Danh mục lưu trữ: trà đàm

Phỏng vấn tuyển việc

Chào các bạn,

Phỏng vấn tuyển việc, job interview trong tiếng Anh, là cuộc gặp giữa đại diện công ty và người đang tìm việc. (Nhiều người dịch là phỏng vấn tuyển nhân viên, nhưng cách dịch đó quá một chiều). Đến bước này là thư tìm việc của bạn đã qua khỏi vòng loại đầu tiên, nói theo kiểu Mỹ, là một danh sách dài gồm nhiều đơn tìm việc gởi vào công ty đã được shortlisted (thu ngắn lại) và bạn đang nằm trong shortlist (danh sách ngắn). Thông thường phỏng vấn là giai đoạn cuối cùng. Tuy nhiên cho những chức vị quan trọng, có thể có đến 2 hay 3 vòng phỏng vấn, mỗi vòng là một cuộc thu ngắn (shortlisting). Trong bài này chúng ta sẽ nói đến các phương cách chuẩn bị cho một cuộc phỏng vấn.

1. Đến lúc này thì có lẽ bạn đã khảo sát một tí về công ty trong giai đoạn gởi thư tìm việc. Việc đầu tiên cho việc phỏng vấn là nghiên cứu một thêm một tí về công ty. Chỉ cần Google một tí trên Internet là có khối thông tin. Nhớ một ít chi tiết, để khi phỏng vấn không lớ ngớ như Bác Ngố lên thành.

2. Khảo sát thêm về người sẽ phỏng vấn mình. Thông thường là cả hai người–giám đốc nhân viên và giám đốc của phòng mình sẽ làm việc (ví dụ, giám đốc IT). Nhưng đôi khi chỉ có một trong hai người này. Tuy vậy, cứ chuẩn bị cho cả 2 người cho chắc ăn. Việc “chuẩn bị” này nên lồng vào việc “tạo dây liên hệ” với công ty theo tiến trình sau đây:

• Gọi vào công ty, nói chuyện với người đã báo tin cho bạn về cuộc phỏng vấn (thường là giám đốc nhân viên, hay trợ lý của bà ta). Đại khái nói ý này: “Em tên là XYZ. Em mới nhân được thơ báo tin phỏng vấn của cô. Em rất vui. Em gọi vào để cám ơn. Và để xác nhận với cô là em sẽ có mặt đúng 2 giờ chiều ngày … như thơ cô báo.”

Cú điện thoại này của bạn thực ra là một cuộc phỏng vấn rồi đó; nhưng cuộc này bạn nắm phần chủ động 100%. (Các bạn nên ghi nhớ các “tư tưởng chiến lược” trong ví dụ này nhé. Vì đây là phương cách giao tiếp thương mãi chung, không phải chỉ cho phỏng vấn tìm việc).

Xin chú ý, trong thí dụ này mình dùng cách xưng hô cô và em, cách xưng hô thân mật và lễ độ của người Việt. Nếu bạn xưng hô “bà” và “tôi”, nhất định là không có việc. Nếu xưng hô bà và em, cơ hội tăng một tí, xưng hô cô và em lại tăng thêm một tí nữa.

Nhưng giả sử nói chuyện với cô thư ký của bà ta thì sao? Nếu cô ấy nhỏ hơn mình vài tuổi thôi, chớ có kêu cô ấy bằng em, nếu cô này hay tự ái vặt, tìm cách rĩ tai bà chủ, thì hỏng cả việc của mình. Cứ kêu là chị, cách xưng hô trong đại học và giới trí thức. Xưng là mình hay là gì đó. “Tôi” là từ lạnh lùng nhất trong ngôn ngữ Việt. Lễ độ và dễ thương với mấy cô thư ký. Các cô ấy phải là đồng minh của mình thì việc mới thành.

Hỏi cô: “Cô có thể cho em biết cô hay là ai sẽ phỏng vấn em để em chuẩn bị tinh thần.” Câu hỏi này nhằm nhiều mục đích. Thứ nhất, để mình biết cách chuẩn bị. Thứ hai, để cô biết là mình rất quan tâm đến cuộc phỏng vấn, như vậy là mình rất quan tâm đến công việc. Thứ ba, để nói một cách rất tế nhị là “Cô ơi, em hơi run. Cô giúp em.” Nói như vậy, nhưng thực ra không nói vậy, cho nên không tỏ ra vẻ yếu ớt. Ngược lại, nó tỏ ra vẻ mình rất quan tâm đến công việc. Lưu ý, trong câu hỏi này mình nói “cô hay là ai”; đừng bỏ cô ra ngoài câu nói.

Hỏi thêm: “Cô ơi. Trong cuộc phỏng vấn em nên xưng hô với cô và với ông giám đốc IT như thế nào ?” Câu này vừa để cho mình biết cách xưng hô hay nhất, vừa để cô thành đồng minh giúp mình.

Nếu nói chuyện với cô thư ký, thì cũng hỏi như vậy, và nhớ là phải rất dịu dàng lễ độ với các cô thư ký, vì các cô ấy thường nhiều tự ái hơn là bà chủ.

Đừng nên nói quá lâu và quá nhiều trong cuộc điện đàm này.

Phỏng vấn
Phỏng vấn

• Sau đó, gởi vào một lá thơ để “cám ơn cô đã báo tin phỏng vấn”, và cám ơn việc “cô đã nói chuyện với em trong điện thoại hôm nay,” và “như em đã nói, em sẽ có mặt hôm ấy.”

Gởi thêm một email với nội dung tương tự. Trong email nhớ nhắc là mình cũng có gởi một lá thơ thường. Muc đích của email là vận tốc. Mục đích của thơ thường là để nó có dịp nằm chình ình trên bàn cô. Mục đích của cả hai là “tạo liên hệ” với công ty.

Tức là đến lúc này mình đã có bốn liên hệ với công ty: Thơ xin việc, cú điện thoại, email, và thơ thường. Ba liên hệ sau cùng là giữa mình và người sẽ phỏng vấn mình.

Đừng text vào điện thoại di động (nếu bạn biết số). Texting là dành riêng cho việc riêng thôi.

• Google để tìm thêm thông tin về những người sẽ phỏng vấn mình.

3. Đến ngày phỏng vấn:

• Ăn uống cái gì đó cho tỉnh táo trước khi đi. Cách ăn mặc thì có lẽ các bạn đã rành hết rồi.

• Đến trước khoảng 10 hay 15 phút để làm quen với không khí, và may ra thì có dịp nói chuyện một tí với cô thư ký.

• Mang theo một tập tài liệu, gồm vài resume của bạn (phòng khi cô làm lạc trong đống hồ sơ của cô rồi, và vài tài liệu về công ty). Điều quan trọng là trên tay có cầm cái gì thì cũng làm cho mình thoải mái hơn là thấy hai cái tay quá thừa thải.

• Chuẩn bị tinh thần: Đừng nghĩ rằng đây là một cuộc khảo thí. Cứ xem đây là môt cuộc nói chuyện với vài người bạn mới. Nếu không được việc làm, ít ra mình cũng biết thêm được hai người quan trọng. Biết đâu mai mốt lại gặp nhau trong một trường hợp khác. Dù không được việc, ít ra cũng có hai người có cảm tình với mình rất nhiều.

Cũng cần nhớ rằng, đây vừa là cơ hội để công ty biết thêm về mình, vừa là cơ hội để mình biết thêm về công ty. Chuẩn bị một số câu hỏi để hỏi về công ty. Đây là đường hai chiều, công ty chọn mình và mình chọn công ty, chứ không nhất thiết là đường một chiều của người “xin” việc. Và người phỏng vấn mình cũng cố làm cho mình thích họ, chứ không phải chỉ có mình cố gắng một chiều.

Một đối diện ba
Một đối diện ba

4. Lúc vào phỏng vấn:

• Nếu cô đưa tay ra bắt, thì bắt tay một cách chắc chắn, tự tin.

• Đợi mời ngồi rồi hãy ngồi. Tốt hơn là không nên ngồi trước.

• Nếu cô mời trà hay cà phê, thì cứ xin một ly. Đây là nghĩa là “Vâng, em cám ơn ly trà của cô.” Từ chối lời mời thường là việc không tốt. Nhưng nếu cô quên mời, thì đừng nên tự hỏi.

• Chủ động nói trước bằng một vài nhận xét tốt, như “Cửa sổ này của cô nhìn ra ngoài đẹp quá, em rất thích”, hay “Em thích bức tranh này quá”, hay “Cô thích nhạc cổ điển sao?” (nếu cô đang mở nhạc cổ điển), hay “Đấy là ảnh của con gái cô sao?”

• Lực chọn cách ngồi thoải mái nhất cho mình. Ngồi thẳng lưng, tréo chân, hay tay để trên đùi (gần đầu gối) là cách ngồi trung tính và thoải mái nhất. Ngồi hay chân sát vào nhau cũng được. Tuy nhiên thế ngồi này, nếu không thẳng lưng thì nhìn rất khúm núm. Hơn nữa, nếu ghế hơi cao thì rất phiền. Khi ngồi, hoặc thẳng lưng hoặc hơi hướng đến phía trước. Đừng dựa hẳn vào lưng ghế.

• Lúc cô nói, thì thỉnh thoảng gật đầu. Đến lúc quan trọng thì chồm người đến phía trước một tí, nhìn thẳng mặt cô, để lắng nghe.

• Lúc trả lời câu hỏi thì tuyệt đối không nói câu nào tiêu cực như là không thích việc đang làm, không thích công ty đang làm, v.v… Đổi thành, “Công ty này của cô lớn hơn và có nhiều cơ hội cho em tiến hơn” hay “Em đang làm hãng xe hơi, nhưng em từ lâu lại rất thích IT. Em nghĩ là tương lai thế giới nằm trong IT, nên em muốn vào công ty IT của cô.” (Chúng ta sẽ bàn thêm về các câu nói trong phỏng vấn trong một dịp khác).

• Nếu có dịp thì hỏi thêm về công ty, và dùng các dịp này để cho cô biết mình rành về công ty. Ví dụ: “Em đọc báo thấy công ty quý vừa rồi lời 2 triệu đô la, như vậy đợt tuyển này có phải là công ty bành trướng thêm không ạ?” hay “Thưa cô, nếu em được vào làm ở đây, và nếu em làm khá, thì trong 5 năm em có thể có những đường tiến nào trong công ty ?” Đây là câu để cô biết là ta chính chuyện đường dài với công ty.

• Tuyệt đối không nên hỏi chuyện tiền. Nếu cô hỏi: “Em muốn lương bao nhiêu?” Câu trả lời hay nhất là: “Em nghĩ là nếu cô tuyển em vào đương nhiên là cô biết em xứng đáng được bao nhiêu, em sẽ tin vào ý cô.” Vài quyển sách ở Mỹ nói chuyện trả giá ở đây, nhưng theo ý mình, đó là rất tồi và không hiệu quả.

• Nhưng nên hỏi về các quyền lợi khác như bảo hiểm.

• Không nên hỏi về vacation.

• Nếu cô hỏi đúng điều gì mình không biết thì cứ trả lời không biết một cách thành thật và tự tin. Ví dụ: “Thưa cô em chưa có dịp phải sử dụng C language, nhưng nếu cần học em có thể học rất nhanh. Em không lo về việc ấy. Em có rất nhiều kinh nghiệm về các ngôn ngữ lập trình khác rồi.” Chú ý: Câu này chấm dứt bằng một đoạn rất tích cực. Đừng có trả lời “Dạ em không biết” rồi ngưng tại đó luôn, nói thêm một cái gì rất tích cực.

5. Phỏng vấn về viết ngay một email và một thơ thường, cám ơn. Sau đó, cứ vài ba bữa là gọi vào cô hỏi tin tức. Cho đến khi biết kết quả. Nếu không được việc, cũng nên gởi một cái thơ cám ơn, và nhắn “Hôm nào cô cần thêm người thì nhớ đến em.” Biết đâu 3 hôm nữa cô lại cần thêm ngưởi. Tất cả các lá thơ và các cú điện thoài này đền nhằm xây thêm liên hệ giữa mình và công ty (cô).

Trên đây là tóm tắt vài ý chính giúp các bạn khi vào phỏng vấn. Các vấn đề này nếu viết kỹ và dài dòng thì thành một quyển sách. Chúng ta sẽ cứ nói từ từ ở đây, trên blog này. Bốn điều quan trọng cần ghi nhớ trong bài này là: Thứ nhất, tích cực trong tư duy và cách nói chuyện. Thứ hai, chuẩn bị. Thứ ba, luôn luôn chủ động. Thứ tư, xây dựng quan hệ—nếu không được công việc, cũng được quan hệ. Thực ra, nếu bạn suy nghĩ kỹ thì công việc là chuyện tức thì, quan hệ là chuyện lâu dài. Nếu được cả hai thì càng tốt, nhưng nếu không được cái tức thì, ít ra mình cũng xây dựng được cái lâu dài.

Chúc các bạn nhiều may mắn.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Luật Hấp Dẫn

Chào các bạn,

Từ ngàn xưa con người đã khám phá ra “trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa,” “nồi nào vung nấy,” “lòng tin bằng hạt cải dời được núi non,” và những câu “thần chú” ngắn gọn lập đi lập lại với lòng thành sẽ làm cho sự việc xảy ra theo ý mình muốn. Ngày nay cả thể giới phương tây đang nói đến các điều này, nhưng với một từ mới hơn—Luật Hấp Dẫn (law of attraction).

Một cách vắn tắt, luật hấp dẫn nói rằng bất cứ tư tưởng gì ta có cũng đều hấp dẫn các năng lực tương tự trong vũ trụ để tạo nên sự việc theo tư tưởng đó. Ví dụ: “Tôi sẽ có tiền,” nếu cứ nghĩ và tin như thế tự dưng ta sẽ có tiền. “Tôi sẽ đẹp,” cứ nghĩ như thế thì ta sẽ thành đẹp ra.

• Dĩ nhiên nói đến “lòng tin” hay “thần chú,” thì vấn đề có một nền tảng rất khoa học. Nếu ta cứ tin là ta có tiền thì ra sẽ rất hăng hái lao vào các việc làm tiền. Càng làm, càng nhiều kinh nghiệm, càng giỏi, càng thành lớn. Đây chỉ là chuyện hiển nhiên. Hoặc, chàng nào tin là mình đẹp trai thì thường hay để ý đến cách ăn mặc hơn và tự tin hơn với các cô. Mà các cô thì thích đàn ông ăn mặc tử tế và tự tin. Rốt cuộc số lượng các cô bạn chàng có là chứng minh hùng hồn nhất là chàng đẹp trai. Lòng tin làm cho mình có tự tin và tập trung tư tưởng, do đó đưa đến thành công. Vấn đề rất giản dị.

• Tuy nhiên luật hấp dẫn còn có khía cạnh “siêu nhiên” của nó. Đó là, sức mạnh của tư tưởng hấp dẫn các năng lực trong vũ trụ để thực hiện ý muốn của tư tưởng. Tương tự như nhà Phật nói, một tiếng khẩy móng tay có thể mang âm ba rung động đến vô lượng thế giới. Như vậy nghĩa là sao? Năng lực gì trong vũ trụ lại cộng hưởng với năng lực của tư tưởng của ta đến mức đó?

Chúng ta sẽ không đi vào lãnh vực tâm lý ngoại cảm mà ta không đủ sức chứng minh, tức là “vô lượng thế giới.” Thay vì vậy, ta sẽ chỉ khảo sát luật hấp dẫn trong thế giới cá nhân của mỗi người chúng ta, để thấy được tính cách khoa học của nó, và để sử dụng nó một cách hiệu quả. Thế giới cá nhân của mỗi người chúng ta là chính mình, gia đình, bạn bè, những người làm cùng sở, những người mình giao tiếp hằng ngày, những người mình không giao tiếp nhưng họ có tiếp xúc với tư tưởng của mình—như những người đọc điều gì mình viết trên Internet.

Hâp dẫn nhau cực độ
Hấp dẫn nhau cực độ

• Danh từ đầu tiên ta phải giải thích là “tư tưởng.” Từ “tư tưởng” (idea) trong luật hấp dẫn có thể làm cho rất nhiều người hiểu lầm rằng đó là một hoạt động của ý thức, như “suy nghĩ” hay “suy tư.” Nhưng trong luật hấp dẫn, “tư tưởng” có nghĩa là một hoạt động của tâm thức—gồm ý thức, tiềm thức và cả các cảm giác như vui buồn yêu ghét. Nói chung, tư tưởng là tất cả những gì xảy ra trong tâm ta. Mà nói đến tâm, là chúng ta đều biết tiềm thức lớn lao và mạnh mẽ hơn ý thức ngàn lần, cho nên khi hiểu từ “tư tưởng” trong luật hấp dẫn như là một hành động suy nghĩ của ý thức mà thôi, là ta đã làm mất sức mạnh của luật hấp dẫn đi cả trăm, cả nghìn lần. Ví dụ: Nếu miệng ta lẩm bẩm “tôi sẽ có tiền” (tức là ý thức), nhưng trong thâm tâm ta không tin là điều này sẽ thành sự thực (tức là tiềm thức). Mà tiềm thức thì mạnh hơn ý thức cả nghìn lần, cho nên đương nhiên là ta sẽ sống theo hướng “tôi sẽ không có tiền,” và vì vậy mất tự tin trong việc kiếm tiền. Thế thì luật hấp dẫn vẫn đúng, nhưng “thần chú” của ta thì sai.

• Vì tiềm thức rất khó cho ta “thấy,” ta cần phải tìm cách “thấy” tiềm thức qua những cái khác—lòng tin, và cảm giác. Lòng tin điều khiển một phần rất lớn sự “suy nghĩ” của tiềm thức, và cảm giác thường là hậu quả của tiềm thức, cho nên ta quản lý tiềm thức bằng quản lý lòng tin và cảm giác—lòng tin phải thật mạnh mẽ, cho đến nỗi ta luôn luôn cảm thấy rất là hăng hái, chắc ăn. Khi ta nói “tôi sẽ có tiền” với một lòng tin mạnh mẽ và một cảm giác hăng hái, chắc ăn, thì lúc đó “tư tưởng” của ta mới tạm gọi là chân thật và mạnh mẽ. Vì vậy, thay vì nói “ý thức” và “tiềm thức,” rất mơ hồ và khó hiểu, chúng ta chỉ cần quan tâm đến 3 điều: (1) sự suy nghĩ, (2) lòng tin, và (3) cảm giác. Suy nghĩ đến điều gì, như “tôi sẽ xuống cân,” thì suy nghĩ với một lòng tin vững chải và một cảm giác hăng hái. Lúc đó tư tưởng mới thực sự có sức mạnh chuyển hóa đời sống ta và thế giới của ta.

• Nói đến đây có lẽ chúng ta đã mường tượng được luật hấp dẫn hoạt động như thế nào: Nếu ta cứ nói “tôi có tiền” với một lòng tin mạnh mẽ và một thái độ hăng hái, thì tiềm thức “tôi sẽ có tiền” sẽ bắt đầy chỉ huy tác phong và cách sống của ta. Tự nhiên là ta sẽ bắt đầu hăng say nghiên cứu việc kiếm tiền, nói chuyện kiếm tiền với bạn bè, siêng năng đi tìm việc làm, hễ việc gì có thể kiếm ra tiền ta đều hăng hái làm. Những người như vậy, đi xin việc ở đâu, các ông chủ đều mê. Người nào muốn làm thương mại gì cũng muốn tìm partner như vậy. Không giàu sao được?

