Nhân báo VNexpress mới đăng bài “Những đứa trẻ không danh tính”, mình đăng lại bài mình viết “Trẻ em phải có giấy khai sinh”, dưới đây.
Trích lời luật sư tiến sĩ Trần Đình Hoành:
Nhà nước cần có một quyết tâm: Phục vụ người dân, đặc biệt là các em bé, tương lai của đất nước, NGAY TẠI ĐÂY LÚC NÀY. Thủ tục hành chánh phải được cải tiến và chỉnh sửa để phục vụ mục đích phục vụ dân NGAY TẠI ĐÂY LÚC NÀY, và không phục vụ mục đích theo dõi chặt chẽ lý lịch của một người từ thời cha ông đến con cháu mấy đời để siết cổ cả dòng tộc như thời Pháp thuộc.
Phạm Thu Hương
***

Trẻ em phải có giấy khai sinh
Chào các bạn,
Việt Nam có nhiều trẻ em không có giấy khai sinh vì thủ tục hành chính của nhà nước, khiến cho các em không thể đi học, hoặc đi học nhưng không được công nhận là đã đi học và không được thi tốt nghiệp cấp 3. Rồi khi các em lớn lên, các em không thể có căn cước công dân, không thể học đại học, không thể có hợp đồng lao động, không thể có bảo hiểm y tế, không thể đi tàu hỏa và máy bay. Rồi khi cưới vợ cưới chồng, các em không thể đăng ký kết hôn, không thể làm giấy khai sinh cho con, không thể cho con đi học… Một vòng lặp nữa bắt đầu.
Những người đi tù chung thân cũng chỉ đến mức đó thôi. Nhưng tù chung thân còn có cơ hội giảm án, từ tù cả đời xuống còn tù 30 năm, rồi 20 năm, 10 năm… rồi có thể ra tù và sống đời bình thường. Còn những người không có giấy khai sinh thì tù cả đời, chẳng có ân xá nào. Thêm nữa, người tù chung thân chỉ phải chấp nhận bản án cho chính người đó, còn người không có giấy khai sinh thì cả vợ chồng con cái đều bị liên lụy, đặc biệt các con vô tội sinh ra đã bị tròng vào cổ bản án “không giấy khai sinh” từ đời ông bà bố mẹ để lại và mãi mãi không thoát ra được.
Đây là vấn đề xã hội lớn. Một đứa trẻ không có giấy khai sinh, thì không chỉ có mỗi mình cha mẹ em phải nặng gánh, mà cả xã hội cũng bị nặng gánh theo. Nếu em không có cơ hội được nuôi dưỡng và học hành tử tế, em lớn lên có thể đi cướp của giết người và làm xã hội bị nặng gánh. Em có thể đi ăn xin đầu đường xó chợ và làm xã hội bị nặng gánh. Em có thể mắc bệnh hiểm nghèo và làm xã hội bị nặng gánh. Em có thể chẳng có cơ hội được mở mang trí tuệ và làm xã hội bị mất mát nguồn tài sản quý hiếm là đầu óc con người.
Trí óc con người là cực kỳ quý hiếm. Chúng ta không thể hoang phí dù chỉ một trí óc, dù chỉ một em.
Và tương lai của đất nước nằm trong tay các em bé, không phải trong tay các cụ.
Nhà nước không thể để xã hội bị nặng gánh và quản lý kiểu không có tình người như thế chỉ vì thủ tục hành chính vô lý của nhà nước.
Trẻ con phải có giấy khai sinh, dù mẹ em có giấy khai sinh hay không, dù mẹ có hộ khẩu hay không (1), dù mẹ có đóng đủ tiền viện phí hay không (2)(3), dù mẹ có chứng minh quan hệ mẹ con hay không (3), dù mẹ có từng kết hôn với người nước ngoài hay không (4), hay dù mẹ bỏ đi…
Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) do Tổng cục Thống kê VN thực hiện năm 2020-2021, Việt Nam có 1,9% trẻ em dưới 5 tuổi không được đăng ký khai sinh. Những trẻ em không được đăng ký khai sinh tại Việt Nam hầu hết thuộc các gia đình nghèo, dân tộc thiểu số hoặc di cư.(5) Đó là không tính những trẻ đã đăng ký khai sinh nhưng rốt cuộc vì lý do gì đó lại không có giấy khai sinh.
