, một bài theo thể thất ngôn bát cú. Trên tạp chí Nam Phong thỉnh thoảng cũng có sưu tầm được một vài bài dịch không đề tên người dịch. Tuy nhiên những bài xuất hiện trước và sau bản dịch của Phan Huy Thực đều không có mấy tiếng vang và đã nhanh chóng bị quên lãng. “Tỳ bà hành” được phổ biến rộng rãi và xem như một di sản văn học quí giá của Việt Nam chủ yếu là thông qua bản dịch của Phan Huy Thực. Nghệ thuật hát ca trù tồn tại đã lâu đời và từ khi có bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực thì nó đã lan nhanh và đã trở thành một điệu hát trữ tình, giàu chất thơ, nhạc điệu, làm phong phú và bổ sung thêm cho hàng chục làn điệu ca trù khác trong các ca quán thời xưa. Những người mê ca trù trước đây thường thuê thuyền đón ả đào hát “Tỳ bà hành” trong những đêm trăng huyền ảo để thưởng thức và làm sống lại nguồn cảm xúc của nhà thơ với người ca nữ trên bến nước Tầm Dương.

“Tỳ bà hành” không những là nguồn cảm hứng cho những nhà Nho tài tử và các bậc tao nhân mặc khách trước đây như Nguyễn Công Trứ, Chu Mạnh Trinh… mà cả những thi nhân hiện đại cũng mượn trăng nước Tầm Dương đưa vào tác phẩm của mình. Nhà thơ tình Xuân Diệu thì “Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người” hoặc “Mắt run mờ kỹ nữ thấy sông trôi”, Vũ Hoàng Chương cũng than “Niềm giang hồ tan tác lệ Giang Châu”, nữ sĩ Ngân Giang thì “Bến Tầm Dương trăng nước một con thuyền, ngán tình ca nữ” và nhà thơ chân quê Nguyễn Bính thì dành Cây đàn tì bà cho một chuyện thơ dài.

Bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực là một kiệt tác đã có những câu thần bút làm say đắm bao thế hệ các nhà thơ. Xuân Diệu cũng đã phải thốt lên: “Ai đã đọc bản dịch ‘Tỳ bà hành’ quên những đoạn nào thì quên, thậm chí nếu quên cả bài, thì bốn câu mở đầu cũng không quên được”.

Bốn câu mở đầu đó là:

Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu
Người xuống ngựa khách dừng chèo
Chén quỳnh mong cạn nhớ chiều trúc ti

Nguyễn Hiến Lê cũng có nhận xét như sau khi ông so sánh mấy câu trên đây với câu thơ của Bạch Cư Dị:

“Mới đầu chúng ta thấy có cái gì khác nhau, mặc dù cũng bảy chữ và bản dịch rất sát nguyên bản: Tầm Dương giang đầu dạ tống khách không buồn, không vắng vẻ, không mông lung bằng Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách. Tôi có cảm tưởng như vậy, có lẽ do chữ dạ dịch ra là canh khuya. Dạ (đêm) không gợi ý nhiều bằng canh khuya. Tài năng của họ Phan, tinh thần của tiếng Việt ở chỗ đó.

Đọc câu thơ thứ hai: Phong diệp địch hoa thu sắt sắt và câu dịch Quạnh hơi thu lau lách đìu hiu thì câu của họ Phan làm tôi rung động hơn nhiều nhờ những chữ lau lách đìu hiu, cả chữ quạnh, chữ hơi nữa, vì tôi thấy lau lách buồn hơn địch hoa; hơi thu, đìu hiu gợi cảm hơn là thu sắt sắt.

Bài dịch “Tỳ bà hành” của Phan Huy Thực là một tác phẩm toàn bích, và có lẽ cũng vì thế mà Tản Đà tài hoa cũng không dịch lại bài này và nhà thơ đã chọn một bài trường thiên nổi tiếng khác của Bạch Cư Dị là bài “Trường hận ca” và ông cũng đã thành công.

(Tác giả hiện làm việc tại Hội Ngôn ngữ học Việt Nam.)


[1]Lấy hai câu dịch của Phan Huy Thực để điển đạt ý “ngân bình thiết kỵ”.
Nguồn: Báo Văn nghệ Trẻ số ra ngày 18.3.2007

Một suy nghĩ 2 thoughts on “Tỳ Bà Hành”

  1. Chào anh Hoành,

    Em thích bài này quá đi. Em không giỏi thơ Đường, vốn liếng chỉ có một hai năm vỡ lòng ở trung học đệ nhất cấp thôi! Bài Tỳ bà hành em cũng chỉ thuộc vài câu, vì nó nổi tiếng quá, mọi người nhắc nhiều. Đoạn Nguyễn Hiến Lê phân tích, dù chỉ 4 câu đầu bài dịch của Phan Huy Thực thôi, nghe đã thích quá chừng rồi! Nguyễn Hiến Lê đúng là người tài hoa, uyên bác!

    Tiến sĩ Trần Văn Khê có một bài nói chuyện về cây đàn Tỳ bà của Việt Nam, em vô tình xem được trên TV, hay vô cùng! Em không rành về lịch sử các nhạc cụ, nên những đoạn phân tích về xuất xứ, em không còn nhớ. Em chỉ nhớ, so với đàn Tỳ bà của các nước xung quanh (Trung quốc, Nhật bản), đàn của mình có cần đàn vừa tay nên tư thế của người ngồi đàn đẹp hơn rất nhiều. Chỉ tiếc là đàn Tỳ bà Việt nam không còn phổ biến trong đời sống âm nhạc, chỉ sống chủ yếu trong nhạc viện thôi.

    Những tài liệu chứng minh bản dịch Tỳ bà hành của Phan Huy Thực thay vì Phan Huy Vịnh rất xác đáng. Nhưng tài liệu này và việc xác nhận đã được công bố chưa anh?

    Cám ơn anh đã giới thiệu bài dịch Tỳ bà hành của Phan Huy Thực, lại còn cho nghe mấy bản nhạc đa dạng của đàn Tỳ bà nữa. Công nhận mấy cô Trung Quốc chơi tỳ bà có hồn ghê, làm mấy anh Tây nhắm mắt feeling theo luôn!

    Chúc anh ngày mới thật đẹp 🙂

    Thích

  2. Hi Yến,

    Tài liệu anh post vể Phan Huy Thực cũng đã được công bố rộng rãi rồi. Cô Liu Fang này chơi tỳ bà hay quá hay. Cô nầy mang cây tỳ bà lên một bậc cao hơn trước rất nhiều. Nếu so sánh với việc Segovia đã làm cho cây đàn guitar cổ điển chắc là cũng đúng.

    Yến khỏe nha 🙂

    Thích

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s