• Như vậy ta thấy tư tưởng của ta đã chuyển hóa được đời ta, và ít nhất là đời sống của những người làm việc chung. Và nếu có bạn bè thân nhân nào đó, nghe ta nói và tin vào cách sống của ta, họ làm theo và thành công, đó cũng là do tư tưởng của ta đã phần nào chuyển hóa cuộc đời họ. Và nếu một tờ báo nào đó nhờ ta viết một bài về kinh nghiệm của mình, những độc giả nào nhờ đó mà chuyển hóa đời sống của họ, một phần cũng là do tư tưởng của ta. Đó chính là tư tưởng của ta có năng lực chuyển hóa thế giới của ta. Và nếu uy tín của bạn càng cao trong xã hội, thì thế giới của bạn càng lớn, ảnh hưởng chuyển hóa của bạn trên hành tinh này càng nhiều. Rất thực tiễn và khoa học.

• Luật hấp dẫn là luật tự nhiên, như là trọng lực, rất trung tính. Luật hấp dẫn đúng với tất cả mọi người, không cần biết nam nữ, lớn bé, giàu nghèo, và quan trọng nhất là, không cần biết tốt xấu. Người lương thiện tin chắc chắn là mình sẽ giàu, sẽ giàu nhờ làm ăn lương thiện. Người có máu ăn cướp, tin một cách sắt đá là mình sẽ giàu, thì sẽ giàu nhờ ăn cướp. Vì vậy, chúng ta thấy trong xã hội, bất kỳ ai, tốt hay xấu, cũng có thể “thành công.”

Vẫn hấp dẫn nhau được
Vẫn hấp dẫn nhau được

Thế thì có gì khác biệt giữa người xấu và người tốt ở đây? Thưa, có luật nhân quả (law of causation). Chữ này nghe như xuất thân từ Phật giáo, nhưng thực ra cả thế giới đã dùng nó cả triệu năm nay, vì đánh người thì sẽ có hậu quả là bị người đánh lại, ai cũng phải thấy. Nếu làm ăn lương thiện thì có nhiều bạn và không có kẻ thù, cho nên có xác suất rất cao là thành công sẽ ở với mình rất lâu. May ra thì có thể hưởng được tuổi già hạnh phúc. Nếu đi ăn cướp, thì có nhiều kẻ thù quá, lại được các bác công an chiếu cố đặc biệt, nên xác suất hưởng được “thành công” lâu ngày chắc là chỉ hơn zero một nấc nhỏ, và xác suất được đứng dựa cột thì suýt soát 100%. Sự khác biệt giữa tốt và xấu là ở chỗ đó—một bên thì nhiều bạn nên sống lâu, một bên thì nhiều thù nên chết yểu.

• Luật hấp dẫn là luật của tư tưởng, mà ngôn ngữ là một phần rất lớn của tư tưởng, cho nên ngôn ngữ rất quan trọng trong luật hấp dẫn. Chúng ta đã nói qua điều này trong bài “Sức mạnh của tư tưởng.” Trong ngôn ngữ của con người, thể phủ định có ảnh hưởng rất yếu trong tâm thức. Ví dụ: “Tôi không yêu ai” thì nhạt như nước ốc. Nó chẳng có nghĩa lý gì hết, nó chỉ có nghĩa là tôi không yêu ai, và không chắc là tôi có ghét ai không. Nghe chán phèo. Hay “tôi không chống anh,” chẳng nghĩa lý gì cả, vậy anh có ủng hộ tôi không?

Vì vậy khi ta nói một câu phủ định “tôi không muốn béo,” tiềm thức của ta không “thấm” cái yếu ớt của chữ “không” phủ định, mà lại thấm cái mạnh mẽ của chữ “béo” xác định. Cho nên tiềm thức cứ hướng ta sống theo hướng “béo.” Vì vậy, các chuyên gia về tư duy tích cực (cũng như các luật sư chuyên về tranh tụng trước tòa) luôn luôn dạy người ta nói và viết ở thể xác định: “Tôi muốn gầy” (không phải là “tôi không muốn béo”), hay “tôi muốn giàu” (không phải là “tôi không muốn nghèo”).

• Một số các chuyên gia còn có cách trình bày thế này: Luật hấp dẫn không biết văn phạm , chỉ biết các từ mà thôi. Nếu câu bạn nói mà có chữ “yêu,” không cần biết đó là phủ định hay xác định, thì luật hấp dẫn cứ dẫn ta đi theo hướng “yêu.” Các bạn có nghe các phụ nữ lớn tuổi kể chuyện đời của họ không: “Hồi đó tui ghét ổng gần chết, thấy mặt là wẹo đường khác. Nhất định là không thèm thương. Rốt cuộc cũng lấy ổng.” Tóm lại “tôi yêu anh Tín” hay “tôi không yêu anh Tín,” đối với luật hấp dẫn thì như nhau, và cả hai chỉ có nghĩa là “yêu” và “anh Tín.” Tương tự như vậy, “tôi không thích béo” và “tôi thich béo” đều chỉ có nghĩa là “tôi” và “béo.” Vì vậy, ta luôn luôn phải suy nghĩ (và nói chuyện cũng như viết lách) theo thể xác định. Và dĩ nhiên là chỉ nên dùng các từ tích cực. (Từ tích cực là từ nói đến cái ta muốn, ta thích. Nếu bạn thích gầy, thì “gầy” là từ tích cực và “béo” là từ tiêu cực. Ngược lại nếu bạn thích béo, thì “gầy” lại là tử tiêu cực và “béo” là từ tích cực).

Đỉnh cao hấp dẫn
Đỉnh cao hấp dẫn

• Dĩ nhiên là ai trong chúng ta cũng biết ảnh hưởng của luật lập đi lập lại (law of repetition). Các giáo chức đều rất giỏi luật này. Dạy một điều nhưng cứ lập đi lập lại hằng trăm lần, bằng hằng trăm cách khác nhau (biết rồi, khổ lắm, nói mãi!), như vậy thì học trò mới nhập tâm được. Cho nên, theo luật hấp dẫn, nếu bạn muốn điều gì thì soạn một câu thần chú ngắn, như “tôi sẽ có tiền,” rồi cứ thầm lập đi lại câu đó trong đầu, thì luật hấp dẫn sẽ có tác dụng mạnh mẽ. (Nhắc thầm thôi, lảm nhảm ngoài miệng chắc là sẽ bị người nhà cho nhập viện :-)).

• Và một quy luật ngôn ngữ khác nữa là hiện tại thì luôn luôn luôn mạnh hơn tương lai. Hãy so sánh “anh yêu em” và “anh sẽ yêu em” xem câu nào mạnh hơn. Nhưng điều ta ước muốn đương nhiên là thuộc về tương lai, ví dụ “tôi muốn có tiền.” Thế thì ta giải quyết cái yếu của tương lai thế nào? Thưa, có 2 phương cách. Thứ nhất, nếu việc gì có thể biến nó thành hiện tại, thì phải suy nghĩ theo cách hiện tại. Ví dụ: Thay vì “tôi sẽ có tự tin” thì ta phải nói “Tôi có tự tin,” vì chẳng lý do gì ta không thể nói “tôi có tự tin ngay bây giờ” mà phải đợi đến sang năm.

Thứ hai, đôi khi ta cảm thấy nhất định không thể nói thì hiện tại một cách đầy tin tưởng được, ví dụ, nếu trong túi không có một đồng xu, thì nói “tôi sẽ có tiền” dễ tin hơn là “tôi có tiền.” Trong trường hợp đó cứ nói “tôi sẽ …” nhưng phải buộc tương lai vào hiện tại, ngay trong lúc này, ngay ở đây. Tức là, hiện thời tôi đang ngồi đây nói chuyện với bạn của tôi, tôi biết là tôi muốn có tiển và “tôi sẽ có tiền,” nhưng cái “sẽ” đó có thật được hay không cũng là do tôi sống trong hiện tại có thật hay không—tương lai chỉ là một chuỗi những ngày của hiện tại. Hiện tại tôi đang nói chuyện với bạn tôi, tôi sẽ nói chuyện rất thực, tôi sẽ lắng nghe rất kỹ, sẽ mở rộng đầu óc và con tim để nghe, tôi sẽ chia sẻ thật tình, tôi sẽ dùng mỗi giây đồng hồ một cách tận tình. Sống ngay phút này, ngay tại đây, một cách tận tình, dù là mình đang làm bất kỳ việc gì, thì đó là cách để nối hiện tại có thật vào một tương lai sẽ đến thật.

• Cuối cùng, có bạn hỏi luật hấp dẫn này từ đâu tới? Dĩ nhiên là nghe qua ta cũng thấy luật hấp dẫn là qui luật tâm lý tự nhiên. Con người hấp dẫn nhau vì sức mạnh bên trong của mình. Và các chuyên gia về tâm lý và truyền thông (communication) đã nói đến nhiều thập kỹ (nếu không nói là hàng nghìn năm nay). (Chỉ có phần tâm lý ngoại cảm–năng lượng của tâm thức làm chuyển động năng lượng của vũ trụ–thì mình xin được phép miễn bàn, vì chưa nắm chắc). Gần đây một vài cuốn sách bán chạy đã đẩy danh từ “luật hấp dẫn” thành rất phổ thông. Theo mình nghĩ, luật hấp dẫn được diễn giảng ngày nay chính là “tư duy tích cực” phát xuất từ các giảng sư thiên chúa giáo khi xưa—lòng tin bằng hạt cải dời được núi non–trình bày lại một cách khoa học hơn bằng các khái niệm Phật giáo đang rất thịnh hành trong giới trí thức Âu Mỹ ngày nay.

Chúc các bạn một ngày vui!

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Hướng đến giải pháp

Chào các bạn,

Cụm từ “hướng đến giải pháp” là dịch từ chữ “solution-oriented.” Người hướng đến giải pháp là người luôn luôn nghĩ đến giải pháp. Vừa nghe xong một vấn đề gì là họ thường nói “Chà, làm sao để giải quyết nhỉ?” Đây là loại người hoàn toàn khác với các ca sĩ chuyên hát “Chán quá, chỉ là một lũ ngu dốt bất tài!” Trong các mục tìm người ở Mỹ, chúng ta hay thấy từ “solution oriented” hay “result oriented” (hướng đến kết quả).

Người hướng đến giải pháp (solution-oriented person) dĩ nhiên là người có tâm tính rất tích cực, bởi vì người tiêu cực chỉ thích càu nhàu, chê trách cuộc đời. Người tiêu cực hay phàn nàn về các vấn đề cá nhân cũng như xã hội, vì vậy họ thường có ảo tưởng là mình sáng suốt, thấy vấn đề, là kẻ thức thời. Nhưng thực ra người tích cực thấy nhiều vấn đề hơn, vì người tích cực là chuyên viên giải quyết vấn đề–bước vào bất cứ nơi nào, họ chỉ cần liếc mắt qua là thấy đủ mọi loại vấn đề. Nhưng người ta thường có cảm tưởng là người tích cực không thấy vấn đề vì: (1) Người tích cực thường không nhắc đến vấn đề nào mà họ không giải quyết được. Ví dụ: Thay vì “Trời mưa hoài, chán quá!” họ lại nghĩ, nếu không bảo ông Trời ngừng mưa được, thì đi tắm mưa hay làm thơ “Trời mưa nhớ em” còn có ích hơn. (2) Khi người tích cực nhắc đến một vấn đề, người nghe thường chẳng nghe thấy vấn đề đâu cả mà chỉ nghe thấy một mục tiêu nhắm đến. Ví dụ: Thay vì “Giáo dục của ta thật là quá tồi” thì họ nói “Trong vòng 2 năm qua chúng ta đã đạt được những thành quả cải cách rất khá, năm nay cần phải cải tiến thêm các lãnh vực A, B, C này.”

Nếu bạn là người hướng đến giải pháp, đi đâu bạn cũng thấy vấn đề, và trong đầu bạn thường có một mớ câu hỏi và nhiều câu trả lời. Ví dụ: Ban đêm trong chung cư, một nhà giật cầu là mấy nhà bên cạnh ngũ không được, làm sao để sáng tạo một bồn cầu thanh lặng? Nếu được là bạn sẽ thành triệu phú. Đến mấy nơi nhiều người mua vé, thiên hạ không chịu sắp hàng mà cứ chen lấn, làm sao để có những tấm bảng nghộ nghĩnh và một mớ cột và dây di động để khuyến khích mọi người sắp hàng, rồi bán cho các chỗ này? Khúc phố này nhiều rác quá, làm sao khuyến khích các chủ tiệm ở đây có chương trình “Phố sạch” để họ làm ăn khá hơn?

Khiêu vũ
Khiêu vũ

Người hướng đến giải pháp thường có tư duy “Không-thể-làm-được chỉ có nghĩa là chưa tìm ra giải pháp.” Luôn luôn có một giải pháp tốt nào đó cho một vấn đề, có điều là ta thấy giải pháp đó chưa mà thôi. Thường thì giải pháp sẽ đến nếu ta cố gắng tìm kiếm, như người bị cọp đuổi, nhảy phăng qua hàng rào 1m5 như vận động viên Olympic, mà bình thường anh ta không thể nào qua được. Khi xưa Đường Minh Hoàng mơ đến thăm Hằng Nga nơi Nguyệt Điện và thức dậy viết vũ khúc Nghê Thường, nhưng ngày nay hẳn là Đường vương sẽ sững sốt khi nghe Armtrong nói rằng anh đã đặt chân lên mặt trăng thật và nơi đó chẳng có tiên nữ hay điện ngọc, mà chỉ toàn là bụi đất.

Dĩ nhiên muốn đến được với giải pháp thì trước hết ta phải thấy vấn đề. Nếu không thấy câu hỏi, đương nhiên là không thể thấy câu trả lời. Từ “vấn đề” cũng là một từ chịu ảnh hưởng tâm lý rất lớn. Người thụ động thường không thấy vấn đề–rác một nhà nhưng chẳng thấy nhà dơ. Người tiêu cực đôi khi thấy vấn đề, nhưng bỏ mặc–ối, chúng nó không giữ vệ sinh, hơi đâu mà lo. Người hướng đến giải pháp hầu như luôn luôn thấy vấn đề và tìm cách giải quyết. Tuy nhiên, có một loại vấn đề mà không ai có thể thấy, ngoại trừ những người hướng đến giải pháp. Đó là khi mọi người vẫn vui vẻ làm việc, chẳng ai thấy trở ngại phiền toái gì cả, nhưng người hướng đến giải pháp vẫn trầm tư suy nghĩ: Cách làm này thì cũng tạm được rồi, nhưng phải có cách làm nhanh hơn và hiệu quả hơn chứ? Đó là đầu óc luôn luôn muốn cải thiện, luôn luôn muốn làm cho mọi việc tốt đẹp hơn, luôn luôn nghĩ rằng “Dù có khá cách mấy vẫn còn cách để khá hơn.” Đây là tư duy “Đời sống là một hành trình cải thiện không bao giờ có điểm cuối.”

Sau khi đã thấy vấn đề, việc tìm giải pháp chung quy chỉ nằm trong 3 câu hỏi: Thứ nhất, tôi làm được gì? Thứ hai, tôi đã nghiên cứu được gì—nghiên cứu ngày nay thường là đọc sách và Internet. Thứ ba, tôi đã nói chuyện với ai rồi. Hỏi ý kiến những người có kiến thức về một vấn đề gì đó thường giúp mình thấy giải pháp dễ dàng hơn. Tóm tắt là: tôi, sách vở tài liệu, và người khác. Việc còn lại chỉ là thử nghiệm, cố gắng và thời gian.

Sáng tạo vô giới hạn
Sáng tạo vô giới hạn

Khó khăn người say mê sáng tạo có thể gặp thường xuyên nhất là mình phải làm một mình, chẳng ai chịu làm chung cả. Nhiều người có thể cho là mình hơi mát mát, “Đó đó, ông đó là ông Hùng mát đó.” Và người nhà thì cũng có thể rất bực bội việc mình “phí công, phá tiền cho mấy chuyện tào lao.” Vấn đề này chắc là phải cười trừ thôi, chứ biết sao bây giờ? Nhưng không sao, thái độ hăng say một cách “mát mát” của bạn chắc cũng làm cho bà con buồn cười thôi, chứ không ai nở khó khăn với mình.

Ngoài ra còn một vấn đề khác quan trọng hơn, mà các vị đàn ông cần biết. Mặc dù hướng đến giải pháp là tư duy cần thiết trong mọi nơi mọi lúc, nhưng thông thường ta không nên xung phong tặng người ta giải pháp khi người ta không hỏi, vì phản ứng thường xuyên sẽ là , “Ông này kỳ cục, có ai hỏi đâu mà dạy.” Và nếu bạn đã đọc cuốn “Men are from Mars, Women are from Venus” của John Gray, bạn biết là phụ nữ và đàn ông tâm tính rất khác nhau. Khi nàng tâm sự cho bạn nghe về các vấn đề nàng đang gặp, nàng chỉ cần có người nghe tâm sự. Cứ ngồi nghe cho tốt, nghe chăm chú, lặng yên, gật đầu, ừ, yes, chia sẻ, đừng dại dột xung phong giải pháp, trừ khi nàng hỏi rõ ràng. Và ngay cả khi đó, cũng đừng quá hăng say giảng thuyết tràng giang đại hải, nói vài câu thôi. Phụ nữ tâm sự là để được lắng nghe chứ không phải để tìm cố vấn. Làm đàn ông, nghe vấn đề mà không được mở miệng nói đến giải pháp thì rất là ấm ức trong lòng. 😦 Nhưng nếu bạn không nghe mình, bị xì-nẹt thì đừng ngạc nhiên.

Tóm lại, hướng đến giải pháp không phải là một phương thức suy tư, mà là tâm tính của ta. Ta có tính hướng đến giải pháp, đi đâu cũng thấy vấn đề và cũng muốn tìm ra giải pháp. Đây là loại tâm tính đến một cách tự nhiên với người có tư duy tích cực. Một trăm phần trăm những người thành công lớn trong xã hội là người hướng đến giải pháp. Họ không những là thấy những vấn đề thông thường, mà còn có khả năng thấy vấn đề khi không ai thấy. Đối với họ, vấn đề không phải là cái gì hư phải sửa, mà là cái gì tốt có thể làm tốt hơn. Và họ theo đuổi giải pháp. Đến khi họ làm được, thì đương nhiên họ là người duy nhất có được giải pháp trong tay.

Chúc bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Chọn mặt gởi vàng

Chào các bạn,

Thỉnh thoảng một vài thương gia nhờ mình viết hợp đồng liên doanh mở công ty, và lâu lâu mình lại gặp một trường hợp mà vị thân chủ có rất nhiều lo âu với đối tác: “Nếu mai mốt anh ta chơi tôi như vầy, như vầy, thì tôi phải làm sao.” Mình trả lời: “Việc đó thì dễ. Để mình vô hợp đồng câu này, thì tránh việc đó được.” Môt hồi sau, vị thân chủ nhắc đến một vấn đề khác: “Nếu anh ta lại tính như vầy, như vầy thì sao?” Mình đương nhiên là ghi thêm vào hợp đồng một câu mới. Một hồi sau đó, vị thân chủ lại nhắc thêm một vấn đề khác: “Còn nếu anh ta lại làm vầy, làm vầy, thì sao?” Đến lần thứ ba như vậy, mình thường thường ngưng viết, nhìn thẳng mặt vị thân chủ và nói: “Dĩ nhiên là mình có thể ghi thêm một câu đề phòng mới. Nhưng mình có vấn đề quan trọng này muốn nói với anh trước. Mình có cảm tưởng là anh không tin tưởng người bạn này và hơi lo lắng về việc anh ta chơi xấu anh phải không?” Câu trả lời mình thường nghe được là, “Cũng không phải là không tin, nhưng đề phòng trước vẫn hơn.”