Dân số VN năm 2021 là 98,51 triệu (6). Không có con số thống kê trẻ em dưới 5 tuổi là bao nhiêu. Chỉ có con số tỷ trọng nhóm dân số từ 0-14 tuổi là 24,1% (7). Nếu giả sử 1,9% trẻ em dưới 5 tuổi không được đăng ký khai sinh sẽ không có giấy tờ này đến năm 14 tuổi, thì số trẻ em không được khai sinh là 98,51 triệu x 24,1% x 1,9% = 451.077 trẻ.
Trong khi đó, có dự án chính phủ làm giấy khai sinh cho trẻ em ở Tp.HCM và khu vực phía Nam, làm miệt mài 10 năm nhưng chỉ được 250 em (8). Con số quá ít ỏi.
100% Trẻ phải có giấy khai sinh – phải là trách nhiệm của mỗi người chúng ta, chẳng chỉ là nhà nước.
Trích lời luật sư tiến sĩ Trần Đình Hoành:
Vấn đề rất dễ giải quyết. Nếu bố mẹ vì lý do gì đó mà không có giấy khai sanh hay căn cước công dân, thì chỉ cần họ tự khai danh tánh và ngày sinh tháng đẻ của họ, và lời khai của hai nhân chứng biết họ đã vài năm (như là hàng xóm quen biết đã 5 năm) chứng nhận họ là công dân tốt và hàng xóm láng giềng đều biết, để cho họ có giấy khai sinh hay căn cước công dân (hoặc “Chứng nhận thay khai sinh” và “Chứng nhận thay căn cước” có giá trị như khai sinh và căn cước).
Hoặc chính quyền địa phương (phường, xã) cũng có thể chứng nhận thay vì hai nhân chứng.
Trong trường hợp các cô nhi viện, các cô nhi viện có quyền khai chứng nhận cho các em để các em có được khai sinh hay “Biên bản thay khai sinh.”
Trường hợp cô nhi viện hay tổ chức thiện nguyện không có tư cách pháp nhân chính thức, thì cần hai nhân chứng quen biết các em như trên. Và đương nhiên hai nhân chứng đó có thể là hai nhân viên hay hai lãnh đạo cô nhi viện.
Điểm chính cần tập trung là nhà nước phải lo cho dân NGAY TẠI ĐÂY LÚC NÀY, người dân, đặc biệt là các em bé, phải được lo NGAY TẠI ĐÂY LÚC NÀY.
Nhà nước không thể dùng cách làm việc phi lý học được của người Pháp đô hộ, để làm khổ chính công dân của mình từ đời ông bà đến đời cha me, rồi đời con cháu.
Nhà nước cần có một quyết tâm: Phục vụ người dân, đặc biệt là các em bé, tương lai của đất nước, NGAY TẠI ĐÂY LÚC NÀY. Thủ tục hành chánh phải được cải tiến và chỉnh sửa để phục vụ mục đích phục vụ dân NGAY TẠI ĐÂY LÚC NÀY, và không phục vụ mục đích theo dõi chặt chẽ lý lịch của một người từ thời cha ông đến con cháu mấy đời để siết cổ cả dòng tộc như thời Pháp thuộc.
Ngày nay với computer và AI, an ninh không cần phải theo dõi mấy đời như thế để bảo đảm an ninh trật tự xã hội.
Chúc các bạn một ngày nhân văn.
Phạm Thu Hương
Tham khảo:
(1) “Với những quy định trong luật cư trú về điều kiện để có hộ khẩu, nhập khẩu với người trên 16 tuổi là phải có chứng minh nhân dân và điều kiện làm chứng minh nhân dân là phải có hộ khẩu.
Điều này khiến cho những thanh thiếu niên lang thang, cơ nhỡ trên 16 tuổi, khó có cơ hội được công nhận là công dân, nếu không có người bảo lãnh cho nhập khẩu. Quy định này khiến cho nhiều trẻ có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em đường phố tốn rất nhiều công sức và thời gian để được làm giấy chứng minh nhân dân.” – Khó đảm bảo “quyền có giấy tờ tuỳ thân” cho trẻ đường phố.