Lúc đó mình thường nói câu này: “Mình làm việc này lâu rồi, thấy đủ mọi lý do cãi nhau rồi. Dĩ nhiên là làm thương mãi thì nên có hợp đồng để công việc rõ ràng, khỏi tranh cãi và mâu thuẫn. Nhưng mình đã thấy những hợp đồng dài cả trăm trang, hai bên mỗi bên có cả một nhóm luật sư chứ không phải một người. Ký xong, khoảng chừng sáu tháng một năm là cả hai bên đưa nhau ra tòa. Lý do không phải là luật sư của họ dở. Lý do là hai bên không tin nhau ngay từ đầu. Hợp đồng chỉ là tờ giấy. Tờ hôn thú không giữ được vợ chồng. Mình có cảm tưởng là anh không tin ông bạn này của anh tí nào. Đó là dấu hiệu làm ăn với nhau rất nguy hiểm, rất dễ đổ vỡ. Nếu công ty mới mở một thời gian mà hai người cãi nhau là công ty chết ngay. Mình có thể không nói gì, cứ lẳng lặng làm hợp đồng theo ý anh muốn và lấy tiền bỏ túi. Mấy tháng nữa, nếu hai người kéo nhau ra tòa, anh lại trả tiền cho mình để ra tòa. Nếu anh thực sự muốn làm tiếp hợp đồng, mình vẫn có thể tiếp tục hôm nay. Nhưng vấn đề này rất quan trọng, mình phải nhắc anh rồi tùy anh định liệu. Mình nghĩ là anh nên về nhà suy nghĩ một vài bữa, một tuần. Nếu sau đó anh thấy là anh nên làm ăn với ông bạn này, anh em mình có thể viết hợp đồng bất kỳ cách nào anh muốn, đâu có trễ?”

Ký hợp đồng
Ký hợp đồng

Trong các vụ mình cố vấn như vậy, chưa thấy có vụ nào mà người thân chủ tiếp tục dự án làm ăn. Điểm mình muốn nói ở đây là quá nhiều người trong chúng ta quên mất qui luật căn bản nhất trong liên hệ con người: “Người ta phải yêu nhau trước khi ở chung, không thể ở chung trước rồi yêu nhau sau. Hợp đồng ở chung không đưa đến tình yêu.” Liên doanh thương mãi cũng là một loại giá thú, nhất là liên doanh giữa vài cá nhân sẽ làm việc chung hằng ngày—họ sẽ phải sống chung mỗi ngày nhiều giờ hơn là sống chung với vợ/chồng ở nhà. Nếu không tin nhau, ai mà lấy nhau. Vậy thì, tại sao mình lại liên doanh với người mình không tin?

Trong các lớp học về lãnh đạo và quản lý, người ta luôn luôn đặt “vision” hay “mục tiêu tối hậu” của dự án lên hàng đầu—dùng vision để kéo mọi người vào với nhau, giữ mọi người chặt vào nhau. Dĩ nhiên là điều này đúng, nhưng không mấy ai nói thêm rằng, đối với những người lãnh đạo sáng lập công ty, thường là họ đã thân thiết nhau và tin cẩn nhau trước khi họ có vision, trước khi họ lập công ty.

Vì lòng tin cần một thời gian khá lâu để xây dựng, thông thường người ta chỉ tin những người đã quen biết lâu năm, tức là những người bạn mình đã thân lâu năm. Vì vậy, đừng ngạc nhiên nếu bạn đang thất nghiệp, bỗng nhiên có cú điện thoại từ một người bạn cũ, bây giờ đang là tổng giám đốc một công ty, cần bạn giúp một tay để quản lý công ty. Trong đời sống thương mãi, những chuyện như vậy xảy ra hầu như hằng ngày.

Lý lẽ này có hai ứng dụng quan trọng. Thứ nhất, bạn bè của mình là vốn liếng rất lớn của mình. Cho nên hãy quí tình bạn và nuôi dưỡng nó từ lúc này. Càng lâu ngày, tình bạn càng cho mình nhiều hoa trái. Càng về sau, hoa trái càng thơm tho ngọt ngào. Thứ hai, bạn bè của mình cũng là nơi mà tiếng tăm của mình bắt đầu. Trong giới thương mãi và chính trị, chuyện như thế này thường xảy ra: “Chị Hà, chị làm việc với anh Tuấn mấy năm liền, em nghe nói anh ấy rất giỏi về vi tính, tính mời anh ấy qua bên em làm việc, nhưng không biết anh ấy thế nào. Chị thấy anh ấy thế nào?” Dĩ nhiên là câu trả lời của chị Hà trong tình huống này có ảnh hưởng rất lớn. Vì vậy, cách sống của mình với bạn bè và những người gần gũi mình có thể ảnh hưởng đến cuộc đời mình lớn lao hơn mình nghĩ. Và tiếng tăm mình có ngoài xã hội, phần lớn cũng là từ tiếng tăm mình có với những người gần gũi. Nếu thành thật đứng đắn với bạn bè, tức là thành thực đứng đắn với xã hội. Nếu bạn bè mình không thể tin lời mình nói, thì cả xã hội rồi cũng thế thôi. Dĩ nhiên ở đời vẫn thường có những chuyên gia chuyên lừa bịp người lạ, nhưng đó chỉ là một hai lần rồi chạy, phải không? Trong trường kỳ, chỉ có danh tiếng thực là đứng vững.

Bạn tốt
Bạn tốt

Trở lại vấn đề công ty, giã sử hai người thành lập công ty thân nhau và tin nhau. Nhưng các nhân viên là người mới, làm sao để họ có thể tin tưởng và gần gũi nhau? Thưa, đó là do các vị lãnh đạo. Nếu các vị ấy thành thật đứng đắn thì tự nhiên mọi người trong công ty sẽ thành thật đứng đắn theo, và cả công ty sẽ có danh tiếng thành thật đứng đắn. Nếu lãnh đạo dối trá, từ từ toàn thể cấp dưới cũng thế, và cả công ty sẽ có tiếng là không thành thật trên thị trường. Người tốt rồi cũng tìm cách rời công ty, hoặc nếu có ở lại thì cũng chỉ rất thụ động và tiêu cực.

Ảnh hưởng từ tâm của mình, đi ra đến bạn bè của mình, lan rộng ra cả mọi người trong công ty hay cộng đồng của mình, đi dài theo cả đời mình, rất là mạnh mẽ và trực tiếp, các bạn a. Quả tim của mình có sức mạnh nhiều hơn mình tưởng. Và trong tất cả các ảnh hưởng, có lẽ lòng thành thật (hay không thành thật) là ảnh hưởng ra ngoài mạnh nhất. Người ta có thể gần gũi với người tự cao, người tự ti, người yêu nước, người không yêu nước, người giỏi, người dốt. Nhưng không ai dám gần gũi người không thành thật. Sống chung với họ cứ như là “ngủ với kẻ thù.”

Trong năm đức tính làm người của Khổng giáo—nhân lễ nghĩa trí tín—tín tức là lòng thành thật, đứng cuối cùng. Theo Khổng giáo, nếu mất nhân thì nhờ đến lễ, mất lễ thì nhờ đến nghĩa, mất nghĩa thì nhờ đến trí, mất trí thì nhờ đến tín, mất tín thì chịu thôi!

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Vốn và sử dụng vốn

Chào các bạn,

Bất kỳ cái gì trên đời cũng đều sinh ra từ một cái gì trước đó. Bất kỳ đời ta sau này sẽ thế nào, nó bắt buộc phải sinh ra từ cuộc đời của ta hiện tại, và bất kỳ ta muốn phát triển tương lai của mình thế nào, tương lai đó phải sinh ra từ vốn liếng hiện tại và hiệu năng trong việc sử dụng vốn hiện tại. Vốn và sử dụng vốn là hai vấn đề căn bản nhất của một thực thể, dù thực thể đó là “Công ty du lịch Xanh” hay “Đời Tôi.”

I. Hãy nghiên cứu về vốn liếng của một công ty trước khi vào “Đời Tôi,” vì công ty thì dễ thấy hơn, và chúng ta ít ra cũng đã học qua một tí trong đại học. Vốn liếng của một công ty gồm tiền, nợ từ người khác, bất động sản (đất đai nhà cửa), tài sản di động (máy móc), tài sản vô hình (sở hữu trí tuệ–bằng sáng chế, bản quyền và kiến thức bí mật; danh sách khách hàng, giá trị thặng dư, gọi là “lòng tốt” hay good will trong kế toán). Hết rồi. Các bạn còn nghĩ ra điều gì nữa không?

Nếu bạn học kinh tế, thương mại hay kế toán, thì vốn liếng của một công ty chỉ có vậy. Nhưng nếu bạn đã thực sự làm thương mại, có lẽ bạn đang có cảm tưởng là danh sách này có gì không ổn. Thiếu cái gì đó, phải không? Dĩ nhiên rồi. Cái thiếu đó là “con người”—nhân viên và khách hàng. Nếu bạn đã làm chủ một công ty, chắc chắn bạn sẽ đồng ý là vốn liếng quan trọng nhất cho một công ty là những người làm việc với mình (partners, phụ tá, nhân viên) và khách hàng của mình. Tất cả những gì khác—tiền bạc, nhà cửa, máy móc, sở hữu trí tuệ—đều là yếu tố thứ yếu.

Cùng nhau
Cùng nhau

Tiền cũng vô ích nếu người của mình chỉ biết phá tiền chứ không làm tiền. Giấy nợ cũng vô ích nếu người của mình không biết cách thu tiền nợ. Bằng sáng chế cũng vô ích nếu người của mình không sáng chế (chứ đừng nói là sáng chế thêm). Về khách hàng thì, một công ty nhỏ ở Mỹ tốn trung bình khoảng ba trăm đô la (300 USD) tiền quảng cáo và tiếp thị để có được một (1) khách hàng mới đặt chân vào cửa công ty. Đặt chân vào một lần thôi nhé, có mua gì hay có trở lại lần thứ hai hay không, lại là một chuyện khác. Tuy nhiên, nếu một khách hàng hiện thời của mình thích mình, người đó có thể giới thiệu 10 người bạn đến, mà mình chẳng tốn một xu. Các bạn có thể tính ra lời lỗ chưa?

Gốc rễ quản lý công ty là chỗ này: Nhân viên của mình phải vui vẻ và khắng khít như anh em. Khách hàng của mình cũng vui vẻ và khắng khít với mình như anh em. Đây là yếu tố bách chiến bách thắng. Hỏi các danh tướng lừng danh thế giới của ta hiện đang còn sống, nhất định là các vị ấy sẽ đồng ý như thế. Nhân viên chính là lõi cùa bánh xe đạp, khách hàng là vành xe, và liên hệ giữa nhân viên và khách hàng là các tăm xe. Nếu một trong ba điều này—lõi xe, tăm xe hay vành xe–mà yếu, thì bánh xe sẽ gãy. Và vành xe mạnh là nhờ lõi xe và tăm xe mạnh. Mà tăm xe mạnh là nhờ lõi xe biết làm việc. Tất cả cũng qui về cái lõi. Tất cả các khóa học về quản trị nhân viên, liên hệ quần chúng (public relations) và tiếp thị, chung qui cũng chỉ nhằm cho được ba điều này, và tất cả rồi cũng qui về điểm cốt cán nhất—nhân viên.

II.A. Cuộc đời của mình cũng vậy. Khi nói đến vốn liếng của mình ta thường nghĩ đến những gì sờ mó được, thấy được, như sắc đẹp, kiến thức, bằng cấp. Đôi khi ta có nghĩ đến các vốn liếng vô hình, nhưng có thể viết lên résume, như là kinh nghiệm làm việc. Nhưng rất ít khi ta thực sự nghĩ đến vốn liếng quan trọng nhất: con người—chính con người mình, và những người trong vòng thân thiết của mình.

Cùng vui
Cùng vui

Con người mình có rất nhiều giá trị, chứ đâu phải chỉ là những gì người ta thấy được và những gì mình có thể để trên resume đâu. Hãy xem thử những vốn liếng ta có mà không bao giờ thấy trên resume:

• Lòng vị tha: Cả đời chúng ta được huấn luyện đặt “ta” làm trọng tâm của suy tưởng, “người” thì cũng có, nhưng chút ít thôi. Cho nên đa số chúng ta suy tưởng và hành động hằng ngày cho 3 mục tiêu chính: “Tôi, cho tôi và của tôi.” Người nào có lòng vị tha mạnh, tức là rất hiếm có. Mà cái gì đã hiếm là quí giá và đắt tiền.

• Đức điềm tĩnh: Khi mọi người chung quanh sợ hãi đến đông lạnh, ta vẫn điềm tĩnh nghiên cứu vấn đề. Khi mọi người chạy theo tiếng gào thét của đám đông, ta vẫn điềm tĩnh đi đường của ta.

• Lòng khiêm tốn: Những người có resume dài, thường dễ bị bệnh tự cao. Trong trường kỳ, lòng khiêm tốn luôn luôn mang lại chiến thắng.

• Đức tự tin: Ta tin vào chính mình, chứ không phải miếng giấy ta có gọi là miếng bằng, hay là lời khen chê của người khác. Những người có lòng khiêm tốn thường rất tự tin. Ngược lại những người tự cao thường thiếu tự tin.

• Khả năng lắng nghe: Tìm được người biết lắng nghe trong thiên hạ khó gần như mò kim đáy biển. Nếu không thì nhân dân tại các quốc gia đâu phải gào thét khản cổ, mà nhà nước, toàn là các vị nhiều bằng cấp, vẫn không nghe được. Bao nhiêu bà vợ thét gào ngày đêm mà đức ông chồng ngồi đó có nghe thấy gì đâu? Khả năng lắng nghe quan trọng đến mức mà nếu bạn tập được tính lắng nghe, bạn sẽ đương nhiên có thêm được bốn đức tính nói trên.

Trên đây chỉ là nói qua một vài ví dụ. Nếu bạn ngồi làm một danh sách những vốn liếng của chính bạn, thì đương nhiên là danh sách đó dài hơn rất nhiều. Viết ra rồi, thì nhớ rằng đó là vốn liếng mình có, phải mang ra sử dụng hằng ngày, trong nhà, ngoài đường, ở sở làm. Mình phải biết sử dụng vốn liếng khôn ngoan để làm mình vui hơn, thân nhân bạn bè chung quanh gần gũi mình hơn, và công ăn việc làm thành đạt hơn. Nếu nghiên cứu những người thất bại cả đời, bạn sẽ thấy ngay yếu tố đầu tiên là họ không thấy được vốn liếng họ có, hoặc có thấy thì họ vẫn không tin đó là vốn liếng có thể dùng được: Ví dụ: Nhiều người bản tính thành thật nhưng lại được chỉ dạy và tin rằng buôn bán thì phải gian dối mới thành công.

Cùng lên đỉnh Everest
Cùng lên đỉnh Everest

II.B. Ngoài chính mình, vốn liếng “con người” của mình còn là những người trong vòng thân thuộc của mình—gia đình và bè bạn. Điều này thì không cần nói nhiều ai cũng thấy—người nào có gia đình bè bạn thành công thì mình cũng rất dễ thành công theo. Trong thế giới chính trị kinh tế thương mãi, bạn bè luôn luôn làm việc với nhau và nâng nhau lên. Và khi mình bị vấp ngã, kẻ thù của mình vỗ tay, khách bàng quang đứng nhìn rồi quay đi, chỉ có gia đình và bạn bè là còn lại. Họ là nơi trú thân và tịnh dưỡng của mình lúc đó, để hồi phục, và mở trận chiến kế tiếp.

Mà gia đình bạn bè chỉ có thể gần gũi mình nếu mình yêu họ, quan tâm đến họ, lo lắng cho họ, chia sẻ với họ. Đây là điều ai trong chúng ta cũng biết, chúng ta không cần phải nói nhiều ở đây. Mình chỉ muốn nhắc qua vài điểm quan trọng mà thôi:

1. Bụt nhà không thiêng: Vợ anh hàng xóm luôn luôn thông minh và đẹp hơn vợ mình. Bố mẹ anh em của người khác, nhất là những người được lên TV, luôn luôn hay hơn bố mẹ anh em mình. Hãy bắt đầu xem xét kỹ những gì bạn đang có trong nhà đi. Mấy ông hàng xóm cũng có thể là đang mơ người của bạn đó.

2. Vui cái vui của bạn: Ta có thể đau cái đau của bạn bè dễ dàng, nhưng chưa chắc là vui được cái vui của bạn, vì hay ganh tị. Đây là “hỉ” trong từ bi hỉ xả, tứ vô lượng tâm của Phật gia. Chưa vui được cái vui của bạn, thì chưa thực là bạn đâu.

3. Cho nhau chỗ tựa: Khi bạn mình thật sự xuống dốc, sự có mặt của mình rất quan trọng, dù là mình chẳng biết nói, và đôi khi chẳng nên nói, gì cả. Ví dụ: Một người bạn mới mất chồng, mình đến rủ bạn đi shopping, mà không cần mua gì, cũng chẳng nói gì. Chỉ cần là lý do để bạn mình ra ngoài một tí. Đây là một cử chỉ vô giá mà chỉ bạn bè mới làm cho nhau được.

4. Mỗi người một đường: Cuộc đời từ từ sẽ đưa mỗi người trưởng thành một hướng khác nhau, kể cả anh em, bạn bè, và cả vợ chồng. Đừng ép nhau phải đi cùng một hướng, và cùng một vận tốc. Ngược lại nên khuyến khích mỗi người phát triển tối đa con người của họ, theo hướng họ lựa chọn. Giá trị của tình anh em, tình bạn, và tình vợ chồng, chỉ có ở chỗ là mình ủng hộ, nâng đỡ, khuyến khích người đó trên con đường họ đi, trên sự nghiệp họ chọn.

5. Trung thành: Khi bạn của mình (hay thân nhân, chồng vợ) của mình bị cả thế giới chối bỏ, mình có đủ trung thành để đứng gần họ và nói “tôi là bạn của anh” cho họ nghe không? Và nếu cần thì cả thế giới cùng nghe không? Kể cả khi bạn mình sai 100% không? Kể cả khi mình biết chắc 100% là bạn mình sai 100% không? Bạn có biết chuyện Phê-rô chối thầy của mình ba lần không? Đứng thì khó, chứ chạy trốn và chối từ thì rất dễ, vì đó là bản tính tự nhiên, bạn ạ.

Đứng bên cạnh bạn mình, không có nghĩ là đồng ý với bạn mình, nhưng có nghĩa: “Dù sai dù đúng, bạn cũng là bạn của tôi. Bây giờ thế giới ruồng bỏ bạn, nhưng vẫn có tôi.” Nếu bạn mình đúng thì là bạn, bạn mình sai thì không còn là bạn, thì tình bạn khác gì “tình người đi chợ” mới gặp nhau giữa chợ? Trong một thế giới rất nhiều thay đổi, ít ra phải có một cái không thay đổi—đó là lòng trung thành, các bạn ạ.