(2) “Hiện nay tại các bệnh viện, để tránh trường hợp bệnh nhân sau khi sinh, trốn viện, không đóng viện phí, các nơi thường giữ lại giấy chứng sinh của đứa trẻ. Điều này khiến cho việc đăng ký khai sinh gặp nhiều khó khăn và kéo đến hệ lụy khác đó là cũng có bố mẹ vì “nản” nên cũng “chẳng thèm” làm khai sinh cho con (!?).
Thêm vào đó, theo quy định, các cơ sở y tế được phép hủy hồ sơ bệnh án trong 10 năm để giải quyết vấn đề quá tải về lưu trữ, làm cho các trường hợp trẻ em xin nhận lại giấy chứng sinh sau 10 năm khó thực hiện được.” – Khó đảm bảo “quyền có giấy tờ tuỳ thân” cho trẻ đường phố.
(3) T.H.B.C (quận 7, TP HCM) gần 18 tuổi vẫn chưa được đăng ký khai sinh và cấp giấy tờ tùy thân. Mẹ của C. liên hệ UBND phường thì được hướng dẫn đi xét nghiệm ADN chứng minh quan hệ me – con. Không có tiền nên gia đình không thể làm xét nghiệm. “Ngày xưa, không có tiền trả viện phí, sinh xong, tôi ôm con trốn khỏi bệnh viện. Sau này, mẹ con tôi quay lại bệnh viện xin trả khoản viện phí năm xưa và làm lại giấy chứng sinh nhưng không được” – mẹ của C. rưng rưng kể. – Gian nan “định danh” cho trẻ không giấy chứng sinh.
(4) Trẻ con lai ở miền Tây – 4 bài.
(5) Đăng ký khai sinh – Điều tra các chỉ tiêu phát triển bền vững về Trẻ em và Phụ nữ Việt Nam 2020-2021
(6) Dân số trung bình năm 2021 của cả nước ước tính 98,51 triệu người.
(7) Ấn phẩm: Kết quả chủ yếu Điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình thời điểm 01/4/2021
***
Những đứa trẻ không danh tính
VNE – Thứ ba, 28/4/2026, 06:00 (GMT+7)

Những đứa trẻ không danh tính
Nếu việc làm khai sinh vẫn bế tắc, Anh Thư (9 tuổi, TP HCM) có thể phải dừng học, theo mẹ đi bán vé số – nghề không cần chứng minh danh tính.
“Thần tài tới, thần tài tới”, Anh Thư reo lên khi thấy “khách ruột” – người đàn ông trung niên, dáng gầy, thường mua hơn chục tờ vé số của hai mẹ con. Nhưng lần này, ông lẳng lặng đi ngang.
Mặt Thư xìu xuống. Mẹ em – chị Nguyễn Thị Thanh (44 tuổi) – đã quen với những lần hụt khách như vậy. Chị chở con sang quán khác đông người hơn. Hai mẹ con chia nhau – những quán bia phức tạp, chị Thanh bán, còn Thư len lỏi vào các quán cà phê.
“Cuộc sống tốt nhất là lúc người ta mua nhiều, không đuổi mình”, Thư đúc kết.
Năm 6 tuổi, chị Thanh không xin được cho con gái vào bất kỳ trường tiểu học nào vì không có giấy khai sinh. Thư bắt đầu theo mẹ đi bán vé số từ sáng đến đêm. Cô bé nhanh chóng sõi nghề. Khách thường mua của Thư nhiều hơn mẹ. Có hôm nhận 250 tờ, em bán hết trong một buổi, còn được cho thêm 100.000 đồng.
Trong khi bạn bè cùng tuổi bắt đầu tập đọc, tập viết, Thư chỉ gọi được tên vài màu sắc. Hệ đếm đầu tiên của em bắt đầu từ số 10 – mệnh giá của một tờ vé số.