Dĩ nhiên, ở đây ta chỉ tóm tắt vài điểm để có được khái niệm về vốn liếng thật sự của mình, để mình quan tâm đến, thấy rõ được sự giàu có của mình. Và sử dụng vốn liếng ấy một cách hiệu quả, để mình vui vẻ hạnh phúc hơn, và thành công hơn, dù mình định nghĩa thành công như thế nào. Triết gia Hy Lạp Sophocles nói: Người ngu dốt không biết đồ quí họ đang nắm trong tay, cho đến khi họ đã ném nó đi. Đúng như vậy. Bao nhiêu người chúng ta chạy theo những gì bên ngoài để tìm thành công và hạnh phúc, trong khi vốn liếng quan trọng nhất của thành công và hạnh phúc đã luôn luôn có đó, trong chính mình, và những người trong vòng tròn thân thiết của mình?

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Khó Khăn

Chào các bạn,

Đã là con người thì ai cũng thích mọi sự dễ dàng—không làm mà tiền vẫn tới, không cày mà ruộng vẫn tươi, không phân bón mà cây vẫn tốt. Người nào nói mình không thích sung sướng thoải mái như vậy, chắc là hơi bệnh trong đầu rồi. Khổ nỗi cuộc đời không thiên đường như thế (kể từ khi Eve khuyến dụ Adam ăn trái cấm và cả hai bị đuổi khỏi vườn địa đàng 🙂 Hmm… đàn bà… Không biết Thánh Kinh bôi bác đàn bà hay là nói lên một sự thật căn bản của con người—từ khai thiên lập địa, đàn ông đã bị phụ nữ xỏ mũi kéo đi? 😦 ).

Đằng nào đi nữa thì ngày nay ta cũng phải đối diện với một cuộc đời đầy khó khăn và thử thách, đòi hỏi mồ hôi, nghị lực, và chiến đấu. Nhưng không sao, mình có tin vui cho các bạn, kể cả các bạn không thích đổ mồ hôi, hao nghi lực, hay phải chiến đấu: Bản chất kinh tế của đời sống tạo ra qui luật căn bản là những việc càng khó khăn thì càng mang lại nhiều phần thưởng. Việc càng dễ dàng thì càng nhiều người vào làm, mà càng nhiều người cạnh tranh lao động, thì giá lao động, hay phần thưởng lao động, càng thấp. Ví dụ: Làm nhân công may trên dây chuyền của hãng may thì dễ hơn làm bác sĩ—ít tốn thời giờ học ở trường, và không phải học các môn khó khăn như bác sĩ. Vì vậy, nhiều người có thể làm hãng may hơn làm bác sĩ. Giá lao động may, do đó, thấp hơn giá lao động bác sĩ. Tương tự như vậy, bán hàng rong cũng ít lời hơn là mở tiệm phở, vì hàng rong đòi hỏi ít kiến thức và vốn liếng hơn.

Như vậy, dĩ nhiên là công việc càng khó khăn thử thách, thì càng ít người muốn làm, càng ít người đủ khả năng làm, và người nào vào làm thì đương nhiên là sẽ có những phần thưởng lớn. Vì vậy, sinh viên thường thích vào những đại học khó vào, chuyên gia thường thích vào những công ty khó vào, doanh nhân thường thích vào những kỹ nghệ khó vào. Điều này lại càng đúng hơn với những người tiên phong—khai phá một khu đồi hoang, khai phá một kỹ nghệ mới, nghiên cứu một khí cụ mới. Những lãnh vực chưa ai khai phá, hoang vu, thì luôn luôn chứa nhiều khó khăn, khó khăn đến nỗi chưa ai muốn làm, chưa ai dám làm. Vậy thì đó chính là chỗ ta muốn vào, một mình một rừng, chiến đấu với muôn mãnh thú, cho đến khi ta làm chủ mảnh rừng.

Hơi khó, nhưng tha hồ ăn!
Hơi khó, nhưng tha hồ ăn!

Một đặc điểm của khó khăn là: Khó khăn cũng không khó lắm khi ta tự đâm đầu vào, nhưng sẽ trở thành rất khó khi ta bị ép vào. Và qui luật này chính là cái làm khó khăn thực sự trở thành khó khăn. Ví dụ: Một chuyên gia đã 10 năm trong nghề, bây giờ mất việc vì khủng hoảng kinh tế. Một người vợ đã 10 năm làm nội trợ nuôi con, bây giờ ly dị phải lao vào thị trường lao động. Đây thực sự là những khó khăn người ta chỉ gặp một hay hai lần trong đời, và mỗi lần phải đối diện nó mà một khủng hoảng lớn . Và sức ép của nó, cũng như mức độ stress nó tạo ra, cũng thực là kinh khủng. Người ở ngoài cố vấn thì dễ, nhưng đối với người trong cuộc, đó thực sự là một mình đối diện với một núi đá chắn đường, sau lưng là biển cả.

Làm sao để ta đối diện với những khó khăn khủng khiếp như vậy?

Trước hết, làm một ly cà phê (hay một ly bia), ngồi nhâm nhi, suy gẫm truyện “Tái ông thất mã” (Ông già mất ngựa). Trong cái xui nhất định phải có cái hên. Cái mà mình cho là xấu bây giờ, mất việc hay ly dị, nhất định đã có mầm của cái tốt trong đó. Chỉ cần một thời gian là ta sẽ thấy mầm ló dạng thành cây con. Nhưng mầm nào cũng cần thời gian để phát triển. Hãy cho “Nàng Tiên Thời Gian” một tí cơ hội để làm việc của nàng. Đừng quá bồn chồn lo lắng.

Hơn nữa, tính về lý luận xác suất, thì đúng là mỗi lần gặp khó khăn như thế, cơ hội khá hơn sẽ rất cao. Bao nhiêu năm mình đã có kinh nghiệm trong một chỗ, nhưng kinh nghiệm đó không phát tiết được, vì (1) bản chất của ngồi một chỗ thường là như thế–sếp không thấy tài năng của mình, chồng không thấy cái hay cái đẹp của mình. Bụt nhà không thiêng. Nếu phải ra ngoài bây giờ, đây chính là cơ hội để tài năng và phẩm chất của mình được mọi người nhìn thấy và giúp mình phát triển. (2) Kinh nghiệm bao năm mình đã tích lũy (trong văn phòng, hay trong việc làm mẹ), tự nó sẽ giúp mình đi lên một nấc thang cao hơn.

Điều quan trọng ta cần ghi nhớ là hiểu rõ vận hành của stress. Stress luôn luôn đến khi có thay đổi, ngay cả khi thay đổi đó là việc tốt chính mình lựa chọn, như lập gia đình, đổi nhà mới. Bản tính của con người là không thích thay đổi, cho nên nếu có thay đổi là có stress. Hỏi các cô dâu chú rể và các đại gia mới chuyển nhà, thì biết ngay. Khi mình bị ném vào thay đổi trái ý mình, như bị mất việc hay ly dị, thì stress còn cao hơn rất nhiều lần. Cộng thêm vào đó lo lắng—tìm đâu ra việc mới, làm sao lo cho mấy đứa con—stress sẽ tăng thêm một tầng rất cao nữa. Cộng thêm vào đó một cảm giác về sự bất lực và yếu kém của mình—cái cảm giác “mình chẳng đáng gì cả”—stress sẽ tăng thêm một tầng nữa. Những tầng stress này chồng lên nhau như một trái núi khổng lồ, đủ để làm mình tuyệt vọng. Nhiều người bị đau tim và chết trong những tình huống như vậy.

Lội bộ khó, thì ta đi đò
Lội bộ khó, thì ta đi đò

Vì vậy, trước tiên là ta phải biết cách quản lý stress, nếu không stress sẽ đè ta ngợp thở, chẳng làm gì được. Quản lý bằng cách nào?

Thứ nhất, về tư tưởng, ta cần phải nhắc nhở mình thường xuyên truyện “Ông già mất ngựa,” và tin rằng mầm tốt đã bắt đầu cho mình rồi, chỉ cần kiên nhẫn một tí thì sẽ thấy được, như đã nói trên.

Thứ hai, khi cực kỳ khó khăn, cũng như người bị ngã lăn từ trên xuống dưới chân dốc, con đường chỉ còn có một hướng là đi lên mà thôi. Phải nghĩ như thế.

Thứ ba, đừng coi thường mình và nghĩ là mình chẳng đáng gì cả (dù là stress SẼ làm mình nghĩ như thế). Thay vì vậy, hãy nghĩ rằng, vì bản tính con người là không thích thay đổi, cho nên Trời phải đóng ập cửa này, để đẩy mình vào một cửa tốt hơn mà Trời đã mở sẵn cho mình. Trời luôn luôn yêu mình, mình có biết chuyện đó hay không mà thôi.

Thứ tư, giữ thân thể hoạt động thường xuyên—thể thao, tài chí, nhổ cỏ, làm vườn, khuân vác, hay chạy tới chạy lui lo công việc, nhất là đi bộ hay đi xe đạp. Một cơ thể vận động thường xuyên là thần dược chống stress.

Thứ năm, uống một hai hớp (không phải một hai lít :-)) rượu chát trước khi ngủ, vừa dễ ngủ vừa tốt cho sức khỏe (Đừng dùng thuốc ngủ. Thuốc ngủ thường tăng stress).

Thứ sáu, tập trung tư tưởng vào “hôm nay”—hôm nay tôi phải làm gì?—và cứ vậy mà làm. Đừng nghĩ đến quá khứ đã qua, và ngày mai chưa đến. Đợi ngày mai đến rồi hãy tính. Ngày nay mà làm tốt, ngày mai có thể có chuyện tốt bất ngờ, chưa thể biết trước được.

Nói chung, là để quản lý stress ta phải suy nghĩ tích cực, giữ cho cơ thể hoạt động, bảo đảm giấc ngủ tốt, và tập trung tư tưởng và hành động vào “hôm nay.”

Trở lại, luận đề “khó khăn.” Ta đã nói khó khăn sẽ mang đến phần thưởng lớn. Nhưng nếu tôi khai phá thương mãi mới mà thất bại thì sao? Ồ, ý bạn nói là công ty bị bankrupt? Thế thì những thích thú bạn đã nhận được trong khi “chiến đấu” thì sao? Và những kinh nghiệm có-một-không-hai bạn đã gặt hái trong tiến trình làm việc thì sao? Đây là loại việc khó khăn chẳng ai dám làm, thành ra kinh nghiệm của bạn là loại vô giá không ai có được, không ai học được, chỉ có mình bạn có. Kinh nghiệm bạc triệu này là vốn liếng cho lần thành công lớn sắp tới của bạn đó!

Tóm lại, đã đối điện và vật lộn với khó khăn thì không lời nhiều cũng lời ít. Đây là cuộc đi buôn không có lỗ, cuộc chiến tranh không thất bại. À, viết đến đây tự nhiên mình nhớ đến đoạn Thánh Kinh kể lại chuyện Jacob vật nhau với Chúa. Sau cuộc vật đó, cuộc đời Jacob chỉ có đường đi lên. Đã bao năm mình không hiểu lý lẽ của “vật nhau.” Gặp nhau đủ rồi, mắc gì mà phải vật nhau? Bây giờ hình như là “hốt nhiên đại ngộ.” Phải chăng lý lẽ đó nằm trong hai câu mình tình cờ mới viết cách đây một phút, bên trên: “Vật lộn với khó khăn” và “Cuộc chiến không thất bại”? Thật là lạ lùng! Câu hỏi nhiều năm trong đầu, tự nhiên ngay lúc này nhảy ra, với cái gì đó như là câu trả lời. Hmm… vật nhau với khó khăn là vật nhau với chính Thượng đế, là cuộc đấu tranh không hề thất bại cho con người sao? Các bạn trả lời hộ mình nhé.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Làm sao để nhận chữ “Không”?

Chào các bạn,

Có một nỗi sợ hãi đè nặng trên nhiều người trong chúng ta từng phút, từng ngày, cả đời, dù là thường khi họ không nghĩ đến và biết đến. Đó là nỗi sợ bị chối bỏ, sợ không đạt được cái đang nhắm đến. Nói chung là sợ chữ “Không”—không chấp nhận, không đồng ý, không được, không thành.

Rất nhiều quyết định ta làm trong ngày vì sợ chữ “không,” mà chính ta cũng không nghĩ đến. Đọc thông tin về học bổng, có cảm tưởng “không tới lượt mình,” bèn đọc qua mục khác. Đọc thông tin về tuyển dụng công việc, cũng thế. Đó là chưa nói đến không đi tìm việc và không gửi thơ xin việc đi đâu cả, vì “mình không có liên hệ lớn thì vô sao được.” Tối ngày làm thơ “đời tôi cô đơn,” vì “yêu nhiều, nhưng làm quen thì chẳng dám bao nhiêu.” Bao nhiêu năm mơ tưởng làm chủ công ty của mình, nhưng vẫn cứ mơ hoài vì “chưa đủ kinh nghiệm làm ăn.” Và bao nhiêu trẻ em bỏ học vì tin rằng mình không đủ sức để học hành gì cả?

Có lẽ ai trong chúng ta cũng đã bị chữ “không” cản trở rất rất rất nhiều lần trong đời. Nhưng tại sao ta lại sợ “hắn” đến thế? Mời cô ấy đi ăn thì cùng lắm là cô ấy nói không, có động đất đâu? Gởi thơ tìm việc thì cùng lắm là mất một lá thơ và tí tiền tem, mắc gì mà sợ? Nhưng sự thực là chữ “không” làm rất nhiều người “đông lạnh.” Sở dĩ như vậy là vì chữ “không” có ma lực làm ta phải đối diện chính mình, đối diện giới hạn của mình, đối diện cái bất toàn của mình, cái yếu đuối của mình.

Ái da!
Ái da!

Nhưng đây là điểm cốt yếu—dĩ nhiên là con người thì giới hạn, bất toàn, và yếu đuối. Superman chỉ có trong tiểu thuyết và xi-nê. Con người tự nhiên không cao quá 2 thước, không nặng quá 100 kg, không sống quá 100 trăm, không nhảy cao quá 3 thước, sống không thể không bệnh. Ta không phiền hà gì với những giới hạn này cả, thì mắc mớ gì ta phải ngại tìm việc không được, mời người không đi, nói người không nghe? Cuộc đời của ta, từ đầu đến cuối đương nhiên là bao vây bởi chữ “không,” tự nhiên như cây cỏ. “Không” thì rất dễ–chỉ cần không ăn, không học, không làm, thì đương nhiên là mình sẽ có tất cả những cái không khác của thế giới. “Có” thì mới đáng nói.

Hơn nữa, những chữ “không” mà ta nhận được hàng ngày, thường chẳng ăn nhập gì đến giá trị của ta cả. Xin việc không được, không phải là mình yếu, nhưng có thể là vì công việc đó đã vào tay người khác trước khi mình nộp đơn, hay tài năng của mình không thích hợp với việc đó bằng các việc khác. Bán mà người không mua, không hẳn là mình không biết bán, mà vì người ta chưa cần cái mình đang bán. Mời người đi không được, có thể vì người ta đã có ai đó trước rồi. Không có lý do gì mà mỗi khi nhận được chữ “không”, ta cứ phải đập đầu vào tường: “Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi.”

Lại nữa, ở đời đương nhiên là ta gặp “không” nhiều hơn “có,” vì thường là có 100 lá đơn xin việc cho chỉ một việc, 10 công ty mới thì khoảng 2 công ty thành công, 10 người khách thì khoảng 2 người mua hàng, 5 cây si thì chỉ một cây được chọn. Cứ theo xác suất mà tính thì ai trong chúng ta cũng gặp “không” nhiều hơn “có.” Vì vậy, thay vì cứ ngồi đó mà suy nghĩ nhảm nhí về “cái dở của tôi,” ta cần phải biết suy tính logic và khoa học hơn. Nếu trung bình có khoảng 100 lá đơn xin việc cho 1 việc, thì tôi cứ gởi 100 lá đơn ra ngoài, như vậy gần như chắc chắn là sẽ có được một việc làm. Nếu tôi chuẩn bị nghiên cứu kỹ càng trong khi viết đơn, thì có thể tăng xác suất thành công lên gấp 3, tức là nếu gởi 100 lá thơ đi, có thể được 3 nơi mời đi làm. Nếu tôi còn vận dụng các đường giây quen biết để tìm việc, có thể tăng xác suất lên gấp đôi nữa, tức là khoảng 15 lá đơn thì được một việc.

Đợi năm tới đấu lại thôi
Đợi năm tới đấu lại thôi

Hơn nữa, ta còn phải biết nhìn chữ “không” một cách tích cực theo xác suất: Mỗi chữ “không” là một bước tiến gần đến “có”. Sáng nay đã 3 bà khách không mua gì rồi, cùng lắm là một hai bà “không” nữa thì nhất định phải đến bà “có.” Đã 20 lá thơ tìm việc rồi, không được gì, cùng lắm là 10 lá nữa thì cũng phải được việc gì đó. “Có” là quán trọ để ăn, ngũ và nghĩ ngơi, phía trước; “không” là những bước đi hiện thời; không thể đến được quán “có” nếu không có những bước “không.” Cho nên, ta phải biết cách đếm chữ “không” một cách tích cực—một không, hai không … mười không … mười lăm không … hmm.. vậy thì “có” cũng gần lắm rồi.

Ngoài ra, mỗi lần được một chữ “không” ta lại học thêm một tí kinh nghiệm. Sau 15 lá đơn xin việc không kết quả, ta đã học thêm được rất nhiều kinh nghiệm tìm việc, để nâng xác suất từ mức trung bình 100/1 thành mức rất cao 10/1. Nếu vì lý do may mắn nào đó mà ta đã được công việc ngay từ lá đơn đầu tiên (như là nộp đơn vào công ty do mẹ làm chủ), ta đã không thể học được một tí kinh nghiệm tìm việc nào. Mà kinh nghiệm chính là vốn liếng không bao giờ mất, không bao giờ hao mòn. Bạn không thể nói trước được là trong tương lai, một kinh nghiệm nhỏ nào đó mình có—như là kinh nghiệm làm tiếp viên nhà hàng—lại có thể giúp mình trong một việc lớn nào đó—như là được mời hùn vốn mở một nhà hàng lớn.

Vì vậy, những người bị chữ “không” làm đông lạnh, thật rất đáng tội nghiệp. Nguyên do chỉ vì họ không hiểu được tính xác suất của đời sống và không hiểu được ý nghĩa thực sự của “không”—một bước tiến về cái “có”. Cuộc đời họ trở thành nghèo nàn và thụ động một cách đáng thương. Cả một thế giới rất rộng lớn, rất nhiều cơ hội, rất nhiều thử thách ngoài kia, các bạn ạ. Ta chỉ cần mở cửa bước ra đường, dấn thân vào đời một tí, là sẽ khám phá được bao nhiêu điều hay đẹp, và bao nhiêu người hay đẹp.

Sau cùng, mình muốn để lại với các bạn một câu hỏi. Dĩ nhiên là ta biết nói với ta, “Không là một bước đến gần có.” Nhưng nếu một người bạn đang cố đẩy một công việc gì mà cứ bị hỏng, ta nói, “Hay lắm. Cố đi. Làm hoài thì cũng phải được. Mình rất phục tính kiên trì của bạn,” hay là ta thầm nói, “Chẳng biết gì hết mà cũng đòi làm”? Và khi trả lời câu này, bạn nên nghĩ đến việc làm thế nào để giáo dục trẻ em thành năng động và tích cực.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Đầu ngày

Chào các bạn,

Ta hay nói câu “ấn tượng đầu tiên.” Lần đầu tiên gặp nhau mà có ấn tượng xấu về nhau là hỏng rồi. Đầu năm bị mắng là “dông” cả năm. Chơi bi-da mà đánh trật một hai cơ đầu là “quê cơ” cả buổi. Sáng ra ngõ gặp ga… a… a… something… là xui cả ngày. Tóm lại, một cảm giác nào đó ta có lúc ban đầu thường có tính cách quyết định cho những tình trạng sau đó.