Muốn tương lai con khác đi, chị Thanh xin cho Thư vào Trung tâm Phát huy Bình Thọ, phường Thủ Đức, TP HCM – nơi dạy học và hỗ trợ hòa nhập xã hội cho trẻ em nghèo, vô gia cư, nhập cư.
Thư được nhận, trở thành một trong 32 đứa trẻ tại trung tâm lớn lên trong tình trạng lửng lơ pháp lý. Nhưng nơi này chỉ dạy đến hết lớp 5. Sau đó, học sinh phải ra “trường ngoài” – nơi giấy khai sinh vẫn là điều kiện bắt buộc để nhập học. Không muốn số phận con bấp bênh giống mình, chị Thanh tiếp tục xoay xở giấy tờ cho con, nhưng vẫn bế tắc vì quá khứ “cô dâu ngoại tịch”.

Giấy khai sinh là tấm vé đầu vào để một đứa trẻ tiếp cận đầy đủ hệ thống giáo dục, y tế, tư pháp. Theo Luật Hộ tịch, người thân (cha mẹ, ông bà…) hoặc cá nhân, tổ chức đang nuôi dưỡng trẻ có trách nhiệm đăng ký khai sinh trong 60 ngày kể từ ngày sinh.
Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ đăng ký khai sinh cao, đạt 96,6% năm 2024, nhưng vẫn còn những đứa trẻ không danh tính, do gia đình đăng ký muộn hoặc vướng mắc pháp lý của cha mẹ.
“Đây là nhóm yếu thế của yếu thế”, ông Nhâm Ngọc Hiển, Phó cục trưởng Cục Hành chính tư pháp, Bộ Tư pháp, nhận định. Theo ông, trẻ khó đăng ký khai sinh thường rơi vào các trường hợp hôn nhân có yếu tố nước ngoài, con của người di cư, hoặc trẻ lang thang, cơ nhỡ, không rõ nguồn gốc.
Quá khứ “cô dâu ngoại tịch”
“Phá nó đi, sau này không làm được giấy tờ, mày lo cho con kiểu gì”, chị Thanh nghe cha gằn giọng qua điện thoại. Từng làm cán bộ ấp ở tỉnh Hậu Giang (nay thuộc TP Cần Thơ), ông hiểu những rắc rối có thể xảy ra trong quá trình làm hộ tịch, khi quá khứ hôn nhân của con gái quá phức tạp.
“Con đẻ ra thì để con nuôi, chứ còn mình nó. Giấy tờ được tới đâu hay tới đó”, đầu dây bên này, chị Thanh (lúc đó 34 tuổi) nài nỉ xin giữ bào thai thành hình được 6 tháng. Đây là đứa con duy nhất chị còn hy vọng giữ lại được.
Chị Thanh thuộc nhóm hơn 32.000 phụ nữ Việt Nam kết hôn với chồng Đài Loan giai đoạn 1994-2000. Gần 10 năm ở nước ngoài, chị có ba con, rồi hôn nhân đổ vỡ. Hai vợ chồng ký giấy ly hôn, nhưng không làm thủ tục tại tòa. Để ba con ở lại với chồng, chị sang Malaysia lao động, rồi bị mất toàn bộ giấy tờ tùy thân và xác nhận ly hôn ngay trước khi về Việt Nam khoảng năm 2011.
“Trong người không còn gì ngoài cái tên”, chị nhớ lại.
Được hỗ trợ về nước, chị Thanh trụ lại TP HCM làm thuê, rồi gặp anh Nguyễn Văn Hạnh (59 tuổi). Cuối năm 2016, chị mang thai. Khi ấy, chị mới biết người mình đang quen chưa ly hôn vợ. Gia đình không chấp thuận anh Hạnh. Chị Thanh ở lì trong phòng trọ 15 m2, không dám về quê.
Cha chị không muốn chị giữ đứa bé.

Một tháng trước ngày dự sinh, cha chị gọi lại, lần này giọng nhẹ nhàng hơn: “Về đây mà đẻ để cha còn được nhìn mặt cháu, tao có mình nó, gặp chút rồi tao chết cũng vui”.