Điều này cũng dễ hiểu. Hệ thần kinh của ta không làm việc kiểu vi tính—tắt chương trình này, mở chương tình khác được ngay, cùng lắm là reboot máy. Về tâm lý, khi đã bắt đầu hướng nào là thần kinh của ta cứ đi theo hướng đó rất lâu, giận ai thì cũng phải nửa buổi hay một ngày mới hết. (Có người giận cả đời :-(). Nếu đã bức xúc thì bức xúc cả buổi. Cho nên khi bắt đầu việc gì, ta phải bắt đầu với tinh thần và cảm giác mà ta muốn trong suốt tiến trình sau đó.

Trong các đàm phán về thương mại, người ta đó gọi là “set the tone” (tạm dịch là “xây dựng bầu không khí”). Nếu ta muốn tinh thần buổi họp đó nói lên được (1) sự quí mến, (2) thân thiện, (3) nhưng cũng nghiêm chỉnh, thì (1) ta có thể đặt cà phê, trà, bánh ngọt, ly tách sẵn trên bàn họp, hay sát bàn họp, và đèn đuốc mở sẵn, để tỏ sự quí mến với đối tác. Đừng đợi khách vào rồi mới gọi người đi pha cà phê. (2) Áo quần chỉnh tề và đề nghị nhẹ nhàng chỗ ngồi cho từng người quanh bàn, để chỉ tính nghiêm trọng. (3) Nói chuyện về thể thao, thời tiết, và hỏi thăm gia đình nhau vài câu (nếu biết một tí về gia đình, con cái), để tỏ lòng thân thiện.

Sáng sớm trong phố nhỏ
Sáng sớm trong phố nhỏ

Không nên nói một chữ, một câu nào, có tính cách tiêu cực, kể cả khi người đối tác nói tiêu cực (như “tôi không ưa ông Bush”) và ta chỉ hùa theo, vì không khí tiêu cực sẽ đến và ngồi ì đó cả ngày. Nếu muốn đồng ý theo, thì ta nên lái sang ngôn ngữ tích cực, như “tôi hy vọng là ông ấy sẽ học thêm được vài kinh nghiệm.” Ta nên nhớ rằng, cách nói phủ định luôn luôn có tính tiêu cực, ví dụ “Tôi không thích trời mưa” hay “Tôi không thích phụ nữ mặc quần như đàn ông.” Tuy nhiên, cách nói xác định vẫn có thể tiêu cực nếu dùng từ tiêu cực. Ví dụ, “ông bán quán đó là một phế nhân.”

Quan trọng hơn cả các cuộc họp trong ngày là lúc ta bắt đầu một ngày mới. Thái độ của ta lúc đầu ngày sẽ ảnh hưởng rất lớn đến thái độ và công việc cả ngày. Nếu sáng ra mà không vui hay bực mình chuyện gì đó, có thể ta là sẽ đến sở với khuôn mặt méo mó, nói chuyện thì làm người khác bực mình, vì vậy có thể làm hỏng việc, và các quyết định trong công việc cũng có thể xấu đi vì đầu óc không được sáng suốt lắm. Lúc khởi đầu rất quan trọng. Một chương trình TV chỉ có khoảng một hay hai phút đầu để hấp dẫn ta, nếu không hài lòng là ta sẽ đổi đài ngay. Vì vậy, ta cần phải quan tâm đến buổi đầu ngày, lúc mới ngũ dậy—đó là “ấn tượng đầu tiên” sẽ quyết định rất lớn đến phẩm chất toàn ngày.

Vì vậy, bước ra khỏi giường là:

1. Vận động thân thể một tí để đánh tan uể oải và làm cho mình khỏe khoắn tích cực hơn. Có một liên hệ trực tiếp giữa cơ thể và tâm trí mà nhiều chuyên gia về giáo dục đôi khi quên mất. Người bệnh thì hay cau có càu nhàu, người khỏe thì cười nói vui vẻ. Quy luật cực kỳ căn bản này ta không thể bỏ quên.

2. Nói năng vui vẻ mới mọi người trong nhà. Đây là những câu nói đầu tiên sẽ “set the air” cho mình và cho mọi người cả ngày. Câu hỏi dễ hỏi nhất là “Hôm qua trời mưa/nóng ngũ ngon không? Muốn cà phê, trà hay cái gì, anh làm cho?”

3. Để nhạc sống động một tí.

4. Đừng nên nghe tin tức trên TV, radio hay đọc báo, vì đa số báo chí ngày nay đều đăng nhiều tin xấu hơn tin vui (vì nhu cầu cần tin giật gân để làm thương mãi). Không nên bắt đầu một ngày bằng các tin làm mình chán ngán cuộc đời. (Nghe tin giữa ngày cũng được rồi).

5. Ăn hoặc uống cái gì đó mà mình thích.

Đầu ngày
Đầu ngày

6. Đừng dựng lịch quá chặt chẻ đến nỗi ta phải chạy và stress. Nếu đường từ nhà đến sở tốn trung bình 30 phút, thì nên dành cho nó 40 phút trong lịch, khi kẹt xe ta sẽ không bị stress. Stress không những phá hỏng cả ngày, mà stress sẽ giết bạn sớm.

Dựng lịch thong thả là cách tốt nhất để giảm stress, đồng thời tăng hiệu năng. Nên dựng lịch thong thả cho mọi hoạt động trong ngày. Ta thường theo thói cạnh tranh dữ dội ngày nay là làm lịch rất chặt chẻ, tưởng như thế là hiệu năng cao. Thực ra, như vậy thì hiệu năng lại thấp, vì hiệu năng của mỗi phút rất thấp, do stress. Làm một tiếng đồng hồ mà hiệu năng bằng người khác làm hai tiếng thì vẫn tốt hơn. Ví dụ: Nếu bán hàng, bạn cứ thong thả từ tốn nói chuyện trời trăng mây gió với người khách (nếu người ấy thích), thì chắc chắn là bạn sẽ bán nhanh hơn một cô cứ cố gắng đưa khách hàng qua món này đến món kia vù vù. Work smarter, not harder.

7. Ra đường, nhìn khung cảnh chung quanh, nắng ấm (hay mưa đẹp), hàng quán, xe cộ và đoàn người qua lại như khung cửi, những hàng cây cao, và tận hưởng cái đẹp và sức sống của thành phố cho một ngày mới.

8. Gặp người quen thì vẫy tay, hay tốt hơn nữa là hỏi một câu. Đừng căng quá đến nỗi chẳng thấy được ai ngoài đường.

9. Dành 15 giây, chỉ 15 giây thôi cũng đủ rồi, cám ơn trời đất đã cho ta một đêm ngũ bình yên, một cơ thể khỏe mạnh, một đầu óc sáng suốt, và một ngày mới để sống. Những người tích cực luôn luôn là những người biết thọ ơn. Có một liên hệ rất chặt chẻ giữa lòng biết ơn và tính tích cực, mà nhiều chuyên gia chưa thấy. Và dù là điều 9 này nằm cuối danh sách, bạn nên làm nó ngay đầu ngày, vào mục số 1.

Cứ như vậy, ta bắt đầu một ngày, bình thản, thong thả, tích cực, không phải để “làm việc,” không phải để “chạy”, không phải để “đi cày,” không phải để “ráng cho qua ngày,” cũng không phải để “xây dựng cuộc đời” hay vá trời lấp biển, mà chỉ đơn giản là để sống–sống một ngày cho trọn một ngày, ở đây, lúc này.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Khắc phục những suy nghĩ tiêu cực

Tác giả: Huỳnh Huệ

“Cách khắc phục những suy nghĩ tiêu cực và những cảm xúc có hại là phát triển những cảm xúc tích cực mạnh mẽ hơn” – Đạt Lai Lạt Ma.

Đối với nhiều người, cuộc sống có thể tốt hơn nếu họ nhận ra những ý nghĩ tiêu cực, những cảm xúc có hại và thay vào đó bằng những suy nghĩ lạc quan, những cảm xúc tích cực.

Suy nghĩ theo hướng tiêu cực, dưới nhiều hình thức, cách này hay cách khác len lỏi vào suy nghĩ và cách nói năng của ta mà ta không biết. Bí quyết thành công, theo thiển ý của tôi, là phát hiện ra chúng và tiêu diệt chúng như loài sâu độc hại. Hãy thay thế chúng bằng những suy nghĩ và cảm xúc tích cực, bạn sẽ thấy một sự khác biệt lớn lao trong mọi điều bạn làm.

Tôi là một người lạc quan, đã từng nếm trải nhiều đắng cay, mất mát, và bất hạnh. Tuy nhiên, trước những thăng trầm của cuộc đời, tôi không hề mất đi niềm tin rằng cuộc sống này của tôi và của bạn vẫn đẹp. Tôi thực sự tin rằng một lúc nào đó, vận may sẽ mỉm cười với chúng ta. Thành thực mà nói, về bản thân và cuộc đời mình, tôi vẫn thấy mình hạnh phúc, chí ít là hạnh phúc hơn nhiều người khác chịu nhiều bất hạnh và đau khổ hơn tôi.

Chúng ta thử xem 10 cách thông thường nhất của suy nghĩ tiêu cực – và giải pháp – tôi đã làm như thế và cả cuộc đời tôi đã thay đổi.

1. Tôi sẽ hạnh phúc một khi tôi có….. (hay khi tôi kiếm được X)

Vấn đề: Nếu bạn nghĩ rằng bạn không thể hạnh phúc cho đến khi nào bạn đạt đến một mốc nào đó, một chỉ số về tài sản nào đó, hay một kiểu nhà, hiệu xe hơi, hay cấu hình máy tính và điện thoại di động, quần áo hàng hiệu nào đó, thì bạn sẽ không bao giờ hạnh phúc. Mục tiêu khó nắm bắt ấy luôn ngoài tầm với. Một khi ta đạt được những mục tiêu ấy rồi, ta có thỏa mãn không? Hay ta lại ham muốn nhiều hơn?

Giải pháp: Biết hạnh phúc với những gì ta có, với nơi ta đang ở, vị trí hiện tại, và cái ta đang là – ngay chính phút giây này. Hạnh phúc không phải là một trạng thái nào đó mà ta muốn cuối cùng đạt đến – hạnh phúc có thể tìm thấy ngay bây giờ. Biết chắt chiu hạnh phúc, đếm những may mắn của đời mình, và thấy mặt tích cực trong mỗi tình huống. Nghe có vẻ giản đơn, nhưng cách này hiệu quả.

2. Ước gì tôi bằng (một nhân vật nổi tiếng, một người bạn hay láng giềng)

Vấn đề: Chúng ta sẽ chẳng bao giờ xinh đẹp, tài ba, giàu sang, quyến rũ bằng mọi người khác. Nếu bạn tài giỏi, luôn có một ai khác giỏi hơn. Vì thế, nếu ta so sánh mình với người khác, ta sẽ thấy mình thua kém, luôn thất bại, và cảm thấy mình bất hạnh. Thế thì không thể hạnh phúc.

Giải pháp: Ngừng so sánh bản thân với người khác, và thay vào đó nhìn vào chính mình: Những điểm mạnh, những thành công, những kết quả đạt được của mình là gì, dù cho chúng còn khiêm tốn. Bạn yêu mến những gì ở chính mình? Học cách yêu bản thân, mình của hiện tại, chứ không phải cái mà mình muốn trở thành. Trong mỗi chúng ta, luôn có cái tốt, tình yêu, và tính nhân bản tuyệt vời.

3. Thấy người khác thành công sinh lòng ghen tị

Vấn đề: Trước hết đừng cho rằng chỉ có số ít người có thể thành công. Sự thực là thành công có thể đến với nhiều người – bằng nhiều cách khác nhau.

Giải pháp: Biết ngưỡng mộ thành công của người khác, học hỏi từ đó, và vui mừng với thành tựu của họ, bằng cách đồng cảm với họ và hiểu được họ đã phải làm như thế nào để trở thành họ như bây giờ. Và sau đó quay đi, nhìn lại chính mình – để thấy rằng bạn cũng có thể thành công, trong bất cứ việc gì bạn đã chọn để làm. Thậm chí bạn đã thành công rồi đấy. Chớ nhìn lên những người ở trên cao hơn bạn trong thang bậc xã hội, mà hãy nhìn xuống những người bên dưới; có hàng triệu người thua kém, cơ khổ hơn bạn – những người không thể đọc được bài báo này hay sở hữu một cái máy tính. Xét theo nghĩa ấy, bạn đã là một người rất thành công rồi.

4. Tôi là một kẻ thất bại cay đắng- Tôi chẳng thể làm gì ra hồn

Vấn đề: Mỗi người đều là một người thất bại nếu bạn nhìn vấn đề theo những cách nào đó. Mọi người đều đã có những thất bại, nhiều lần, mặt này hay mặt khác. Bản thân tôi chắc chắn không ít lần thất bại, nhiều đến nỗi tôi không thể đếm được.- và hiện tại, hàng ngày tôi vẫn còn thất bại. Tuy nhiên, nhìn nhận những thất bại như những thất bại chỉ khiến bạn cảm thấy mình tệ hơn. Với cách nghĩ như thế, ta sẽ tự tạo ra một hình ảnh rất tối tăm, đầy tiêu cực về bản thân, và sẽ không bao giờ xóa được hình ảnh không đẹp ấy…

Giải pháp: Nhìn nhận những thành công của mình và quên đi các thất bại. Nhìn lại đời mình, trong tháng qua, năm qua, hay 5 năm qua. Và cố gắng nhớ lại các thành công của bạn. Nếu bạn gặp khó khăn khi nhớ lại, hãy bắt đầu ghi chép tài liệu cho các thành công- ghi chép nhật ký, trong một cuốn sổ hay trên mạng. Ghi chép các thành công hàng ngày, hay hàng tuần. Khi bạn nhìn lại những thành quả ấy, sau một năm, bạn sẽ kinh ngạc. Cảm giác này thực dễ chịu.

5. Ta sẽ đánh bại người này và người nọ, và dẫu như thế nào, ta vẫn giỏi hơn hắn. Và bất luận thế nào, ta cũng không giúp hắn, kẻo hắn có thể đánh bại ta.

Vấn đề: Sự ganh đua – cạnh tranh luôn đinh ninh rằng có một lượng vàng phải tranh giành, và ta phải chiếm được nó trước. Tính cách này biến ta thành kẻ tham lam, nói xấu, gây tổn thương cho người và cho mình. Vì những tính ganh đua và tâm so bì, chúng ta cố gắng bằng mọi cách tranh đua quyết liệt với người khác để thành công.

Giải pháp: Học cách xem thành công như một cái gì đó có thể chia sẻ, và biết rằng nếu giúp đỡ tương trợ nhau, mỗi chúng ta có cơ hội tốt hơn để thành công. Hai người cùng hợp tác thực hiện một mục tiêu thường tốt hơn hai đối thủ tranh đua để giành giật thành công. Có nhiều hơn chỉ một thành công để không sợ phải phân phát. Hãy học cách suy nghĩ thành công chẳng của riêng ai.

6. Nguyền rủa! Tại sao những điều xấu, chuyện chẳng may này lại xảy ra với mình

Vấn đề: Chuyện rủi xảy ra với mọi người. Nếu ta mãi chăm chăm vào đó, ta sẽ mệt mỏi và chán nản.

Giải pháp: Xem những chuyện không hay như một phần tất yếu, thăng trầm của cuộc đời vô thường này. Đau khổ là một phần trong kiếp người, nhưng đau khổ rồi sẽ qua. Hết mưa lại nắng, sau cơn giông bão sẽ lại rạng rỡ ánh dương. Chớ để nỗi đau một mùa hủy diệt toàn bộ niềm vui của một đời còn lại. Chớ nhìn cuộc đời toàn màu xám đen, hãy nhìn thấy trời vẫn xanh trên đầu ta. Hãy học cách chấp nhận rủi may và học được gì từ đó và tự nhủ lẽ ra sự việc còn tệ hơn. Điều không may thực sự là cơ hội cho ta học để mạnh mẽ hơn và trưởng thành hơn.

7. Con/ Cô/ Anh chẳng thể làm được gì cho đàng hoàng! Tại sao con/ cô/ anh không giống như ………?

Vấn đề: Đây là lời bạn có thể nói với con cái, cấp dưới, hay chồng/vợ của mình. Vấn đề là ở đâu? Trước hết so sánh hai người luôn là một sai lầm. Người ta khác nhau, khác trong cách hành động, về những điểm mạnh và điểm yếu, về nhân cách. Nếu tất cả chúng ta đều giống nhau, ta là người máy. Hai là, nói những lời không đẹp như thế với người khác chẳng giải quyết vấn đề, hay cải thiện được gì. Điều này có thể làm bạn thấy khá hơn, nhưng thực ra, nó làm xấu đi mối quan hệ của bạn, và sẽ thực sự khiến bạn thấy khó chịu và chắc chắn khiến người kia thấy tiêu cực và sẽ tiếp tục với thái độ tiêu cực. Như thế mọi người đều thương tổn và mất mát.

Giải pháp: Lấy sai lầm hay chuyện không đúng của người ta làm cơ hội dạy dỗ người ấy. Chỉ cho họ nên làm thế nào. Sau đó, khen ngợi họ về thái dộ tích cực, và khuyến khích thành công. Sau cùng nhưng không kém phần quan trọng, hãy yêu thương họ dù họ là ai, và đón nhận những khác biệt của họ.

8. Công việc của anh/ cô… là trò trẻ., chẳng ra sao. Anh/ cô rất ngu, và tôi tin rằng anh/ cô chẳng ra trò trống gì.

Vấn đề: Tôi thực sự đã nhận được lời nhận xét như thế, và cũng đã nhiều lúc không kiềm chế được bắn ra những lời không đẹp thế. Nghe có vẻ tuyệt vì tôi đã phần nào hả giận? Nhưng ta chớ xem xét nó từ góc độ của người nhận lời phê bình ấy, mà từ góc độ của người bắn ra lời nhận xét này. Nói như thế có giúp cho bạn điều gì không? Tôi cho rằng bạn có thể thấy hả dạ vì đã trút giận nếu thấy đã bị người khác làm phí thời gian., Bao nhiêu thời gian của bạn bị lãng phí? Một vài phút chăng? Do lỗi của ai? Sự thực là nói những lời nặng nề, không đẹp chỉ đặt cách tư duy của bạn trong trạng thái tiêu cực bi quan. Hiển nhiên nó không tốt chút nào để kết bạn.

Giải pháp: Trước hết, học cách đưa ra các giải pháp tích cực có tính xây dựng. Thay vì phê phán công việc của ai đó là trò trẻ … , hãy đưa ra đề nghị cải thiện để giúp nó khá hơn. Nếu phải bỏ thời gian nhận xét, hãy dùng thời gian ấy xứng đáng. Hai là biềt cách giao tiếp với người khác theo hướng tích cực- điều này khiến người ta dễ chịu và bạn cũng thấy tốt hơn. Như thế rất tốt và dễ kết bạn.