Cuối tháng 7/2017, chị một mình về quê, sinh mổ tại Bệnh viện Đa khoa Hậu Giang. Không hỏi ý anh Hạnh, chị cho con mang họ mẹ.
Cha chị – người từng phản đối đứa bé – giờ lại tất tả lo cho chị từ tấm bảo hiểm y tế, phục hồi hậu phẫu, đến ngày xuất viện. Cùng lúc đó, ông đang phải chống chọi với căn bệnh tiểu đường giai đoạn cuối, nội tạng suy yếu, mắt mờ dần.
Biết không còn sống được bao lâu, ông ráng hoàn thành việc làm khai sinh cho cháu. Trong 6 tháng, ông lên xuống cơ quan hành chính 4 lần, nhưng không thành công. Tháng 2/2018, ông qua đời khi chưa kịp hoàn thành tâm nguyện.
Trách nhiệm chuyển sang chị Thanh. Nhưng khai sinh của Anh Thư dần rơi vào ngõ cụt.
Trong 8 năm, chị mang giấy tờ gốc gồm chứng sinh của con, căn cước của chị, thiếu mỗi giấy ly hôn, lui tới cơ quan hành chính thêm 4 lần. Ba lần đầu, chị cho Thư mang họ mẹ và tự nhận là mẹ đơn thân, hy vọng hồ sơ được giải quyết theo hướng chỉ ghi thông tin mẹ. Lần gần nhất vào tháng 2/2025, chị phải dùng đến “hạ sách”, nhờ họ hàng nhận Thư làm con nuôi. Tuy nhiên, cách này cũng không thành công.
Mọi trao đổi đều khép lại với bốn chữ “yếu tố nước ngoài”. Vì chị Thanh không chứng minh được đã ly hôn, trên giấy tờ, hôn nhân với người chồng Đài Loan vẫn còn hiệu lực, nên Anh Thư được xem là con chung trong thời kỳ hôn nhân đó. Theo nguyên tắc, khai sinh phải ghi thông tin cha theo người chồng – công dân Đài Loan, dù chị mang thai Thư nhiều năm sau khi hai người chia tay. Cán bộ hộ tịch e ngại rủi ro tranh chấp, chồng cũ quay lại khiếu nại.
“Về Việt Nam 15 năm rồi, còn dính líu gì đâu”, người mẹ bất lực kể.

Nghiên cứu của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam về phụ nữ di cư hồi hương cho thấy, nhiều người trở về mang theo vướng mắc pháp lý và gánh nặng tâm lý tương tự chị Thanh.
Tính đến tháng 11/2023, Việt Nam có 18.244 trường hợp đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài, trong đó, khoảng 89% là phụ nữ. Khi hồi hương, 44% phụ nữ đã ly hôn nhưng không mang theo giấy tờ xác nhận tình trạng ly hôn, 30% chưa hoàn tất thủ tục ly hôn và vẫn phải tiếp tục xử lý hồ sơ sau khi về nước. Trong nhiều trường hợp, con của họ vẫn chưa có giấy khai sinh hoặc chưa được xác định quốc tịch. Có tới 70% trẻ chưa được đăng ký và tình trạng cư trú chưa rõ ràng.
Chị Thanh cho biết các giấy tờ hôn nhân trước đây đều do chồng cũ người Đài Loan giữ. Cán bộ hộ tịch hướng dẫn chị liên hệ Phòng Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc tại TP HCM để tìm cách bổ sung. Nhưng chị né tránh khơi lại quá khứ.
“Giờ chắc ổng có vợ mới, mình gọi thì thành ra…”, chị bỏ lửng.
Người còn lại có khả năng giải quyết khai sinh cho con là anh Hạnh – người cha về mặt “niềm tin”. Gần chục năm qua, anh chung sống với chị Thanh, cùng chăm lo cho Thư, dù chưa đăng ký kết hôn và cũng chưa ly hôn vợ trên giấy tờ.
“Phải ở với con để nó biết mình cũng có cha chính thức”, anh tâm sự.

“Giờ không làm được giấy khai sinh cho con thì sau này sao nó kiếm việc làm”, anh Hạnh sốt ruột.
Một lần, nghe cha mẹ bàn chuyện làm khai sinh, đến đoạn giám định ADN, Thư bật dậy hỏi. Anh Hạnh ậm ừ giải thích đó là cách chứng minh hai cha con có chung huyết thống, cũng để hợp thức hóa tư cách “làm cha”.
Nghe cha giải thích xong, Thư ngập ngừng nói: “Chắc đau lắm, con không đi. Mà lỡ không đúng thì sao. Con muốn ba là ba con, chứ không ai khác”.
Theo ông Nhâm Ngọc Hiển, Bộ Tư pháp, trường hợp được xem là trẻ sinh trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp như Anh Thư, nếu người cha thực tế muốn nhận con thì việc xác định cha – con thuộc thẩm quyền của tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự. Trong đó, giám định ADN là cách để xác định huyết thống. Sau khi tòa thụ lý, giải quyết, ban hành bản án hoặc quyết định xác định mối quan hệ cha con, cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ căn cứ vào đó để đăng ký khai sinh theo thông tin cha, mẹ.
Tuy nhiên, việc xác định “người cha sinh học” đặt anh Hạnh và gia đình trước rủi ro về niềm tin.
Nếu Anh Thư đúng là con anh, anh hình dung một ngày con lớn lên sẽ hỏi “vì sao cha không tin con đến mức phải đi thử máu”. Ngược lại, nếu kết quả phủ nhận, anh không biết mình sẽ đối diện thế nào với quãng thời gian đã nuôi nấng, yêu thương Thư như con ruột và cả người phụ nữ anh chung sống cả chục năm.
Khác với Anh Thư – có chứng sinh làm căn cứ, Phạm Ngọc Liên (13 tuổi) và Phạm Ngọc Ly (11 tuổi) lớn lên trong cảnh “trắng giấy”, vòng lặp truyền từ đời mẹ sang con.
Trắng giấy
“Không gửi tiền về tao xé hết giấy tờ của tụi nhỏ”, chị Phạm Thị Ngọc Thu (41 tuổi) nghe mẹ chồng doạ qua điện thoại. Chị tức tốc vay tiền, bắt xe từ TP HCM về Đồng Tháp, khi ấy là năm 2015.
Từ ngày chồng chị mất, quan hệ với gia đình chồng không êm ấm do xung đột về tiền bạc. Xử lý xong, chị cắt đứt với nhà chồng, cùng hai con gái Phạm Ngọc Liên và Phạm Ngọc Ly, lần lượt 2 tuổi và 4 tháng tuổi, quay lại TP HCM. Hành trang của ba mẹ con là vài bộ đồ, bỉm sữa và di ảnh người chồng vừa mất. Giấy chứng sinh – căn cứ quan trọng nhất để đăng ký khai sinh cho con, đã không còn.
“Đời mẹ không có giấy tờ đã đủ khổ, giờ đến lượt con”, chị nói.
Chị Thu không biết ai đã sinh ra mình. Từ khi nhớ được, chị đã sống cùng người bà không máu mủ, trong một căn nhà gỗ ở Phnom Penh (Campuchia). Chị không đi học, hàng ngày theo bà ra chợ buôn bán, có khi chạy quán cà phê, rồi gặp chồng ở khu người Việt.
Hai người chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn vì chị Thu không có giấy tờ. Khoảng năm 2010, chị về Đồng Tháp thăm quê chồng, rồi phát hiện mang thai. Hai người quyết định chuyển lên TP HCM tìm việc.
Chồng chị có giấy tờ tuỳ thân nên làm gì cũng dễ. Hai vợ chồng thuê trọ tại phường Phước Long A (nay là phường Phước Long), có hai đứa con, lần lượt chào đời năm 2013 và 2015. Họ sinh sống yên ổn và cho đến khi anh phát hiện ung thư giai đoạn cuối năm 2015.
Khi Ly – con gái út được 4 tháng – anh qua đời.
Chị Thu trở thành mẹ đơn thân, loay hoay nuôi hai con gái trong tình trạng mất điểm tựa về kinh tế lẫn pháp lý hơn 10 năm nay.