9. Trả miếng _ trả thù

Vấn đề: Nếu ai đó làm nhục hay làm bạn tức giận, bạn đáp trả lại như thế chỉ tự chuốc lấy phiến toái lên bản thân. Người này có lẽ có một ngày không may, hay một năm xui và trút lên đầu bạn vì một lý đo nào đó. Nếu bạn phản ứng tương tự, bạn cũng làm cho ngày của mình xấu đi. Vấn đề của người ta trở thành của chính bạn. Không những thế, cái vòng quay của sự lăng mạ có thể càng tệ hơn cho đến khi nó gây ra những hậu quả về bạo hành và tiêu cực đáng tiếc- cho cả hai bên

Giải pháp: Hãy để cho những lời lăng mạ, xúc phạm trôi tuột như bạn đã có lớp phủ chống dính. Chớ để vấn đề của người thành của mình. Thực thế, hãy cố gắng hiểu vấn đề hơn – tại sao ai đó lại hay nói những lời khó nghe vậy? Họ có đang gặp phải vấn đề gì chăng? Có chút cảm thông với người- không chỉ giúp bạn hiểu được những phê phán ấy không nhằm vào bạn, mà có thể làm cho bạn cảm nhận và có thái độ tích cực hơn đối với họ- và khiến bạn cảm thấy dễ chịu với chính mình trong suốt quá trinh.

10. Tôi nghĩ tôi không có thể làm được – tôi không có đủ kinh nghiệm. Để khi khác vậy

Vấn đề: Nếu bạn nghĩ rằng mình không thể làm gì thì bạn chẳng bao giờ thành công, nhất là cho những chuyện lớn. Kinh nghiệm chẳng liên quan gì- sự tập trung và niềm hăng say, động cơ mới đáng kể. Nếu bạn luôn đợi dịp khác, bạn sẽ chẳng có khi nào thực hiện được gì. Suy nghĩ tiêu cực như thế ngăn cản ta không hoàn thành được bất cứ điều gì.

Giải pháp: Thay đổi cách nghĩ: rõ ràng bạn có thể làm được. Bạn không cần nhiều kinh nghiệm, hay đợi đến khi có đủ kinh nghiệm mới khởi sự. Tìm những cách để đạt đến thành công. Nếu thất bại, bạn vẫn có bài học quí giá, hãy cố lần nữa. Thay vì gác lại mục tiêu, hãy bắt tay ngay. Và tập trung vào chỉ một mục tiêu một lúc, đặt hết tâm lực vào đó, và tìm nhựng trợ giúp từ những người khác. Bạn có thể lấp biển dời non với cách suy nghĩ tích cực như thế.

Mười giải pháp suy nghĩ theo hướng tích cực như trên thực không xa vời, hay khó khăn, mà rất hiệu quả để giúp chúng ta tu tập, rèn luyện nhân cách, và sống vui, sống đẹp hơn.

Huỳnh Huệ


Tư duy tích cực là gì ?

Chào các bạn,

Tư duy tích cực là gì? Tư duy tích cực khác với một vài loại tư duy khác như thế nào? Tại sao ta lại cần tư duy tích cực?

“Tư duy” thường có nghĩa là suy nghĩ, và nói đến suy nghĩ là ta thường có ấn tượng rằng đó là một hoạt động của não bộ một lúc nào đó. Thực ra, từ “tư duy” ở đây rông rãi hơn, và có nghĩa là một thái độ sống, một cái nhìn về cuộc đời và sự sống, tương tự như tư duy trong cụm từ “thay đổi tư duy.” Tư duy tích cực chính là “sống tích cực” hay “thái độ tích cực.”

“Tích cực” có nghĩa là … không tiêu cực 🙂 , là

(1) khi nhìn mọi sự, mọi vật, mọi vấn đề ta luôn luôn thấy cái hay, cái đẹp, cái tốt;

(2) nếu thấy cái xấu ta có khả năng biến cái xấu thành cái tốt; và

(3) luôn luôn hướng đến hành động để làm mọi sự tốt hơn.

Ví dụ: (1) Bạn A. của mình thật năng động và có lòng tốt với mọi người, (2) chỉ hơi keo kiệt một tí, nhưng như vậy thì, nếu bạn làm thủ quỹ cho nhóm mình, chắc chắn là quỹ chẳng bao giờ thiếu hụt, và (3) cứ làm từ thiện hoài thì chắc chắn là bạn sẽ từ từ biết cách “phung phí” tiền cho người nghèo khổ.

Đặc điểm của tư duy tích cực là

(1) tập trung cái nhìn và tư tưởng vào cái tốt, nếu thấy cái xấu cũng phải tìm cho ra cái tốt trong cái xấu để tập trung tư tưởng vào đó, và

(2) dùng cái tốt như là động lực thúc đẩy mình sống và làm việc, đi đến mục đích cuối cùng là làm cho cuộc đời tốt đẹp hơn. Cuộc đời đây là cuộc đời của chính mình, và là cuộc đời của thế giới mình sống. Tức là, cái tốt vừa là động lực thúc đẩy mình sống, vừa là mục tiêu tối hậu của cuộc sống.

Thông thường người ta thường phân chia thế giới thành hai nhóm người—tích cực và tiêu cực. Nhưng đó chỉ là cách nói tắt cho thuận tiện; thực ra ai cũng vừa tích cực vừa tiêu cực, chỉ là khuynh hướng nào mạnh hơn mà thôi. Hơn nữa, thông thường ta hay có thói quen tích cực hay tiêu cực tùy theo… trời mưa nắng và tùy theo đối tượng suy tưởng là người yêu hay… ông hàng xóm khó chịu.

Ta thực tập tư duy tích cực để ta luôn luôn tích cực–những ngày nắng đẹp cũng như những ngày ngập lụt, khi dạo phố với người yêu cũng như khi bị đụng xe–đối với tất cả mọi người–bạn thân hay địch thủ, thánh nhân hay đồ tể.

Bay!
Bay!

Và ta cần “thực tập” vì tâm tính không dễ gì thay đổi được. Tâm tính của mỗi người là một bộ máy tâm sinh lý đặc biệt, cứ như thế mà vui buồn yêu ghét. Không phải muốn đổi tâm tính là có thể làm xong trong một ngày, một tuần. Nếu cơ thể cần được tập luyện mỗi ngày, khá lên mỗi ngày một tí, vài ba năm mới được như vận động viên, thì tâm tính cũng thế, cũng phải được rèn luyện mỗi ngày, không, mỗi phút giây ta sống. Và phải kiên nhẫn một thời gian thì mới có được kết quả “trông thấy”.

Nhưng tại sao ta phải suy tư tích cực? Trời sinh sao để vậy không được sao?

Trước hết, tâm tính của ta không phải do trời sinh. Các yếu tố di truyền có dự phần một tí, như là sinh ra thì có hai tay hai chân, nhưng có đai đen Judo hay một cơ thể èo ọt bệnh hoạn là do ta. Trí lực và tâm lực cũng thế, trời sinh ra có tâm trí, tích cực hay tiêu cực là do ta.

Và thực ra thì chẳng ai bắt ta phải tích cực hay tiêu cực cả, sống cách nào là sở thích cá nhân và tự do lựa chọn của mỗi người. Nếu ta muốn làm thư sinh trói gà không chặt, tối ngày thương mây khóc gió, như các nho sĩ trong Số Đỏ, thì cũng được. Nhưng nếu ta muốn mạnh mẽ từ thể chất đến tinh thần, sống như hải âu cưỡi gió trên những lọn sóng đại dương, thì ta phải tư duy tích cực. Chỉ là vấn đề lựa chọn.

Một trong những câu hỏi ta hay gặp khi nói đến tư duy tích cực là: “Đôi khi ta cũng cần phải phê phán chứ. Critial thinking cũng cần vậy.” Critical thinking, tạm dịch là tư duy phê phán, là một phương thức suy nghĩ rất được chú trọng ngày nay. Thực ra critical vừa có nghĩa là phê phán, vừa có nghĩa là nghiêm trọng. Đây là cách suy nghĩ đặt trọng tâm vào nghi vấn—đánh dấu hỏi tất cả các tiền đề, các kết luận, các dữ kiện, các phương pháp làm việc, trong một vấn đề, cho đến khi ta thỏa mãn với độ chính xác của tất cả các điều này và đi đến một kết luận chính xác. Và nếu nói đến nghi vấn và phê phán tức là nói đến việc phải mang cái xấu (và cái tốt) ra mổ xẻ. Mà nói đến cái xấu là có người nghĩ rằng như vậy có vẻ không tích cực.

Chúng ta sẽ nói đến critical thinking chi tiết hơn trong một dịp khác. Tại đây chúng ta chỉ cần nhắc rằng, critical thinking (tư duy phê phán) và positive thinking (tư duy tích cực) đều cần thiết và có thể đi đôi với nhau. Positive thinking là một thái độ sống, hơn là một phương thức suy nghĩ. Critical thinking là một phương thức suy nghĩ. Ta có thể dùng critical thinking với một thái độ tích cực, hoặc với một thái độ tiêu cực.

Ví dụ, đối diện với các vấn đề giáo dục, ta có thể dùng critical thinking để mang ra một số các vấn đề như chương trình học chưa khoa học và thực tiễn, phương pháp giảng dạy còn từ chương, lương giáo viên còn thấp, học cụ còn thiếu thốn, v.v… Nếu là người tiêu cực thì ta sẽ ngồi đó nhăn nhó phàn nàn: “Nhà nước ta tồi, dân ta tồi. Chấm hết.” Nhưng nếu là người tích cực thì ta sẽ nhìn vào các yếu tố tích cực như văn hóa Việt kính trọng thầy cô, kinh tế quốc gia phát triển khá trong thập niên qua, một số các công ty viễn thông (Internet) là công ty nhà nước, liên hệ quốc tế tốt, người Việt ở nước ngoài đông, để tính đến một kế hoạch vận dụng tất cả sức mạnh nầy vào việc cải cách giáo dục.

Critical thinking là một phương pháp phân tích để tìm hiểu một vấn đề thật kỹ. Positivie thinking là một thái độ tích cực ta có trong khi làm công việc phân tích tìm hiểu đó. Cả hai đi đôi với nhau rất tốt.

Tư duy tích cực là chủ động, dùng thái độ của mình để tạo ra thế giới của mình. Thế giới của mình là cơ thể và đầu óc của mình, gia đình mình, bạn bè mình, những công việc mình làm, những người mình giao tiếp hằng ngày. Mình chủ động tích cực để biến thế giới đó và những người trong thế giới đó trở thành vui vẻ hơn và tích cực hơn một tí. Thay vì cứ sống theo lối phản ứng—gặp người vui thì vui, gặp người cau có thì cau có—tức là làm cho thế giới của mình chao đảo từng phút từng giờ, thì mình chủ động giữ thế giới của mình an vui tích cực luôn luôn. Điều này, trên phương diện triết lý, có thể gọi là duy tâm, tức là dùng tâm thức của mình để quản lí mình và môi trường sống của mình đó, các bạn a.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Lửa trong lòng

Chào các bạn,

Bạn biết bí quyết gì mà mọi người thành công đều có không? Nếu nhìn một vòng chung quanh, ta thấy tất cả những người thành công–ca sĩ, họa sĩ, bác sĩ, luật sư, doanh nhân, chính trị gia, quan chức nhà nước, tu sĩ, hay bất kỳ cái-gì-sĩ–đều có một điểm chung là họ rất đam mê việc họ đang làm. Họ vui với nó, ăn ngủ với nó, hít thở nó, sống với nó, sống vì nó, bất chấp mệt nhọc, khó khăn, thử thách, cô đơn. Cho đến một lúc họ thành công lớn trong công việc đó. Bí quyết thành công của họ rất rõ ràng—đó là say mê công việc.

Vậy thì, muốn thành công, ta phải say mê công việc.

Nhưng, làm sao để say mê công việc?

Đây là mấu chốt của vấn đề, và đây cũng là điểm có nhiều ngộ nhận nhất. Rất nhiều chuyên gia về phát triển cá nhân (personal development), cố vấn một số phương pháp như là đặt mục tiêu, viết rõ mục tiêu, đặt kế hoạch hành động, đọc lại mục tiêu hằng ngày, tưởng tượng hình ảnh (visualizing) mục tiêu đã đạt được, thực hiện kế hoạch theo đúng chương trình đã vạch ra, v.v… Họ cho rằng khi chúng ta làm những điều này, chúng ta sẽ có đam mê trong công việc. Nhưng có thật vậy không? Thực ra, các điều này có thể giúp được một tí. Nhưng nếu nhìn kỹ lại, thì chúng không phải là câu trả lời cho sự tìm kiếm đam mê.

Ngọn Đuốc Vĩnh Cửu
Ngọn Đuốc Vĩnh Cửu

Giả sử là bạn không thích mắm bồ hốc, cứ ngửi thấy mùi bồ hốc là muốn nôn ngay. Bây giờ có một chuyên gia đề nghị bạn đặt mục tiêu, “Trong vòng 2 năm nữa tôi sẽ ăn mắm bồ hốc trong mỗi bữa ăn.” Rồi lên kế hoạch hành động hai năm, như đã nói trên. Câu hỏi là, liệu bạn có thành công được không? Trong thực tế, có lẽ chúng ta có thể khẳng định là đại đa số người sẽ không thành công trong kế hoạch đó, bởi vì nó nhắm vào một việc mà nhân vật chính không thích, không chịu được, và rất ghét. Đại đa số người sẽ gạt phăng kế hoạch ngay từ đầu: “Thôi đi. Thiếu gì thứ trên đời để ăn. Tại sao tôi phải hành thân tôi ăn mắm bồ hốc?”

Bạn đã thấy được gốc rễ của vấn đề chưa? Nếu cái gì mình không thích, không hạp, thì mình không thể nào làm tốt được, không thể nào say mê được. Cái mình làm tốt, thích làm, là cái mình say mê. Say mê chính là nguyên nhân, là động lực thúc đẩy mình làm, thúc đẩy mình đặt mục tiêu, thúc đẩy mình lên kế hoạch hành động. Nếu đảo ngược nguyên nhân và hậu quả thì hỏng rồi–không phải là mục tiêu và kế hoạch tạo ra say mê. Vì có say mê và yêu, nên mới lên kế hoạch làm đám cưới, chứ không lên kế hoạch làm đám cưới để tạo ra tình yêu và say mê. Cái cày không thể đi trước con trâu.

Vậy là ta phải trở lại câu hỏi ban đầu: Làm thế nào để mình có say mê trong công việc? Câu trả lời là: Muốn say mê trong công việc thì mình phải làm công việc mà mình say mê.

Nhưng làm sao biết việc nào là việc mình say mê?

Đôi khi câu trả lời đến rất rõ ràng. Nếu tối ngày ta cứ bỏ ăn bỏ ngủ, loay hoay viết chương trình vi tính, thì có lẽ đó là việc ta say mê. Hay ca nhạc, hay thể thao, hay ý muốn làm chủ một doanh nghiệp. Nếu các bạn trẻ tạm gác qua một bên các yếu tố bên ngoài như nghề này nhiều tiền, nghề này có danh tiếng, nghề này người ta nể nang, v.v… và chỉ tự hỏi việc gì mình rất thích thú để làm, thì chính việc đó là việc mình say mê.

Đôi khi cái ta say mê không nhất thiết là một công việc, nhưng là một nơi. Ví dụ, nhiều người muốn quay về quê cha, quê mẹ, để sinh sống; việc gì không cần biết, nhưng họ cần được sống nơi chốn ấy.

Đôi khi cái ta say mê là người làm chung chứ không phải công việc. Ví dụ, có nhiều người nói: “Em rất thích làm việc chung với anh. Làm gì anh cứ gọi em. Việc gì cũng được.” Rất nhiều partners thương mãi nằm trong dạng này. Việc quan trọng nhất của họ là làm ăn chung với bạn thân. Làm ăn việc gì thì sẽ bàn sau.

Đôi khi cái ta say mê là một vật gì đó, một điều gì đó cụ thể. Ví dụ: Người rất mê tiền thì say mê làm bất cứ việc gì mang đến nhiều tiền. Người mê nổi tiếng thì say mê làm bất cứ việc gì để được nổi tiếng. Đây loại say mê dễ làm cho người ta vào đường lầm lạc nhất, dù rằng bản chất say mê tự nó không xấu—mê tiền hay mê nổi tiếng tự nó không xấu (dù là rất hời hợt).

Tâm hỏa
Tâm hỏa

Đôi khi cái ta say mê là một mục đích chung chứ không phải công việc. Ví dụ: Các nhà truyền giáo rất vui vẻ đi khắp nơi, làm bất kỳ việc gì để sinh sống, chỉ để đem “Tin Mừng” đến mọi người chung quanh.

Đôi khi ta cũng không biết là việc gì ta thật say mê (mê ăn và mê ngủ thì không tính 🙂 ). Trong trường hợp đó ta phải suy nghĩ ngược lại—làm việc gì ta ít ghét nhất, trong khi chờ đợi khám phá ra việc gì ta say mê nhất.

Đối với các bạn đang làm một công việc mà mình rất chán nản, thì nên tìm việc khác, đổi chỗ làm. Nếu đổi chỗ làm khó khăn, thì tìm công việc gì đó, nhất là các việc giải trí hay từ thiện mà mình ưa thích để làm ngoài giờ làm việc.

Nói tóm lại là ta phảỉ tìm cho được ngọn lửa trong lòng mình, và đi theo nó. Ai cũng có lửa trong lòng, kể cả người nghĩ rằng lòng mình đã nguội lạnh. Thực ra vẫn luôn luôn còn một viên than hồng đâu đó. Tìm ra nó và cho nó cơ hội trở thành một ngọn lửa. Mà ta càng hiểu chính mình thì càng dễ thấy ngọn lửa đó, hay viên than hồng đó. “Biết mình” là nguồn gốc đầu tiên của mọi kế hoạch tốt trong đời. (Mình đã viết bài “Biết Mình” trước đây rồi. Bạn có thể tìm thấy nó trong category Trà Đàm).

Và khi nhìn thấy lửa rồi thì hãy có cam đảm đi theo nó. Điều này nói thì dễ, nhưng thật ra rất khó đối với những bạn đã có gia đình và công việc lâu năm. Không đổi việc được, thì thêm việc ngoài giờ. Vấn đề rất rõ ràng và đơn giản. Nếu bạn thực sự muốn say mê với công việc và đời sống của mình, thì phải đi theo ngọn lửa trong lòng mình. Mỗi người có một ngọn lửa cho một con đường, không thể lấy lửa của người khác làm lửa của mình, cũng không thể đổi lửa cho nhau. Từ cổ chí kim, người ta có đủ mọi tên để gọi ngọn lửa này—sự thôi thúc của con tim, tiếng gọi của định mệnh, tiếng gọi của Chúa. Dù là tên gọi nào đi nữa, thì bản chất của vấn đề vẫn rất rõ ràng—sức mạnh thôi thúc ta đi nhanh, đi mạnh, xông pha sương gió, đạp lên gai góc, trèo đèo vượt suối, gian nguy không sờn, luôn luôn tiến về phía trước, chính là ngọn lửa trong lòng.

Rồi ngọn lửa đó sẽ cho mình đam mê để đặt mục đích, đặt kế hoạch. Mục đích và kế hoạch là phương thức giúp mình làm việc có hiệu quả. Chúng không phải là ngọn lửa.