Cứ sáng nào mẹ im lặng, không giục hai chị em dậy mà lặng lẽ vào bếp làm đồ ăn, Liên biết mình sẽ lại nghỉ học một thời gian.
Không một tờ giấy lận lưng, hai chị em không thể vào trường tiểu học, chị Thu đành gửi con học các lớp bổ trợ đọc viết cùng các học sinh lớp 1, tiền tiểu học để biết mặt chữ, nhưng chỉ gắng được 7-8 tháng rồi lại cho nghỉ vì không kham nổi chi phí.
Thu nhập chính của gia đình là tiền công làm bao bì giấy 200.000 đồng mỗi ngày. Buổi tối, chị Thu nhờ hàng xóm trông con để phụ rửa chén ở quán hủ tiếu gần nhà, kiếm thêm 60.000-70.000 đồng. Trong khi, tiền học của hai con khoảng 1,5 triệu mỗi tháng – bằng 1/3 thu nhập, chưa tính các khoản phụ như sách vở, dụng cụ học tập.
“Tôi vẫn mong cho con học lên để sau này có nghề có nghiệp ổn định”, chị Thu tâm sự.
Sau khi học qua 5-6 lớp bổ trợ ở khu vực Thủ Đức, năm ngoái, Liên và Ly ổn định tại Trung tâm Phát huy Bình Thọ. Tại đây, hai đứa trẻ vần vò lại cuốn sách Tiếng Việt lớp 2, trong khi bạn bè cùng tuổi đã học lớp 8 và lớp 6.

Để hai đứa trẻ có khai sinh, trước hết phải gỡ “nút thắt” ở phía người mẹ.
Ông Nhâm Ngọc Hiển, Bộ Tư pháp, cho biết với trường hợp trẻ không có giấy tờ chứng minh sự kiện sinh, cơ quan hộ tịch thường phải xác minh nguồn gốc, hoàn thiện giấy tờ pháp lý cho người mẹ, theo quy trình “có mẹ rồi mới có con”.
Tuy nhiên, chị Thu là người di cư xuyên biên giới, không giấy tờ, khiến việc hoàn thiện pháp lý cho người mẹ phức tạp. Do đó, một hướng tiếp cận khác là trích lục giấy chứng sinh của Liên và Ly tại bệnh viện, để ưu tiên giải quyết giấy tờ cho các con.
Theo ông Hiển, nhiều gia đình chậm đăng ký khai sinh vì đi lại khó khăn, bận mưu sinh hoặc thiếu giấy tờ kèm theo như cư trú, hôn nhân, giấy tờ định danh. Ngoài ra, việc trích lục giấy chứng sinh có thể gặp trở ngại do quy định thời hạn lưu trữ hồ sơ y tế (có loại không quá 10 năm), khiến thủ tục kéo dài hơn.
Chị Thu từng nghĩ đến việc làm thủ tục nhận con nuôi để hoàn tất khai sinh, nhưng day dứt vì trách nhiệm của một người mẹ ruột. Mỗi lần nhắc đến chuyện này, Liên lại khóc, còn Ly thì né tránh ánh mắt của chị.
“Mất cha thì vẫn còn mẹ, nó không chịu rời mình”, chị nói.

Tương lai hẹp
Nếu hết lớp 5 vẫn không làm được khai sinh, Thư sẽ nghỉ học hẳn và đi bán vé số cùng mẹ, rồi chờ lớn một chút sẽ học nghề. Liên và Ly cũng có nguy cơ bị đẩy vào những việc “không cần chứng minh thân phận” như mẹ.
Với những đứa trẻ không giấy tờ, ốm đau hay một tai nạn nhỏ cũng là nỗi sợ của phụ huynh, phần vì lo cho con, phần vì gánh nặng viện phí khi không có bảo hiểm y tế.
Chị Thu nhớ như in lần Ly phải đi cấp cứu cách đây khoảng 4 năm vì một vết rách sâu dưới cằm. Con không có thẻ bảo hiểm y tế nên viện phí rất cao, chị gần như khánh kiệt. Người mẹ phải bán chiếc xe máy được mạnh thường quân tặng để trả 8 triệu đồng viện phí.
“Ngày nào cũng thầm mong cho hai đứa nhỏ đừng đau ốm, bệnh tật. Có mệnh hệ gì không biết bấu víu vào đâu”, chị lo sợ.
Bà Lê Thị Lĩnh, Giám đốc Trung tâm Phát huy Bình Thọ – nơi Thư, Liên, Ly đang theo học, cho biết trẻ không có giấy tờ không thể lập học bạ – căn cứ xác nhận quá trình và kết quả học tập. Vì vậy, việc đến lớp của các em chỉ dừng ở mức “học chay cho biết chữ”. Thêm vào đó, các em không thể tiếp cận bảo hiểm y tế và điều trị công lập, dẫn đến rủi ro cao khi đau ốm, bệnh tật.
“Khi không có giấy tờ, nhiều em sớm lao vào các công việc tự do như bán vé số, phụ hồ…, đối diện nguy cơ bị bóc lột cao”, bà Lĩnh lo ngại.
Để hỗ trợ giải quyết vấn đề giấy tờ cho các em, từ năm 2023, trường đã phối hợp với Trung tâm An sinh xã hội TP Thủ Đức để tổ chức hai đợt hỗ trợ làm giấy tờ mỗi năm, cố gắng trong 5 năm học các em có thể hoàn tất hồ sơ. Nhưng đến giờ, vẫn rất ít trường hợp thành công.

Ông Nhâm Ngọc Hiển khẳng định Bộ Tư pháp thường xuyên yêu cầu địa phương thường xuyên rà soát, thống kê trẻ chưa đăng ký khai sinh và chủ động giải quyết. Trường hợp vượt thẩm quyền hoặc vướng kéo dài, cấp xã, phường báo cáo lên Sở Tư pháp và Cục Hành chính tư pháp để có hướng xử lý.
Tại TP HCM, ông Phạm Đình Nghinh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Bảo vệ Quyền trẻ em TP HCM, cho biết năm 2024 thành phố đã rà soát gần 600 trẻ thiếu giấy tờ và giải quyết được 444 trường hợp. Số còn lại tiếp tục theo dõi, tháo gỡ. Ông cho rằng cần tiếp tục đơn giản, linh hoạt hóa thủ tục trong phạm vi pháp luật cho phép, đồng thời có cơ chế “tiếp cận dịch vụ trước, hoàn thiện giấy tờ sau” để trẻ vẫn được đi học, khám chữa bệnh và tiếp cận các dịch vụ thiết yếu.
“Không để giấy tờ trở thành rào cản khiến trẻ em bị bỏ lại phía sau”, ông nói.

“Không học tiếp được, tôi sợ Thư có thể lớn lên ngoài vòng pháp luật như cha nó”, anh Hạnh trầm giọng khi nói về tương lai của con.
Năm 1982, anh rời Vĩnh Long lên TP HCM khi mới 15 tuổi. Anh tồn tại nhờ bạo lực, rồi vào tù và làm lại cuộc đời với nghề thợ hồ. Anh không muốn con gái rơi vào hoàn cảnh như mình.
“Nếu Thư có giấy tờ, sau này ít nhất cũng có thể đi làm công nhân”, anh Hạnh nói.
Chị Thu vẫn còn lựa chọn cuối cùng để đăng ký khai sinh cho con. Pháp luật hộ tịch cho phép bỏ trống thông tin về cha, mẹ và xếp trẻ vào trường hợp “chưa xác định được cha, mẹ”. Thế nhưng, chị không muốn con thành trẻ “mồ côi” trên giấy tờ. Trước mắt, chị cố gắng xin trích lục chứng sinh từ bệnh viện, đồng thời tìm cách làm giấy tờ khai sinh cho chính mình.
Bởi, chị mong con không chỉ có khai sinh, mà là một khai sinh trọn vẹn cả tên cha và mẹ.

(*) Tên nhân vật Anh Thư, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Văn Hạnh đã được thay đổi vì mục đích bảo vệ danh tính nhân vật.
Việc sử dụng hình ảnh của các em trong bài đã được sự đồng ý của gia đình.
Nội dung: Phùng Tiên – Lệ Nguyễn
Ảnh: Phùng Tiên