Thế nhưng, tại sao ở đầu bài ta nói một số chuyên gia cố vấn phương thức “mục đích và kế hoạch” để tạo đam mê? Thưa, bởi vì các lời tư vấn này đến từ các chuyên gia của các giám đốc công ty, giúp các công ty làm thế nào để nhân viên trong hãng hăng hái với công việc hơn. Các chuyên gia này không bao giờ có thể tư vấn, “Nếu bạn không vui với công việc ở đây, thì cứ nghe theo tiếng gọi trong lòng, đi tìm việc khác hợp với con tim của bạn hơn.” Họ bắt buộc phải “tư vấn” các việc có tính cách quản lí hành chánh, như là đặt mục tiêu và kế hoạch. Tốt cho công ty. Nhưng, nếu bạn là nhân viên, thì đó không phải là lời tư vấn thật sự cho bạn.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Muốn được khen

Chào các bạn,

Hôm qua ta bàn về việc khen người khác, hôm nay ta bàn về việc được người khác khen. Có lẽ chúng ta thường nghĩ rằng cả hai điều này chỉ là hai mặt của một đồng xu, nhưng thật ra thì không hẳn thế. Thông thường, ta không khen người nhưng lại cứ muốn người khen ta; đó chỉ là đường một chiều. 😦 Hoặc là ta khen người để được người khen ta lại; đó là đường hai chiều thuộc khu phố thương mãi. Con đường mà ta muốn đi là, ta khen bạn vì thực sự trong lòng thích khen bạn và muốn bạn vui, không khen vì mong cầu được khen lại. Đây là đường một chiều trong tâm, nhưng hai chiều trong thực tế.

Không chịu khen người nhưng cứ mong được người khen, thì “không tưởng” quá rồi. Không thể xảy ra được. Nếu bạn cả đời không khen ai, mở miệng thì chê hết người này đến người khác, bỗng nhiên có một cậu đến, tối ngày khen tặng tâng bốc bạn, thì có lẽ là bạn nên thầm hỏi tại sao.

Đằng khác, khen người để mong được người khen lại, hay để mong được cái gì đó từ người, thì đó là buôn bán. Đây là tính toán “có qua có lại.” Cũng công bình thôi. Nếu bạn khen thành thật, thì cũng được, nhưng e rằng hơi thiếu chiều sâu. Điểm yếu của chính sách thương mại này là, bạn sẽ không có được nội lực xuất phát từ tâm. Bạn có thể làm thương mãi được, nhưng không thể có bạn thân cách này. Vì tình thân chỉ có thể xảy ra giữa những quả tim rung động thật với nhau. Có nghĩa là sao? Có nghĩa là bạn có thể có “triệu người quen, chẳng mấy người thân.” Đó là một thế giới rất băng giá! Và trong trường kỳ, cơ hội thành công lớn cũng thấp, vì thông thường là ở cấp rất cao trong thế giới thương mãi cũng như thế giới chính trị, người ta thường tìm bạn bè thân để làm việc với nhau.

Bạn tôi
Bạn tôi

Khen người thật lòng nhưng không mong cầu được người khen lại. Đây có vẽ như là lối sống của thánh nhân, nhưng bạn đừng vội phàn nàn (“Trời ơi, ông ơi, tui đâu có muốn làm thánh. Tui còn đủ hỉ nộ ái ố bi lạc dục và còn muốn dancing và enjoy đời mà. Ông đừng biểu tui đi tu, tội nghiệp tui lắm”). Biết rồi, khỗ lắm, nói mãi! Trong liên hệ con người, “bất chiến tự nhiên thành” gần như là qui luật bất di bất dịch. Hôm qua chúng ta có nói, người bán hàng không có chiều sâu cứ dùng mọi thủ thuật hời hợt để bán cho được hàng thì có lẽ là không bán được. Nhưng nếu cứ tận tâm phục vụ khách hàng nhiệt tình, như một người bạn tốt, mà không cần biết là người ấy sẽ mua hay không, thì mọi người sẽ đến mua hàng nhiều hơn. “Không đánh mà tự nhiên thắng” là vậy. Ai trong chúng ta cũng biết lý lẽ này.

Liên hệ con người thường như thế. Nếu ta hành động chỉ vì người, và không vì chính ta, thì mọi người tự nhiên muốn đến với ta. Mình gọi đây là qui luật “Cánh đồng trống.” Lòng ta là một cánh đồng, nếu cánh đồng không có một hòn đá “tôi” to như quả núi đè mất, thì chim chóc sẽ về tràn ngập cánh đồng xanh. Khen người chỉ vì ta quí người và muốn người vui, mà không mong cầu gì cho ta (ngoài việc ta vui vì đã làm người vui), thì tự nhiên là sẽ có nhiều bạn bè thân thiết, và cơ hội thành công lớn trong đời cứ như vậy mà tăng theo. Đó là tại sao mà mình nói bên trên: “Đây là đường một chiều trong tâm, nhưng hai chiều trong thực tế.”

Điều này nói thì dễ, làm thì khó. Vì chúng ta đã quen suy nghĩ về “tôi, tôi, và tôi” nhiều quá, nhất là trong thế giới làm ăn, cho nên ta cần có kỷ luật một tí để tập thói quen chú tâm đến cái hay cái đẹp và cái an vui của người khác trong liên hệ hằng ngày. Qui luật “cánh đồng trống” đúng ngay cả trong thương mãi. Thương mãi cũng chỉ là liên hệ con người như bao nhiêu loại liên hệ khác. Nếu ta cho rằng liên hệ thương mãi đòi hỏi ta phải ích kỷ và chụp giật, thì rõ ràng là ta chưa nắm vững được bản chất của thương mãi cũng như bản chất con người. Một điều khó khăn khác là, qui luật “cánh đồng xanh” đòi một tí kiên nhẫn. Phần thưởng sẽ đến từ từ–chậm nhưng chắc. Vì đây không phải là qui luật “tiền trao cháo múc”, cho nên bạn cần kiên nhẫn một tí. Nhưng không sao, vì khi áp dụng qui luật này, bạn đâu có mong cầu gì cho mình, phải không? Mà đã không mong cầu là thừa kiên nhẫn.

Điều cuối cùng ta cần nắm vững là, nếu ta cứ muốn được người khen thì ta sẽ rất chơi vơi và nhiều stress. Chơi vơi vì cứ phải cố làm cái gì đó để hằng trăm hằng nghìn người quanh ta thích thú khen ngợi. Mà mỗi người một ý. Chạy theo ý muốn của một nghìn người, đương nhiên là phải nhảy choi choi như con lật đật chơi vơi trên mặt nước. Và như vậy thì nhất định là sẽ rất nhiều stress. Mà stress thường phá vỡ mọi thứ, từ sức khỏe, đến công việc.

Nắm vững các qui luật liên hệ con người. Cứ từ tốn làm việc, và kiên nhẫn một tí. Kết quả sẽ đến nhanh hơn bạn nghĩ. Có lẽ bạn đã nghe, hoặc qua tiểu thuyết hoặc qua chuyện có thật, rất nhiều người than trước khi nhắm mắt: “Cả đời tôi không có được một người thân.” Bạn có bao giờ thắc mắc về câu đó không? Sống mấy mươi năm trong một thế giới mấy tỉ người mà lại không có được một người thân. Sao vậy? Đó không phải là một bi kịch sao?

Chúc các bạn một ngày vui vẻ,

Mến,

Hoành

Stumble It!
© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Khen

Chào các bạn,

Đối với người Việt chúng ta thì có lẽ những ngôn từ được sử dụng tần tiện nhất, tần tiện đến mức keo kiệt, là những lời khen. Rõ là “Lời nói không mất tiền mua, tự do mà nói miễn đừng có khen.”

Đến sở làm thấy cô bạn mặc chiếc áo đẹp, mới mở miệng “Trời, hôm nay Vân đẹp quá” là mấy quí vị cùng phòng đã bắt đầu nheo nheo mắt… “Hmm… coi bộ bắt đầu thả câu.” Về nhà mới khen thằng con trai chưa hết một câu, bà chủ đã “Anh cứ làm hư con. Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi. Cứ như vậy con cái nó lên ngồi trên đầu.” (Quí vị ơi, quý vị có ghét thì xin cho một hộp sô-cô-la, nhất là loại made in Switzerland. Mình hứa là sẽ không leo lên đầu quí vị). Ở trường thì dễ được ăn bạt tai hơn là được một lời khen. Đi làm, mình làm việc giỏi đến mức văn phòng của mình mọi việc trôi chảy, chẳng có xì-căng-đan gì bao giờ, thì chẳng ai thèm để ý. Hơi có ai đó phàn nàn bậy bạ, thì cả nước nhào vô dũa.

Nếu mỗi ngày, tổng số từ ta nói trong ngày chia ra đúng 50% khen và 50% chê, thì đó đã là quản lí và giáo dục “nửa mùa.” Nếu chê 75% và khen 25%, đó là quản lí và giáo dục bằng stress. Nếu khen 75% và chê 25%, đó là quản lí và giáo dục bằng mạch nha. Trong văn hóa “thương cho roi cho vọt” của ta, tăng lời khen lên đến mức nửa mùa là đã khó khăn lắm rồi, nói chi là mạch nha. Bạn có muốn ông hàng xóm mang cái roi mây bóng lưỡng đến đét thẳng tay mấy cái vào mông bạn, rồi mở miệng cười huyềnh huệch, khoe chiếc răng vàng lấp lóe, “Tôi yêu chị lắm chị ơi ,” không? Thế thì tại sao bạn lại tin rằng bạn có thể đem thủ thuật đó áp dụng cho con cái, thân nhân, bạn bè?

Khuyến khích em
Khuyến khích em

Mà mình cũng không hiểu truyền thống “thương cho roi cho vọt” này đến từ đâu. Một lần, đã lâu lắm rồi, trong một buổi cà-phê đàm trong một quán nhậu—đây là sự thực, vào quán nhậu nhưng gọi cà-phê—một người bạn của mình lý giải: “Tôi nghĩ có lẽ đó là từ văn hóa Phật giáo. Làm như vậy để tập cho trẻ con biết dẹp cái tôi của mình xuống.” Mình trả lời ngay là mình không thấy Phật giáo có “mùi” đó, chứ đừng nói là có “rễ”. Phật học rất coi trọng nhân cách của mỗi cá nhân và dạy người ta rằng “mỗi người chúng ta, kể cả những người xem ra tệ hại nhất, đều có Phật tánh trong lòng, đều là Phật-đang-thành, và nhất định là một ngày nào đó—kiếp này hoặc một kiếp sau nào đó–sẽ đắc đạo thành Phật.” Lý thuyết vô ngã của nhà Phật dạy chúng ta đừng chấp vào cái ngã của mình, đừng kiêu căng hợm hĩnh, chứ không nói là phải coi thường, chà đạp và đánh đập nó. Hơn nữa, giáo dục nhà Phật là tự giáo dục, tự giải thoát, chứ không phải do người khác cầm cây đập.

Theo mình nghĩ, chắc chắn là khi mấy chú ba bên Trung quốc sang đô hộ tiền nhân ta mấy ngàn năm về trước, nếu các chú thông minh một tí (và dĩ nhiên là các chú rất thông minh), chắc chắn là các chú phải tay thì quất roi vào dân bản xứ, miệng thì “Ngộ ái lị a. Ngộ ái lị a.” Đến thời các anh Phú-lang-sa thì nhất thiết phải là tay thì bạt tai miệng thì “je t’aime.” Nhất định phải là như vậy, vì bản chất chính trị của đô hộ và nô lệ hóa phải là như thế. Và nếu ngày nay ta vẫn còn yêu quí phương pháp vừa bạt tai vừa “I love you” này thì đó phải là hội chứng Stockholm.

Có lẽ là không cần nói nhiều thì chúng ta ai cũng biết tầm quan trọng của tính tự trọng trong việc phát triển năng lực hoạt động và khả năng sáng tạo của con người. “Tự trọng” là tự tôn trọng mình. Tức là mình phải thấy mình có cái gì đó đáng tôn trọng. Mà làm sao thấy được cái gì đáng tôn trọng trong mình khi mình cứ bị phê phán, roi vọt, hằng ngày? Cách thông thường nhất để chúng ta thấy được cái hay của mình là nhờ người khác vạch ra: “Trời, mắt chị đẹp quá”, “chiếc áo này hợp với chị quá”, “chị thông minh quá cở”, “chị giỏi ngoại giao quá.” Dù là người lớn hay là trẻ em, rất khó để phát triển tánh tự trọng khi tối ngày chỉ được nghe đến cái yếu của mình mà chẳng thấy ai nói mình có điểm nào hay cả.

Khuyến khích
Khuyến khích

Dĩ nhiên là lời ta khen làm cho người được khen tích cực và yêu đời hơn. Nhưng đối với những người thực tập tư duy tích cực, lời khen lại còn quan trọng nhiều hơn nữa, vì lời khen tặng người khác ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy của chính ta. Thứ nhất, lời ta khen người khác sẽ cho chính ta biết rằng ta tự tin. Bởi vì chỉ có người tự tin mới khen người khác, người không tự tin thì ghen ghét và thường bới móc cái yếu của người khác. Thứ hai, chỉ có người đủ tích cực trong tư duy mới thấy được nhiều cái hay cái đẹp của người khác để mà khen. Nếu không đủ tư duy tích cực thì không thể thấy cái gì hay đẹp cả. Thứ ba, khen người khác tức là nâng người ta lên, mà nâng người khác lên đương nhiên có nghĩa là giảm ta xuống. Nghĩa là, chỉ có người khiêm tốn trong lòng mới hay khen người khác. Thiếu khiêm tốn thì rất khó mà khen. Thứ tư, càng yêu nhiều người chung quanh, ta càng thấy nhiều điểu hay đẹp của họ và càng muốn tán dương họ bằng lời. Các cặp tình nhân đều như thế. Đó là bản tính con người. Vì vậy nếu ta ít khen, hãy tự hỏi: “Thực sự là mình có yêu ai chung quanh mình không đây?” Vì vậy , trước khi lời khen tác động như là một phương cách giáo dục và quản lí đối với người khác, ngay lúc còn ở dạng tư tưởng trong đầu ta, trước khi nói ra, lời khen dành cho người khác đã là phương thuốc thần diệu cho chính ta và là thước đo cho chính ta. Khen người nhưng thực ra là để luyện tập tâm mình.

Ở trên, chúng ta có nói đến giáo dục và quản lí mạch nha với 75% khen và 25% chê, nhưng đó chỉ là mức thấp. Đến mức quản lí tuyệt đỉnh thì chỉ còn 100% khen, và chẳng còn tí nào chê hết. Ví dụ: Người cộng sự của mình hơi yếu về quản lí thời gian, mình có thể nói: “Em rất hay, rất analytical, giỏi communication, giải quyết mọi vấn đề rất nhanh chóng và chính xác. Nếu em quản lí thời gian hay hơn một tí, làm cho việc sử dụng thời gian có hiệu quả hơn, thì năng xuất của em sẽ còn tăng thêm được rất nhiều.” Ta vẫn có thể khen trong khi giúp người cộng sự thấy được khuyết điểm của họ.

Trong tư duy tích cực, chê là tiêu cực, không cần dùng đến, không nên dùng đến. Hơn nữa, đây là một điểm quan trọng khác mà người tư duy tích cực cần lưu ý: Chê thường là phản ánh tính tiêu cực của người nói. Nếu ta chê, mà không biết dùng lời khen để vạch ra khuyết điểm, thì, một là, khả năng sử dụng lời nói của ta còn yếu, hai là, ta còn rất tiêu cực trong tư duy. (Tuy nhiên quản lí là một nghệ thuật. Trong trường hợp nào đó, với một người nào đó, có thể là chê thẳng mặt, thì người đó mới “nhập tâm” lúc đó. Nhưng đây là ngoại lệ, mà đã là ngoại lệ thì có nghĩa là chỉ nên có một năm một lần).

Để kết thúc, chúng ta có thể làm một trắc nghiệm về chiều sâu của vấn đề một tí. Nếu bạn đã từng cầu nguyện với Chúa, với Phật, với trời đất, với bất kỳ ai đó, bạn cầu nguyện đại khái như thế này, “Ngài là đấng toàn năng, biết tất cả mọi điều, đầy lòng yêu thương đối với chúng con. Xin ngài cho chúng con được bình an, qua được cơn khủng hoảng tài chánh toàn cầu này nhanh chóng,” hay là như thế này, “Thôi đi ông ơi. Ông làm ăn kiểu gì mà thế giới cứ tùm lum đủ mọi chuyện lộn xộn hằng ngày. Dzậy mà còn ngồi chễm chệ trên đó”?

Các đấng tối cao không cần được khen mà ta vẫn cứ khen. Ta khen các ngài là vì các ngài cần nghe, hay vì ta cần tỏ lòng tôn kính?

Ta khen mọi người vì mọi người cần nghe, hay ta cần tỏ lòng quan tâm và quí mến họ?

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,
Hoành

TB: Oops! Quên nhắc các bạn đàn ông: Hôm nay đã khen “your house” câu nào chưa?
.
Stumble It!
© Copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Xắn tay áo

Chào các bạn,

Tử hồi con bé ta được bố mẹ bảo học hành để lớn lên làm việc này, việc nọ. Trong trí óc trẻ thơ, cuộc đời chia thành hai phần rõ rệt: nhỏ đi học, lớn làm việc. Khi không còn bé nữa, tiếc thay, ta lại quá quen với công thức suy tư “hai thời” như vậy, và nhiều người trong chúng ta hầu như không bao giờ thoát ra khỏi vòng kềm kẹp của công thức—đối với nhiều vấn đề trong cuộc sống, ta luôn luôn ngồi học, và không bao giờ thấy mình đủ kiến thức để làm.

Dĩ nhiên đó là một suy tư rất sai lầm, ít ra là đối với người lớn, vì thực ra học và làm là một. Cuộc đời thật không chia thành học và làm. Có con thì làm bố, và làm bố là làm bố chứ chẳng phải học làm bố, và học làm bố thực sự là làm bố. Dĩ nhiên, ta có thể vào một lớp “học làm bố” vài ba tiếng, nhưng mấy lớp đó thật là chẳng nghĩa lý gì cả. Bất kỳ người vào đã có con cũng đều xác nhận là lúc làm bố là lúc học làm bố, và ngày nào còn làm bố là ngày đó còn học làm bố, kể cả khi con mình đã trưởng thành và đã làm bố–lúc đó mình vẫn còn phải học làm bố của một người bố. Làm quản lí cũng vậy. Lúc bắt đầu làm quản lí là lúc thực sự học làm quản lí, và mình cứ từ từ tăng cấp làm quản lí và học làm quản lí hằng ngày. Bất cứ việc làm nào trên đời cũng là việc học—làm một tí là học thêm một tí kinh nghiệm, một tí kiến thức.

Đẩy!
Đẩy!

Điều này có nghĩa là gì? Thưa, có nghĩa là, sống là hành động. Sống không có nghĩa là ngồi lý thuyết cho đến lúc thấy mình đủ năng lực rồi mới làm. Thực ra nếu không làm thì chẳng bao giờ đủ năng lực, mà nếu làm thì khi nào cũng đủ năng lực. Ngay cả trẻ con học nói, chẳng có đứa bé nào “học nói” cho đến lúc “biết nói” rồi mới bắt đầu “nói”—học nói, biết nói và nói chỉ là một việc. Đó là công thức đương nhiên của cuộc sống. Học yêu, biết yêu, và yêu, là một. Học làm, biết làm, và làm, là một. Không làm là không học, không biết, và không sống.

Bên cạnh việc “ngồi học cho đến khi biết đủ”, nhiều người trong chúng ta còn có thói quen xem các vấn đề xã hội chung quanh là “việc của chúng nó.” Chúng nó nào? Xã hội ta đang sống là việc của mỗi người chúng ta. Chẳng có chúng nó nào từ một hành tinh khác chịu trách nhiệm về xã hội của ta cả. Ngay cả khi ta chỉ vào chính quyền và nói “chúng nó”, thì chẳng khác nào chỉ ngón tay vào một người anh trong gia đình và đổ lỗi “chính hắn”, cứ như là các vấn đề trong gia đình chỉ một người chịu trách nhiệm còn những anh chị em khác thì vô can. Einstein nói: “Thế giới là một nơi đầy nguy hiểm, không phải vì những kẻ làm ác, mà vì những kẻ đứng nhìn và chẳng làm gì cả.” Triết gia Anh Edmund Burke nói: “Điều cần thiết duy nhất để tội ác chiến thắng là những người tốt chẳng làm gì cả.” Im lặng là đồng lõa với tội ác. Không làm gì để giải quyết vấn đề là đồng lõa với vấn đề.

Đôi khi ta muốn làm gì đó để giúp giải quyết một vấn đề xã hội nào đó, câu “khuyến khích” ta có thể được nghe ngay lập tức là “Một con én không làm được mùa xuân.” A! Thái độ “chưa đánh đã thua” đó mà cũng đáng cho chúng ta tốn thời giờ bàn luận đến sao? Đa số các cuộc cách mạng–tư tưởng, kinh tế, thương mại, chính trị–trong lịch sử con người bắt đầu với chỉ một người. Nhà thuyết giảng Mỹ Edward Everett Hale nói: “Tôi chỉ là một, nhưng tôi vẫn là một. Tôi không thể làm được tất cả, nhưng tôi vẫn có thể làm được việc gì đó; và bởi vì tôi không thể làm được tất cả, tôi sẽ không từ chối việc gì đó mà tôi có thể làm.”

Goethe nói: “Cuộc đời không biết ngừng trong tiến hóa và phát triển, và luôn buông lời nguyền rủa sự bất động.” Ta làm việc gì là vì việc đó nên làm, như đói thì ăn, không cần phải đợi có người ăn cùng. Hữu xạ tự nhiên hương; ngưu tầm ngưu, mã tầm mã. Cứ bắt đầu hăng hái một mình, từ từ sẽ có hai mình, ba mình, và nhiều mình.

Mồ hôi và nụ cười
Mồ hôi và nụ cười

Và khi hành động thì ta thường nghe: “Thất bại là mẹ thành công.” Câu này cũng có một tí tính tích cực, và nghe qua thì rất có lý, nhưng nếu bạn đã là người hành động tích cực nhiều kinh nghiệm thì lại thấy là câu này sai từ trong căn bản, bởi vì từ “thất bại” không đúng. Thất bại là gì? Ta cứ tạm thời dùng định nghĩa thông thường—thất bại là không đạt được mục tiêu đề ra. Giả sử hai võ sĩ đấu đài, người thua trận gọi là người thất bại sao? Nếu bạn xem đấu võ thường xuyên thì bạn thấy các võ sĩ thua trận thường nói “Tôi không thắng,” chứ hầu như chẳng ai nói “Tôi thất bại.” Tại sao? Vì mục đích đầu tiên của các võ sĩ (và các vận động viên) luôn luôn là tự thắng mình. Mục đích thứ hai là cố gắng hết sức vì nghệ thuật. Đấu võ là vì hai mục đích đó. Hơn thua là chuyện thường tình, chẳng ai đặt nó lên hàng đầu. Hơn thua cũng chỉ là một trong những phương cách để tự thắng chính mình thôi. Vì vậy, dù là thua cuộc thì hai mục tiêu hàng đầu là tự thắng và phục vụ nghệ thuật vẫn luôn luôn đạt được. Sao có thể gọi đó là thất bại? Vì vậy, ta thấy các võ sĩ thua cuộc thường cũng rất vui vẻ, ôm hôn kẻ chiến thắng rất thân ái, vì thực ra họ là chiến hữu với nhau.

Tất cả mọi hoạt động của chúng ta trên đời cũng có ý nghĩa như vậy. Mở một công ty dịch vụ văn phòng chẳng hạn. Tất cả những người làm thương mãi đều nói với bạn rằng lý do quan trọng nhất mà họ mở công ty là để làm cho đời sống của họ có nhiều thử thách hơn và họ cảm thấy “tròn đầy” hơn. Dĩ nhiên làm ra tiền thường là lý do sau đó. Nhưng nếu vì tình trạng suy thoái kinh tế mà họ phải đóng cửa công ty, chắc chẳng ai cho đó là thất bại. Và dù có đóng cửa, thì những vui thích khi được làm chủ chính mình, cũng như những kinh nghiệm vô giá đã gặt được, cũng đã rất đáng đồng tiền bát gạo. Chẳng mấy chủ công ty gọi đó là “thất bại.” Cho nên, nếu chúng ta suy nghĩ sâu xa về các họat động của mình trên đời, một cách tích cực, thì thực sự chẳng hề có cái gọi là “thất bại”. Chỉ có thành công nhiều hay thành công ít mà thôi. Nghĩa là nếu hành động với một tâm tư tích cực, ta luôn luôn thành công, hoặc it hoặc nhiều. Từ “thất bại” không có trong tự điển của ta.

Xây dựng
Xây dựng

Helen Keller, người câm điếc Mỹ đầu tiên đạt được bằng cử nhân năm 1904 và sau đó thành một nhà hoạt động chính trị xã hội nỗi tiếng của Mỹ, nói: “An ninh thường là chuyện mê tín. An ninh không có thật trong đời sống tự nhiên, và loài người nói chung không chứng nghiệm an ninh. Trong trường kỳ, chạy trốn hiểm nguy cũng chẳng khá hơn là cứ đối diện hiểm nguy thẳng mặt. Sống là phiêu lưu táo bạo, hay chẳng là gì cả.”

Một trong những lỗi lầm người ta hay gặp phải khi bắt đầu một dự án là bắt đầu quá lớn và quá xa vời với thực tế. Hãy mơ đến cả bầu trời, nhưng bắt đầu bằng từng bước chân. Think globally, work locally. Nếu bạn chưa làm nhà hàng bao giờ, đừng bỏ hết vốn liếng, vay mượn ngân hàng, để mở một quán phở có 500 chỗ ngồi. Làm một chỗ 30 chỗ ngồi trước đi. Nếu thành thì từ từ tăng diện tích, có mất mát gì đâu? Việc gì mà phải gia tăng may rủi một cách không cần thiết ngay từ đầu?

Bắt đầu nhỏ, nếu không thành thì cũng chẳng mất mát nhiều, coi như đó là bỏ tiền học kinh nghiệm. Những người bắt đầu quá lớn (so với kinh nghiệm của mình), thường bị tật háo danh chi phối. Không thích làm cái gì nhỏ. Dĩ nhiên ta luôn luôn nên “think big”, nhưng nên “start little”. Bạn có thể mơ ước đến một đám cưới to nhất nước, nhưng ngay lúc này thì bắt buộc phải chịu khó làm các việc lặt vặt như là ngồi đợi nàng trước cửa trường hằng ngày. Chẳng có cách nào khác. Hơn nữa, như Helen Keller nói: “Tôi muốn làm được những chuyện vĩ đại và cao quí, nhưng nhiệm vụ chính của tôi là làm những việc khiêm tốn cứ như chúng là những việc vĩ đại và cao quí. Thế giới chuyển động, không phải chỉ nhờ những cú tống đạp của các anh hùng, mà còn nhờ tổng hợp những đùn đẩy nhỏ bé của mỗi người lao đông chân chất.”

Thế giới thực sự không thể tự nó mà tiến hóa. Thế giới tiến hóa là vì những cá nhân trong thế giới tiến hóa. Một con kiến thợ thì nhỏ xíu. Nhưng đàn kiến tiến hóa là nhờ mọi kiến thợ. Và kiến thợ sinh ra chỉ để chạy tới chạy lui làm việc. Suy nghĩ cho cùng, chúng ta sinh ra cũng chỉ để làm cho thế giới con người tiến hóa. Ngoài mục đích này thì chẳng còn gì khác để làm cho đời sống con người có ý nghĩa. Và đã là kiến thợ thì hãy xắn tay áo lên. Vào cuộc!

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến

Hoành

Stumble It!

© copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use

Ngôn ngữ của thân thể

Chào các bạn,

Chúng ta nói với nhau đâu phải chỉ bằng lời nói, mà còn bằng ngôn ngữ của thân thể. Vì vậy mà chàng chỉ lướt ngang và nhìn nàng trong 2 giây đồng hồ là nàng đã biết ngay là chàng muốn làm quen. Và chàng mới gật đầu chào thì đã biết ngay là nàng đang xi-nhan: “Xin lỗi, tôi đang đợi anh ấy.” Ngôn ngữ của thân thể là body language. Ngày trước, các diễn viên, điều tra viên, doanh nhân, luật sư và chính trị gia đều học. Ngày nay môn học này rất phổ biến, và hầu như tất cả mọi người đều học.

Nhưng dù là chưa vào lớp nào thì bạn cũng đã biết kha khá rồi. Ai trong chúng ta cũng đã “học ăn học nói học đi học đứng” từ hồi nhỏ và cũng biết nhận xét người khác qua tướng mạo và phong cách bên ngoài. Học là để giỏi thêm thôi. Điều khác biệt quan trọng giữa lời nói và body language là lời nói được điều khiển bởi ý thức (trừ khi bị ma men hành :-)), còn body language thì do tiềm thức điều khiển nhiều hơn. Vì vậy, body language thường đáng tin hơn là lời nói. Ví dụ, chàng nói “Anh thề là anh chẳng có ai khác ngoài em,” nhưng nếu ánh mắt chàng tự nhiên đảo đi một ít, hoặc là nếu chàng chớp mắt hơi nhiều một tí, có thể đó là chàng đang nói dối. Hoặc là chàng đang cố tươi cười thân thiện, nhưng lại tựa người ra sau và khoanh tay, có thể là chàng đang trong trạng thái phòng thủ.

Tất cả các bộ phận trong cơ thể ta đều có thể nói ra điều gì đó, từ cách ngồi, cách đứng, động tác của bàn tay, của các ngón tay, ánh mắt, mi mắt, môi, mặt, v.v… Chúng ta cần phải học body language vì:

1. Ta không muốn vô tình để body language nói những điều ta không muốn nói. Ví dụ, bắt tay quá lõng lẻo trong khi mắt lại không nhìn thẳng mặt người mình đang bắt tay, có nghĩa là “tôi chẳng cần quan tâm đến anh.” Thế thì công lao tốn nước bọt cả một tiếng đồng hồ trước đó để trình bày dự án coi như là đổ sông đổ biển.

2. Ta muốn đọc được ý thật của người đối diện: Khi body language và lời nói của người đối diện không ăn khớp với nhau, nhất định là ta phải xét lại lời nói của họ. Và rất có thể là body language của họ đáng tin hơn.

Thân thể nói những lời tuyệt đẹp!
Thân thể nói những lời tuyệt đẹp!

Các bạn có thể tìm các websites về body language dễ dàng trên Internet. (Bạn nào biết được sites nào, xin vui lòng giới thiệu, bằng cách post vào comment). Trong bài này, chúng ta không đi vào chi tiết kỹ thuật của body language mà chỉ nhắc đến một vài điểm cốt cán cần lưu tâm:

1. Body language là một loại ngôn ngữ ta bắt buôc phải thông thạo, cũng như học nói bằng lời hay học viết. Không thể làm việc hiệu quả nếu ta không biết cách ăn nói.

2. Mỗi người có một cách nói chuyện khác nhau; mỗi người cũng có cách dùng body language khác nhau. Dù rằng ngôn ngữ thì chung, nhưng cách dùng thì đương nhiên là mỗi người có cung cách riêng phù hợp với mình. Cứ máy móc làm theo sách, thì có thể là như mấy cô cậu học trò đọc theo tuồng cải lương để viết thư cho người yêu. (Nhưng lúc đầu thì cứ phải theo bài tập, cho đến lúc thuần thục).

3. Ngôn ngữ chỉ học được bằng thực hành, cho nên bạn chỉ thuần thục được body language khi phải giao tiếp nhiều. Vì vậy, nếu không tiếp xúc thường xuyên với người lạ, thì nên cố gắng tham dự các hoạt động xã hội để mình có cơ hội giao tiếp với mọi người.

4. Body language có rất nhiều điểm chung giữa các dân tộc và các nền văn hóa khác nhau. Ví dụ: Người sợ thì mặt hơi tái hơn, mắt có thể mở to hơn hoặc quay đi hướng khác. (Vì vậy, người không biết ngoại ngữ vẫn có thể nói chuyện với tây bằng cách “múa võ”!) Tuy nhiên, mỗi nền văn hóa cũng có một số body language đặc thù, không giống các nền văn hóa khác. Ví dụ, người Mỹ khi nói chuyện thì nhìn thẳng vào mặt nhau, kiểu như người Việt đang thách thức đánh nhau. Nếu nói mà nhìn xuống như kiểu người Việt, thì đó là nói dối theo kiểu Mỹ. Vì vậy, khi tiếp xúc với người từ một nền văn hóa khác, ta phải biết body language của họ.

5. Khi nói chuyện với người nước ngoài, đương nhiên ta phải dùng body language của họ, nếu ta không muốn họ hiểu lầm ta. Tuy nhiên, ta vẫn có thể dùng body language của ta, nếu body language đó dễ hiểu với người nước ngoài, và nếu ta có thể dùng nó rất hay. Ví dụ: Người tây phương thường bắt tay bằng một bàn tay. Người đông phương có thể bắt tay bằng cả hai bàn tay. Nếu vụng về thì hai tay có thể thấy khúm núm, mất tự tin. Nhưng nếu biết làm, thì bắt tay bằng hai tay có thể đưa ra một thái độ tự tin nhưng rất dịu dàng, ấm áp và khiêm tốn. Điều này thì hầu như không có cách nào ở tây phương có thể sánh được.

6. Dù là ngôn ngữ nào đi nữa, thì sức mạnh của ngôn ngữ–cả lời nói lẫn ngôn ngữ của thân thể–luôn luôn nằm trong lòng tin và sự thật. Nếu bạn nói dối, thì bạn chẳng tin vào lời bạn nói; vì vậy, “lời” bạn nói không thể có sức mạnh thuyết phục.

Đối với những người chú trọng về tư duy tích cực như chúng ta, có vài điểm trong tương quan giữa body language và tư duy tích cực ta cần phải lưu tâm.

1. Cá tính tiêu cực hay tích cực bên trong của ta luôn luôn biểu lộ qua lời nói và body language bên ngoài. Ví dụ: Người tiêu cực thường có dáng đi khép kín, rút vai, rút lưng, và nói thì hay nói phủ định (“không”) và dùng các từ tiêu cực (“chán, ghét, xấu, v.v…”). Người tích cực thường có dáng đi mở rộng hơn, lưng thẳng hơn, vai rộng hơn, tay đong đưa hơn, và khi nói thì hay dùng thể xác định và dùng các từ tích cực (“đẹp, tốt, hay, giỏi, v.v…”).

2. Ngược lại, lời ăn tiếng nói và cử chỉ bên ngoài cũng có thể ảnh hưởng đến tâm tính của ta bên trong. Ta có thể làm cho mình thêm tính tích cực bằng cách “nói” những câu tích cực (Nói với người khác, và nói thầm với chính mình. Điều này ta đã nói đến trong bài “Sức mạnh của tư tưởng”). Và ở đây, “nói” còn có thêm nghĩa “nói bằng body language.” Ví dụ, nếu ta lựa chọn một dáng đi tích cực thích hơp với mình nhất, và cứ đi theo dáng đó hằng ngày, thì tâm tính tiêu cực của ta cũng nhờ đó mà từ từ biến thành tích cực.

Và đây là điều cuối cùng, quan trọng nhất: Cả thân thể ta có khoảng 600 bắp thịt. Nếu trong khi nói chuyện với ai mà ta phải chú ý điều khiển 600 bắp thịt để chúng có thể làm đúng ý ta muốn thì nhất định là ta không thể nói chuyện gì với ai được. Vì vậy, học là để biết, nhưng khi thực hành thì phải thông minh hơn một tí. Ta biết rằng thân thể ta thường “nói” tự nhiên, do tiềm thức điều khiển. Vậy thì hãy để tiềm thức điều khiển ngôn ngữ của thân thể. Trước khi nói chuyện với ai, ta hãy chắc chắn là trong lòng ta thích thú nói chuyện với người đó, ta có thiện cảm với họ, ta sẽ thành thật trong khi nói chuyện, ta sẽ xem họ như là bạn tốt của ta. Nếu ta đã tâm niệm như vậy trước khi vào cuộc, thì trong khi nói chuyện, thân thể ta sẽ tự động nói ra điều đó, mà ta không cần phải điều khiển bằng ý thức. Vì vậy, nhiều nhà ngoại giao lớn trên thế giới ngồi tĩnh tâm rất lâu trước khi vào phòng họp cho các cuộc họp quan trọng.

Tức là, dùng tâm để làm chủ hành động của mình. Điều này hoàn toàn không xa lạ gì với các nghệ sĩ bậc thầy. Ca sĩ chẳng hạn. Ca sĩ nào cũng đã học kỹ thuật ca hát rất kỹ. Tuy nhiên, người ca sĩ chỉ có thể đưa bài hát lên đến mức tuyệt đỉnh nếu cô ta thực sự cảm nhận mạnh mẽ, tận đáy sâu của quả tim, từng lời nhạc, từng nốt nhạc, trong khi hát. Nếu không, thì nghe cứ như là thợ hát.

Ở đây có một khái niệm rất căn bản trong đời sống mà chúng ta cần ghi nhớ, vì nó sẽ chi phối tất cả mọi sinh hoạt sống của ta: “Tất cả mọi điều ta làm ở bên ngoài đều phải được điều khiển từ trong tâm, thì mới có sức mạnh.” Nếu ta chỉ làm việc theo công thức và dùng suy nghĩ hời hợt bên ngoài để điều khiển, ví như một người bán hàng không thật tình, cứ tìm đủ mọi thủ thuật để thuyết phục người ta mua hàng, thì kết quả chỉ như học trò mới học đàn. Tuy nhiên, nếu ta cứ tự nhiên phục vụ người khách tận tình như là một người bạn tốt mà không cần biết họ sẽ mua hay không, thì có lẽ là mọi người sẽ đến mua nhiều hơn. Trong đời sống, chúng ta học rất nhiều kỹ thuật—nói chuyện, quản lý, tiếp thị, v.v… Tuy nhiên, khi thực hành ta không thể thực hành kỹ thuật mà phải thực hành nghệ thuật. Mà nghệ thuật thì phải đi từ tâm đi ra.

Trước khi chấm dứt mình xin hỏi các bạn một câu: Body language dịch ra là “ngôn ngữ của thân thể” thì lòng thòng quá. “Ngôn ngữ thân thể” thì vẫn lòng thòng, mà thỉnh thoảng còn làm vài câu văn thành tối nghĩa. “Thân ngữ” có được không? Xin các bạn cho ý kiến. Cám ơn các bạn rất nhiều.

Chúc các bạn một ngày vui vẻ.

Mến,

Hoành

Stumble It!

© copyright 2009, TDH
Licensed for non-commercial use